Thứ Ba, 3 tháng 12, 2019


VẠCH RÕ LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ ĐẢNG,
NHÀ NƯỚC TA BÓP NGHẸT QUYỀN TỰ DO
TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM
HOA SÚNG
Luận điệu này không có gì mới, nhưng nguy hiểm ở chỗ nó đánh đúng vào quy luật tâm lý: cứ nói mãi điều không có thật, người ta sẽ tin là có thật, việc này đã khiến cho nhiều tổ chức cá nhân (chủ yếu ở nước ngoài) bị bưng bít thông tin, ngộ nhận, nhìn nhận sai lệch dẫn đến thiếu thiện cảm, thậm chí có những lời nói, việc làm chống Việt Nam. Vậy, sự thật về đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật tôn giáo của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam như thế nào?
Đảng, Nhà nước ta ngay từ khi thành lập đã hiểu rõ nhu cầu tâm linh của người dân Việt Nam và coi quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những quyền nhân thân cơ bản của người dân. Chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta được xây dựng một mặt dựa trên quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về tín ngưỡng, tôn giáo; mặt khác căn cứ vào đặc điểm tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam với tư tưởng nhất quán, xuyên suốt là tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân, đoàn kết tôn giáo, hòa hợp dân tộc.
Ngày 16/10/1990, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VI) ra Nghị quyết về tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới, là dấu mốc quan trọng về sự đổi mới đường lối, chính sách đối với tín ngưỡng, tôn giáo; trong đó xác định: “Tôn giáo là vấn đề còn tồn tại lâu dài. Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân. Đạo đức tôn giáo có nhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới”. Sau gần 10 năm thực hiện Nghị quyết, Đảng ta đã tổng kết, đánh giá những thành tựu và nêu rõ những khuyết điểm, đồng thời Bộ Chính trị ra Chỉ thị về công tác tôn giáo trong tình hình mới.
Sau 13 năm thực hiện chính sách đổi mới đối với tôn giáo, nhìn lại từ tổng kết thực tiễn, đồng thời xem xét những vấn đề mới nảy sinh, đặt trong hoàn cảnh trong nước và thế giới có nhiều thay đổi quan trọng, ngày 12/3/2003 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) đã ban hành Nghị quyết về công tác tôn giáo, trong đó quan điểm, chính sách của Đảng ta đối với tín ngưỡng, tôn giáo tiếp tục được khẳng định và phát triển thêm một bước mới. “Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đồng bào các tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo đúng pháp luật…”.
Xuyên suốt quá trình lịch sử của đất nước quan điểm, chủ trương, chính sách tôn giáo của Đảng đã được Nhà nước cụ thể hóa trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật. Cùng với việc khẳng định những chủ trương, chính sách của Đảng và nguyên tắc cơ bản đối với tín ngưỡng, tôn giáo trong Hiến pháp, Nhà nước ta đã thể chế hóa quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo qua những văn bản quy phạm pháp luật tuỳ theo tình hình thực tế từng thời kỳ và nhu cầu tín ngưỡng của nhân dân. Ngày 14/6/1955, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban hành Sắc lệnh về vấn đề tôn giáo. Đây là văn bản quy phạm pháp luật đầu tiên cụ thể hoá quy định của Hiến pháp về vấn đề tôn giáo. Sau khi đất nước thống nhất, ngày 11/11/1977, Hội đồng Chính phủ đã ban hành Nghị quyết trên năm nguyên tắc: Đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng của công dân; Đảm bảo bình đẳng trước pháp luật giữa người có tín ngưỡng và người không có tín ngưỡng; Bảo hộ quyền lợi và nghĩa vụ công dân, của người theo đạo và không theo đạo; Định chế các hoạt động tôn giáo trong khuôn khổ pháp luật; Chế tài những hành động lợi dụng tôn giáo phương hại đến lợi ích của đất nước, của dân tộc. Ngày 21/3/1991, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định nhằm đáp ứng thời kỳ đổi mới toàn diện của đất nước theo tinh thần Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ VII của Đảng: đạo đức tôn giáo có nhiều điểm phù hợp, tương đồng với đạo đức xã hội chủ nghĩa. Trong bối cảnh đất nước trên đà đổi mới toàn diện, mối quan hệ trong nước với thế giới ngày càng mở rộng, để đáp ứng kịp thời với yêu cầu hội nhập quốc tế, Chính phủ đã ban hành Nghị định số ngày 19/4/1999 về các hoạt động tôn giáo, tạo điều kiện đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân và khuyến khích những hoạt động tiến bộ, từ thiện trong các tôn giáo.
Ngoài ra, Nghị định còn quy định cụ thể về tạo điều kiện thuận lợi hơn cho chức sắc, nhà tu hành hoạt động tôn giáo theo chức phận của mình. Các mối quan hệ giữa tổ chức tôn giáo trong nước với tổ chức tôn giáo nước ngoài và người nước ngoài vào hoạt động tôn giáo trong nước được thông thoáng hơn.
Tuy vậy, việc thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo chính sách của Nhà nước trong gần 30 năm sau ngày thống nhất đất nước, từ Nghị quyết số 297 (11/11/1977), Nghị quyết số 69 (21/3/1991) đến Nghị định số 26 (19/4/1999) vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu mới đặt ra. Do đó, ngày 18/6/2004, Ủy ban Thường vụ Quốc hội khoá XI đã thông qua Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo và được Chủ tịch nước ký Lệnh công bố ngày 29/6/2004. Pháp lệnh không chỉ thực hiện sự nhất quán chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng đang diễn ra rất phong phú trên đất nước ta mà còn tương thích với Công ước quốc tế về Quyền con người mà Việt Nam đã tham gia ký kết hoặc gia nhập.
Để bảo đảm thực hiện Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo, Chính phủ đã ban hành Nghị định ngày 01/3/2005 hướng dẫn các cấp, các ngành thi hành đúng tinh thần của Pháp lệnh. Sau 8 năm thực hiện Pháp lệnh và nghị định nói trên cho thấy còn nhiều điểm chưa phù hợp với sự phát triển của xã hội, ngày 08/11/2012, Chính phủ đã ban hành Nghị định Quy định chi tiết và biện pháp thi hành Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo. Đây là những văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh trực tiếp những nội dung cơ bản trong các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo ở nước ta hiện nay. Đến năm 2016 Quốc hội thông qua Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.




Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét