Theo nhà báo Huỳnh Phan đăng tải trên báo Vietnamnet
ngày 28/04/2018
David
Kennerly:
“Tôi đã nói với Tổng
thống, Sài Gòn sẽ thất thủ sau hai tuần nữa”
“Khi trở về
Washington, tôi cũng có báo cáo riêng. Bản báo cáo của tôi được gửi kèm những
bức ảnh người dân Campuchia di tản. Tôi đã nói với Tổng thống là Sài Gòn sẽ
thất thủ sau hai tuần nữa, và thực tế quả đúng như vậy” - David Hume
Kennerly, người đoạt giải Pulitzer về chiến tranh Việt Nam nhớ lại.
LTS: Đầu năm 2018, có một cựu
phóng viên chiến trường trở lại Hà Nội, nơi 45 năm trước ông từng có mặt để
chụp ảnh về đợt trao trả những tù binh Mỹ cuối cùng, theo tinh thần Hiệp định
Hòa bình Paris. Ông là David Hume Kennerly, lúc đó là phóng viên ảnh của tạp
chí Time nối tiếng.
Năm 1972, Kennerly giành được giải Pulitzer
cho loạt phóng sự ảnh về chiến tranh Việt Nam và Campuchia; người di tản ở Đông
Pakistan, và trận quyền Anh nổi tiếng giữa Mohamed Ali và Joe Frazier
(8/3/1971).
Trong chuyến trở lại Hà Nội lần này,
Kennerly có cả vợ và hai người con trai ông. Ông đã kể cho họ nghe về những gì
đã làm và cảm xúc của ông trong giai đoạn lịch sử đó.
Nhân
dịp kỷ niệm ngày 30/4 năm nay, nhà báo Kennerly đã dành cho Tuần Việt Nam một
cuộc trò chuyện thắng thắn.
Nhà báo Huỳnh Phan:Tháng
3/1973, ông đã vào Việt Nam bằng con đường nào?
Nhà báo Kennerly: Chính
phủ Việt Nam đã mời chúng tôi đến đưa tin và chụp ảnh sự kiện trao trả tự do
cho những tù binh Mỹ cuối cùng tại Hà Nội.
Tôi đến Việt Nam cùng một
nhóm phóng viên Mỹ, gồm phóng viên AP, Walter Cronkite từ CBS, và tôi - phóng
viên ảnh của Tạp chí Time. Chúng tôi đến Hà Nội từ Vientiane (Lào), tất nhiên
trước đó chúng tôi khởi hành từ Sài Gòn, trên chuyến chuyên cơ, vào đúng ngày
31/3/1973.
Ông có biết, bao nhiêu tù binh Mỹ đã được
trả tự do trong đợt cuối cùng đó?
Tôi
không nắm được con số cụ thể. Nhưng khoảng chừng 50-60 người.
Ông đã ở lại Hà Nội bao nhiêu ngày?
Chỉ
đúng một ngày.
Những
thước phim do Cronkite quay dịp đó đã làm nên bộ phim “Đằng sau tấm song sắt
nhà tù”, còn tôi thì chụp ảnh. Tôi được chụp ảnh bên ngoài trại
giam.
Sự
có mặt của chúng tôi khiến trại giam trở nên sôi động khác thường.
Các ông có nói chuyện với tù binh không?
Có.
Chúng tôi được phép nói chuyện với vài tù binh.
Một
số tù binh cảm thấy kinh ngạc trước sự xuất hiện của người Mỹ tại trại giam. Họ
từng không bao giờ nghĩ sẽ được trả tự do. Điều này đã được thể hiện trong
những thước phim nổi tiếng của Cronkite.
Khi
biết mình được trả tự do, một tù binh xin tôi thuốc lá. Tôi cho anh ta loại mà
tôi đang dùng. Người tù binh rất hạnh phúc khi được tôi tặng hẳn cho một bao
Malboro của Mỹ, trong khi lính gác vẫn đảo mắt theo dõi.
Còn
tôi chỉ quan tâm đến việc liệu người lính gác có cho phép chụp ảnh hay không.
Và, Ơn Chúa, tôi đã được phép.
Xin phép được ngắt lời. Tôi có câu hỏi nhỏ
này: Tại sao tù binh Mỹ ông gặp lại không tin rằng họ sẽ được trả tự do, khi mà
thông tin về những đợt trả trước đó có thể đến tai họ?
Họ
thực sự không tin rằng sẽ được thả. Bởi vì, anh biết đấy, tù binh thường có cái
nhìn bi quan về tương lai. Vả lại, tôi không tin là họ có nhiều thông tin về
những đợt thả trước đó.
Khi
chúng tôi quay phim, chụp ảnh, một số tỏ ra rất ngại ngùng, thậm chí có người
còn phản ứng.
Tôi
nói với họ tôi là người Mỹ, làm việc cho tạp chí Time, tôi xin lỗi đã
chụp ảnh họ, nhưng đó là công việc của tôi, công việc tuyên truyền cho
Hiệp định Hoà bình Paris.
Có
tù binh gặng hỏi tôi có đảm bảo rằng họ sẽ được thả không, tôi nói rằng tôi
không chắc.
Đến khi nào thì ông chắc chắn họ được thả?
Khi
họ đưa chúng tôi đến Sân bay Gia Lâm. Chúng tôi đã thấy họ đưa các tù binh đến
bằng xe buýt. Họ gọi tên từng người, lần lượt trao trả cho phía Mỹ.
Khi
những tù binh lần lượt lên máy bay, người cuối cùng quay lại phía chúng tôi, đó
là Agnew. Máy bay của Agnew đã bị bắn hạ khi tham gia chiến dịch
Linebacker II (Mười hai ngày đêm Điện Biên Phủ trên không). Vì ông ta có
tên giống Phó Tổng thống Mỹ, nên dạo đó chúng tôi đã đưa anh ta lên trang bìa.
(Tôi vừa nói chuyện điện thoại với ông mấy ngày trước để nói rằng tôi sẽ
trở lại Hà Nội)
Sau
lễ trao trả tù binh, chúng tôi lập tức bay trở về Vientiane.
Đó
là một trong những ngày thú vị nhất của cuộc đời làm phóng viên ảnh của tôi.
John McCain đã được trả tự do trước đó 2 tuần, rất tiếc tôi đã không có mặt để
chụp ảnh ông ta.
Ông có nhớ đã đến Sài Gòn lần đầu tiên vào
năm nào?
Tháng
3 năm 1971. Tôi chụp cho UPI. Tôi đã dành rất nhiều thời gian ở Quảng trị, rồi
lên trên vùng núi. Tôi đã chứng kiến nhiều trận đánh chống lại quân du kích
Việt Nam, tôi nghĩ rằng nhiều người đã nhằm bắn tôi.
Ông làm cho UPI chứ không phải Time?
Sau
UPI, tôi làm cho tạp chí Life. Đến cuối 1972 tạp chí Life đóng cửa, tôi chuyển
sang tạp chí Time.
Từng
làm phóng viên ảnh riêng cho Tổng thống Mỹ Gerald Ford, nên tôi có dịp
được ở cùng phòng với Tổng thống Ford khi ông quyết định rút đội quân Mỹ cuối
cùng ra khỏi Việt Nam. Một nhóm nhỏ những người đã có mặt tại thời khắc lúc đó.
Ông nghĩ gì khi Hiệp định Hòa bình Paris
được ký cuối tháng 1/1973?
Tôi
không nghĩ rằng đó là sự kết thúc của chiến tranh. Tôi không tin, vì nghĩ đó
chỉ là nguyên tắc.
Khi
ông Lê Đức Thọ từ chối nhận Giải thưởng Nobel Hòa Bình với Kissinger, tôi hoàn
toàn hiểu rằng ông ấy sẽ quyết tâm chiến đấu đến khi thắng lợi hoàn toàn.
Khi
xảy ra ngừng bắn giữa hai bên sau Hiệp định Paris, tôi đã đến vùng những người
cộng sản Việt Nam nắm giữ, gần Mỹ Tho. Chính phủ Sài Gòn không muốn chúng tôi
sang vùng đình chiến nhưng điều đó càng làm tôi thích thú trong chuyến đi.
Khi
vào làng, tôi thực sự kinh ngạc, tận mắt chứng kiến cuộc sống thường ngày diễn
ra ở đây, mặc dù đó chỉ là khoảng nghỉ giữa cuộc chiến. Tôi được những người
dân đón chào, và thết đãi. Tôi không nghĩ họ là những người đã chiến đấu chống
lại quân đội Sài Gòn. Tôi còn được gặp người chỉ huy của quân đội miền Bắc Việt
Nam.
Nhưng sau đợt ngừng bắn
ngắn ngủi, cuộc chiến lại tiếp tục.
Còn
tôi trở về Mỹ và thỉnh thoảng có quay trở lại. Lần cuối cùng tôi quay lại Sài
Gòn là vào tháng Ba năm 1975, một tháng trước khi Sài Gòn thất thủ, đi cùng
đoàn của một viên tướng Mỹ. Ông ta đã nói chuyện với Tổng thống Nguyễn Văn
Thiệu, và các quan chức cao cấp dưới quyền. Dịp đó tôi có qua Phnôm Penh 2 tuần
trước khi Khmer Rouge (Khmer đỏ) chiến thắng.
Khi
tôi cùng vị tướng Mỹ trở về Washington, viên tướng đã báo cáo Tổng thống Ford,
và tôi cũng có báo cáo riêng. Bản báo cáo của tôi được gửi kèm những bức ảnh
người dân Campuchia di tản. Tôi đã nói với Tổng thống là Sài Gòn sẽ thất thủ
sau hai tuần nữa, và thực tế quả đúng như vậy.
Tổng thống Ford có tin lời ông nói không?
Có.
Tôi cũng được ở cùng Tổng thống Ford, khi ông ra quyết định gửi máy bay di tản
những người Mỹ ở Sài Gòn.
Đến Hà Nội mùa xuân năm 1973, ông có cảm
nhận thấy hòa bình đã được vãn hồi?
Không,
lần đầu tiên có mặt ở Hà Nội, tôi không nhận thấy điều đó, vì tôi quá bận rộn
trong việc chụp ảnh lễ trao trả tự do cho tù bình.
Nhưng ở miền Nam, anh đã nhận thấy hòa bình
đang trở lại?
Câu
hỏi lớn và khó đấy!
Tôi
gặp một số người tỏ ra lạc quan, một số khác thì không. Những người tin có hòa
bình, khi họ biết tới vụ bê bối Water Gate (Tổng thống Nixon phải từ chức).
10 năm sau, Khoảng năm 1985. Tôi được gặp
Thủ tướng Phạm Văn Đồng, cùng một nhóm phóng viên của tạp chí Time.Ông đã trở
lại Việt Nam lần đầu sau chiến tranh là khi nào?
Khi đó, ông nghĩ gì về Việt Nam?
Người
dân sống ở Sài Gòn khí đó có vẻ vẫn e dè.
Năm
1995, tôi quay lại lần nữa khi Mỹ bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Việt
Nam. Lúc đó, người Sài Gòn đã hòa nhập hơn, họ đã nhận thấy cuộc sống mới của
một Việt Nam thống nhất.
Xin hỏi ông câu cuối cùng. Cảm nhận của ông
sau khi thăm lại nơi từng là trại giam tù binh Mỹ như thế nào?
Mọi
thứ đã thay đổi hoàn toàn, nơi ấy bây giờ là trụ sở của Fafilm Việt Nam.
Tôi
có nói chuyện với bà nấu bếp cho tù binh ngày ấy. Thật kỳ lạ là người đàn bà đó
vẫn có thể nấu những món ăn ngon lành cho những người vừa mới ném bom tàn phá
thành phố Hà Nội trong chiến dịch Linebacker II.
Tôi
cũng ngạc nhiên khi nghe bà ấy kể có người tù binh, chắc do cải tạo tốt, được
đi tự do trong khu vực trại giam đã giúp đỡ bà các việc vặt, như đốn củi, hay
xách nước. Chính người cựu binh đã cứu sống bà khi đẩy bà xuống hố tránh bom
trong Chiến dịch Linebacker II, ông ấy đã lấy thân mình che cho bà.
Xin cám ơn nhà báo David Hume Kennerly đã
dành thời gian cho Tuần Việt Nam.
Công Bằng (sưu tầm)