Chủ Nhật, 19 tháng 1, 2025

 

NHẬN THỨC ĐÚNG VỀ CUỘC CÁCH MẠNG TINH GỌN BỘ MÁY

Việc sắp xếp tổ chức bộ máy công quyền theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả đang nhận được sự quan tâm đặc biệt của toàn xã hội. Chúng ta xác định đây là một cuộc cách mạng tạo động lực đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Tuy nhiên, với mưu đồ đen tối, các thế lực thù địch không ngừng gieo rắc tư tưởng phản động vào dòng chủ lưu của đất nước, nhằm xuyên tạc, kích động, chống phá…

Chủ trương đúng, quyết tâm cao

Thời gian gần đây, thông tin về việc triển khai thực hiện chủ trương của Đảng, sắp xếp, cải cách tổ chức bộ máy theo hướng tinh gọn, hiệu quả trở thành chủ đề chính, nổi bật trên tất cả các loại hình, ấn phẩm báo chí - truyền thông. Chủ đề này cũng thu hút sự quan tâm chú ý đặc biệt của truyền thông quốc tế. Dư luận tiến bộ trên thế giới, đặc biệt là những quốc gia có mối quan hệ hợp tác, hữu nghị với Việt Nam đều đánh giá cao và kỳ vọng vào sự đột phá mạnh mẽ của Việt Nam trong lĩnh vực này. Nhiều chuyên gia, học giả quốc tế đã có những bài viết phân tích, đánh giá, bày tỏ tin tưởng vào quyết tâm mạnh mẽ của Đảng, Nhà nước Việt Nam trong cải cách bộ máy. Trong hoạt động đối ngoại, khi tiếp xúc với nguyên thủ quốc gia và lãnh đạo cấp cao các nước, các đồng chí lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước ta cũng thông tin về chủ trương lớn này của Việt Nam, đồng thời nhận được sự quan tâm, tin tưởng của bạn bè quốc tế.

Thông qua hội nghị các cấp, các cuộc tiếp xúc cử tri, lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta cũng thông tin kịp thời, giải đáp thắc mắc, tiếp thu kiến nghị của cử tri về công tác sắp xếp, tinh gọn bộ máy và nhận được sự đồng tình, ủng hộ, thống nhất rất cao của đại bộ phận các tầng lớp nhân dân. Các hoạt động hội thảo, tọa đàm về chủ đề này cũng được tổ chức từ Trung ương đến địa phương. Giới chuyên gia, nhà lãnh đạo, nhà quản lý, cộng đồng doanh nghiệp, doanh nhân bày tỏ kỳ vọng lớn vào cuộc cách mạng mới của đất nước, đồng thời có nhiều hiến kế, đề xuất, kiến nghị có giá trị, sát thực tiễn, nhằm góp phần thực hiện thành công chủ trương lớn của Đảng.

Có thể nói, cuộc cách mạng về cải cách tổ chức bộ máy trong hệ thống chính trị của đất nước đã và đang nhận được sự quan tâm to lớn của nhân dân và dư luận quốc tế. Sự đồng thuận, kỳ vọng của nhân dân chính là cơ sở, nền tảng tinh thần vững chắc để Đảng, Nhà nước ta quyết tâm, quyết liệt thực hiện bằng được mục tiêu, yêu cầu đã đề ra. Trong bài viết với tựa đề “Tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả”, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh: “… Để đạt được các mục tiêu chiến lược, không chỉ đòi hỏi những nỗ lực phi thường, những cố gắng vượt bậc, mà còn không cho phép chúng ta chậm trễ, lơi lỏng, thiếu chính xác, thiếu đồng bộ, thiếu nhịp nhàng trên từng bước đi; muốn vậy cần khẩn trương thực hiện cách mạng về tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị…”.

Sự khẳng định tính tất yếu và quyết tâm phải làm nhanh, làm đồng bộ, chính xác, hiệu quả các bước đi, lộ trình tinh gọn bộ máy của người lãnh đạo cao nhất Đảng ta cũng chính là quyết tâm chính trị to lớn của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Điều này khẳng định, Đảng, Nhà nước ta đã xác định đúng và trúng vấn đề. Tinh gọn bộ máy không chỉ là đòi hỏi tất yếu từ thực tiễn của đất nước mà còn là yêu cầu khách quan của xu thế thời đại. Việt Nam sẽ gặp nhiều rào cản, khó khăn, chậm trễ… trong hội nhập quốc tế nếu không quyết liệt tinh gọn bộ máy vốn đã và đang quá cồng kềnh hiện nay.

Thấy gì từ những luận điệu xuyên tạc, chống phá?

Cả trên phương diện lý luận và thực tiễn, việc cải cách để tinh gọn, bảo đảm cho bộ máy công quyền hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả là một đòi hỏi tất yếu. Đây là thời điểm chín muồi, hội tụ các yếu tố cần và đủ để chúng ta thực hiện cuộc cách mạng của thời đại mới, đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, từ dấu mốc Đại hội XIV của Đảng.

Trong lúc hệ thống chính trị các cấp đang chủ động, nỗ lực triển khai các hình thức, giải pháp sắp xếp, tinh gọn bộ máy với tinh thần Trung ương nêu gương thì không gian mạng cũng liên tục xuất hiện các sản phẩm truyền thông mang tư tưởng thù địch, đi ngược lại chủ trương của Đảng, Nhà nước ta. Trên các nền tảng mạng xã hội như Facebook, YouTube… thời gian gần đây liên tục xuất hiện các bài viết, video clip của một số đối tượng phản động là người Việt Nam ở nước ngoài. Đây là những thành phần bất mãn với Tổ quốc, sống lưu vong, lợi dụng không gian mạng để tuyên truyền tư tưởng phản động, xuyên tạc chống phá Đảng, chống phá đất nước.

Bám vào những thông tin về cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy được đăng tải trên hệ thống báo chí, truyền thông trong nước, những đối tượng này vận dụng chiêu bài cắt ghép, xuyên tạc thông tin, “lấy râu ông nọ cắm cằm bà kia” để lèo lái, lừa bịp dư luận. Thủ đoạn của chúng là “hóng hớt” thông tin từ mạng xã hội, lắp ghép vào thông tin, hình ảnh trên báo chí chính thống trong nước để nói phải thành trái, đổi trắng thay đen. Chúng móc nối với một số đối tượng cực đoan trong nước để thực hiện những cái gọi là “trao đổi”, “phỏng vấn” với những đối tượng tự xưng, tự phong là “học giả”, “chuyên gia” để phân tích, bình luận tình hình chính trị trong nước. Chúng bám vào thông tin về việc một số đồng chí nguyên là lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước bị xử lý kỷ luật, gán ghép thông tin này với lộ trình tinh gọn bộ máy để chụp mũ, quy kết chúng ta “thanh trừng nội bộ”…

Chúng ta đều hiểu rõ, cuộc cách mạng nào cũng đều phải trả giá, hy sinh. Thực hiện cuộc cách mạng về tinh gọn bộ máy, chắc chắn sẽ có một bộ phận lớn cán bộ, công chức, viên chức, người hưởng lương từ ngân sách nhà nước… dôi dư, mất việc làm, ảnh hưởng nhất định đến cuộc sống gia đình. Quan điểm của Đảng, Nhà nước ta rất nhân văn, giải quyết có lý, có tình nhằm hạn chế đến mức thấp nhất sự xáo trộn tâm lý xã hội và cuộc sống của những đối tượng bị ảnh hưởng. Bám vào thực tế này, các đối tượng phản động, thù địch liên tục, thường xuyên tung tin thất thiệt nhằm kích động, lôi kéo, cổ xúy các hành vi cực đoan gây mất ổn định chính trị và đoàn kết nội bộ. Những sản phẩm truyền thông độc hại này được chúng triệt để tận dụng mạng xã hội đăng tải, lan truyền với mức độ, cường độ ngày càng nhiều. Mục đích của chúng là gây nhiễu dư luận, gây rối nội bộ, phá vỡ khối đoàn kết thống nhất trong Đảng và hệ thống chính trị, làm lung lạc lòng tin của nhân dân đối với Đảng; phá hoại cuộc cách mạng của Việt Nam trong thời đại mới…

Thống nhất nhận thức, kiên trì hành động

Yêu cầu đầu tiên và trước hết là phải tạo sự thống nhất trong nhận thức và hành động từ trong Đảng và hệ thống chính trị các cấp. Cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy không phải là việc làm “nhất thời” như các thế lực thù địch rêu rao, mà thực chất là chúng ta đã triển khai thực hiện từ lâu, trọng tâm là giai đoạn 7 năm thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25-10-2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Chúng ta đã đạt được một số kết quả quan trọng, bước đầu tạo chuyển biến tích cực trong đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy. Tuy nhiên, kết quả đạt được theo yêu cầu đề ra vẫn còn khiêm tốn, thực tế còn tồn tại nhiều điểm nghẽn, bất cập cần khẩn trương tháo gỡ. Đảng ta đã chỉ rõ, cho đến nay, tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị vẫn còn cồng kềnh, nhiều tầng nấc, nhiều đầu mối; hiệu lực, hiệu quả hoạt động chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ…

Những hạn chế, tồn tại đó là lực cản lớn, gây lãng phí, kìm hãm sự phát triển của đất nước. Nguyên nhân là do chúng ta còn chậm chạp, thiếu quyết liệt trong thực hiện chủ trương đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy. Những hạn chế, yếu kém, tồn tại đã được Đảng, Nhà nước chỉ rõ, thẳng thắn thừa nhận. Việc triển khai sắp xếp, tinh gọn bộ máy được làm trước hết từ Trung ương đã thể hiện rõ tính nêu gương, tiền phong gương mẫu từ trên xuống.

Sự thống nhất nhận thức và hành động, trước hết, trên hết từ trong Đảng là nhân tố nòng cốt, trung tâm để tạo sự thống nhất trong cả hệ thống chính trị và toàn dân. Để có sự thống nhất, đoàn kết thực chất, bền vững, bên cạnh việc tin tưởng, ủng hộ, đồng hành với chủ trương lớn của Đảng, đòi hỏi cán bộ, đảng viên và công dân yêu nước phải có chính kiến, thái độ rõ ràng trước những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các đối tượng cực đoan, phản động, thế lực thù địch.

Trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, kẻ thù của cách mạng Việt Nam là thực dân, đế quốc xâm lược và các thế lực tay sai. Cuộc cách mạng trong thời đại mới về tinh gọn bộ máy, kẻ thù của chúng ta bên cạnh các thế lực thù địch, phần tử phản động còn là cái “tôi” ích kỷ, hẹp hòi, đố kỵ, sự yếu kém của bản lĩnh, chủ nghĩa cá nhân. Để cách mạng thành công, phải đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch, đồng thời phải đấu tranh với chính cái “tôi” tiêu cực, chủ nghĩa cá nhân, ngăn chặn có hiệu quả những biểu hiện suy thoái chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống ngay từ nội bộ./.

MT

 

 

CẢNH GIÁC VỚI LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ TỔ CHỨC,

HOẠT ĐỘNG VÀ QUẢN LÝ HỘI Ở VIỆT NAM

Vừa qua, trên Facebook: Đài Á châu tự do, RFA đăng bài viết: “Lo sợ cách mạng màu, Chính phủ ra Nghị định 126 bóp nghẹt hơn quyền lập hội”, với nội dung xuyên tạc rằng: Nghị định 126 “nhằm hạn chế hoạt động của xã hội dân sự”. Đây là một luận điệu sai trái, nhằm chống phá Việt Nam, cổ súy cho tự do dân chủ tư sản phương Tây, hướng lái người đọc hiểu sai về Nghị định 126/2024/NĐ-CP, hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng và Nhà nước Việt Nam.

1. Nghị định số 126/2024/NĐ-CP ngày 08/10/2024 của Chính phủ là sự tiếp nối và phát triển các văn bản, nghị định trước đây về tổ chức, hoạt động và quản lý hội ở Việt Nam.

Từ khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam), quyền lập hội và quyền hội họp đã được ghi rõ tại Điều 10 Hiến pháp năm 1946: “tự do tổ chức và hội họp”; đây là cơ sở quan trọng cho việc xác lập các quyền dân chủ trong nước. Quyền lập hội được tiếp tục khẳng định tại các bản Hiến pháp năm 1959, năm 1980, năm 1992 và năm 2013; Chính phủ ban hành Nghị định số 45/2010/NĐ-CP quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội, Nghị định số 33/2012/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 45, cho thấy sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, Quốc hội đối với việc thực hiện các quyền về dân chủ của công dân, trong đó có quyền lập hội và quyền hội họp.

Hiện nay, trước yêu cầu phát triển, hội nhập quốc tế của đất nước, đặt ra phải tiếp tục xây dựng, hoàn chỉnh các quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội, phù hợp với pháp luật; ngày 08/10/2024 Chính phủ ban hành Nghị định số 126/2024/NĐ-CP, thay thế Nghị định số 33/2012/NĐ-CP của Chính phủ, nhằm bảo đảm chặt chẽ, tạo môi trường pháp lý thuận lợi nhất để các hội phát triển và phát huy vai trò của mình trong xây dựng đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Nghị định số 126/2024/NĐ-CP quy định cụ thể hơn về số lượng tổ chức, công dân Việt Nam đăng ký tham gia thành lập hội, như: Hội hoạt động trong phạm vi toàn quốc hoặc liên tỉnh có ít nhất 100 tổ chức, công dân tại hai đơn vị hành chính cấp tỉnh trở lên có đủ điều kiện, tự nguyện, có đơn đăng ký tham gia thành lập hội; Hội hoạt động trong phạm vi tỉnh có ít nhất 50 tổ chức, công dân tại hai đơn vị hành chính cấp huyện trở lên có đủ điều kiện, tự nguyện, có đơn đăng ký tham gia thành lập hội; Hội hoạt động trong phạm vi huyện có ít nhất 20 tổ chức, công dân tại hai đơn vị hành chính cấp xã trở lên có đủ điều kiện, tự nguyện, có đơn đăng ký tham gia thành lập hội; Hội hoạt động trong phạm vi xã có ít nhất 10 tổ chức, công dân tại đơn vị hành chính cấp xã có đủ điều kiện, tự nguyện, có đơn đăng ký tham gia thành lập hội.

2. Thực tiễn việc tổ chức lập hội và hoạt động của các hội ở Việt Nam luôn phát huy dân chủ rộng rãi, phù hợp với pháp luật ở Việt Nam.

 Trong gần 40 năm đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý của Nhà nước, quyền làm chủ của nhân dân, công tác tổ chức lập hội và hoạt động của các hội ở Việt Nam được phát huy rộng rãi, đúng quy định của pháp luật Việt Nam. Theo Báo cáo của Bộ Nội vụ (tháng 10/2023) về tổng kết thực hiện Nghị định số 45/2010/NĐ-CP ngày 21/4/2010 của Chính phủ quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội, tính đến tháng 12 năm 2022, cả nước có 71.669 hội; trong đó có 587 hội hoạt động phạm vi cả nước và 71.082 hội hoạt động phạm vi địa phương. Việt Nam đang phát triển toàn diện, đã đạt mức thu nhập trung bình, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân ngày càng được nâng lên. Nền kinh tế của đất nước liên tục tăng trưởng cao, GDP năm 2020 tăng 1,4 lần so với năm 2015; năm 2022 tăng trưởng đạt 8,02%, năm 2023 đạt 5,05%; theo dự báo năm 2024 đạt khoảng 6,8%. Việt Nam trúng cử thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc nhiệm kỳ 2014 - 2016; 2023 - 2025; Hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách xã hội ngày càng hoàn thiện; quyền làm chủ của nhân dân, vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội trong tham gia xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước được phát huy mạnh mẽ.

Những minh chững trên cho thấy, Chính phủ ban hành Nghị định số 126/2024/NĐ-CP ngày 08/10/2024 quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội là hoàn toàn đúng đắn và phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Vì vậy, mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân cần nêu cao cảnh giác trước những âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch trên Facebook: Đài Á châu tự do RFA, đồng thời kiên quyết đấu tranh bác bỏ những luận điệu sai trái này./

MT

 

 

TỈNH TÁO TRƯỚC SỰ XUYÊN TẠC, CHỐNG PHÁ VỀ CÔNG TÁC NHÂN SỰ TRƯỚC THỀM ĐẠI HỘI ĐẢNG CÁC CẤP

 

“Công tác nhân sự là công việc rất quan trọng của mỗi kỳ đại hội Đảng. Công tác cán bộ là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng, là mắt xích trọng yếu trong toàn bộ hoạt động của Đảng, quyết định sự thành bại của cách mạng. Do đó, công tác nhân sự phải được chuẩn bị chu đáo, kỹ lưỡng, thận trọng”. Đó là kết luận của đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm tại cuộc họp Tiểu ban Nhân sự Đại hội XIV của Đảng mới đây.

Dựng chuyện, xuyên tạc - câu chuyện “bình cũ rượu mới”

Đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2025 - 2030 sẽ được tổ chức trong năm 2025. Đây là sự kiện chính trị có ý nghĩa trọng đại của đất nước, là đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Chuẩn bị tốt nhất về mọi mặt là yếu tố, tiền đề hết sức quan trọng để tổ chức thành công đại hội đảng các cấp, tiến tới Đại hội XIV của Đảng (dự kiến được tổ chức vào tháng 01/2026).

Trước thềm đại hội đảng các cấp, sự chống phá của các thế lực thù địch càng quyết liệt. Chúng tập trung xuyên tạc về mục tiêu, lý tưởng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, về sự lãnh đạo của Đảng và đặc biệt là về công tác nhân sự đại hội… Đây sẽ là “điểm mấu chốt” để các thế lực thù địch, phần tử phản động câu kết chống phá trên nhiều lĩnh vực, nhất là trên không gian mạng. Chúng triệt để lợi dụng những vấn đề nóng, bức xúc trong xã hội để xuyên tạc, bóp méo nhằm công kích sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, gieo rắc tâm lý hoang mang, nghi ngờ trong một bộ phận quần chúng nhân dân, tập trung ở những nơi từng gây ra mất an ninh, trật tự và an toàn xã hội. Tất cả sự chống phá nêu trên đều nhằm tới mục tiêu xuyên tạc, bôi nhọ danh dự, uy tín cán bộ, nhất là cán bộ có khả năng là ứng viên cho cấp ủy khóa mới của các cấp; hạ thấp uy tín và thành quả cách mạng của Đảng và Nhà nước Việt Nam; xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nguy hại hơn là đã có không ít cán bộ, người dân tin vào những thông tin và luận điệu xuyên tạc ấy.

Trên internet, mạng xã hội và một số diễn đàn, các thế lực thù địch, phần tử cơ hội cố tình đưa nhiều thông tin sai lệch, xuyên tạc về đại hội đảng bộ các cấp và Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam, đặc biệt là tuyên truyền xuyên tạc về công tác chuẩn bị đại hội. Các phần tử xấu tiếp tục dựng chuyện và quy chụp rằng “việc chuẩn bị đại hội như là hoạt động thay cho đại hội, xóa bỏ quyền của các đại biểu dự đại hội”; rằng công tác quy hoạch và đào tạo cán bộ cốt cán cho Đại hội XIV là Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII đã “tước đi quyền tự do, dân chủ trong việc ứng cử, đề cử và bầu cử của các đại biểu dự Đại hội XIV”. Đặc biệt, về vấn đề nhân sự, họ tự dựng lên danh sách lãnh đạo cấp cao… Họ tung hô, ngụy tạo rằng, đại biểu dự Đại hội XIV của Đảng chỉ còn việc “giơ tay biểu quyết” đồng ý mà không thể có ý kiến gì khác…

Tỉnh táo, ngăn chặn sự xuyên tạc, bịa đặt

Để phòng, chống thông tin giả, tin đồn thất thiệt về công tác nhân sự trước đại hội đảng bộ các cấp và Đại hội XIV của Đảng có hiệu quả, phải thực hiện tổng hợp nhiều hình thức, biện pháp bao gồm cả phòng và chống trong mối quan hệ chặt chẽ với nhau ở tất các các cấp, các ngành, từ Trung ương đến các địa phương, trên tất cả lĩnh vực của đời sống xã hội.

Trong bài phát biểu tại phiên họp đầu tiên của Tiểu ban Nhân sự Đại hội XIV của Đảng diễn ra tại Hà Nội vào ngày 13/3/2024, nói về nội dung “Trách nhiệm của chúng ta”, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ: Phải xác định công tác chuẩn bị nhân sự là nhiệm vụ quan trọng, là nhiệm vụ “then chốt” của “then chốt”, có liên quan đến sự sống còn của Đảng, vận mệnh của chế độ, sự phát triển vững mạnh của đất nước; phải bằng mọi biện pháp dứt khoát không đưa vào cơ quan lãnh đạo những người không xứng đáng, không đủ tiêu chuẩn, nhất là những người đã vi phạm hoặc sa sút về phẩm chất, đạo đức, vướng vào tham nhũng, chạy chức, chạy quyền, hống hách, gia trưởng, nịnh trên nạt dưới; bao che cho tội phạm, gây mất đoàn kết, ảnh hưởng xấu đến uy tín của Đảng. Để những người đó lọt được vào cương vị lãnh đạo là tai họa cho Đảng, là điều kiện cho họ càng hại nước, hại dân nhiều hơn.

Đến nay, công tác chuẩn bị Đại hội XIV của Đảng đã và đang được thực hiện tích cực, trách nhiệm, bảo đảm tiến độ ở đảng bộ các cấp, cả về nội dung các báo cáo và công tác nhân sự. Đặc biệt, ngày 14/6/2024, Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số 35-CT/TW về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội XIV của Đảng (Chỉ thị số 35). Đây là văn bản hết sức quan trọng, định hướng rõ những quan điểm, nguyên tắc, mục tiêu, yêu cầu và những nội dung cơ bản chuẩn bị đại hội đảng bộ các cấp để các cấp ủy, tổ chức đảng quán triệt, lãnh đạo, chỉ đạo, cụ thể hóa và tổ chức thực hiện ở cấp mình; bảo đảm đồng bộ, thống nhất trong toàn hệ thống chính trị.

Chỉ thị số 35 đặt ra bẩy yêu cầu đối với công tác chuẩn bị và tiến hành đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2025 - 2030, trong đó bổ sung mới một yêu cầu nêu rõ chỉ đạo của Bộ Chính trị cần tiếp tục chấn chỉnh, đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ, công tác chuẩn bị nhân sự. Theo đó, công tác nhân sự cần bảo đảm tính kế thừa, ổn định, đổi mới, sáng tạo và phát triển; bảo đảm sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng, cấp ủy các cấp, đề cao vai trò, trách nhiệm của tập thể lãnh đạo và người đứng đầu theo quy định; bảo đảm sự đoàn kết, thống nhất cao, thận trọng từng bước, làm đến đâu chắc đến đó; cần có cơ chế, tiêu chí sàng lọc hiệu quả để không bỏ sót những người thật sự có đức, có tài. Quá trình thực hiện phải nắm vững nguyên tắc, đúng quy trình, phát huy dân chủ, giữ vững kỷ cương, kỷ luật trong công tác lựa chọn, giới thiệu và bầu cấp ủy các cấp. Cấp ủy nhiệm kỳ 2025 - 2030 phải đặc biệt coi trọng chất lượng, có số lượng và cơ cấu hợp lý; tiêu biểu về trí tuệ, phẩm chất, uy tín, thật sự trong sạch, vững mạnh, có năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu cao, đáp ứng yêu cầu lãnh đạo trong tình hình mới, thực hiện thắng lợi nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp và Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng.

Cụ thể về tiêu chuẩn cấp ủy viên nhiệm kỳ 2025 - 2030, Chỉ thị số 35 và Tiểu ban Nhân sự Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh: Một là, có bản lĩnh chính trị vững vàng, tuyệt đối trung thành với lợi ích của Đảng, Nhà nước và của nhân dân; kiên định Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối đổi mới của Đảng, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Kiên quyết đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước. Hai là, có phẩm chất đạo đức, lối sống gương mẫu, trong sáng; thực hiện nghiêm quy định của Đảng, nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình; có ý thức tổ chức kỷ luật và tinh thần trách nhiệm cao trong công việc, giữ gìn sự đoàn kết nội bộ; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; kê khai tài sản, thu nhập trung thực, minh bạch; không cơ hội, tham vọng quyền lực, cục bộ, bè phái, tham nhũng, tiêu cực, “lợi ích nhóm”… Không để vợ hoặc chồng, con, người thân lợi dụng chức vụ, quyền hạn để trục lợi. Ba là, có năng lực cụ thể hóa và tổ chức thực hiện có hiệu quả đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; có tư duy đổi mới, tầm nhìn, phương pháp làm việc khoa học, hiệu quả; nói đi đôi với làm, năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm; có thành tích, kết quả công tác và “sản phẩm” cụ thể trong địa bàn, lĩnh vực công tác được giao.

Công tác chuẩn bị cho đại hội đảng các cấp tiến tới Đại hội XIV của Đảng đang được tiến hành một cách khẩn trương nhưng cũng rất chặt chẽ, chu đáo, công phu, bài bản, đúng nguyên tắc, quy trình, thủ tục… được đông đảo cán bộ, đảng viên và nhân dân quan tâm, đánh giá cao. Trong đó, thực hiện nhất quán nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo trực tiếp, toàn diện công tác nhân sự đại hội và quản lý đội ngũ cán bộ… Việc chủ động nhận diện, đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch về công tác nhân sự trước thềm đại hội đảng các cấp là yêu cầu khách quan, là trách nhiệm của mọi cán bộ, đảng viên và nhân dân, góp phần vào sự thành công của đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội XIV của Đảng./.

MT

 

 

MỘT SỐ YÊU CẦU TRONG KỶ NGUYÊN VƯƠN MÌNH

 Nhân Trần

Thứ nhất, phải phát triển tăng tốc trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, đưa đất nước lên một tầm cao mới, tiến cùng thời đại. Yêu cầu bao trùm trong kiến tạo kỷ nguyên mới là phải tiến hành đồng thời, thắng lợi một quá trình “đột phá kép”. Một mặt, phải đột phá đi thẳng vào hiện đại, vào những lĩnh vực công nghệ cao, đặc biệt là công nghệ số, mà Việt Nam có lợi thế; vào quản trị quốc gia hiện đại trên nền tảng chính phủ số, xã hội số, công dân số, tạo sự phát triển vượt bậc về kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại. Mặt khác, phải đột phá trong việc giải quyết triệt để những điểm nghẽn, những yếu kém, hạn chế, những khó khăn đang kìm hãm, cản trở sự phát triển của đất nước. Hai quá trình đột phá này cần phải được tiến hành song song, đồng bộ, hỗ trợ lẫn nhau, trong đó đi tắt, đón đầu, đi thẳng vào hiện đại là cơ bản, có ý nghĩa quyết định; khắc phục, giải quyết những yếu kém, bất cập là cấp bách, quan trọng.

Thứ hai, yêu cầu có ý nghĩa đột phá khẩu trong kiến tạo kỷ nguyên mới là đột phá về tư duy, nhận thức. Bước vào kỷ nguyên thống nhất, đổi mới, phát triển (1975 - 2025), Đảng ta bắt đầu bằng đổi mới tư duy, nhận thức lại một cách đúng đắn hơn, khoa học hơn quy luật xây dựng chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; đột phá lý luận về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa với những nhận thức rất mới mẻ mà trước đổi mới còn hoàn toàn xa lạ. Chính đột phá tư duy lý luận đã khai mở con đường đổi mới trên tất cả các lĩnh vực, tạo ra những thành tựu vĩ đại. Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc diễn ra song hành với kỷ nguyên số, kỷ nguyên của đổi mới sáng tạo mà tiếng nói chung của nhân loại là “không có gì là không thể”. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và các cuộc cách mạng công nghiệp tiếp theo đang và sẽ làm đảo lộn phương cách suy nghĩ, sản xuất, sinh hoạt của các quốc gia, cộng đồng và của mỗi con người. Một lần nữa, thực tiễn lại đòi hỏi và tạo điều kiện để chúng ta đổi mới mạnh mẽ về tư duy, nhận thức. Trên cơ sở kế thừa những tư duy khoa học đã tích lũy được qua 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới, chúng ta cần cởi mở, chăm chú, mạnh dạn tiếp thu những tư duy mới, những xu hướng phát triển mới của nhân loại với phương châm tiến kịp, tiến cùng thời đại. Cần có những đột phá lý luận với cách tiếp cận mới về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; về lộ trình và bước đi; về lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa phù hợp với cuộc cách mạng số, kỷ nguyên số; về hạ tầng cơ sở và thượng tầng kiến trúc trong kỷ nguyên mới…; trên cơ sở đó, đột phá trong định hướng phát triển các lĩnh vực quan trọng của đất nước, đặc biệt là phát triển đột phá về khoa học - công nghệ, về đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, thu hút, phát huy nhân tài; về phát triển văn hóa, xây dựng con người Việt Nam; về quản trị quốc gia; về hiện đại hóa quốc phòng, an ninh, nâng tầm đối ngoại, ngoại giao… Chúng ta kiên định nền tảng tư tưởng là chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về đường lối đổi mới của Đảng trên tinh thần không ngừng sáng tạo; không chủ quan, duy ý chí, nhưng kiên quyết không để chủ nghĩa giáo điều, bảo thủ kìm trói tư duy, nhận thức của chúng ta. “Chúng ta cần tiếp thu, bổ sung một cách có chọn lọc trên tinh thần phê phán và sáng tạo những thành tựu mới nhất về tư tưởng và khoa học để chủ nghĩa, học thuyết của chúng ta luôn luôn tươi mới, luôn luôn được tiếp thêm sinh lực mới, mang hơi thở của thời đại, không rơi vào xơ cứng, trì trệ, lạc hậu so với cuộc sống”. Đây thực sự là một cuộc cách mạng - cuộc cách mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh: Cái gì có lợi cho Tổ quốc, cho nhân dân là chân lý. Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân thống nhất nhận thức, quyết tâm đổi mới tư duy, lấy đó làm kim chỉ nam cho hành động, tạo ra bước phát triển chưa từng có cho dân tộc ta trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Thứ ba, kỷ nguyên mới yêu cầu phải tạo đột phá trong huy động, sử dụng tối ưu các nguồn lực còn rất tiềm tàng của đất nước. Việt Nam ta tài nguyên phong phú, các nguồn lực trong dân còn rất dồi dào, các nguồn lực từ bên ngoài theo các dòng đầu tư nước ngoài vào Việt Nam theo chính sách đối ngoại, hội nhập đúng đắn của Đảng, Nhà nước ta là rất lớn; nhân dân Việt Nam cần cù, sáng tạo; con người Việt Nam yêu nước, thông minh; nguồn lực vô hình tiềm ẩn trong lợi thế địa chính trị, địa kinh tế của đất nước là vô giá. Chính những nguồn lực to lớn này góp phần quan trọng tạo nên thành tựu vĩ đại của công cuộc đổi mới thời gian qua. Tuy nhiên, cũng phải thẳng thắn chỉ ra rằng, về vấn đề này, chúng ta còn nhiều khuyết điểm, bất cập. Do những hạn chế của hệ thống thể chế; năng lực lãnh đạo, quản lý và phẩm chất của một bộ phận cán bộ, đảng viên; nhận thức chưa đến nơi của một bộ phận nhân dân…, nhiều nguồn lực của đất nước còn bị thất thoát, phí phạm, sử dụng kém hiệu quả; năng lực, trí tuệ của con người Việt Nam chưa được khởi phát đúng tầm; lợi thế của đất nước chưa được phát huy tương xứng. Kỷ nguyên mới đòi hỏi phải tạo chuyển biến căn bản về nhận thức, hành động của toàn Đảng, toàn xã hội trong việc giữ gìn, nuôi dưỡng, sử dụng hiệu quả nhất các nguồn lực của đất nước. Từng đồng tiền, bát gạo; từng mét vuông đất rừng, ngư trường, biên cương; từng vỉa quặng; từng giờ, từng ngày lao động và khả năng của mỗi con người… cần phải được quý trọng, bồi đắp, khai phóng để tạo thành của cải vật chất. Tiết kiệm, chống lãng phí, thất thoát, cần kiệm xây dựng đất nước phải trở thành quốc sách; thành nhiệm vụ chính trị của các tổ chức đảng, hệ thống chính trị; thành ý thức, tình cảm, việc làm tự giác của mỗi người Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Thứ tư, phải phát huy đến mức cao nhất các động lực phát triển đất nước, đặc biệt là tinh thần yêu nước, tự hào dân tộc, ý chí tự chủ, tự lực, tự cường, khát vọng sáng tạo và cống hiến của toàn dân, của con người Việt Nam. Thực tiễn lịch sử cách mạng Việt Nam gần 95 năm qua đã chứng minh hùng hồn, trong những bước phát triển nhảy vọt của cách mạng, chủ nghĩa yêu nước, sức mạnh đại đoàn kết, tinh thần đấu tranh, lao động, sáng tạo của nhân dân, của con người Việt Nam là nguồn gốc của mọi thắng lợi. Kỷ nguyên mới với những mục tiêu lịch sử đòi hỏi khách quan phải phát huy đến mức cao nhất tinh thần, ý chí, sức mạnh của nhân dân - chủ thể đóng vai trò trung tâm của sự nghiệp kiến tạo kỷ nguyên mới. Cần chuyển hóa chủ trương, quyết sách, ý chí của Đảng thành nhận thức, thành cảm hứng hành động, sáng tạo của toàn dân, của mỗi người Việt Nam, khởi nguồn từ việc củng cố, bồi đắp niềm tin của nhân dân theo nguyên lý: có niềm tin của nhân dân là có tất cả; mất niềm tin của nhân dân là mất tất cả. Niềm tin của nhân dân được bồi đắp, nhân lên từ nhận thức đúng đắn về con đường phát triển của dân tộc do Đảng dẫn đường, chỉ lối; từ sự tôn trọng của Đảng, hệ thống chính trị đối với vai trò làm chủ, quyền làm chủ thật sự của nhân dân; từ những thành quả thực tiễn của đất nước đem lại những lợi ích thiết thực có thể đo đếm được cho mỗi gia đình, mỗi con người Việt Nam; từ những tấm gương trong sạch, trong sáng, tận tụy phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Nguyên lý: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội làm nòng cốt để nhân dân làm chủ; mọi chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đều phải xuất phát từ nguyện vọng và lợi ích chính đáng của nhân dân; cần lấy hạnh phúc, sự hài lòng của nhân dân làm tiêu chí đánh giá cán bộ, đảng viên… mà Đại hội XIII của Đảng đã đúc kết cần phải tiếp tục được thể chế hóa, cụ thể hóa và thực thi nghiêm túc trong thực tiễn.

Thứ năm, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng; xây dựng Đảng thật sự là đạo đức, văn minh, thật sự tiêu biểu cho trí tuệ, danh dự và lương tâm của dân tộc, của thời đại. Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam, là chân lý được đúc kết qua lịch sử vẻ vang gần một thế kỷ của Đảng, của dân tộc ta. Là người khởi xướng, lãnh đạo công cuộc kiến tạo kỷ nguyên mới, Đảng ta gánh trên vai sứ mệnh vinh quang, trọng trách nặng nề. Nhân dân đặt niềm tin và kỳ vọng Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh toàn diện: Bản lĩnh về chính trị, thống nhất về tư tưởng, cao về văn hóa, đẹp về đạo đức, khoa học về tổ chức, tiêu biểu về cán bộ, xứng đáng là “người cầm lái vĩ đại” đưa dân tộc đi đến phồn vinh, hạnh phúc. Nhân dân mong muốn và hy vọng cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu, đặc biệt cán bộ cấp chiến lược, thực sự có đức, có tài, biết lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ, có năng lực thiết kế, truyền cảm hứng và làm gương để nhân dân noi theo trên cuộc hành trình dựng xây kỷ nguyên mới. Sẽ có rất nhiều việc phải làm, phải làm quyết liệt nhưng vững chắc để có được một hệ thống tổ chức bộ máy của Đảng, của hệ thống chính trị tinh gọn, thống nhất, hợp lý, đồng bộ, thông suốt, hoạt động hiệu lực, hiệu quả theo nguyên tắc kết nối - tương tác - chia sẻ, có khả năng thích ứng cao với thời cuộc luôn thay đổi; để có được một đội ngũ cán bộ, đảng viên liêm khiết, mẫu mực, tiêu biểu hết lòng vì Đảng, vì Dân. Đây thực sự là một cuộc cách mạng về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc./.

 

CƠ SỞ KHẲNG ĐỊNH VIỆT NAM BƯỚC VÀO KỶ NGUYÊN VƯƠN MÌNH CỦA DÂN TỘC

Nhân Trần

Kỷ nguyên là một giai đoạn lịch sử được đánh dấu bởi sự kiện với những đặc trưng quan trọng có tầm ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của một dân tộc, một quốc gia hay cả nhân loại; thường được sử dụng để phân chia thời gian trong lịch sử theo những biến cố lớn hoặc có sự thay đổi căn bản trong đời sống tự nhiên, kinh tế, chính trị, khoa học, công nghệ, môi trường... Tại Hội nghị lần thứ 10 Ban Chấp hành Trung ương (khóa XIII, 9/2024) Đảng ta thống nhất nhận định: Bắt đầu bằng sự kiện trọng đại - Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam, đất nước ta chính thức bước vào thời kỳ phát triển mới, kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Sau gần một thế kỷ Đảng lãnh đạo cách mạng, 50 năm giải phóng đất nước, 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc; dân tộc ta đã tạo ra những bước phát triển kỳ diệu; trải qua những kỷ nguyên vẻ vang. Đó là kỷ nguyên độc lập dân tộc và đi theo con đường xã hội chủ nghĩa (1930 - 1975); kỷ nguyên thống nhất đất nước, đổi mới xây dựng chủ nghĩa xã hội (1975 - 2025) và bây giờ, chúng ta bước vào kỷ nguyên thứ ba - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Việc xác định đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình luôn đứng vững trên cơ sở khoa học và thực tiễn đúng đắn. Lý luận về kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam là sự kế thừa, phát triển tư duy, nhận thức về giai đoạn phát triển mới của đất nước trên cơ sở kiên định, vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới, tiếp tục phát triển nhanh và bền vững đất nước; gắn kết chặt chẽ và triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, trong đó phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường là trung tâm; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị là then chốt; phát triển văn hoá, con người là nền tảng tinh thần; bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại là trọng yếu, thường xuyên. Cơ sở thực tiễn là “những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với những năm trước đổi mới”[1]. Kinh tế phát triển nhanh và bền vững; chính trị, văn hóa, xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được giữ vững; “đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”[2]. Sau gần 40 năm đổi mới, từ một nước bị tàn phá sau nhiều cuộc chiến tranh, nghèo nàn, lạc hậu, thiếu đói, bị bao vây, cấm vận; Việt Nam đã vươn lên trở thành nước có thu nhập trung bình với thu nhập bình quân đầu người đạt 4.300 USD năm 2023 (tăng gần 60 lần so với năm 1986). Tăng trưởng kinh tế bình quân đạt trên 6,5%/năm, thuộc nhóm các nước có mức tăng trưởng cao trong khu vực và trên thế giới. Quy mô nền kinh tế đạt khoảng 430 tỷ USD năm 2023, đứng thứ 35 thế giới (tăng 95 lần so với năm 1986). Việt Nam đã nằm trong nhóm 40 nước có nền kinh tế lớn nhất thế giới và 20 nền kinh tế hàng đầu về thương mại và thu hút đầu tư nước ngoài; có quan hệ ngoại giao chính thức với 194 quốc gia thành viên, quan sát viên của Liên hợp quốc; xây dựng các mối quan hệ đối tác chiến lược toàn diện, đối tác chiến lược với tất cả các cường quốc trên thế giới và khu vực. Từ một xứ thuộc địa nửa phong kiến không có tên trên bản đồ thế giới, đến nay Việt Nam đã trở thành một quốc gia độc lập có chủ quyền, một nước đang phát triển theo hướng hiện đại; được cộng đồng quốc tế ghi nhận là quốc gia tiên phong, là điểm sáng khi đã thực hiện thành công trước thời hạn 6/8 mục tiêu phát triển thiên niên kỷ và mục tiêu phát triển bao trùm, bền vững của Liên hợp quốc. Đó là sự “thay da, đổi thịt”, sự vươn mình của đất nước để vững vàng tiến vào thời kỳ lịch sử mới.

Thời điểm đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình là Đại hội XIV của Đảng - một sự kiện chính trị trọng đại đã hội tụ đủ các yếu tố “thiên thời, địa lợi, nhân hoà”. Đây là lúc Việt Nam hoàn thành xuất sắc công cuộc đổi mới sau 40 năm lao động, sáng tạo, bền bỉ và đạt được những thành tựu vĩ đại; cơ đồ, tiềm lực, vị thế, uy tín quốc tế của đất nước nâng lên rõ rệt. Đến thời điểm này, Việt Nam đã hội tụ đầy đủ các nhân tố “thiên thời, địa lợi, nhân hòa”, tạo vận hội để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân chung sức đồng lòng, tranh thủ tối đa thời cơ, đẩy lùi thách thức, đưa đất nước phát triển toàn diện, mạnh mẽ, bứt phá và cất cánh vươn lên. Bên cạnh đó, chúng ta có lợi thế đi sau, thực hiện bước đi tắt, đón đầu. Trong khi không gian phát triển của đất nước có nhiều lợi thế về vị trí địa kinh tế - chính trị chiến lược quan trọng. Dân số đất nước đạt khoảng 105 triệu người và đang ở thời kỳ dân số vàng. Nền văn hóa Việt Nam đặc sắc, hòa hiếu, bao dung, độ lượng được lan tỏa mạnh mẽ. Chúng ta lại có Đảng lãnh đạo cầm quyền, có bản lĩnh, trí tuệ; đất nước ổn định, nhân dân đồng thuận triệu người như một… Đó là hành trang để chúng ta bước vào kỷ nguyên mới, khơi dậy tinh thần yêu nước, ý thức tự tin, tự chủ, tự lực, tự cường, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân và hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phát huy tối đa nội lực và sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, giải phóng toàn bộ sức sản xuất, tranh thủ ngoại lực, lấy nguồn lực nội sinh và đổi mới sáng tạo là tạo động lực mới cho phát triển nhanh, bền vững./.



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb CTQGST, Hà Nội, 2021, t. I, tr.103.

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb CTQGST, Hà Nội, 2021, t. I, tr.103-104.

 

CẢNH GIÁC TRƯỚC LUẬN ĐIỆU CHỐNG PHÁ TINH GỌN TỔ CHỨC BỘ MÁY HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ

                                                                                             Nhân Trần

Qua nhiều kỳ đại hội, nhất là trong các đại hội gần đây, trong Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ IX, XII, XIII đều nhấn mạnh các nhiệm vụ cụ thể về tinh gọn tổ chức bộ máy hoặc nghiên cứu xây dựng mô hình tổng thể tổ chức bộ máy hệ thống chính trị trong giai đoạn mới. Từ Đại hội VII đến nay, Đảng ta liên tục ban hành nhiều nghị quyết, kết luận để lãnh đạo thực hiện chủ trương đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn tổ chức bộ máy hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Những đổi mới về thể chế, trọng tâm là đổi mới công tác tổ chức bộ máy hệ thống chính trị là một trong những điều kiện cơ bản, quyết định đạt được những thành tựu quan trọng sau 40 năm đổi mới đất nước.

 Đảng ta xem đây là nhiệm vụ vô cùng quan trọng, ví như cuộc cách mạng về tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, cần thống nhất rất cao về nhận thức và hành động trong toàn hệ thống chính trị. Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã cơ bản thống nhất nguyên tắc, mục tiêu, yêu cầu, tiến độ tổng kết Nghị quyết số 18-NQ/TW và một số nội dung gợi ý, định hướng để các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị trực thuộc Trung ương nghiên cứu, đề xuất sắp xếp, hoàn thiện tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.

Tuy nhiên, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị đã lợi dụng tình hình để xuyên tạc, phủ nhận chủ trương cũng như kết quả của công cuộc cải cách này. Một số đối tượng chống đối vẫn tiếp tục xuyên tạc, bóp méo sự thật, lợi dụng sự thay đổi này để tung tin bịa đặt, thổi phồng khuyết điểm hòng đánh tráo mục tiêu, gây hoang mang dư luận. Các đối tượng bịa đặt rằng, việc tinh giản biên chế ở Việt Nam “chỉ là hình thức, mị dân”, không đem lại hiệu quả thực tế mà chỉ là gây tốn kém tiền bạc, ngân sách. Họ cho rằng, cơ cấu bộ máy nhà nước nói là tinh gọn nhưng không thay đổi mà chỉ chuyển người từ chỗ này sang chỗ khác, chỉ gây tốn kém, phức tạp. Họ nguỵ biện rằng, Việt Nam không có tinh giản biên chế, không có tinh gọn bộ máy mà đây chỉ là “miếng bánh phân chia quyền lực”, chuyện của “các phe phái”... Đây là những luận điệu vu cáo, cố tình bóp méo sự thật nhằm làm nhiễu thông tin, “tung hoả mù” gây hoang mang dư luận.

Cải cách, tinh giản bộ máy là đòi hỏi khách quan của công cuộc đổi mới. Xuất phát từ thực trạng, bộ máy cồng kềnh gây lãng phí và kìm hãm sự phát triển là một trong những nguyên nhân dẫn đến nhiều chủ trương, chính sách của Đảng chậm đi vào thực tiễn cuộc sống hoặc một số chủ trương không được triển khai hoặc triển khai hình thức trên thực tế. Một trong những lý do chính để tiến hành cải cách bộ máy hành chính là giảm bớt gánh nặng cho ngân sách quốc gia. Theo số liệu từ Bộ Tài chính, chi cho bộ máy hành chính chiếm khoảng 70% tổng ngân sách chi tiêu thường xuyên của Nhà nước. Để giảm thiểu tình trạng lãng phí, việc tinh giản bộ máy đã và đang là một trong những giải pháp quan trọng, giúp tiết kiệm ngân sách và tái phân bổ các nguồn lực cho các lĩnh vực phát triển kinh tế, xã hội.

Theo báo cáo của Ban Chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ, chỉ tính trong năm 2023, Thủ tướng đã phê duyệt phương án cắt giảm, đơn giản hóa 144 quy định kinh doanh. Tổng số quy định kinh doanh được cắt giảm, đơn giản hóa từ năm 2021 đến nay là 2.770 quy định. Có 147 thủ tục hành chính, giấy tờ công dân liên quan đến quản lý dân cư được thực hiện đơn giản hóa đạt 49,26%. Về quản lý và tinh giản biên chế, thực hiện các nghị định của Chính phủ, từ năm 2015 đến ngày 15/12/2023, cả nước tinh giản biên chế 84.140 người.

Một bộ máy hành chính tinh gọn và chuyên nghiệp sẽ giúp các cơ quan chức năng phối hợp chặt chẽ hơn trong công tác phòng, chống tham nhũng, xử lý các vi phạm pháp luật, đồng thời bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người dân và doanh nghiệp. Cũng nhờ vào sự cải cách này, quy trình cung cấp dịch vụ công đã được đơn giản hóa, rút ngắn thời gian chờ đợi, giúp người dân và doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận các dịch vụ của Nhà nước.

Việc sắp xếp, tinh gọn tổ chức, bộ máy thể hiện quyết tâm chính trị rất cao của Đảng, Nhà nước ta, với mục đích rõ ràng, hoàn toàn không có chuyện “làm cho có”, “chỉ là hình thức”, “tranh giành quyền lực” hay “đấu đá nội bộ” như các thế lực thù địch xuyên tạc, rêu rao. Cần thấy rằng, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị là việc làm không hề dễ dàng, không đơn giản, không phải làm một sớm, một chiều, làm một lần là xong do liên quan nhiều vấn đề nhạy cảm, phức tạp. Do đó đòi hỏi sự chặt chẽ, khoa học, với quyết tâm chính trị cao, thống nhất trong nhận thức và hành động.

Để cuộc cách mạng về tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị bảo đảm thắng lợi, Tổng Bí thư Tô Lâm chỉ rõ: “Thời điểm 100 năm đất nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng và 100 năm thành lập nước không còn xa, để đạt được các mục tiêu chiến lược, không chỉ đòi hỏi những nỗ lực phi thường, những cố gắng vượt bậc, mà còn không cho phép chúng ta chậm trễ, lơi lỏng, thiếu chính xác, thiếu đồng bộ, thiếu nhịp nhàng trên từng bước đi”. Đó là những luận cứ, bằng chứng hùng hồn bác bỏ những luận điệu xuyên tạc./.

 

KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC CHỦ TRƯƠNG TINH GỌN BỘ MÁY CHÍNH TRỊ HIỆU NĂNG, HIỆU LỰC, HIỆU QUẢ

                                                                                             Nhân Trần

Chủ trương tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị với quan điểm “Tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả” dưới sự chỉ đạo của Đảng ta, đứng đầu là Tổng Bí thư Tô Lâm nhận được sự quan tâm, đồng tình ủng hộ, ý chí, quyết tâm cao của cả hệ thống chính trị và đông đảo quần chúng nhân dân. Thế nhưng, như thường lệ, trước, trong và sau khi diễn ra nhưng sự kiện chính trị quan trọng của đất nước, các thế lực thù địch luôn lợi dụng triệt để không gian mạng để tuyên truyền những thông tin xấu độc, quan điểm sai trái, thù địch về chủ trương tinh gọn bộ máy của hệ thống chính trị nhằm chống phá Đảng và Nhà nước ta. Bởi vậy, cần nhận diện rõ bản chất, kiên quyết đấu tranh, bác bỏ những luận điệu, quan điểm sai trái, phản động, những thông tin xấu độc làm ảnh hưởng đến uy tín của Đảng, Nhà nước và lợi ích của quốc gia, dân tộc.

Những năm qua, chủ trương tinh giản biên chế và sắp xếp lại tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị ở nước ta đã được Đảng và Nhà nước triển khai đồng bộ, mạnh mẽ, được đa số cán bộ đảng viên đồng tình hưởng ứng và đạt được một số kết quả quan trọng, bước đầu tạo chuyển biến tích cực trong đổi mới. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tiến bộ đó, với quan điểm nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá khách quan và toàn diện, tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập: Tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị vẫn còn cồng kềnh; hiệu lực, hiệu quả hoạt động chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn nhiều cơ quan, bộ phận còn trùng lắp, chồng chéo, tinh giản biên chế mới tập trung giảm số lượng, chưa gắn với nâng cao chất lượng, nhất là chi phí vận hành hệ thống tổ chức quá lớn, chiếm tới 70% tổng ngân sách chi tiêu thường xuyên của Nhà nước… Đây là nguyên nhân dẫn đến tệ tham ô, tham nhũng, gây thất thoát, lãng phí rất lớn nguồn lực xã hội, làm giảm nguồn lực cho đầu tư phát triển và nhiều hệ lụy tiêu cực khác, những hạn chế bất cập này nếu không giải quyết triệt để sẽ là lực cản to lớn kìm hãm quá trình đổi mới, phát triển đất nước. Từ đó, tính tất yếu phải đẩy mạnh sắp xếp, tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị “Tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả”, xác định đây là nhiệm vụ chính trị hệ trọng, yêu cầu cả hệ thống chính trị phải tập trung giải quyết; trở thành mệnh lệnh tất yếu của cuộc sống. Đây không phải là một chủ trương mới của Đảng, mà là phương thức tiến hành mới trên cơ sở tổng kết, tiếp nối, kế thừa, bổ sung và phát triển các quan điểm của các kỳ Đại hội trước đây của Đảng ta cho phù hợp với thực tiễn sinh động của đất nước và bối cảnh thế giới, vận dụng sáng tạo và giải quyết tốt mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn, nhằm hướng tới mục tiêu tối thượng, vô cùng nhân văn và cao đẹp là nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, giảm chi phí nuôi bộ máy, ưu tiên nguồn lực cho phát triển đất nước, phục vụ nhân dân, xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, sánh vai với các cường quốc năm châu, vững bước tiến vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam.

Ấy vậy mà, lợi dụng việc này, một số đối tượng có tư tưởng thù địch, chống đối vẫn cố tình xuyên tạc, bóp méo sự thật, tung tin bịa đặt, đánh tráo khái niệm, đưa ra những quan điểm không đồng thuận, phản biện vô nguyên tắc, phản đối gay gắt chủ trương, quan điểm của Đảng, gây hoang mang, hoài nghi trong dư luận, với âm mưu phá hoại thành quả cách mạng, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chống phá Đảng và Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Chúng xảo biện cho rằng, “chủ trương tinh gọn chỉ là hình thức bề ngoài, thực chất vẫn chỉ là bình mới rượu cũ, tạo cơ hội chạy ghế, chạy chức, gây tốn kém tiền của của nhân dân”. Ấu trĩ đến nực cười, chúng thậm chí còn dựng lên thuyết âm mưu “tranh giành quyền lực, đấu đá nội bộ, hạ bệ đối thủ”, rêu rao rằng “tinh giản chẳng qua chỉ là cách hợp thức hóa để hạ bệ hoặc gia cố quyền lực trong hệ thống chính trị”. Một số cá nhân có quan điểm đối lập với Đảng, Nhà nước ta lại cho rằng, “đây là cơ hội để quân đội giảm quân”, “kết thúc nhiệm vụ của nhiều quân, binh chủng, lực lượng không còn phù hợp”, “giảm tiền đóng thuế của dân để ưu tiên cho phát triển đất nước”… Đây là những luận điệu vu cáo, cố tình bóp méo sự thật của các thế lực thù địch, gây ra sự nhiễu loạn về thông tin, làm gia tăng các biểu hiện “tự diễn biến, tự chuyển hóa” trong nội bộ cán bộ, đảng viên, tạo ra khoảng trống về ý thức hệ, hòng làm phai nhạt dần lý tưởng cách mạng vô sản và bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc của quân đội, gieo rắc hạt giống hệ tư tưởng phi vô sản có cơ hội nảy mầm trong đời sống tinh thần của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân, hướng lái dư luận theo mục đích và ý đồ đen tối, âm mưu vô cùng thâm độc của các thế lực thù địch là phủ nhận “diễn biến hòa bình” và đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ ở Việt Nam, tuyệt đối hóa sức mạnh kinh tế, ảo tưởng và tung hô tới mức thần thánh hóa sự trợ giúp của các nước phương Tây; từ xem nhẹ vai trò quân đội rồi tiến tới “phi chính trị hóa quân đội”, tách lực lượng vũ trang ra khỏi sự lãnh đạo trực tiếp và tuyệt đối của Đảng, vô hiệu hóa sức mạnh của “thanh bảo kiếm” - tấm khiên bảo vệ Đảng, bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ nhân dân.

Tinh gọn bộ máy là quan điểm chỉ đạo xuyên suốt, thể hiện sự thống nhất cao độ và quyết tâm chính trị rất lớn của Đảng và Nhà nước ta, với mục đích rất rõ ràng, tiến bộ, nhân văn, cao đẹp, không hề có chuyện “làm cho có”, làm vì động cơ “tranh giành, đấu đá”... như các thế lực thù địch cố tình xuyên tạc vì ý đồ, động cơ đen tối. Xét về bản chất, cuộc cách mạng tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm là cuộc cách mạng nhân lực, nhằm cải cách toàn diện tổ chức bộ máy, góp phần “cởi trói” cho lực lượng sản xuất, giải phóng sức sản xuất, tạo điều kiện khai thác và phát huy tối đa nguồn lực con người - yếu tố quan trọng nhất quyết định sự phát triển của lực lượng sản xuất, tạo “lực đẩy” để đất nước ta tiến vào kỷ nguyên cất cánh, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Mục tiêu của cuộc cách mạng tinh gọn tổ chức bộ máy lần này là nhằm tạo ra bước đệm, tạo thế và lực để cả dân tộc chuyển mình, bứt phá mạnh mẽ, cùng hướng tới thực hiện mục tiêu cao cả, vĩ đại của dân tộc: Xây dựng một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh, sớm sánh vai với các cường quốc năm châu như ước nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Dẫu biết rằng, chẳng có con đường nào trải bước trên hoa hồng, đặc biệt là cuộc cách mạng về tinh gọn tổ chức bộ máy lần này có liên quan chặt chẽ tới vấn đề lợi ích, quan hệ lợi ích; cải cách và đổi mới chẳng bao giờ là đơn giản, sẽ luôn gặp những trở lực, cách mạng nào cũng đòi hỏi phải có sự dũng cảm, thử thách và hy sinh của những người cộng sản chân chính, nhưng “lửa thử vàng, gian nan thử sức”, chúng ta hoàn toàn có cơ sở khách quan và khoa học để khẳng định và tin tưởng rằng: Dưới sự lãnh đạo tài tình, trí tuệ và đạo đức của Đảng ta, sự vào cuộc đầy trách nhiệm và quyết tâm của cả hệ thống chính trị, sự đoàn kết một lòng của cả dân tộc - trăm triệu người như một, cuộc sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy “Tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả” tất sẽ thành công./.

 


 

NHẬN DIỆN “TẤM ÁO MỚI” CỦA DIỄN BIẾN HÒA BÌNH”

TRONG TÌNH HÌNH MỚI

Mặt Trời

Thời gian gần đây, sau khi Đảng ta ban hành Nghị quyết Trung ương 4 (Khóa XIII) tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (Khóa XII) về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện tự diễn biến, tự chuyển hóa trong nội bộ; Kết luận số 21-KL/TW tại Hội nghị Trung ương 4 (Khóa XIII) về “Đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”. Ngay lập tức trên các trang các trang mạng xã hội, các phương tiện truyền thông đại chúng, những người thiếu thiện chí với cách mạng Việt Nam lớn tiếng rêu rao: Chiến lược “diễn biến hòa bình” đã kết thúc sứ mạng. Việt Nam không cần phải chống “diễn biến hòa bình” nữa mà nên tập trung phòng, chống, ngăn chặn các biểu hiện tự diễn biến, tự chuyển hóa trong xã hội và trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Luận điệu này làm không ít người thiếu bản lĩnh, mù quáng tin theo.

Trên thực tế “diễn biến hòa bình” là có thật; vẫn là chiến lược phản cách mạng cơ bản nhằm lật đổ chế độ chính trị xã hội của các xã hội chủ nghĩa bằng các biện pháp phi vũ trang nhưng âm mưu thủ đoạn thì ngày càng tinh vi, xảo quyệt; đang từng ngày, từng giờ thẩm thấu, chống phá Việt Nam trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. hiện nay chiến lược “diễn biến hòa bình” đã được “khoác tấm áo mới” với những biến thái mới. Đó là: Chủ thể tiến hành không chỉ là chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch quốc tế mà còn cả các nước theo chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, bành trướng và bá quyền. Đối tượng chống phá không chỉ là các nước xã hội chủ nghĩa mà bao gồm cả các nước có chế độ chính trị mà chủ thể của diễn biến hòa bình” cho là không phù hợp với lợi ích của chúng; các nước có vị trí địa - chính trị và địa - kinh tế chiến lược trên toàn cầu. Biện pháp của diễn biến hòa bình” mang tính tổng hợp cả về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, ngoại giao, quân sự, an ninh... Phương thức chống phá chuyển trọng tâm tác động từ bên vào các nước sang thúc đẩy các hoạt động chống đối, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ngay trong nội bộ là chính. Do đó động cơ chính trị của diễn biến hòa bình” chuyển từ đấu tranh ý thức hệ là chính sang đấu tranh vì lợi ích quốc gia dân tộc.

          Nhìn lại quá trình hình thành và phát triển của diễn biến hòa bình” từ khi còn là biện pháp hỗ trợ cho các đòn tiến công quân sự nhằm ngăn chặn sự phát triển của chủ nghĩa xã hội (Thập niên 40 đến đầu thập niên 80 của thế kỷ XX) đến khi trở thành chiến lược (Cuối thập niên 80 của thế kỷ XX)có sự điều chỉnh, mở rộng cả về chủ thể, đối tượng, phương thức như hiện nay thì bao giờ nó cũng là bộ phận quan trọng trong chiến lược toàn cầu phản cách mạng. Và Việt Nam luôn là một trọng điểm chống phá của chiến lược “diễn biến hòa bình” với mục tiêu xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam; lái Việt Nam theo quỹ đạo phi xã hội chủ nghĩa. Phương châm chống phá là triệt để khai thác và khoét sâu mâu thuẫn nội bộ; lợi dụng những sơ hở, yếu kém của chúng ta; kết hợp công khai với bí mật, hợp pháp với bất hợp pháp; thực hiện ngầm, mềm, sâu, hiểm, tiến công toàn diện, có trọng điểm. Trong đó, lấy chống phá về chính trị, tư tưởng là khâu “trọng tâm, đột phá”, kinh tế là “mũi nhọn”, dân tộc, tôn giáo, tự do, dân chủ, nhân quyền là “ngòi nổ”, ngoại giao để “hỗ trợ”, quân sự để “răn đe”. Quá trình thực hiện khi có điều kiện, thời cơ sẽ kết hợp “diễn biến hoà bình” với bạo loạn lật đổ, can thiệp vũ trang, chiến tranh ủy nhiệm, chiến tranh xâm lược... để nhanh chóng đạt mục tiêu đặt ra.

          Nhận thức sâu sắc những vấn đề trên, hơn lúc nào hết chúng ta phải đề cao tinh thần cảnh giác cách mạng, đánh giá đúng tính chất nguy hiểm và hiện thực; nắm chắc âm mưu, thủ đoạn, phương thức và những biến thái mới của chiến lược “diễn biến hoà bình” hiện nay. Phòng, chống chiến lược “diễn biến hoà bình” nhất thiết phải tiến hành ngay từ chính bản thân mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi công dân và luôn gắn với phòng, chống, ngăn chặn suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Đồng thời phải kiên trì quán triệt, thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ, quan điểm, phương châm, giải pháp phòng, chống “diễn biến hoà bình” của Đảng và Nhà nước đã xác định. Đấu tranh phòng, chống chiến lược “diễn biến hòa bình” vẫn tiếp diễn vì mục tiêu xuyên suốt và cuối cùng của nó là xóa bỏ hoàn toàn chủ nghĩa xã hội vẫn còn nguyên ở phía trước. Cuộc chiến này là khó phân tuyến; diễn ra phức tạp, quyết liệt trên mọi phương diện của đời sống xã hội nhưng cuối cùng chân lý và chiến thắng sẽ thuộc về lẽ phải./.

                                                                                                    

 

NHẬN DIỆN BIỂU HIỆN “TỰ DIỄN BIẾN”, “TỰ CHUYỂN HÓA”                            TRÊN LĨNH VỰC QUỐC PHÒNG, AN NINH

Mặt Trời

          “Diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới đã có nhiều động thái mới; trong đó thủ đoạn làm cho chúng ta “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đang nổi lên cần nhận diện rõ. “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” không chỉ diễn ra trên các lĩnh vực như chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội... mà nó còn diễn ra trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh với các biểu hiện cơ bản cần nhận thức sâu sắc là:

          Một là, thiếu tin tưởng vào khả năng, sức mạnh quốc phòng, an ninh bảo vệ Tổ quốc của đất nước. Hiện nay trong xã hội có một số người cho rằng sức mạnh quốc phòng, an ninh của đất nước ta còn nhiều hạn chế, yếu kém, khó có khả năng bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, nhất là việc bảo vệ chủ quyền biên giới, biển, đảo. Trước sự chống phá của các thế lực thù địch, hành động vi phạm chủ quyền quốc gia trên biển thì trong tư tưởng và hành vi của những người này thể hiện sự bi quan, thiếu tin tưởng càng rõ rệt, thậm chí còn hoang mang, lo sợ. Những biểu hiện ấy dẫn đến sự lệch lạc trong nhìn nhận, xem xét, xử lý các vấn đề về quốc phòng, an ninh, làm ảnh hưởng tới sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang nhân dân và đối sách của Đảng, Nhà nước.

          Hai là, đòi đổi mới quốc phòng, an ninh theo hướng dựa vào bên ngoài, xa rời nguyên tắc độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường. “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” mức độ này thể hiện bằng việc hướng ra nước ngoài, muốn học tập và đi theo các nước lớn, để mong chờ sự giúp đỡ từ nước ngoài về quốc phòng, an ninh. Họ mong muốn nước ngoài giúp đỡ chúng ta về vũ khí trang bị, đổi mới quân đội theo hướng nhà nghề. Trong họ luôn tồn tại luồng tư tưởng “phải dựa vào một nước lớn nào đó thì mới giữ được độc lập chủ quyền, bảo vệ được Tổ quốc”. “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” mức độ này nghĩa là đã ngả sang thế lực thù địch, đến giai đoạn tiếp tay cho các thế lực thù địch phá hoại đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về quốc phòng, an ninh.

          Ba là, xuyên tạc, công kích, chống đối đường lối chính sách quốc phòng, an ninh của Đảng và Nhà nước. Đây là biểu hiện phản ánh rõ ràng tính trầm trọng và nguy hiểm của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh. Những người và tổ chức “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở mức độ này thường ra mặt công kích, chống đối dưới chiêu bài “phản biện” các chủ trương, đường lối của Đảng về quốc phòng, an ninh. Các chỉ thị, nghị quyết, văn bản pháp luật, mọi hoạt động của lực lượng vũ trang nhân dân đều bị họ tìm cách xuyên tạc, công kích. Mục đích cuối cùng của chiêu trò xuyên tạc này là nhằm hạ thấp vai trò, uy tín của Đảng, Nhà nước và lực lượng vũ trang nhân dân, đi đến phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với quốc phòng, an ninh và lực lượng vũ trang nhân dân. Biểu hiện ở mức độ này có nghĩa họ đã đứng hẳn về phía thế lực thù địch, đi ngược lại quyền lợi của dân tộc và Nhân dân Việt Nam.

          Hiện nay ở nước ta đã xuất hiện một bộ phận những người này. Họ thường lợi dụng lòng yêu nước của Nhân dân ta để ra sức công kích vào quan điểm, đường lối lãnh đạo, đối sách của Đảng và Nhà nước về quốc phòng, an ninh. Thi thoảng họ lại tổ chức tụ tập, diễu hành, hòng kích động Nhân dân, nhất là vào những dịp lễ Tết, các dịp đất nước có sự kiện lớn, các sự kiện chính trị quan trọng hoặc mỗi khi trên Biển Đông có những biến động phức tạp. Vì vậy chúng ta cần phải nhận rõ các biểu hiện, âm mưu, thủ đoạn của họ, để kiên quyết đấu tranh, phê phán./.

 

THỰC HƯ LUẬN ĐIỂM “PHI CHÍNH TRỊ HOÁ QUÂN ĐỘI”

Mặt Trời

Thời gian vừa qua, nhiều người công khai đưa ra quan điểm “phi chính trị hóa quân đội”, yêu cầu “quân đội đứng ngoài chính trị”. Họ ngụy biện rằng “Quân đội nhân dân Việt Nam từ Nhân dân mà ra, vì Nhân dân mà chiến đấu, cán bộ chiến sĩ quân đội đều là con em của Nhân dân, là để bảo vệ Nhân dân, bảo vệ Tổ quốc. Vì vậy quân đội không phải bảo vệ bất cứ một đảng phái hay một thể chế chính trị nào. Và quân đội ấy phải là của Nhân dân, của toàn dân, không thể do Đảng cộng sản lãnh đạo, phải mang bản chất của toàn dân chứ không phải mang bản chất giai cấp công nhân của Đảng - một kiểu quân đội phúc lợi xã hội chung”. Thực chất của quan điểm đó là gì và vì sao chúng ta không thể chấp nhận quan điểm đó?

Có thể nói, người đưa ra quan điểm trên chưa nghiên cứu kỹ về lý luận cũng như thực tiễn tổ chức và hoạt động của quân đội; chưa am hiểu sâu sắc về bản chất quân đội kiểu mới - Quân đội nhân dân Việt Nam. Về bản chất nói chung quân đội bao giờ cũng là công cụ bạo lực của một giai cấp, nhà nước, đảng chính trị nhất định để tiến hành đấu tranh vũ trang bảo vệ lợi ích của chính giai cấp, nhà nước, đảng chính trị đó. Về bản chất chính trị xã hội (bản chất giai cấp) của quân đội bao giờ cũng phụ thuộc vào bản chất giai cấp của giai cấp, nhà nước, đảng chính trị đã tổ chức ra, nuôi dưỡng và sử dụng quân đội ấy. Không có quân đội siêu giai cấp (mang nhiều bản chất giai cấp) hay phi giai cấp (không mang bản chất giai cấp). Quân đội có bổn phận bảo vệ lợi ích của giai cấp, nhà nước, đảng và thể chế chính trị đã tổ chức ra, nuôi dưỡng và sử dụng quân đội ấy. Không bao giờ có quân đội của giai cấp này, nhà nước này lại đi bảo vệ lợi ích của giai cấp khác, nhà nước khác. Khi lợi ích của giai cấp, nhà nước, đảng chính trị thống nhất với lợi ích của nhân dân lao động (như ở Việt Nam) thì quân đội đồng thời bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Nhân dân. Khi quan hệ lợi ích đó mâu thuẫn gay gắt và không thể điều hòa, nhà nước của các giai cấp thống trị sử dụng quân đội để trấn áp sự phản kháng của nhân dân, đàn áp phong trào yêu nước.

Quan điểm “phi chính trị hóa quân đội” thường xuất hiện ở những nền chính trị có cấu trúc đa đảng đối lập, nhất là khi sự tranh giành quyền lực giữa các đảng phái chính trị diễn ra gay gắt. Ban đầu những người đưa ra quan điểm trên muốn quân đội đứng ngoài cuộc đấu tranh của các đảng phái chính trị nhằm giành quyền kiểm soát các cơ quan quyền lực nhà nước, nhưng thực tiễn không có quân đội đứng ngoài chính trị. Trong chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá các nước xã hội chủ nghĩa, nhiều người ra sức truyền bá quan điểm “phi chính trị hóa quân đội”. Sẽ là sai lầm nghiêm trọng và phải trả giá rất đắt nếu ngộ nhận, mất cảnh giác trước âm mưu, thủ đoạn trên. Lịch sử thế giới đã cho chúng ta bài học xương máu về vấn đề này. Đó là vào những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, những người lãnh đạo Đảng, Nhà nước Liên Xô đã rời bỏ nguyên tắc Đảng Cộng sản lãnh đạo Hồng quân trong xây dựng quân đội kiểu mới của chủ nghĩa Mác - Lênin, làm cho Hồng quân bị “phi chính trị hóa”, bị vô hiệu hóa. Đó là nguyên nhân quan trọng dẫn tới sự sụp đổ và tan rã của Liên bang Xô viết. Mặc dù lúc đó Hồng quân còn 3,9 triệu quân thường trực, được trang bị rất hiện đại, vượt xa các nước cả về lực lượng chiến đấu thông thường và lực lượng hạt nhân chiến lược nhưng “đứng ngoài” chính trị nên mất sức chiến đấu, không thể bảo vệ được Nhà nước Xô viết.

Quân đội nhân dân Việt Nam là một quân đội kiểu mới do Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện, mang bản chất cách mạng của giai cấp công nhân Việt Nam đồng thời có tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc, là lực lượng chính trị - lực lượng chiến đấu trung thành và tin cậy của Đảng, của Nhà nước và Nhân dân. Bản chất của Quân đội ta thể hiện rõ nét ở sự thống nhất hữu cơ giữa tính đảng, tính giai cấp, tính nhân dân và tính dân tộc; được biểu hiện sinh động ở mục tiêu lý tưởng chiến đấu, cơ sở chính trị xã hội, cơ chế lãnh đạo, chỉ huy và chức năng, nhiệm vụ của mình. Lý tưởng chiến đấu của Quân đội ta là vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của Nhân dân. Đó là lý tưởng chính trị, đạo đức mang tính cách mạng, khoa học, thấm đượm tính nhân văn sâu sắc; không chỉ phản ánh sự vận động, phát triển đúng quy luật của xã hội Việt Nam đương đại mà còn phản ánh khát vọng thiêng liêng tự giải phóng, giành quyền độc lập - tự do - hạnh phúc và vươn lên làm chủ của các thế hệ người Việt Nam xuyên suốt hành trình lịch sử dân tộc. Đồng thời lý tưởng đó thể hiện tình cảm sâu nặng và trách nhiệm chính trị cao cả của Quân đội đối với Đảng, với Tổ quốc và Nhân dân. Quân đội ta được xây dựng trên nền tảng vũ trang toàn dân và làm nòng cốt cùng toàn dân tiến hành đấu tranh vũ trang, thực sự là Quân đội của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân. Các thế hệ Bộ đội Cụ Hồ đều từ nhân dân mà ra, được tuyển chọn từ con em các tầng lớp nhân dân lao động. Quá trình trưởng thành của mỗi cán bộ, chiến sĩ Quân đội có những đặc điểm riêng, song đều có cái chung là sự lãnh đạo và giáo dục của Đảng, sự tôi luyện trong tổ chức quân sự và hoạt động quân sự, được Nhân dân hết lòng nuôi dưỡng, đùm bọc.

Quân đội ta do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt; Nhà nước thống nhất quản lý đối theo quy định của pháp luật. Các tổ chức đảng trong Quân đội hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, phân công cá nhân phụ trách theo chức trách, nhiệm vụ. Trên cơ sở bảo đảm sự lãnh đạo vững chắc, toàn diện, xuyên suốt của các tổ chức đảng thực hiện chế độ một người chỉ huy gắn với thực hiện chế độ chính ủy, chính trị viên trong Quân đội. Chức năng, nhiệm vụ của Quân đội ta có ý nghĩa chính trị, xã hội sâu sắc. Trong chiến đấu, Quân đội ta thực hiện xuất sắc vai trò nòng cốt cùng toàn dân đánh giặc, hỗ trợ tích cực cho đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang của quần chúng, chiến đấu ngoan cường, dũng cảm để giải phóng và bảo vệ Tổ quốc, xả thân hy sinh để bảo vệ Nhân dân. Trong lao động sản xuất, Quân đội ta tích cực tham gia phát triển kinh tế - xã hội gắn với tăng cường củng cố quốc phòng và an ninh, xung kích đến những vùng sâu, vùng xa còn nhiều khó khăn gian khổ để xây dựng những khu kinh tế - quốc phòng, những công trình có ý nghĩa chiến lược của đất nước. Trong thực hiện chức năng đội quân công tác, Quân đội ta luôn đồng cam cộng khổ cùng Nhân dân, tích cực vận động và giúp đỡ Nhân dân xóa đói giảm nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống, góp phần quan trọng xây dựng hệ thống chính trị và đời sống văn hóa ở cơ sở, giữ vững ổn định chính trị - xã hội và cuộc sống bình yên, hạnh phúc của Nhân dân; luôn đi đầu trong phòng, chống cứu hộ, cứu nạn, khắc phục hậu quả thiên tai, hỏa hoạn, xả thân trong hiểm nguy để cứu tính mạng và tài sản của Nhân dân. Có thể nói, tính chính trị và tính nhân văn gắn kết thống nhất trong bản chất và truyền thống của Quân đội ta và điều đó là không thể phủ nhận.

Thực tiễn cho thấy quan điểm “phi chính trị hóa quân đội” nêu trên đưa ra xuất phát từ những mưu đồ, toan tính cơ hội, thực dụng. Thực chất đó là tuyệt đối hóa chức năng xã hội để cố tình phủ nhận chức năng thống trị giai cấp của quân đội; là lôi kéo Quân đội ta xa rời hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa và mục tiêu lý tưởng chiến đấu vì độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; tách Quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng, làm cho Quân đội mất phương hướng chính trị và bị vô hiệu hóa; đồng thời làm cho Đảng, Nhà nước không còn nắm vững công cụ bạo lực trong tay. Chúng ta không thể chấp nhận quan điểm đó, bởi đó sẽ là nguyên nhân làm suy yếu sức mạnh chiến đấu của Quân đội, dẫn đến mất ổn định chính trị - xã hội và đưa đất nước lâm vào khủng hoảng chính trị./.