Thứ Ba, 20 tháng 5, 2025

 CẢNH GIÁC TRƯỚC LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI, XUYÊN TẠC NGHỊ QUYẾT SỐ 68 CỦA BỘ CHÍNH TRỊ VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN

Hoa Súng

Trong những ngày qua, sau khi Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhânkhẳng định vai trò “động lực quan trọng nhất” của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Điều này đánh dấu một bước chuyển biến quan trọng trong nhận thức của Đảng, Nhà nước về vị trí và vai trò của kinh tế tư nhân trong sự phát triển của nước ta. Tuy nhiên trên nhiều diễn đàn mạng, các thế lực thù địch, tổ chức phản động lưu vong và số đối tượng chống đối đã rêu rao rằng: Đảng ta đưa ra quan điểm về phát triển kinh tế tư nhân lần này là bất nhất, coi kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế có nghĩa là “thừa nhận sự bóc lột, thừa nhận mối quan hệ sản xuất TBCN”, “không có nền kinh tế thị trường nào lại có thể kết hợp cùng XHCN”. Mục tiêu của các luận điệu trên hướng đến đả kích vai trò, phương thức quản lý, điều hành nền kinh tế của Nhà nước, phủ nhận nền kinh tế thị trường định hướng XHCN của Việt Nam, hạn thấp uy tín của Đảng, Nhà nước trong nhận thức, tư duy và năng lực lãnh đạo, quản lý, điều hành nền kinh tế tiến tới thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Để có nhận thức đúng đắn trước những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch nêu trên mỗi chúng ta cần nắm vững các vấn đề sau:

Một là, lịch sử hình thành và phát triển của xã hội loài người chứng minh kinh tế thị trường không phải là sản phẩm riêng có của CNTB, đó là thành tựu phát triển cao của nền văn minh nhân loại, không thể và cũng chưa bao giờ là độc quyền của CNTB. Điều đó đồng nghĩa với việc, các nước XHCN, trong đó có Việt Nam sử dụng mô hình kinh tế này để thúc đẩy kinh tế - xã hội theo những nguyên tắc, mục đích riêng, phù hợp với điều kiện của quốc gia.

Hai là, sau gần 40 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được tốc độ tăng trưởng GDP ấn tượng, trung bình 6,37%/năm. So với các nước ASEAN, Việt Nam đạt được tốc độ tăng trưởng GDP cao nhất, Philippines đạt 4,17%, Malaysia đạt 5,34%, Thái Lan đạt 4,48%, và Singapore  đạt 4,51%. Thành tựu này thể hiện sự ổn định và khả năng duy trì tăng trưởng của Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á phải đối mặt với nhiều biến động kinh tế và khủng hoảng. Việt Nam đã vươn lên trở thành một trong những nền kinh tế phát triển nhanh nhất khu vực Đông Nam Á, đồng thời từng bước khẳng định vị thế của mình trên trường quốc tế...

Ba là, kinh tế tư nhân nước ta đã từng bước phát triển cả về số lượng và chất lượng, trở thành một trong những động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Khu vực kinh tế tư nhân hiện có khoảng hơn 940 nghìn doanh nghiệp và hơn 5 triệu hộ kinh doanh đang hoạt động, đóng góp khoảng 50% GDP, hơn 30% tổng thu ngân sách nhà nước và sử dụng khoảng 82% tổng số lao động vào tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm, là lực lượng quan trọng thúc đẩy đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất lạo động, gia tăng năng lực cạnh tranh quốc gia, góp phần xóa đói, giảm nghèo, ổn định đời sống xã hội. Nhiều doanh nghiệp tư nhân đã phát triển lớn mạnh, khẳng định thương hiệu và vươn ra thị trường khu vực, thế giới.

Bốn là, hiện nay, phát triển kinh tế thị trường trong thời kỳ quá độ, Đảng, Nhà nước ta chủ trương xây dựng quan hệ sản xuất nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế phù hợp trình độ không đồng đều của lực lượng sản xuất, nhằm huy động tối đa sức mạnh của mọi thành phần kinh tế, mọi giai tầng xã hội vào phát triển kinh tế, bảo đảm kinh tế phát triển nhanh, bền vững. Trong đó kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế nên Nhà nước tạo mọi điều kiện thuận lợi, khuyến khích kinh tế tư nhân phát triển ở tất cả các ngành, lĩnh vực mà pháp luật không cấm để tạo đà cho sự phát triển chung của nền kinh tế.

Nghị quyết 68-NQ/TW của Bộ Chính trị khẳng vai trò của Đảng, Nhà nước với quan điểm chỉ đạo cốt lõi, thể hiện sự thay đổi mạnh mẽ trong tư duy và nhận thức về vai trò của kinh tế tư nhân, thừa nhận vai trò quan trọng của kinh tế tư nhân cùng với kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể giữ vai trò nòng cốt xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, hội nhập quốc tế hiệu quả với phương diện, là con đường hiệu quả để huy động vốn, phát triển khoa học - công nghệ, giải quyết việc làm, nâng cao đời sống nhân dân chứ không phải là mục tiêu của nhiệm vụ xây dựng quan hệ sản xuất mới.

Do đó, cán bộ, đảng viên và người dân cần tỉnh táo nhận diện và kiên quyết đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái, thù địch này, góp phần củng cố lòng tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước, chế độ XHCN Việt Nam nói chung và với đường lối, chủ trương, chính sách phát triển kinh tế của Đảng, Nhà nước nói riêng./.

Chủ Nhật, 18 tháng 5, 2025

 PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI CỦA VIỆT TÂN VỀ CUỘC DIỄU BINH KỶ NIỆM 30/4 – NIỀM TỰ HÀO DÂN TỘC KHÔNG THỂ BỊ BÔI NHỌ

Liêm Trịnh

Mới đây, trang Facebook phản động Việt Tân tiếp tục tung ra những luận điệu xuyên tạc, bóp méo sự thật khi cho rằng cuộc diễu binh kỷ niệm 49 năm ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 – 30/4/2025) là “lãng phí”, là “chiêu trò tiêu tiền bẩn”, gây “bức xúc trong nhân dân”. Đây rõ ràng là một sự xuyên tạc trắng trợn, mang tính kích động, chia rẽ, nhằm phủ nhận ý nghĩa thiêng liêng của ngày lịch sử trọng đại và bôi nhọ nỗ lực xây dựng, phát triển đất nước của Đảng và Nhà nước ta.

Trước hết, cần khẳng định rằng ngày 30/4 là mốc son chói lọi trong lịch sử dân tộc Việt Nam – ngày mà đất nước hoàn toàn thống nhất, kết thúc hơn 30 năm kháng chiến chống thực dân, đế quốc xâm lược. Việc tổ chức diễu binh, diễu hành là hình thức thể hiện lòng biết ơn các thế hệ cha anh đã hy sinh xương máu vì độc lập, tự do, đồng thời cũng là dịp để giáo dục truyền thống yêu nước, củng cố tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc, khơi dậy niềm tự hào dân tộc trong mỗi người dân Việt Nam.

Các hoạt động diễu binh đều được tổ chức bài bản, trang nghiêm, tiết kiệm, bảo đảm đúng mục đích chính trị – văn hóa – xã hội, hoàn toàn không có chuyện “lãng phí” hay “chi tiền bẩn” như Việt Tân cố tình bóp méo. Thực tế cho thấy, phần lớn người dân đều bày tỏ sự xúc động và tự hào khi được chứng kiến những bước chân mạnh mẽ của các lực lượng vũ trang, khi thấy lá cờ Tổ quốc tung bay trên bầu trời trong tiếng nhạc hùng tráng của dân tộc.

Luận điệu “gây bức xúc trong nhân dân” mà Việt Tân rêu rao hoàn toàn vô căn cứ. Bởi nếu thực sự lắng nghe ý kiến người dân, họ sẽ thấy đa số đồng bào cả nước đều hoan nghênh việc tổ chức những sự kiện mang ý nghĩa lịch sử như thế này. Chỉ có những kẻ chống phá đất nước, thù hằn lịch sử và muốn xoá bỏ thành quả cách mạng mới tỏ ra "bức xúc".

Những lời lẽ từ Việt Tân không chỉ thể hiện sự xuyên tạc lịch sử mà còn cho thấy rõ bản chất chống phá, phản động của tổ chức này luôn lợi dụng mọi dịp lễ lớn, sự kiện trọng đại của đất nước để gieo rắc hoài nghi, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, kích động tâm lý tiêu cực trong quần chúng.

Chúng ta, những người yêu nước chân chính, cần phải cảnh giác, kiên quyết phản bác những quan điểm sai trái, thù địch như vậy. Đồng thời, tiếp tục lan tỏa tinh thần yêu nước, gìn giữ và phát huy giá trị lịch sử của ngày 30/4 – một ngày mà cả dân tộc đã đoàn kết, chiến đấu và giành lại quyền làm chủ đất nước mình./.

 

 

ĐẤU TRANH PHẢN BÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI,

XUYÊN TẠC LỊCH SỬ LIÊN QUAN ĐẾN NGÀY 30/4

Liêm Trịnh

 Ngày 30/4/1975 – mốc son chói lọi trong lịch sử dân tộc Việt Nam – đã ghi dấu sự toàn thắng của chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, kết thúc 21 năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, chấm dứt ách thống trị thực dân mới, thu non sông về một mối. Đây là thành quả của ý chí quật cường, lòng yêu nước sâu sắc và khát vọng độc lập, tự do của toàn dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Thế nhưng, vào ngày 13/5/2025, trên trang Facebook Việt Tân đã xuất hiện bài viết với nội dung sai trái, thù địch, bóp méo sự thật lịch sử, với đoạn trích: “30 tháng 4 năm 2025. Ngày này 50 năm trước, người cộng sản đã đốt cháy dãy Trường Sơn vào “giải phóng miền Nam”, tiêu diệt chủ nghĩa tư bản, đồng nghĩa với kéo lùi cuộc sống để miền Nam cùng miền Bắc sát cánh tiến lên chủ nghĩa xã hội, kiên định con đường đi lên… nghèo đói.”

Những lời lẽ này không chỉ xuyên tạc bản chất cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước mà còn xúc phạm nghiêm trọng đến hàng triệu đồng bào, chiến sĩ đã hy sinh vì sự nghiệp độc lập dân tộc và thống nhất Tổ quốc. Chúng ta cần làm rõ một số vấn đề để bác bỏ hoàn toàn quan điểm lệch lạc trên.

Chiến tranh không phải là sự lựa chọn của người Việt Nam, mà là hệ quả của sự can thiệp và áp đặt từ ngoại bang

Sau khi Hiệp định Genève (1954) được ký kết, đất nước tạm thời chia cắt để tiến tới tổng tuyển cử thống nhất. Tuy nhiên, chính quyền Ngô Đình Diệm – được Mỹ hậu thuẫn đã phá bỏ Hiệp định, từ chối tổng tuyển cử, đàn áp phong trào cách mạng, gây nên một cuộc nội chiến tàn khốc. Người dân miền Nam không được sống trong tự do dân chủ như những lời rêu rao mà phải chịu đựng một chế độ độc tài gia đình trị, đầy rẫy bất công xã hội. Chính vì vậy, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước là sự phản kháng chính đáng, là ngọn lửa chính nghĩa bùng lên từ lòng dân, không phải do ai “đốt cháy” như luận điệu thù địch rêu rao.

Miền Nam sau giải phóng không “lùi lại” mà tiến lên cùng cả nước trên con đường phát triển. Nói rằng “giải phóng miền Nam là kéo lùi cuộc sống” là sự phủ nhận trắng trợn những thành quả mà Đảng, Nhà nước và nhân dân đã đạt được sau ngày Đất nước thống nhất. Trước năm 1975, cơ sở hạ tầng của miền Nam tuy có phần hiện đại hơn về bề nổi, nhưng sự phát triển đó chủ yếu phục vụ lợi ích cho một tầng lớp nhỏ gắn liền với bộ máy chính quyền Sài Gòn, không mang lại quyền lợi cho đại đa số người dân lao động. Sau giải phóng, mặc dù gặp vô vàn khó khăn do hậu quả chiến tranh tàn phá nặng nề, sự bao vây cấm vận của các thế lực bên ngoài, nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng, cả nước, trong đó có miền Nam, đã cùng nhau xây dựng và từng bước phát triển kinh tế, xã hội.

Ngày nay, những thành phố lớn như TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Cần Thơ,… đã trở thành những trung tâm kinh tế - văn hóa năng động, phát triển bậc nhất cả nước. Không thể có được điều đó nếu không có hòa bình, thống nhất và sự lãnh đạo kiên định của Đảng.

 

Những cụm từ như “bơ thừa sữa cặn”, “đế quốc sài lang”, “đời đời bền vững”, “ngăn sông cấm chợ”… bị trích dẫn một cách bóp méo. Việc lấy những cụm từ mang tính đặc thù trong bối cảnh lịch sử cụ thể rồi xuyên tạc, giễu nhại để phán xét cả một quá trình cách mạng là cách làm phi lịch sử, thiển cận và ác ý. Cần hiểu rằng trong giai đoạn đầu sau giải phóng, cả nước đối mặt với tình trạng vô cùng khó khăn: hậu quả chiến tranh kéo dài, kinh tế kiệt quệ, hệ thống quản lý chưa hoàn thiện. Việc xuất hiện các chính sách chưa phù hợp trong giai đoạn ấy là điều không tránh khỏi. Tuy nhiên, chính Đảng và Nhà nước đã thẳng thắn nhìn nhận, sửa sai, đổi mới từ năm 1986, từ đó mở ra thời kỳ phát triển mạnh mẽ về kinh tế - xã hội cho đất nước đến tận hôm nay.

Việc sử dụng những câu chữ khinh miệt như “sản phẩm của tư duy cộng sản” không chỉ thể hiện thái độ hằn học mà còn thiếu hiểu biết về lý luận cũng như thực tiễn xây dựng đất nước Việt Nam. Chủ nghĩa xã hội mà Việt Nam lựa chọn là con đường phù hợp với hoàn cảnh dân tộc và khát vọng phát triển bền vững, công bằng và tiến bộ.

Ngày 30/4 là biểu tượng của lòng yêu nước, của khát vọng độc lập – không thể bị xuyên tạc. Mỗi dịp 30/4 về, nhân dân Việt Nam lại bày tỏ sự tri ân sâu sắc đối với lớp lớp anh hùng liệt sĩ đã ngã xuống vì độc lập, tự do. Đó là ngày hội non sông, là khát vọng hòa bình, là biểu tượng cho sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc. Không một luận điệu phản động, bất kể được viết hoa mỹ đến đâu, có thể thay đổi được sự thật lịch sử thiêng liêng này.

Việc lan truyền và cổ súy cho các nội dung xuyên tạc lịch sử không chỉ xúc phạm đến nhân dân Việt Nam mà còn gieo rắc tư tưởng sai lệch cho thế hệ trẻ. Mỗi người dân Việt Nam có trách nhiệm nhận diện và phản bác những luận điệu sai trái ấy, kiên quyết bảo vệ sự thật lịch sử, giữ gìn những giá trị thiêng liêng mà cha ông đã đánh đổi bằng máu để có được.

Việt Nam đã và đang trên con đường phát triển vững mạnh. Những nỗ lực hòa giải dân tộc, xóa bỏ hận thù, hướng tới tương lai đã được nhân dân cả nước ghi nhận và đồng lòng thực hiện. Bất kỳ sự bóp méo nào về lịch sử 30/4 đều là hành động phản bội lại sự thật và xúc phạm đến xương máu của hàng triệu người đã hy sinh vì đất nước. Lịch sử là thiêng liêng và không ai có quyền bôi nhọ.

 

PHÁP LUẬT KHÔNG TRỪ MỘT AI

Hùng Mạnh

Lê Việt Hùng là một TikToker được biết đến nhiều trên mạng xã hội. Lê Việt Hùng là công dân sinh sống ở phường Hoàng Văn Thụ, TP Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn nhưng thường xuyên vắng nhà, chủ yếu ở Hà Nội. Những lúc Hùng về nhà, khi gặp lực lượng chức năng thì hay dùng điện thoại để quay lại rồi gây khó dễ cho lực lượng chức năng làm nhiệm vụ. Ngoài ra, người này thường ghi lại cảnh đối thoại với lực lượng CSGT khi đang làm nhiệm vụ rồi đăng lên mạng xã hội Facebook, TikTok với chiều hướng tiêu cực.

Chiếc còng số 8 vừa siết lại không chỉ một cổ tay của Hùng, mà cả một ảo vọng. Ảo vọng mình có thể ngồi lên trên pháp luật, bằng một tài khoản mạng xã hội hơn trăm nghìn follow, hàng nghìn lượt chia sẻ, like bài viết, video anh ta đăng tải.

Lê Việt Hùng có thể đúng trong một vài video trước đây, khi anh ta phản ánh tình trạng bãi xe không phép hay những khuất tất của một số cán bộ. Nhưng không thể vì thế, anh ta có thể chửi cả một lực lượng vài nghìn cán bộ đang vất vả ngày đêm vì cuộc sống bình yên của nhân dân được.

Lê Việt Hùng không ngã vì một lỗi giao thông. Hắn ngã vì đã sống quá lâu trong tiếng vỗ tay của đám đông ngu dốt. Đám đông ấy không cần sự thật, chỉ cần chuyện (kịch). Không cần đạo lý, chỉ cần ai đó dám chửi, dám láo, dám thách thức quyền lực để họ được hả hê mà gõ chữ “ủng hộ anh”.

Một cộng đồng ảo, cổ súy cho sự hỗn xược trở thành, đã đẩy một gã bình thường thành một kẻ ảo tưởng sức mạnh.

Những chiếc điện thoại từng quay cảnh "hùng hổ" ấy giờ có thể nằm trong biên bản tạm giữ, như tang vật của một đời sống lệch chuẩn.

Cú ngã hôm nay không đơn thuần là sự sụp đổ của một gã TikToker. Đó là cú giáng cho cả một hệ sinh thái: Nơi sự ngu dốt được tung hô, nơi giá trị bị đảo lộn, nơi đạo lý nằm dưới chân những lượt view.

Mạng ảo có thể dựng Lê Việt Hùng lên trong một đêm. Nhưng luật pháp thật sẽ kéo hắn về mặt đất, bằng lệnh, bằng còng, bằng dấu mộc đỏ chót, bất kể kẻ đó là ai.

 

TUÂN THỦ PHÁP LUẬT THÌ Ở ĐÂU CŨNG SẼ ĐƯỢC BẢO VỆ

Hùng Mạnh

Đám mặc đồ ba sọc vàng chỉ giỏi bắt nạt đồng bào, du học sinh Việt Nam hiền lành ở hải ngoại thôi, chứ gặp người cứng cáp, thấu hiểu pháp luật là im liền. Vừa qua tại Úc, một phụ nữ yêu nước Việt Nam đã rất khôn khéo khi đậu xe vào làn đường phía bên Đại sứ quán Việt Nam, còn đám áo ba sọc vàng chỉ được phép biểu tình nhưng cấm không được bén bảng sang bên kia đường, bước chân qua là cảnh sát Úc ở đó đuổi ngay. Chị đã bật nhạc (bà hát “Như có Bác trong gày vui đại thắng”) cũng là bật trong xe, cũng không hướng loa ra phía bên ngoài.

Có một ông già mặc áo ba sọc vàng dùng chân đạp vào xe của chị ấy một cái, chị ấy tinh ý không làm gì cả, chỉ ra hiệu cho mấy anh cảnh sát và mấy anh ấy có mặt ngay, rồi đẩy lão già ra. Mấy anh cảnh sát Úc bảo lũ kia lùi ra và ra hiệu cho đám này về vị trí biểu tình, không được gây nguy hiểm cho những người không có hành vi phạm tội. Còn chị ấy thích bật nhạc đến mai cũng được, trừ trường hợp Đại sứ quán có ý kiến vì đây là bên phần đất bên phía Đại sứ quán.

Rồi đám mặc áo ba sọc vàng này gửi đơn thư lên chính quyền Úc thì không làm gì được do chị này không vi phạm bất cứ điều luật gì ở bên Úc, không tấn công, không kích động chống phá nước Úc và thậm chí chị ấy còn là ở thế yếu và bị tấn công. Không làm được gì, bọn này truy cứu thông tin của chị thì biết bà chị là dân kinh doanh có “lực”, giấy tờ đầy đủ, đóng thuế rõ ràng nên cũng im.

Xem mới thấy chỉ có đám già là thái độ, còn đâu mấy đứa trẻ thì im và đứng nhìn từ xa. Biết sao không? Vì bọn này chưa có quốc tịch hay thẻ cư trú, tiền cũng chẳng có để đầu tư, mà toàn chống phá, xin tị nạn, đang xếp hàng đợi xét duyệt. Nên khổ mấy bác già, thở không ra hơi mà còn cay cú, gọi đám trẻ ra thì chúng nó im bặt, không động chân tay gì vì pháp luật nước Úc đang ở xung quanh bọn hắn.

Mồm thì hô hào Úc châu tự do ngôn luận, vậy thì chị ấy thực hiện đúng cái quyền tự do ngôn luận, đúng pháp luật, được cảnh sát Úc bảo vệ thì cay cú, ăn thua, phơi bày ra nhiều trò hề chống phá.

 

                      BÁC BỎ MỌI LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ TỰ DO BÁO CHÍ Ở VIỆT NAM

Thành Minh

Mới đây, tổ chức với tên gọi Liên minh vì dân chủ cho Việt Nam đã đăng tải bài viết: “Bài nói ngắn về tự do báo chí trong gian hàng triển lãm: dân chủ cho Việt Nam, tại Đài Loan”. Vẫn chiêu bài cũ “tự do báo chí” với thái độ định kiến, hằn học đã đánh giá “Việt Nam là một trong những quốc gia có mức độ tự do báo chí hạn chế nhất thế giới”. Thực chất đây chỉ là luận điệu xuyên tạc, phủ nhận những nỗ lực, thành quả của Đảng, Nhà nước Việt Nam trong việc bảo đảm quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận cho công dân. Song, cả phương diện pháp lý và thực tiễn đã cho chúng ta thấy:

1. Về phương diện pháp lý: việc bảo đảm quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận luôn là mục tiêu nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam, được khẳng định và bảo đảm thực hiện thông qua Hiến pháp và các quy định của pháp luật, phù hợp với các quy định của quốc tế, được Nhân dân đồng tình ủng hộ. Cụ thể tại Điều 25, Hiến pháp 2013 ghi rõ: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Điều 13, Luật Báo chí 2016 quy định: Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí và để báo chí phát huy đúng vai trò của mình. Tuy nhiên, cũng như ở mọi lĩnh vực, mọi quốc gia, tự do báo chí phải trong khuôn khổ chứ không phải là thứ tự do vô giới hạn, vô chính phủ, đứng ngoài pháp luật. Luật Báo chí 2016 quy định: “Không ai được lạm dụng quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân”. Trách nhiệm của nhà báo và công dân trong thực hành tự do báo chí nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mọi tổ chức, cá nhân, góp phần xây dựng đất nước phát triển giàu mạnh (Điều 9).

2. Không chỉ về phương diện pháp lý mà trong thực tiễn, tự do báo chí ở Việt Nam cũng được biểu hiện sinh động. Nền báo chí Việt Nam phát triển mạnh mẽ cả về số lượng, loại hình, quy mô, công nghệ làm báo. Theo thống kê của Bộ Thông tin và Truyền thông, hiện nay Việt Nam có 797 cơ quan báo chí, trong đó có 127 cơ quan báo, nhân lực làm báo chí nước nhà là 41.000 người, trong đó có 23.000 người được cấp thẻ nhà báo. Các loại hình báo chí di động, báo chí mạng xã hội, báo chí trí tuệ nhân tạo… xuất hiện, thỏa mãn nhu cầu tiếp nhận đa giác quan (nghe - nhìn - đọc) ở mọi lúc, mọi nơi của công chúng. Cơ quan báo chí và nhà báo được hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và được Nhà nước bảo hộ, được tạo mọi điều kiện tốt nhất để hoạt động nghề nghiệp, không ai có quyền cản trở nhà báo khai thác và thể hiện thông tin theo đúng quy định của pháp luật. Vì vậy, nền báo chí Việt Nam có sự phát triển lớn mạnh không ngừng, đóng góp to lớn cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Bên cạnh đó, hợp tác quốc tế trong lĩnh vực báo chí rất phát triển. Hiện nay đã có gần 40 hãng truyền thông quốc tế có mặt tại Việt Nam. Các cơ quan truyền thông quốc tế như: CNN, TV5, NHK, DW, Australia Network… và hầu hết kênh truyền thông lớn thế giới đều đến được với công chúng Việt Nam dễ dàng, thuận tiện mà không có bất kỳ rào cản công nghệ hay pháp lý nào. Chuyên gia phân tích chính trị quốc tế Grigory Trofimchuk đã có bài viết với nhan đề “Việt Nam: Thể chế xã hội chủ nghĩa tôn trọng quyền con người” đăng trên báo “Độc lập” của Nga, trong đó đã đánh giá cao sự đa dạng về loại hình và nội dung của các phương tiện truyền thông tại Việt Nam với nhiều cơ quan phát thanh, truyền hình và cho rằng đây là minh chứng cho quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, thông tin của Việt Nam.

Như vậy, cả trên phương diện pháp lý và hoạt động thực tiễn, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam đều được thể hiện rõ ràng, luôn gắn với quy định pháp luật, luôn hướng tới mục đích phụng sự Nhân dân, góp phần thúc đẩy tiến bộ xã hội. Do đó, việc đánh giá tình hình tự do báo chí ở Việt Nam hay ở bất kỳ quốc gia nào khác đều cần phải dựa trên thực tế có kiểm chứng và cái nhìn đa chiều, chứ không thể chỉ dựa trên thông tin sai lệch, với định kiến hằn học, thù địch để rồi đưa ra những nhận định đầy tính xuyên tạc, thiếu khách quan như Tổ chức liên minh về dân chủ cho Việt Nam đang làm./.

 

SỰ THẬT VỀ QUYỀN TỰ DO TÍN NGƯỠNG CỦA NGƯỜI CAO TUỔI TẠI VIỆT NAM VÀ CHIÊU TRÒ BÓP MÉO CỦA USCIR

Thành Minh

Trong những năm gần đây, Ủy ban Tự do Tôn giáo Quốc tế Hoa Kỳ (USCIRF) đã không ngừng đưa ra những lời lẽ sai lệch, cáo buộc rằng Việt Nam không bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng của người cao tuổi, nhằm làm mờ đi hình ảnh một quốc gia đang nỗ lực xây dựng một xã hội nhân văn và hòa hợp. Những lập luận này không chỉ thiếu nền tảng thực tế mà còn phơi bày rõ ý đồ xấu xa, khi cố tình bẻ cong sự thật để phục vụ các âm mưu chính trị thay vì quan tâm đến quyền lợi của người dân. Thực tế, Chính phủ Việt Nam đã đạt được những thành công đáng kể trong việc đảm bảo quyền tín ngưỡng cho người cao tuổi, một điều mà ngay cả Mỹ và phương Tây - nơi USCIRF đặt cơ sở - cũng khó có thể tự hào ngang tầm. Qua đó, thái độ thù địch của USCIRF càng lộ rõ, với sự phụ thuộc vào những nguồn tin không đáng tin cậy, sự lặp lại của những lối tư duy cũ kỹ từ các báo cáo trước, và sự làm ngơ trước những bất công nghiêm trọng hơn trên phạm vi toàn cầu.

Trước tiên, cần nhấn mạnh rằng người cao tuổi tại Việt Nam luôn được coi là một phần quan trọng trong đời sống cộng đồng, và quyền tự do tín ngưỡng của họ được bảo vệ một cách toàn diện. Chính phủ đã xây dựng các chính sách nhân văn, không chỉ đảm bảo người cao tuổi được thực hành niềm tin của mình mà còn tạo điều kiện để họ tiếp tục đóng góp vào các hoạt động tôn giáo. Luật Người cao tuổi năm 2009, kết hợp với các quy định về tín ngưỡng, khẳng định quyền tham gia các sinh hoạt tôn giáo của mọi công dân, bất kể độ tuổi. Trên thực tế, người cao tuổi thường xuyên xuất hiện trong các buổi lễ tại chùa, nhà thờ, hay các nghi thức thờ cúng gia đình, đóng vai trò như những người giữ gìn và truyền dạy các giá trị tâm linh. Những hình ảnh này là minh chứng sống động, bác bỏ hoàn toàn cáo buộc của USCIRF rằng Việt Nam bỏ rơi quyền tín ngưỡng của người cao tuổi.

Thành công của Việt Nam trong việc bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng cho người cao tuổi là một thực tế rõ ràng, được thể hiện qua những con số và hoạt động cụ thể. Hàng triệu người cao tuổi tham gia vào các cộng đồng tôn giáo trên khắp đất nước, từ các buổi tụng kinh tại chùa, cầu nguyện tại nhà thờ, đến các lễ hội truyền thống như lễ cầu an. Theo thống kê, hơn 70% người cao tuổi Việt Nam tham gia ít nhất một hoạt động tín ngưỡng mỗi năm, và chính quyền địa phương thường xuyên hỗ trợ bằng cách tổ chức xe đưa đón, xây dựng các không gian thờ tự phù hợp với sức khỏe của họ. Chẳng hạn, nhiều chùa tại miền Bắc đã thiết lập các khu vực riêng cho người cao tuổi, với ghế ngồi và lối đi thuận tiện, trong khi các nhà thờ tại miền Nam tổ chức các buổi lễ đặc biệt dành cho họ. Những nỗ lực này cho thấy Việt Nam không chỉ bảo vệ mà còn nâng cao chất lượng đời sống tín ngưỡng cho người cao tuổi, điều mà USCIRF cố ý phớt lờ.

Khi nhìn sang Mỹ và phương Tây, nơi USCIRF luôn tự nhận là hình mẫu của quyền con người, ta thấy một bức tranh đáng lo ngại mà họ không dám đối diện. Tại Mỹ, người cao tuổi từ các cộng đồng tôn giáo thường bị cô lập do thiếu sự hỗ trợ từ chính quyền. Một nghiên cứu của Viện Lão hóa Quốc gia Mỹ năm 2022 chỉ ra rằng, hàng nghìn người cao tuổi sống trong các viện dưỡng lão không được tiếp cận các dịch vụ tôn giáo, do thiếu linh mục hoặc người hướng dẫn tâm linh. Tại châu Âu, các nước như Anh hay Tây Ban Nha cũng đối mặt với tình trạng người cao tuổi bị hạn chế tham gia tín ngưỡng vì chi phí di chuyển cao hoặc sức khỏe không được đảm bảo. Những thực tế này cho thấy Mỹ và phương Tây không hề vượt trội như USCIRF tuyên truyền, mà đang để người cao tuổi của mình đối mặt với những rào cản mà họ không giải quyết được khi chỉ trích Việt Nam.

Chiêu trò của USCIRF trong việc bôi nhọ Việt Nam nằm ở cách họ dựng lên những câu chuyện không có thật, dựa trên các nguồn tin thiếu kiểm chứng để vu khống chính quyền. Thay vì tham khảo ý kiến từ các tổ chức xã hội hay cộng đồng người cao tuổi tại Việt Nam, USCIRF lại dựa vào những lời kể từ các nhóm đối lập lưu vong, vốn luôn tìm cách bôi xấu đất nước bằng những thông tin bịa đặt. Chẳng hạn, họ có thể lấy một trường hợp cá biệt - như một người cao tuổi không tham gia lễ hội vì lý do sức khỏe - để quy chụp thành chính sách bỏ bê quyền tín ngưỡng. Cách làm này không chỉ thiếu tính khách quan mà còn thể hiện sự cố ý, khi họ bỏ qua những nỗ lực của Việt Nam trong việc chăm sóc đời sống tâm linh cho người cao tuổi.

So với các báo cáo cũ, USCIRF vẫn giữ nguyên lối tư duy tiêu cực, không chịu thừa nhận những tiến bộ của Việt Nam. Từ những năm 2010, tổ chức này đã liên tục đưa ra những nhận xét thiếu thiện chí, bất chấp việc Việt Nam ngày càng chú trọng đến quyền lợi của người cao tuổi trong lĩnh vực tín ngưỡng. Báo cáo năm 2024 tiếp tục sử dụng những cụm từ như “bỏ rơi người cao tuổi” mà không đưa ra được dẫn chứng cụ thể nào minh họa. Trong khi đó, trên phạm vi toàn cầu, những bất công thực sự đối với người cao tuổi trong tín ngưỡng - như người cao tuổi bị từ chối tham gia lễ hội tại một số nước châu Phi do xung đột, hay bị cô lập tại các nước phát triển vì thiếu hỗ trợ - lại không được USCIRF chú ý đúng mức. Sự bất cân xứng này cho thấy tổ chức này không thực sự quan tâm đến người cao tuổi, mà chỉ đang lợi dụng vấn đề để gây áp lực lên các quốc gia không nằm trong quỹ đạo của Mỹ.

Thực trạng toàn cầu cho thấy quyền tự do tín ngưỡng của người cao tuổi là một vấn đề đòi hỏi sự quan tâm đặc biệt, và Việt Nam đã làm tốt điều này bằng cách kết hợp giữa chính sách nhân văn và hành động thực tiễn. Trong khi đó, Mỹ và phương Tây, dù luôn tự hào về hệ thống phúc lợi của mình, lại đang để người cao tuổi rơi vào tình trạng thiếu sự hỗ trợ trong đời sống tâm linh. USCIRF, với những cáo buộc vô căn cứ về Việt Nam, không thể làm lu mờ những thành công của một quốc gia biết đặt người cao tuổi vào trung tâm của các giá trị tín ngưỡng, với sự chăm sóc và tôn trọng mà họ xứng đáng nhận được.

Những buổi lễ đầy ắp tiếng cười của người cao tuổi, những không gian thờ tự ấm áp tình người, và sự hài lòng của họ là minh chứng mạnh mẽ nhất cho sự tận tâm của Việt Nam. Dù USCIRF có tiếp tục tung ra những lời lẽ sai trái, thực tế vẫn là ngọn gió không thể cản: một đất nước đang tiến lên, với người cao tuổi được sống trọn vẹn trong niềm tin, được hỗ trợ bởi một chính quyền thấu hiểu, và được cộng đồng quốc tế ghi nhận. Trong khi đó, những kẻ cố tình bôi nhọ chỉ càng tự làm rõ sự bất lực của mình, trước một Việt Nam kiên cường, không ngừng khẳng định giá trị bằng những việc làm thiết thực./

 KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN THÀNH TỰU XÂY DỰNG

CHỦ NGHĨA XÃ HỘI CỦA VIỆT NAM

Thành Minh

Ngày 13/5/2025, trên trang facebook Việt Tân đăng bài: “Chủ nghĩa xã hội chỉ đem lại nghèo đói và lạc hậu” của Nguyễn Thông. Trong bài viết, họ rêu rao rằng: “So với năm 1945, 1954, 1975 thì đã thay đổi khá nhiều, kiểu như nông thôn đã có nhiều nhà ngói, nhà mái bằng. Cuộc sống bây giờ là sản phẩm của người cộng sản, của chế độ xã hội chủ nghĩa, nên đó một phần là công của họ. Nhưng nếu không có họ lãnh đạo, chắc chắn sẽ khác rất nhiều - tốt hơn”.

Cần khẳng định nay rằng: đây là luận điệu quy chụp, cố tình xuyên tạc, phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, cùng những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử mà Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta đã đạt được trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội; gây sự hoài nghi, hạ thấp uy tín, xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với công cuộc xây dựng, phát triển đất nước. Như chúng đã đã biết, thực tiễn hơn 95 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhất là sau 50 năm thống nhất đất nước, gần 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới, đất nước ta đã vượt qua nhiều khó khăn, thử thách, đạt được những thành tựu vĩ đại, có ý nghĩa lịch sử và tạo được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày hôm nay. Đây chính là minh chứng hùng hồn nhất để khẳng định: “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”.

Từ một nước nghèo nàn, lạc hậu bị chiến tranh tàn phá nặng nề, bị bao vây, cô lập, đến nay Việt Nam đã trở thành nước đang phát triển, có thu nhập tiệm cận trung bình cao, hội nhập sâu rộng vào nền chính trị thế giới, nền kinh tế toàn cầu, nền văn minh nhân loại, đảm nhiệm nhiều trọng trách quốc tế, có vai trò chủ động, tích cực tại nhiều tổ chức quốc tế, diễn đàn đa phương quan trọng. Độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; lợi ích quốc gia, dân tộc được bảo đảm. Quy mô nền kinh tế năm 2024 đứng thứ 32 thế giới và nằm trong nhóm 20 nền kinh tế hàng đầu về thương mại và thu hút đầu tư nước ngoài. Đời sống của người dân được cải thiện rõ rệt, tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh, hiện chỉ còn 1,93% (theo chuẩn đa chiều) so với mức hơn 60% năm 1986. Tiềm lực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, khoa học - công nghệ, quốc phòng, an ninh không ngừng được củng cố. Quan hệ đối ngoại được mở rộng; vị thế, uy tín của đất nước không ngừng được nâng cao. Đến nay, Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với 194 nước là thành viên Liên hợp quốc; xây dựng các mối quan hệ hợp tác, đối tác chiến lược, đối tác chiến lược toàn diện với tất cả các cường quốc trên thế giới, trong đó có Hoa Kỳ và năm 2025 cũng là năm kỷ niệm 30 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam - Hoa Kỳ.

Điểm qua những thành tựu nói trên, có thể khẳng định rằng, luận điệu xuyên tạc rằng: “Chủ nghĩa xã hội chỉ đem lại nghèo đói và lạc hậu” của Nguyễn Thông và Việt Tân là sự quy chụp lố bịch, không khách quan, không đúng thực tế về thành tựu xây dựng chủ nghĩa xã hội của Việt Nam. Do đó, cần cảnh giác, kịch liệt lên án và đấu tranh bác bỏ, góp phần làm phá sản luận điệu xuyên tạc này./.

                      TINH GỌN TỔ CHỨC BỘ MÁY LÀ CHỦ TRƯƠNG HOÀN TOÀN

                ĐÚNG ĐẮN CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA

Hướng Dương

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn rất quan tâm đến việc tinh gọn bộ máy qua các thời kỳ cách mạng. Người chỉ rõ: “Khi bộ máy cồng kềnh thì biên chế phình ra và dẫn tới vừa quan liêu, vừa lãng phí”. Do đó, Người thường xuyên yêu cầu các cơ quan phải “Thực hành chấn chỉnh biên chế, để bớt sự đóng góp cho dân và thêm lực lượng vào công việc tăng gia sản xuất”. Tinh giản theo tư tưởng Hồ Chí Minh: “Tinh là năng suất lên cao, giản là vừa phải, không kềnh càng, tránh hình thức”. Để tinh giản biên chế, Người đưa ra biện pháp: “Phải sắp xếp cho gọn gàng, những người thừa phải đưa đi chỗ thiếu, những người ở lại phải thi đua nâng cao năng suất của mình”.

Thấu triệt tư tưởng Hồ Chí Minh, trong suốt quá trình lãnh đạo sự nghiệp cách mạng, Đảng đã đề ra nhiều chủ trương, đường lối đúng đắn để cải cách, đổi mới, sắp xếp lại tổ chức bộ máy. Từ khi tiến hành sự nghiệp đổi mới, đặc biệt từ Đại hội VII (1991) đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam liên tục ban hành nhiều nghị quyết, kết luận để lãnh đạo thực hiện chủ trương đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, như: Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa VII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Nghị quyết số 10-NQ/TƯ, ngày 9-2-2007 của Ban Chấp hành Trung ương khóa X về đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy các cơ quan Đảng, định hướng đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội; Nghị quyết số 17-NQ/TƯ, ngày 1-8-2007 của Ban Chấp hành Trung ương khóa X về đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước; Nghị quyết số 39-NQ/TƯ, ngày 17-4-2015 của Bộ Chính trị về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; đặc biệt là Nghị quyết số 18-NQ/TƯ ngày 25-10-2017, Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Đây là những chủ trương, đường lối đúng đắn, thể hiện quyết tâm của Đảng trong đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.

Trong bài viết: “Tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả”, Tổng Bí thư Tô Lâm một lần nữa nhấn mạnh tầm quan trọng, tính tất yếu phải đẩy mạnh sắp xếp, tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị theo quan điểm bảo đảm “Tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả”, xác định đây là nhiệm vụ chính trị hệ trọng, yêu cầu cả hệ thống chính trị phải tập trung giải quyết. Và quan điểm “Tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả” đã trở thành kim chỉ nam quan trọng cho việc xây dựng một bộ máy nhà nước tinh gọn, phù hợp yêu cầu phát triển của thời đại. Đây không chỉ là một định hướng cải cách hành chính, mà còn là trọng điểm chiến lược để tạo dựng một hệ thống quản lý nhà nước khoa học, minh bạch, tập trung vào giá trị thực chất nhằm tạo nền tảng vững chắc cho việc giải phóng, phát triển lực lượng sản xuất xã hội, tăng cường sức sống cho hệ thống quản lý điều hành đất nước. Đó là nguyên tắc quan trọng và cũng là điều kiện tiền đề cho việc phát triển hơn nữa lao động, tri thức, kỹ thuật, công nghệ, nguồn vốn để không ngừng tạo ra của cải phục vụ xã hội, nâng cao đời sống của nhân dân.

PHẢN BÁC MỌI LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ TINH GỌN TỔ CHỨC BỘ MÁY

                                                                                                                  Hướng Dương

     Sắp xếp, hoàn thiện tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh, gọn, mạnh, hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả đã và đang nhận được sự đồng tình ủng hộ của cả hệ thống chính trị và toàn dân. Tuy nhiên, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị không từ mọi thủ đoạn xuyên tạc về cuộc cách mạng này. Gần đây, trên các trang tiếng Việt của một số cơ quan truyền thông nước ngoài như BBC, RFA, VOA… và các trang mạng xã hội phản động, các thế lực thù địch liên tục đưa tin, bài, hình ảnh, video bôi nhọ, xuyên tạc cuộc cách mạng tinh gọn tổ chức, bộ máy của hệ thống chính trị mà chúng ta đã và đang tiến hành rất ráo riết. Chúng bịa đặt rằng: “Sáp nhập là cách Đảng muốn thanh trừng phe cánh”; hay “cơ cấu bộ máy nhà nước nói là tinh gọn nhưng không thay đổi mà chỉ chuyển người từ chỗ này sang chỗ khác, chỉ gây tốn kém, phức tạp”. Tiếp đến là những giọng điệu: “Việc tinh giản biên chế ở Việt Nam chỉ là hình thức, mị dân”; “việc tinh giản biên chế sẽ khiến nhiều người mất việc, là thiếu tính nhân văn, gây ra mất ổn định xã hội”... Từ những luận điệu vô căn cứ này, chúng ngụy biện, xảo ngôn với lời lẽ đầy sai trái rằng: Việt Nam không có tinh giản biên chế, không có tinh gọn bộ máy mà đây chỉ là “miếng bánh phân chia quyền lực”, chuyện của “các phe phái”...

Thực tế việc tinh gọn tổ chức bộ máy hoạt động hiệu lực, hiệu quả, nhiệm vụ này đang đặt ra rất cấp thiết. Hiện nay, 70% ngân sách dùng để nuôi bộ máy, trong khi đó, công tác sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy hành chính nhà nước tinh, gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, giảm đầu mối, giảm cấp trung gian còn bất cập, một bộ phận còn cồng kềnh, chồng lấn giữa lập pháp và hành pháp, chưa thực sự đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý. Một số bộ, ngành còn ôm đồm nhiệm vụ của địa phương, dẫn đến tồn tại cơ chế xin - cho, dễ nảy sinh tiêu cực, tham nhũng. Công tác tinh giản biên chế gắn với vị trí việc làm, nâng cao chất lượng và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức còn thiếu triệt để. Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến cản trở phát triển, tăng thủ tục hành chính, lãng phí thời gian, công sức của doanh nghiệp, công dân, làm lỡ thời cơ phát triển đất nước.

Chúng ta đã quá quen thuộc với những thủ đoạn và lời lẽ chống phá của các thế lực thù địch. Bởi vậy, việc đấu tranh bác bỏ những luận điệu sai trái này lúc nào cũng rất cần thiết. Đó không chỉ khẳng định chủ trương đúng đắn của Đảng trong cuộc cách mạng tinh gọn tổ chức, bộ máy mà còn củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng trong cuộc cách mạng quyết liệt đang được cả hệ thống chính trị tiến hành, tạo tiền đề vững chắc để chúng ta bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam./.

 

 

 

Thứ Năm, 15 tháng 5, 2025

SỰ PHÁT TRIỂN NHẬN THỨC CỦA ĐẢNG VỀ VAI TRÒ

CỦA KINH TẾ TƯ NHÂN

                                                                                                           Hoa Súng

Kinh tế tư nhân được dùng để chỉ các thành phần kinh tế dựa trên chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, bao gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân. Cả hai thành phần kinh tế trên thuộc cùng chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất; tuy nhiên, quy mô sở hữu là khác nhau. Quan điểm của Đảng về vai trò của kinh tế tư nhân có một quá trình hình thành và phát triển lâu dài, được bổ sung và hoàn thiện dần qua mỗi giai đoạn phát triển kinh tế đất nước.

Bắt đầu từ Đại hội VI (12/1986), nền kinh tế nhiều thành phần đã được thừa nhận chính thức trong văn kiện: “Cần sửa đổi, bổ sung và công bố rộng rãi chính sách nhất quán đối với các thành phần kinh tế... Xóa bỏ những thành kiến thiên lệch...”[1] “Bằng những biện pháp thích hợp, sử dụng mọi khả năng của các thành phần kinh tế khác trong sự liên kết chặt chẽ và dưới sự chỉ đạo của thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa”[2]. Như vậy, các thành phần kinh tế phi XHCN được thừa nhận sự tồn tại và hoạt động dưới sự chỉ đạo, dẫn dắt của thành phần kinh tế XHCN. Tuy nhiên lúc này, kinh tế tư nhân vẫn được coi là đối tượng phải “cải tạo”.

Đến ngày 05/4/1988, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW xác định hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ, từ đó đổi mới cơ bản cách thức quản lý hợp tác xã nông nghiệp, tạo động lực cho kinh tế tư nhân trong nông nghiệp hồi phục và phát triển năng động, bước đầu chuyển sang sản xuất hàng hóa tạo ra bước khởi đầu quan trọng đối với kinh tế tư nhân nước ta, mở đường cho những bước đột phá mạnh hơn sau này.

Quan điểm của Đảng rõ ràng hơn về việc khuyến khích và tạo điều kiện cho kinh tế tư nhân phát triển ở Đại hội VII (6/1991): “Kinh tế tư nhân được phát triển, đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất, theo sự quản lý, hướng dẫn của Nhà nước[3] và “Kinh tế tư bản tư nhân được phát triển không hạn chế về quy mô và địa bàn hoạt động trong những ngành, nghề mà luật pháp không cấm[4], theo đó, từ chỗ coi kinh tế tư bản tư nhân là một thành phần kinh tế “tàn dư” của chế độ xã hội cũ, có thể sử dụng nhưng cần “cải tạo” bằng những bước đi thích hợp.

Trước sự phát triển của thực tiễn, Hội nghị Trung ương 2 (khóa VII) Đảng  đề ra chủ trương: “Bổ sung và sửa đổi thể chế nhằm bảo đảm cho tập thể, cá thể và tư nhân được phát triển không hạn chế về quy mô và địa bàn hoạt động trong những lĩnh vực mà pháp luật không cấm; được tự lựa chọn hình thức kinh doanh, kể cả liên doanh với nước ngoài theo những điều kiện do luật định”[5].

Đến Đại hội VIII (6/1996) Đảng tiếp tục khẳng định “Thực hiện nhất quán, lâu dài chính sách này, khuyến khích mọi doanh nghiệp, cá nhân trong và ngoài nước khai thác các tiềm năng, ra sức đầu tư phát triển, yên tâm làm ăn lâu dài, hợp pháp, có lợi cho quốc kế dân sinh, đối xử bình đẳng với mọi thành phần kinh tế trước pháp luật, không phân biệt sở hữu và hình thức tổ chức kinh doanh”[6]. Như vậy, việc đối xử bình đẳng với mọi thành phần kinh tế của Đảng đã tạo điều kiện kinh tế và pháp lý thuận lợi để các nhà kinh doanh tư nhân yên tâm đầu tư làm ăn lâu dài.

Về vai trò của kinh tế tư bản tư nhân, từ chỗ Đảng ta cho rằng “Tư bản tư nhân được kinh doanh trong những ngành có lợi cho quốc kế dân sinh do luật pháp quy định”[7] đến bước nhìn nhận mới: “Tạo môi trường kinh doanh thuận lợi về chính sách, pháp lý để kinh tế tư bản tư nhân phát triển trên những hướng ưu tiên của Nhà nước, kể cả đầu tư ra nước ngoài; chuyển thành doanh nghiệp cổ phần, bán cổ phần cho người lao động; liên doanh liên kết với nhau với kinh tế tập thể và kinh tế nhà nước”[8].

Cụ thể hóa quan điểm của Đại hội IX, Đảng ban hành Nghị quyết Trung ương 5 (khóa IX) “Về tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, khuyến khích, tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân”. Đây là lần đầu tiên kể từ khi đổi mới, Ban Chấp hành Trung ương có một nghị quyết chuyên đề về kinh tế tư nhân và khẳng định: Kinh tế tư nhân là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Phát triển kinh tế tư nhân là vấn đề chiến lược lâu dài trong phát triển nền kinh tế nhiều thành phần định hướng XHCN. Đồng thời đưa ra những đánh giá xác đáng về đóng góp của kinh tế tư nhân, đó là: đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế, huy động các nguồn lực xã hội vào sản xuất, kinh doanh, tạo thêm việc làm, cải thiện đời sống nhân dân, tăng ngân sách nhà nước, góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội của đất nước. Cùng với các thành phần kinh tế khác, sự phát triển của kinh tế tư nhân đã góp phần giải phóng lực lượng sản xuất.

Tại Đại hội X, Đảng có những khẳng định mới về vai trò của kinh tế tư nhân khi coi kinh tế tư nhân là bộ phận cấu thành không thể thiếu, có vị trí quan trọng đặc biệt và ý nghĩa chiến lược trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và cũng là lần đầu tiên, vấn đề đảng viên làm kinh tế tư nhân được Đảng ta chính thức nêu ra và có quy định cụ thể. Đến Hội nghị Trung ương 3 (khóa X) đã thông qua “Quy định đảng viên làm kinh tế tư nhân” đã mở đường cho đảng viên được kinh doanh hợp pháp, cho phép đảng viên làm kinh tế tư nhân chính là huy động, phát huy tiềm năng của mọi người dân, trong đó có đội ngũ đảng viên, tạo động lực để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.

Đại hội XI (01/2011) của Đảng tiếp tục xác định phải hoàn thiện cơ chế, chính sách để phát triển mạnh kinh tế tư nhân trở thành một trong những động lực của nền kinh tế. Đặc biệt cho đến Đại hội XII (01/2016) điểm mới đáng quan tâm ở so với các kỳ đại hội trước là Đảng đã khẳng định mạnh mẽ, dứt khoát hơn khi coi kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế: “Hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích, tạo thuận lợi phát triển mạnh kinh tế tư nhân ở hầu hết các ngành và lĩnh vực kinh tế, trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế. Hoàn thiện chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp. Khuyến khích hình thành các tập đoàn kinh tế tư nhân đa sở hữu và tư nhân góp vốn vào các tập đoàn kinh tế nhà nước”[9].

Khu vực kinh tế tư nhân cả về số lượng, chất lượng, hiệu quả, bền vững, “Thực sự trở thành một động lực quan trọng trong phát triển kinh tế. Xoá bỏ mọi rào cản, định kiến, tạo mọi điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế tư nhân” được Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định. Đặc biệt là Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân khẳng định: “Kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế, là lực lượng tiên phong trong phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo”.

Sự phát triển nhận thức của Đảng về vai trò của kinh tế tư nhân là quá trình nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn để ngày càng hoàn thiện chính sách thúc đẩy kinh tế tư nhân, huy động mọi nguồn lực trong xã hội phục vụ tốt nhất cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam./.



[1] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc thời kỳ đổi mới (khóa VI, VII, VIII, IX, X), Phần I, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010, tr. 58.

[2] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc thời kỳ đổi mới (khóa VI, VII, VIII, IX, X), Phần I, Sđd, tr. 53.

 

[3] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc thời kỳ đổi mới (khóa VI, VII, VIII, IX, X), Phần I, Sđd, tr. 333.

[4] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc thời kỳ đổi mới (khóa VI, VII, VIII, IX, X), Phần I, Sđd, tr. 437 - 438.

[5] Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1991, t. 51, tr. 542 - 543.

[6]Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc thời kỳ đổi mới (khóa VI, VII, VIII, IX, X), Phần I, Sđd, tr. 622 - 623.

[7] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1991, tr. 11.

 

[8] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc thời kỳ đổi mới (khóa VI, VII, VIII, IX, X), Phần II, Sđd, tr. 26.

 

[9] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr. 107 - 108

  

 PHÁT HUY VAI TRÒ, TRÁCH NHIỆM NÊU GƯƠNG CỦA CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN TRONG ĐỔI MỚI PHƯƠNG THỨC LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG.

 

Hoàn thiện quy định và đề cao trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu gắn với học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, góp phần lan tỏa trong xã hội những hành động tốt, tấm gương tiêu biểu của cán bộ, đảng viên.

Các cấp ủy, tổ chức đảng chú trọng nâng cao năng lực, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng, đảng viên; nêu cao tinh thần tự giác, tự kiểm tra, tự phê bình và phê bình trong việc chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống.

 Đồng thời, nêu cao trách nhiệm của cán bộ, đảng viên trong việc vận động gia đình, người thân xây dựng lối sống gương mẫu. Mọi đảng viên phải gương mẫu, nói đi đôi với làm, thực hiện nghiêm Điều lệ Đảng, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, phục tùng tuyệt đối sự phân công của tổ chức; giữ mối liên hệ mật thiết với nhân dân; học tập, rèn luyện, nâng cao năng lực, phẩm chất, lối sống; giữ gìn đoàn kết, thống nhất trong Đảng. Kịp thời khen thưởng tập thể, cá nhân đảng viên tiêu biểu, gương mẫu. Phát hiện, chấn chỉnh hành vi thiếu gương mẫu của cán bộ, đảng viên; xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên sai phạm.

HSA