Thứ Bảy, 28 tháng 4, 2018

CÁC LINH MỤC CỰC ĐOAN TẠI GIÁO XỨ THÁI HÀ LẠI "TÔ VẼ BẬY"

Tín ngưỡng, tôn giáo là một nhu cầu không thiếu được trong đời sống con người. Đời sống tâm linh luôn song hành với những ai tin vào tôn giáo. Nhưng các chuyên gia cũng đã chứng minh được tính chính trị của tôn giáo ngay từ khi xã hội có sự phân chia giai cấp, những nhà cầm quyền lợi dụng tôn giáo như một công cụ để nắm quần chúng, dùng thần quyền như một mệnh lệnh tối thượng để khống chế hành động của tín đồ theo mục đích của họ.
Cho đến nay, giữa tôn giáo và chính trị cũng vẫn còn những mối quan hệ khá sâu sắc, nhưng có điều việc sử dụng tính chính trị của tôn giáo hiện nay lại bị những kẻ xấu sử dụng vào mục đích chính trị xấu. Cụ thể như ở Việt Nam, việc các linh mục cực đoan lợi dụng đức tin của tín đồ để lôi kéo họ vào các hoạt động chống đối, thông qua các sinh hoạt tôn giáo để gieo rắc các tư tưởng cực đoan nhằm lừa bịp, “ru ngủ” những tín đồ ngoan đoạn, cuồng tín.
Sự nham hiểm của hoạt động này được thể hiện ở chỗ, các chức sắc cực đoan rất khéo léo lồng ghép những nội dung đó vào trong các bài sấm truyền, các lễ nghi khiến cho những tín đồ tin theo mà không biết mình đang bị lôi kéo vào một âm mưu đen tối. Điều này thật rõ ràng trong các sinh hoạt tôn giáo tại giáo xứ Thái Hà trong nhiều năm qua, khiến cho người ta khi nhắc đến nhà thờ Thái Hà được ví von như một trung tâm phản động mang màu sắc tôn giáo.
Đáng lo ngại khi mà ngày càng có nhiều hoạt động tương tự đang diễn ra tại Thái Hà trong các Thánh lễ cầu nguyện cho công lý & hòa bình được tổ chức hàng tháng. Chẳng hạn như vừa qua, trong chủ để của thánh lễ trong tháng 2 này là: "Một mùa xuân mới lại về. Mùa xuân là mùa của hy vọng vào những sự đổi thay của vạn vật, đất trời và của lòng người. Những ngày Tết Mậu Tuất vừa qua, cũng là những ngày cả nước tưởng niệm những người dân, những chiến sĩ đã anh dũng hy sinh bảo vệ mảnh đất thiêng liêng của tổ quốc trước sự bành trướng của nhà cầm quyền Bắc Kinh (17/2/1979)".
Nếu đúng theo ý nghĩa của chủ đề buổi cầu nguyện trên thì chẳng có gì đáng bàn mà còn đáng khích lệ nhưng tương tự như các lần khác, đằng sau tấm màn che đậy bởi các nghi lễ của tôn giáo là một con quỷ satan do chính tay các linh mục cực đoan tại nơi đây nhào nặn. Họ đã dẫn dắt tín đồ đến sự mơ hồ của tôn giáo xen lẫn với chính trị và tiếp ngay sau đó là những lời quy kết hết sức nặng nề và khó nghe, thậm chí mang tính "tố cáo", bôi lem chế độ: "Sự hy sinh to lớn của họ nhắc chúng ta nhớ rằng, quê hương này đã được gìn giữ bằng máu và nước mắt của biết bao thế hệ con người đã ngã xuống vì tổ quốc thân yêu. Sự hy sinh của họ cũng nhắc chúng ta nhớ rằng, quê hương này không phải của bất cứ đảng phái chính trị nào, càng không thuộc về một nhóm người tự cho mình quyền lãnh đạo đất nước. Máu và nước mắt của những thế hệ đi trước đòi mỗi người phải có trách nhiệm xây dựng một xã hội Việt Nam mới hòa bình, dân chủ và ấm no".
Đây là một trong những việc làm hết sức nguy hiểm, bởi nó gieo rắc vào đầu óc con người ta những điều xấu xa, những luận điệu xuyên tạc được đúc kết từ những tư duy của những kẻ mang nặng tư tưởng cực đoan. Chính điều đó sẽ làm lung lay ý chí, giống như trước đây đám giáo sỹ phản động làm tay sai cho thực dân Pháp, đế quốc Mỹ, dùng Công giáo như môt liều thuốc nhằm “ru ngủ” tinh thần dân tộc, lòng yêu nước và hướng họ đến nước Chúa xa xôi mà không ai dám biết là có thực hay không… Và chiêu trò thâm độc này hiện nay được đám linh mục cực đoan ở Thái Hà sử dụng một cách thành thạo. Thương cho những ai bị đầu độc bởi những câu chuyện hoang đường, bịa đặt đó. Và rất mong muốn các giáo dân thường xuyên sinh hoạt tôn giáo tại nhà thờ Thái Hà hãy có cách nhìn đúng đắn, khách quan về các buổi Thánh lễ như vậy, hãy lên tiếng bảo vệ cho sự thật và phê phán cách hành động lạm dụng tôn giáo để thực hiện mưu đồ chống phá đất nước.

                                                                            H.A
NGUYỄN NGỌC NAM PHONG LÀ MỘT CON QUỶ ĐỘI LỐT LINH MỤC
Thật xấu hổ cho những ai gọi Nguyễn Ngọc Nam phong là Cha! Nói về Nguyễn Ngọc Nam Phong và những hành vi, phát ngôn mang tính tuyên truyền xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam thì có lẽ phải kể hết ngày này sang ngày khác mà chẳng hết. Lợi dụng vị thế của một Linh mục trong Dòng Chúa cứu thế ở Thái Hà, Nguyễn Ngọc Nam Phong trong nhiều buổi thánh lễ Công lý và hòa bình đã biến một thánh lễ tôn giáo thành diễn đàn để tuyên truyền chống phá.
Xuyên tạc có, phỉ báng các anh hùng dân tộc có và lừa dối giáo dân cũng có… Mới đây, ngày 25/02/2018 Nguyễn Ngọc Nam Phong tiếp tục dùng thánh lễ Công lý hòa bình ở nhà thờ Thái Hà vào mục đích chống phá của mình. Bộ mặt phản động, dối trá của Nam Phong ngày càng lộ rõ. Ngay cả chiến thắng của đội tuyển U23 Việt Nam những ngày qua cũng bị đem ra phục vụ mưu đồ chính trị đen tối của mình. Cái lưỡi và giọng điệu của một con quỷ Satan đội lốt Linh mục ngày càng hiện nguyên hình.
Người Công giáo vẫn coi Satan là con quỷ xấu xa mà kinh thánh nói đến rất nhiều; nhưng liệu đã Người Công giáo nào đã nhìn thấy quỷ Satan chưa? Có một con quỷ Satan ở ngay trước mắt họ, ở ngay trong nhà thờ Thái Hà và ngày ngày giả dối, lên lớp, dạy họ làm những điều của quỷ.
Còn con quỷ nào đáng sợ hơn một con quỷ làm vẩn đục tâm hồn của chúng ta? Còn con quỷ nào nguy hiểm hơn khi nó đội lốt một Linh mục?


                                                                   Công Bằng

Thứ Sáu, 27 tháng 4, 2018

Theo nhà báo Huỳnh Phan đăng tải trên báo Vietnamnet ngày 28/04/2018

David Kennerly:
“Tôi đã nói với Tổng thống, Sài Gòn sẽ thất thủ sau hai tuần nữa”
“Khi trở về Washington, tôi cũng có báo cáo riêng. Bản báo cáo của tôi được gửi kèm những bức ảnh người dân Campuchia di tản. Tôi đã nói với Tổng thống là Sài Gòn sẽ thất thủ sau hai tuần nữa, và thực tế quả đúng như vậy” -  David Hume Kennerly, người đoạt giải Pulitzer về chiến tranh Việt Nam nhớ lại.
LTS: Đầu năm 2018, có một cựu phóng viên chiến trường trở lại Hà Nội, nơi 45 năm trước ông từng có mặt để chụp ảnh về đợt trao trả những tù binh Mỹ cuối cùng, theo tinh thần Hiệp định Hòa bình Paris. Ông là David Hume Kennerly, lúc đó là phóng viên ảnh của tạp chí Time nối tiếng.
Năm 1972, Kennerly giành được giải Pulitzer cho loạt phóng sự ảnh về chiến tranh Việt Nam và Campuchia; người di tản ở Đông Pakistan, và trận quyền Anh nổi tiếng giữa Mohamed Ali và Joe Frazier (8/3/1971).
Trong chuyến trở lại Hà Nội lần này, Kennerly có cả vợ và hai người con trai ông. Ông đã kể cho họ nghe về những gì đã làm và cảm xúc của ông trong giai đoạn lịch sử đó.
Nhân dịp kỷ niệm ngày 30/4 năm nay, nhà báo Kennerly đã dành cho Tuần Việt Nam một cuộc trò chuyện thắng thắn.
Nhà báo Huỳnh Phan:Tháng 3/1973, ông đã vào Việt Nam bằng con đường nào?
Nhà báo Kennerly: Chính phủ Việt Nam đã mời chúng tôi đến đưa tin và chụp ảnh sự kiện trao trả tự do cho những tù binh Mỹ cuối cùng tại Hà Nội.
Tôi đến Việt Nam cùng một nhóm phóng viên Mỹ, gồm phóng viên AP, Walter Cronkite từ CBS, và tôi - phóng viên ảnh của Tạp chí Time. Chúng tôi đến Hà Nội từ Vientiane (Lào), tất nhiên trước đó chúng tôi khởi hành từ Sài Gòn, trên chuyến chuyên cơ, vào đúng ngày 31/3/1973.
Ông có biết, bao nhiêu tù binh Mỹ đã được trả tự do trong đợt cuối cùng đó?
Tôi không nắm được con số cụ thể. Nhưng khoảng chừng 50-60 người.
Ông đã ở lại Hà Nội bao nhiêu ngày?
Chỉ đúng một ngày.
Những thước phim do Cronkite quay dịp đó đã làm nên bộ phim “Đằng sau tấm song sắt nhà tù”, còn tôi thì chụp ảnh. Tôi được chụp ảnh bên ngoài trại giam. 
Sự có mặt của chúng tôi khiến trại giam trở nên sôi động khác thường.
Các ông có nói chuyện với tù binh không?
Có. Chúng tôi được phép nói chuyện với vài tù binh.
Một số tù binh cảm thấy kinh ngạc trước sự xuất hiện của người Mỹ tại trại giam. Họ từng không bao giờ nghĩ sẽ được trả tự do. Điều này đã được thể hiện trong những thước phim nổi tiếng của Cronkite.
Khi biết mình được trả tự do, một tù binh xin tôi thuốc lá. Tôi cho anh ta loại mà tôi đang dùng. Người tù binh rất hạnh phúc khi được tôi tặng hẳn cho một bao Malboro của Mỹ, trong khi lính gác vẫn đảo mắt theo dõi. 
Còn tôi chỉ quan tâm đến việc liệu người lính gác có cho phép chụp ảnh hay không. Và, Ơn Chúa, tôi đã được phép.
Xin phép được ngắt lời. Tôi có câu hỏi nhỏ này: Tại sao tù binh Mỹ ông gặp lại không tin rằng họ sẽ được trả tự do, khi mà thông tin về những đợt trả trước đó có thể đến tai họ?
Họ thực sự không tin rằng sẽ được thả. Bởi vì, anh biết đấy, tù binh thường có cái nhìn bi quan về tương lai. Vả lại, tôi không tin là họ có nhiều thông tin về những đợt thả trước đó.
Khi chúng tôi quay phim, chụp ảnh, một số tỏ ra rất ngại ngùng, thậm chí có người còn phản ứng. 
Tôi nói với họ tôi là người Mỹ, làm việc cho tạp chí Time, tôi xin lỗi đã chụp ảnh họ, nhưng đó là công việc của tôi, công việc tuyên truyền cho Hiệp định Hoà bình Paris.
Có tù binh gặng hỏi tôi có đảm bảo rằng họ sẽ được thả không, tôi nói rằng tôi không chắc.
Đến khi nào thì ông chắc chắn họ được thả?
Khi họ đưa chúng tôi đến Sân bay Gia Lâm. Chúng tôi đã thấy họ đưa các tù binh đến bằng xe buýt. Họ gọi tên từng người, lần lượt trao trả cho phía Mỹ.
Khi những tù binh lần lượt lên máy bay, người cuối cùng quay lại phía chúng tôi, đó là Agnew. Máy bay của Agnew đã bị bắn hạ khi tham gia chiến dịch Linebacker  II (Mười hai ngày đêm Điện Biên Phủ trên không). Vì ông ta có tên giống Phó Tổng thống Mỹ, nên dạo đó chúng tôi đã đưa anh ta lên trang bìa. (Tôi vừa nói chuyện điện thoại với ông mấy ngày trước để nói rằng tôi sẽ trở lại Hà Nội)
Sau lễ trao trả tù binh, chúng tôi lập tức bay trở về Vientiane.
Đó là một trong những ngày thú vị nhất của cuộc đời làm phóng viên ảnh của tôi. John McCain đã được trả tự do trước đó 2 tuần, rất tiếc tôi đã không có mặt để chụp ảnh ông ta.
Ông có nhớ đã đến Sài Gòn lần đầu tiên vào năm nào?
Tháng 3 năm 1971. Tôi chụp cho UPI. Tôi đã dành rất nhiều thời gian ở Quảng trị, rồi lên trên vùng núi. Tôi đã chứng kiến nhiều trận đánh chống lại quân du kích Việt Nam, tôi nghĩ rằng nhiều người đã nhằm bắn tôi.
Ông làm cho UPI chứ không phải Time?
Sau UPI, tôi làm cho tạp chí Life. Đến cuối 1972 tạp chí Life đóng cửa, tôi chuyển sang tạp chí Time.
Từng làm phóng viên ảnh riêng cho Tổng thống Mỹ Gerald Ford, nên tôi có dịp được ở cùng phòng với Tổng thống Ford khi ông quyết định rút đội quân Mỹ cuối cùng ra khỏi Việt Nam. Một nhóm nhỏ những người đã có mặt tại thời khắc lúc đó.
Ông nghĩ gì khi Hiệp định Hòa bình Paris được ký cuối tháng 1/1973?
Tôi không nghĩ rằng đó là sự kết thúc của chiến tranh. Tôi không tin, vì nghĩ đó chỉ là nguyên tắc.
Khi ông Lê Đức Thọ từ chối nhận Giải thưởng Nobel Hòa Bình với Kissinger, tôi hoàn toàn hiểu rằng ông ấy sẽ quyết tâm chiến đấu đến khi thắng lợi hoàn toàn.
Khi xảy ra ngừng bắn giữa hai bên sau Hiệp định Paris, tôi đã đến vùng những người cộng sản Việt Nam nắm giữ, gần Mỹ Tho. Chính phủ Sài Gòn không muốn chúng tôi sang vùng đình chiến nhưng điều đó càng làm tôi thích thú trong chuyến đi.
Khi vào làng, tôi thực sự kinh ngạc, tận mắt chứng kiến cuộc sống thường ngày diễn ra ở đây, mặc dù đó chỉ là khoảng nghỉ giữa cuộc chiến. Tôi được những người dân đón chào, và thết đãi. Tôi không nghĩ họ là những người đã chiến đấu chống lại quân đội Sài Gòn. Tôi còn được gặp người chỉ huy của quân đội miền Bắc Việt Nam.
Nhưng sau đợt ngừng bắn ngắn ngủi, cuộc chiến lại tiếp tục.
Còn tôi trở về Mỹ và thỉnh thoảng có quay trở lại. Lần cuối cùng tôi quay lại Sài Gòn là vào tháng Ba năm 1975, một tháng trước khi Sài Gòn thất thủ, đi cùng đoàn của một viên tướng Mỹ. Ông ta đã nói chuyện với Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, và các quan chức cao cấp dưới quyền. Dịp đó tôi có qua Phnôm Penh 2 tuần trước khi Khmer Rouge (Khmer đỏ) chiến thắng.
Khi tôi cùng vị tướng Mỹ trở về Washington, viên tướng đã báo cáo Tổng thống Ford, và tôi cũng có báo cáo riêng. Bản báo cáo của tôi được gửi kèm những bức ảnh người dân Campuchia di tản. Tôi đã nói với Tổng thống là Sài Gòn sẽ thất thủ sau hai tuần nữa, và thực tế quả đúng như vậy.
Tổng thống Ford có tin lời ông nói không?
Có. Tôi cũng được ở cùng Tổng thống Ford, khi ông ra quyết định gửi máy bay di tản những người Mỹ ở Sài Gòn.
Đến Hà Nội mùa xuân năm 1973, ông có cảm nhận thấy hòa bình đã được vãn hồi?
Không, lần đầu tiên có mặt ở Hà Nội, tôi không nhận thấy điều đó, vì tôi quá bận rộn trong việc chụp ảnh lễ trao trả tự do cho tù bình.
Nhưng ở miền Nam, anh đã nhận thấy hòa bình đang trở lại?
Câu hỏi lớn và khó đấy!
Tôi gặp một số người tỏ ra lạc quan, một số khác thì không. Những người tin có hòa bình, khi họ biết tới vụ bê bối Water Gate (Tổng thống Nixon phải từ chức).
10 năm sau, Khoảng năm 1985. Tôi được gặp Thủ tướng Phạm Văn Đồng, cùng một nhóm phóng viên của tạp chí Time.Ông đã trở lại Việt Nam lần đầu sau chiến tranh là khi nào?
Khi đó, ông nghĩ gì về Việt Nam?
Người dân sống ở Sài Gòn khí đó có vẻ vẫn e dè.
Năm 1995, tôi quay lại lần nữa khi Mỹ bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Việt Nam. Lúc đó, người Sài Gòn đã hòa nhập hơn, họ đã nhận thấy cuộc sống mới của một Việt Nam thống nhất.
Xin hỏi ông câu cuối cùng. Cảm nhận của ông sau khi thăm lại nơi từng là trại giam tù binh Mỹ như thế nào?
Mọi thứ đã thay đổi hoàn toàn, nơi ấy bây giờ là trụ sở của Fafilm Việt Nam.
Tôi có nói chuyện với bà nấu bếp cho tù binh ngày ấy. Thật kỳ lạ là người đàn bà đó vẫn có thể nấu những món ăn ngon lành cho những người vừa mới ném bom tàn phá thành phố Hà Nội trong chiến dịch Linebacker II.
Tôi cũng ngạc nhiên khi nghe bà ấy kể có người tù binh, chắc do cải tạo tốt, được đi tự do trong khu vực trại giam đã giúp đỡ bà các việc vặt, như đốn củi, hay xách nước. Chính người cựu binh đã cứu sống bà khi đẩy bà xuống hố tránh bom trong Chiến dịch Linebacker II, ông ấy đã lấy thân mình che cho bà.
Xin cám ơn nhà báo David Hume Kennerly đã dành thời gian cho Tuần Việt Nam.
                                                                                              
                                                                                               Công Bằng (sưu tầm)

Thứ Tư, 25 tháng 4, 2018

ĐẤU TRANH LÀM THẤT BẠI NHỮNG ĐỘNG THÁI MỚI
CỦA CHIẾN LƯỢC DIỄN BIẾN HÒA BÌNH”
 Diễn biến hòa bình” là chiến lược cơ bản của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch nhằm lật đổ chế độ chính trị - xã hội của các nước tiến bộ, trước hết là các nước xã hội chủ nghĩa từ bên trong, chủ yếu bằng các biện pháp phi quân sự. Nhìn lại quá trình hình thành và phát triển của diễn biến hòa bình” từ khi còn là những tư tưởng đơn lẻ - một trong những thủ đoạn hỗ trợ cho các đòn tiến công quân sự nhằm ngăn chặn sự phát triển của chủ nghĩa xã hội (thập niên 40, 50 của thế kỷ XX) đến khi trở thành một chiến lược hoàn chỉnh (cuối thập niên 80 của thế kỷ XX) thì bao giờ nó cũng là bộ phận quan trọng trong chiến lược toàn cầu, phản cách mạng của các thế lực thù địch, phản động. Thời kỳ hậu chiến tranh lạnh; nó đã có sự điều chỉnh cả về phương thức và thủ đoạn; chủ yếu thông qua các hoạt động ngoại giao, viện trợ, nhân đạo, buôn bán, mậu dịch, du lịch, giao lưu, đào tạo lưu học sinh... để chống phá các nước xã hội chủ nghĩa còn lại, xác lập trật tự thế giới đơn cực do chủ nghĩa đế quốc lãnh đạo, chi phối. Hiện nay, tình hình chính trị thế giới diễn biến phức tạp, khôn lường; hợp tác, cạnh tranh, đấu tranh và sự tùy thuộc lẫn nhau giữa các nước, nhất là giữa các nước lớn ngày càng tăng. Cục diện thế giới theo xu hướng đa cực, đa trung tâm ngày càng thể hiện rõ nét. Các nước lớn điều chỉnh chiến lược, vừa hợp tác, thỏa hiệp, vừa cạnh tranh, đấu tranh, kiềm chế lẫn nhau; những biểu hiện của chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa cường quyền áp đặt, chủ nghĩa thực dụng ngày càng nổi lên trong quan hệ quốc tế; các thể chế đa phương đứng trước những thách thức lớn... Trong bối cảnh đó, chiến lược diễn biến hòa bình” tiếp tụcnhững động thái diễn biến mới ngày càng tinh vi hơn, rất nguy hiểm.
          Chủ thể tiến hành và đối tượng chống phá của chiến lược diễn biến hòa bình” đã có sự mở rộng hơn, đa dạng, phức tạp và không đồng nhất. Phương thức chống phá của chiến lược diễn biến hòa bình” đã chuyển trọng tâm từ bên ngoài tác động vào bên trong các nước sang tiến hành các hoạt động chống đối tại chỗ, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ngay trong nội bộ đối phương là chính. Biện pháp thực hiện chiến lược diễn biến hòa bình” các thế lực thù địch coi trọng sử dụng quyền lực mềm (quyền lực thông minh) thay cho chính sách cây gậy củ cà rốt đã lỗi thời, không hiệu quả. Đặc biệt, gần đây diễn biến hòa bình” đã phát triển cao đến mức có thể coi là “công nghệ gắn với “công nghệ lật đổ rất hợp pháp.
  Xét về bản chất chiến lược “diễn biến hòa bình” vẫn hoạt động chống phá của các lực lượng thù địch, phản động và các thế lực bành trướng, cường quyền; vẫn là một kiểu chiến tranh không có tiếng súng nhưng cực kỳ nguy hiểm với tính chất chính trị phản động, dân tộc chủ nghĩa, toàn cầu, phi vũ trang. Đi cùng với những động thái mới đó, chiến lược diễn biến hòa bình” luôn coi Việt Nam là một trọng điểm chống phá. Bởi vì Việt Nam là một nước xã hội chủ nghĩa có địa - chính trị, địa - kinh tế chiến lược quan trọng trong thế kỷ XXI, lại nằm ở vị trí nhạy cảm, đang còn tồn tại những tranh chấp về lợi ích, nhất là về chủ quyền, quyền chủ quyền trên khu vực Biển Đông. Hơn nữa, những thành tựu hơn 30 năm tiến hành công cuộc đổi mới đã tăng cường vị thế, uy tín và tiềm lực của đất nước nhưng trong nội bộ hiện tượng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tiêu cực, tệ nạn xã hội... còn diễn biến khá phức tạp. Thêm vào đó, thay đổi được chế độ chính trị xã hội ở Việt Nam chúng sẽ có lợi thế khi thực hiện âm mưu kiềm chế, khuất phục Trung Quốc trong chiến lược Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương mới đây nhất và các mưu đồ chính trị trong bối cảnh quốc tế mới. Vì vậy, cuộc chiến chống diễn biến hòa bình” vẫn tiếp tục và đây vẫn luôn là cuộc chiến không phân tuyến nhưng diễn ra vô cùng phức tạp, quyết liệt trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Điều quan trọng hàng đầu trong cuộc chiến này là chúng ta phải đấu tranh vạch trần, làm thất bại những động thái diễn biến mới của nó, tăng cường công tác giáo dục, nâng cao nhận thức, đề cao tinh thần cảnh giác cách mạng trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Quán triệt sâu sắc tư duy mới của Đảng về xác định đối tác, đối tượng của cách mạng Việt Nam. Kiên quyết đấu tranh, kiên trì quán triệt, thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ, quan điểm, phương châm, giải pháp phòng, chống “diễn biến hoà bình” mà Đảng và Nhà nước đã xác định. Thực hiện đồng bộ các giải pháp ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện tự diễn biến, tự chuyển hóa trong nội bộ. Tập trung xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” và ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, tự diễn biến, tự chuyển hóa.
NHÂN TRẦN



MỐI QUAN HỆ GIỮA “DIỂN BIẾN HÒA BÌNH”
VỚI “TỰ DIỄN BIẾN”, “TỰ CHUYỂN HÓA”
Diễn biến hòa bình” là chiến lược cơ bản của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch nhằm lật đổ chế độ chính trị - xã hội của các nước tiến bộ, trước hết là các nước xã hội chủ nghĩa từ bên trong, chủ yếu bằng các biện pháp phi quân sự. Tức là “diễn biến hòa bình” là “nhân tố” bên ngoài nhằm làm chuyển hóa chế độ chính trị của các chủ thể này theo quỹ đạo của chủ thể khác.
Tự diễn biến” là sự thay đổi trong nội bộ theo chiều hướng xấu, tiêu cực ngay ở hai cấp độ cá nhân và tổ chức chủ yếu do lập trường tư tưởng không vững vàng, thiếu bản lĩnh chính trị, hoang mang dao động, thiếu tu dưỡng rèn luyện, ngại học tập. Tchuyển hóasự thay đổi bản chất, rời bỏ định hướng xã hội chủ nghĩa và những giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc, ngả theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản do hậu quả trực tiếp của tự diễn biến”. Như vậy, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là nguy cơ “nội tại” của hệ thống chính trị, phản ánh mức độ suy thoái về chính trị của cán bộ, đảng viên, là nhân tố bên trong đe dọa đến sự tồn vong của chế độ chính trị xã hội.
Thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ vừa là mục tiêu, vừa là cách thức tiến hành của chiến lược “diễn biến hòa bình” mà các thế lực thù địch tiến hành đối với nước khác nhằm hiện thực hóa âm mưu lật đổ chế độ chính trị hiện hành của đối phương. Ngược lại, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ vừa là sự tiếp nhận tự giác của đối tượng bị tác động, vừa là hệ quả của hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch nhằm làm thay đổi chế độ chính trị.
Diễn biến hòa bình” và “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có mối quan hệ khăng khít, không tách rời; trong đó, thúc đẩy “tự diễn biến”,“tự chuyển hóa” là thủ đoạn và cũng là mục tiêu của chiến lược diễn biến hòa bình”. “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là hệ quả nảy sinh từ phương thức, thủ đoạn chống phá của chiến lược “diễn biến hòa bình”.
Ngược lại “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” làm cho “diễn biến hòa bình” nhanh chóng đạt được mục tiêu chiến lược. Hoạt động “diễn biến hòa bình” nhằm vào nội bộ, nếu không ngăn chặn được sẽ làm nảy sinh mầm mống tư tưởng, nuôi dưỡng, kích hoạt các yếu tố tiêu cực, làm gia tăng yếu tố “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.
“Tự diễn biến” nếu không được ngăn chặn sẽ dẫn đến “tự chuyển hóa”, dẫn tới mối nguy hiểm thật sự đối với sự tồn vong của chế độ chính trị - xã hội xã hội chủ nghĩa nhất là là khi đã xuất hiện lực lượng chính trị đối lập. Đây chính là thời điểm đồng thời là điều kiện tốt nhất để các thế lực thù địch ra đòn quyết định lật đổ chế độ chính trị và xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với hệ thông chính trị.
Đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” và phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là tiếp tục cuộc đấu tranh giai cấp giữa chủ nghĩa xã hội, giữa tiến bộ xã hội với chủ nghĩa tư bản, đế quốc trong điều kiện mới. Đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” và phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có nhiều biện pháp tổng hợp giống nhau, thó có thể tách rời.
Về mục tiêu, đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” và phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đều có những điểm chung đó là đẩy lùi, vô hiệu hóa mọi nguy cơ đe dọa sự tồn vong của chế độ xã hội chủ nghĩa và vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản.
Tuy nhiên, tính chất và phương thức đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” và phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có những điểm khác biệt cơ bản. Đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” là cuộc đấu tranh với các thế lực thù địch, mang tính chính trị đối ngoại là chính. Trong khi đó, phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý các nhân tố tiêu cực bên trong nội bộ và mang tính chính trị nội bộ là chính.
NHÂN TRẦN


Thứ Năm, 12 tháng 4, 2018

VÌ SAO MỸ THUA TRONG CUỘC CHIẾN TRANH VIỆT NAM
            Lịch sử không có “giá như” nhưng lịch sử là bài học cho sự phát triển hướng đến tương lai tốt đẹp. Chiến tranh Việt Nam khi có Mỹ trực tiếp tham gia trong giai đoạn lịch sử (1954 - 1975) là một trong 11 cuộc chiến tranh lớn nhất của thế giới hiện đại mà sự kết thúc của nó để lại rất nhiều dấu ấn thời đại. Một trong những dấu ấn đó chính là là câu hỏi mà nước Mỹ đã phải mất rất nhiều thời gian để đi tìm lời giải đáp: “Vì sao Mỹ thua trong cuộc chiến tranh Việt Nam”.
          Đến nay, 43 năm đã trôi qua, kể từ sau chiến thắng vĩ đại của nhân dân Việt Nam, ngày 30/4/1975. Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, hội thảo, sách vở, phát biểu, đánh giá nói về nguyên nhân thắng trận của Việt Nam nhưng ở góc nhìn của Mỹ thì điều gì khiến Mỹ thua trận sẽ khiến chúng ta quan tâm nhiều hơn.
          Trước hết Mỹ thua là do nhận thức sai về tính chất chiến tranh Việt Nam- đây là nguyên nhân của mọi nguyên nhân. Mỹ cho rằng Việt Nam chống Mỹ là một cuộc chiến tranh ủy nhiệm bởi Trung Quốc và Liên Xô nhưng thật ra không phải như vậy.
          Mỹ đã quên mất chuyện Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư cho Tổng thống Mỹ vào năm 1945 như thế nào nên đã xác định sai lầm tính chất cuộc chiến. Mỹ nên hiểu, Việt Nam coi quyền lợi dân tộc, quốc gia là trên hết. Việt Nam muốn độc lập, giang sơn thu về một mối và sẽ chiến đấu với bất kỳ kẻ thù nào vì mục tiêu đó.
          Sai lầm tệ hại nhất của Mỹ là Mỹ đã “bất chấp” hay “vô tình” đối đầu với một dân tộc có truyền thống chống giặc ngoại xâm quật cường, anh dũng “thà làm quỷ nước Nam chứ không thèm làm vương đất Bắc”, “thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”.
          Mỹ nhảy vào Việt Nam là để ngăn chặn cái gọi là “Chủ nghĩa Cộng sản” nhưng nhân dân Việt Nam chỉ biết rằng, Mỹ là kẻ xâm lược và chiến đấu với Mỹ như bao kẻ xâm lược khác. Người Việt Nam đánh Mỹ để bảo vệ quê hương, ruộng đồng, để không phải làm kiếp nô lệ như thời thuộc Pháp, đánh Mỹ để thống nhất Bắc - Nam thu giang sơn về một mối, cho nên, bất kỳ đàn ông hay đàn bà, người già hay người trẻ, hễ là người Việt Nam thì họ đều đứng lên chống giặc ngoại xâm, đã có hàng triệu người con nước Việt đã lên đường ra trận chiến đấu quên mình theo lời kêu gọi vang dậy non sông của lãnh tụ Hồ Chí Minh: “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Chính tư tưởng, tinh thần đó là nguồn gốc khiến một dân tộc yêu hòa bình, yêu tự do độc lập trở nên anh hùng và tất yếu sẽ tạo ra một quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng.
                                                                                BIỂN RỘNG




           




Ý NGHĨA THẮNG LỢI CỦA CHIẾN DỊCH HỒ CHÍ MINH

Chiến dịch Hồ Chí Minh diễn ra từ 17 giờ ngày 26 tháng 4 đến 11 giờ 30 phút ngày 30 tháng 4 năm 1975.
Đây là chiến dịch có quy mô lớn nhất, thắng lợi to lớn chưa từng có, là đòn quyết định chiến lược để kết thúc chiến tranh.
Chiến dịch Hồ Chí Minh là đỉnh cao của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975. Thắng lợi của Chiến dịch Hồ chí Minh là thắng lợi vĩ đại nhất, trọn vẹn nhất, kết thúc hơn 30 năm chiến tranh lâu dài, gian khổ, ác liệt nhưng cũng vẻ vang nhất trong cuộc kháng chiến chống ngoại xâm của dân tộc ta, mở ra một kỷ nguyên mới kỷ nguyên độc lập, tự do, thống nhất Tổ quốc và xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước. 
Thắng lợi của chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, chiến dịch quyết chiến chiến lược cuối cùng của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 quân và dân ta đã đập tan toàn bộ bộ máy chiến tranh to lớn, hiện đại của chính quyền tay sai Mỹ ở miền Nam và quét sạch bộ máy ngụy quyền mà đế quốc Mỹ đã ra sức xây dựng trong hơn 20 năm. Ta đã giải phóng hoàn toàn 44 tỉnh ở miền Nam, cả các đảo do quân ngụy đóng giữ, giành lại toàn bộ giang sơn đất nước gồm cả vùng đất, vùng trời vùng biển ở miền Nam. Nhân dân ta đã giành được độc lập tự do, tiến tới thực hiện thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Về ý nghĩa lịch sử, với thắng lợi của chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, nhân dân ta đã vĩnh viễn thoát khỏi ách nô dịch của các n­ước đế quốc, vĩnh viễn thoát khỏi hoạ đất nước bị chia cắt, giải phóng miền Nam, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trên cả nư­ớc, bảo vệ những thành quả b­ước đầu của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, đư­a cả nư­ớc bư­ớc vào kỷ nguyên mới: Kỷ nguyên độc lập tự do, thống nhất Tổ quốc và chủ nghĩa xã hội; đư­a dân tộc ta đứng vào hàng ngũ của quốc gia, dân tộc tiên phong trên thế giới.
Đối với các dân tộc bị áp bức trên thế giới, thắng lợi của chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta thắng lợi, đã thức tỉnh, cổ vũ hàng trăm triệu ng­ười đứng lên dũng cảm đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân cũ và mới, giành lại độc lập dân tộc, đư­a đất nư­ớc tiến vào quỹ đạo xây dựng chủ nghĩa xã hội, đem lại cơm no, áo ấm, hạnh phúc cho nhân dân. Chúng ta được quyền tự do và bình đẳng tiến lên chủ nghĩa xã hội phát triển ổn định lâu dài cho muôn đời sau./.
                                                                                        BIỂN RỘNG
CHIẾN THẮNG 30.4.1975 - MỘT THẮNG LỢI
CÓ GIÁ TRỊ LỊCH SỬ KHÔNG THỂ PHỦ ĐỊNH

Những ngày này, khi mà toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đang sôi nổi tổ chức các hoạt động kỷ niệm 43 năm chiến thắng (30.4.1975- 30.4.2018), thì ở đâu đó các thế lực thù địch, phản động, cơ hội, xét lại ra sức xuyên tạc, bóp méo lịch sử hòng phủ nhận giá trị và ý nghĩa to lớn của sự kiện này. Chúng cho rằng chúng ta giành được thống nhất đất nước bằng một cái giá quá đắt, với mấy chục năm chiến tranh, gần chục triệu người chết vô nghĩa, không phù hợp với lòng dân và thực tiễn khách quan. Trên thực tế, nếu hạn chế về kiến thức khoa học xã hội nói chung và kiến thức về lý luận chính trị nói riêng thì khó có thể luận giải được bản chất của vấn đề, và do đó khó có khả năng miễn dịch với nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. 
Trước hết, cần phải khẳng định rằng, chiến thắng 30.4.1975 là thắng lợi to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời - Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á thì cả dân tộc Việt Nam đã phải bước ngay vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và bè lũ phong kiến bù nhìn để bảo vệ độc lập, tự do cho Tổ quốc. Tiếp đó là cuộc trường chinh của cả dân tộc chống lại tên đế quốc đầu sỏ đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai, phản động, kết thúc bằng chiến thắng vĩ đại ngày 30.4.1975, giang sơn thu về một mối, cả nước cùng đi lên chủ nghĩa xã hội
Nếu bảo chúng ta thống nhất đất nước với một cái giá quá đắt, không cần thiết phải như thế thì thử hỏi xem còn phương thức nào khác: Hoặc là, từ bỏ những thành quả mà chúng ta đã giành được sau cách mạng tháng 8.1945, ngậm ngùi chấp nhận đất nước lại chia đôi; hoặc là, chấp nhận thống nhất đất nước nhưng phải thay đổi chế độ, chấp nhận tiếp tục bị lệ thuộc, bị tước đi quyền thiêng liêng là độc lập, tự chủ. Nếu Đảng ta lựa chọn một trong hai con đường kể trên, có nghĩa là đi ngược lại khát vọng độc lập dân tộc và thống nhất Tổ quốc, là phản bội lại lợi ích nhân dân, là xúc phạm lòng tin của nhân dân đối với Đảng.
Vì vậy, chiến thắng 30.4.1975 là thắng lợi to lớn, có ý nghĩa lịch sử đối với dân tộc Việt Nam là một sự thật không thể xuyên tạc, bóp méo dưới bất kỳ luận điệu phản động, xét lại nào.
                                                                                                 HƯỚNG DƯƠNG


Thứ Tư, 11 tháng 4, 2018

PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG TRONG HỘI NHẬP QUỐC TẾ
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, văn hoá Việt Nam có cơ hội giao lưu với tất cả các nền văn hoá của thế giới, đó là điều kiện thuận lợi để phát triển và khẳng định bản sắc văn hóa của dân tộc. Do vậy, nhận thức và giải quyết tốt mối quan hệ giữa hội nhập quốc tế và việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam hiện nay.
Hội nhập quốc tế đã và đang tác động đến những giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc Việt Nam cả theo hướng tích cực lẫn tiêu cực. Một mặt, nó góp phần nâng cao trình độ tư duy khoa học của xã hội công nghiệp, góp phần làm giàu thêm, phong phú thêm các giá trị văn hoá Việt Nam truyền thống. Mặt khác, nó cũng đặt ra những thách thức lớn trong việc giữ gìn và phát huy những giá trị văn hoá truyền thống, và thách thức lớn nhất là làm thế nào để nền văn hóa dân tộc vừa có thể tiếp thu được các giá trị thời đại, tinh hoa văn hoá nhân loại, vừa có thể giữ được bản sắc dân tộc vốn có; không bị hoà tan, không bị nhấn chìm vào các nền văn hóa khác hoặc trở thành “cái bóng mờ” của dân tộc khác, nền văn hoá khác. Giá trị văn hóa truyền thống là những giá trị thuộc về tư tưởng, lối sống, chuẩn mực đạo đức được cộng đồng thừa nhận và bảo tồn, gìn giữ từ đời này sang đời khác… Không dựa trên nền tảng của giá trị văn hóa truyền thống thì không thể tiếp thu có hiệu quả những thành tựu hiện đại và càng không thể có sự phát triển lâu bền. Do vậy, giải quyết tốt quan hệ giữa hội nhập quốc tế với việc giữ gìn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc là một yêu cầu tất yếu, vừa có tính cấp bách, trước mắt, vừa mang tính chiến lược, lâu dài nhằm xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, góp phần xây dựng nhân cách con người Việt Nam phù hợp với yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, để văn hóa thực sự là nền tảng, là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội.
Để giải quyết tốt quan hệ giữa hội nhập quốc tế với việc giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc cần thực hiện tốt một số định hướng cơ bản sau đây:
Thứ nhấtphải xây dựng hệ giá trị Việt Nam, chuẩn giá trị Việt Nam trong thời kỳ hội nhập. Hệ giá trị văn hóa trước đây của chúng ta là văn hóa nông nghiệp – nông thôn gắn với văn hóa làng xã, những giá trị đó đã nuôi dưỡng tinh thần dân tộc trong những dặm trường lịch sử. Để văn hóa truyền thống Việt Nam vững vàng trước những “va chạm”, “xung đột” văn hóa của thời đại hội nhập, để xây dựng hệ giá trị người Việt Nam làm nền tảng, động lực đưa đất nước vươn ra “biển lớn”, cần có sự điều chỉnh phù hợp với mỗi giai đoạn phát triển và cần xác lập một hệ giá trị mới: Hệ giá trị văn hóa công nghiệp – đô thị – hội nhập, để đất nước vững vàng trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập trong một thế giới phẳng. Xây dựng hệ giá trị văn hóa Việt Nam hiện nay chúng ta cần xác định trọng tâm là xây dựng con người với các đặc tính cơ bản như yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, trung thực, đoàn kết, cần cù, sáng tạo…và xây dựng một hệ giá trị thích hợp để phát huy được những điểm mạnh và hạn chế thói hư tật xấu của người Việt. Bên cạnh đó, phải chuẩn bị các yếu tố cần thiết để chắt lọc thẩm thấu tiếp nhận tinh hoa văn hóa nhân loại, đồng thời loại bỏ các “dị tật” ngoại lai.
Thứ hai, giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống gắn với tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Trong hội nhập, giữ gìn và bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc là quan trọng song giữ gìn bản sắc không phải là một hiện tượng cố hữu, bất biến. Văn hóa luôn nằm trong quá trình hiện đại hóa, nó phải trở thành sức sống hiện đại của dân tộc. Giữ gìn, bảo vệ và phát huy bản sắc dân tộc phải gắn kết với mở rộng giao lưu quốc tế, tiếp thu có chọn lọc cái hay, cái tiến bộ trong văn hóa các dân tộc khác. Mặt khác, giữ gìn bản sắc không loại trừ sự tiếp biến văn hóa; văn hóa dân tộc phải hội lưu với văn hóa nhân loại, rồi theo dòng chảy của nó mà tiếp thu những cái “chân – thiện – mỹ” của các nền văn hóa trên thế giới để bồi đắp cho văn hóa bản địa. Giữ gìn bản sắc cũng phải trên cơ sở vừa thừa kế, vừa không ngừng tiếp thu tinh hoa của văn hóa nhân loại để làm sâu sắc thêm những giá trị văn hóa truyền thống, góp phần củng cố và làm phong phú hơn nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Và “tinh hoa” ở đây cũng phải hiểu trên cơ sở kế thừa, chứ không phải là một thứ bất biến. Đồng thời, qua đó, cũng góp phần làm phong phú văn hóa thế giới khi chính các nền văn hóa ngoại lai cũng tiếp nhận những giá trị tinh hoa văn hóa Việt Nam.
Thứ ba, chống thái độ bảo thủ, thái độ hư vô trong giải quyết quan hệ giữa hội nhập quốc tế và giữ gìn giá trị văn hóa truyền thống. Giữ gìn văn hóa truyền thống là việc phải làm nhưng không sa vào bảo thủ khi đề cao quá văn hóa dân tộc truyền thống mà coi nhẹ và không chịu tiếp thu tinh hoa văn hóa thế giới. Tự khép kín là làm trái quy luật phát triển, làm cho nền văn hóa trở nên nghèo nàn, đơn điệu. Tôn sùng chủ nghĩa dân tộc thái quá dễ dẫn đến những thái độ cực đoan, sai lầm, bảo thủ và lạc hậu. Điều này sẽ kéo theo sự kìm hãm, níu kéo, làm chậm sự phát triển. Bên cạnh đó cùng cần chống quan điểm coi nhẹ, hạ thấp vai trò và các giá trị của văn hóa truyền thống, chạy theo thị hiếu và các giá trị văn hóa ngoại lai, tệ sùng bái nước ngoài, chạy theo lối sống thực dụng, cá nhân vị kỷ gây hại đến thuần phong mỹ tục của dân tộc./.
                                                                            Sự Thật