Thứ Năm, 31 tháng 7, 2025

  Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là phù hợp với xu thế của thời đại hiện nay

                                                                                                                       BĐT

Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử, C. Mác đã cho rằng: “Tôi coi sự phát triển của những hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên”(3). Theo chiều tiệm tiến thì việc phát triển tuần tự hay bỏ qua một hình thái kinh tế - xã hội đã lỗi thời lạc hậu, xây dựng hình thái kinh tế - xã hội tiến bộ hơn là hợp quy luật phát triển của xã hội loài người. Cả về lý luận và thực tiễn đều cho thấy, chủ nghĩa tư bản không phải là nấc thang phát triển cao nhất của xã hội loài người. Trong thời đại hiện nay, các dân tộc chỉ có hai lựa chọn là, theo con đường phát triển tư bản chủ nghĩa, hay cộng sản chủ nghĩa mà giai đoạn đầu là chủ nghĩa xã hội. Sự lựa chọn con đường nào phụ thuộc vào nhận thức và hoàn cảnh lịch sử - cụ thể của mỗi dân tộc. Nhưng, xu hướng phát triển chung là các dân tộc đều đi lên chủ nghĩa xã hội, dù cho con đường đó diễn ra lâu dài, gian khổ và cách thức tiến hành sẽ không giống nhau.

Điều ấy được kiểm chứng rõ trong tính đặc thù của con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, là từ một nước thuộc địa nửa phong kiến, sau khi giành được độc lập đã bỏ qua sự phát triển chế độ tư bản chủ nghĩa để đi lên chủ nghĩa xã hội. Nước ta phải trải qua một quá trình đấu tranh cách mạng lâu dài, khó khăn, đầy gian khổ hy sinh với quyết tâm chống lại ách đô hộ và xâm lược của đế quốc, thực dân, để bảo vệ nền độc lập dân tộc và chủ quyền thiêng liêng của đất nước, vì tự do, hạnh phúc của nhân dân. Việt Nam là một tấm gương mẫu mực trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội; đó là cơ sở bảo đảm vững chắc cho nền độc lập, tự do của dân tộc. Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là vấn đề cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh, là đường lối cơ bản, xuyên suốt và nhất quán của cách mạng Việt Nam.

Ngày nay, chủ nghĩa tư bản hiện đại bước sang giai đoạn mới là chủ nghĩa tư bản toàn cầu hóa, có nhiều thành tựu trong giải phóng, phát triển lực lượng sản xuất, phát triển khoa học và công nghệ, nên đã đạt được năng suất lao động cao. Song, chủ nghĩa tư bản vẫn không thể khắc phục được những mâu thuẫn cơ bản vốn có của nó; các cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội, các tệ nạn xã hội, nhất là khi đại dịch COVID-19 diễn ra lại càng làm bộc lộ rõ bản chất chế độ chính trị - xã hội của các nước này không vì sức khỏe, hạnh phúc của đại đa số nhân dân lao động. Các phong trào đấu tranh phản kháng xã hội đã bùng nổ mạnh mẽ, với những nội dung và hình thức mới ở nhiều nước tư bản phát triển trong thời gian qua, càng làm bộc lộ rõ sự thật về những mâu thuẫn mang tính bản chất không thể hóa giải của chế độ tư bản chủ nghĩa.

 Giá trị của nhận thức đúng đắn về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay

Hoa Súng

Về giá trị lý luận: Thời gian tới, yêu cầu cấp thiết tiếp tục đặt ra cho công tác lý luận là đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, hoàn thiện hệ thống lý luận về đường lối đổi mới, cần có những đánh giá khách quan về những thành tựu đã đạt được và những bất cập, hạn chế, khuyết điểm; để có nhận thức ngày càng sáng rõ hơn về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đặc biệt, cần tập trung nghiên cứu làm rõ một cách tổng quát lộ trình và những chặng đường của thời kỳ quá độ; nội dung cơ bản của từng chặng đường đó…; những thành tựu đã đạt được và hạn chế trong nhiệm vụ xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật ở các chặng đường đã qua của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Về giá trị tư tưởng: Hiện nay, các thế lực thù địch ráo riết đẩy mạnh hoạt động chống phá các nước xã hội chủ nghĩa, trong đó có Việt Nam. Chúng tiến hành chiến lược “diễn biến hòa bình”, với nhiều thủ đoạn chống phá hết sức tinh vi, thâm độc trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có lĩnh vực tư tưởng, lý luận, với mục tiêu nhằm phủ nhận bản chất khoa học, cách mạng nền tảng tư tưởng của Đảng, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của của Đảng và thành tựu của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội của Việt Nam trong công cuộc đổi mới. Tính chất thâm độc của các thủ đoạn, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch đối với nước ta trong những năm gần đây là triệt để lợi dụng công nghệ thông tin, mạng xã hội, với các chiêu trò “đổi trắng thay đen”, đưa các thông tin đúng - sai lẫn lộn và xây dựng các “ngọn cờ” chống phá từ bên trong, kích động “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Trước tình hình trên, việc làm rõ con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam có giá trị tư tưởng quan trọng, là cơ sở phản bác một cách thuyết phục, đanh thép các luận điệu sai trái, thù địch; củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng đối với công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vào chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; phát huy sức mạnh dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại để vượt qua mọi khó khăn, thách thức, thực hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, từng bước hiện thực hóa mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.


                                          VIỆT NAM LUÔN THỰC HIỆN TỐT QUYỀN CON NGƯỜI

                                                                                                          Nhân Trần
          Ngày 10/12/1948, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã đồng thuận thông qua bản “Tuyên ngôn Thế giới về vấn đề nhân quyền”. Từ đó đến nay ngày 10/12 hàng năm là “Ngày Nhân quyền quốc tế”. Sau tuyên ngôn về vấn đề nhân quyền, năm 1966, Liên hợp quốc đã ban hành “Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị” và “Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa”  quy định tất cả những quyền và tự do cơ bản của con người. Bản tuyên ngôn nhân quyền thế giới cùng với hai công ước trên được cộng đồng quốc tế xem là “Bộ luật quốc tế về quyền con người”. Dựa trên những văn bản này cơ chế bảo vệ quyền con người của Liên hợp quốc cũng đã được hình thành. Cơ quan chịu trách nhiệm chủ yếu về nhân quyền của Liên hợp quốc hiện nay là Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc.
          Quyền con người luôn vừa là mục tiêu, vừa là lý tưởng cách mạng của Đảng và nhà nước Việt Nam. Cách mạng Việt Nam đi theo con đường của chủ nghĩa Mác - Lênin, làm cách mạng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người và lấy đó tiền đề để đi đến xây dựng xã hội chủ nghĩa với mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, Nhân dân làm chủ, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 do Đảng lãnh đạo giành được độc lập dân tộc, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa - nay là nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ra đời. Hiến pháp 1946 - Hiến pháp đầu tiên của Việt Nam - lần đầu tiên các quyền công dân và quyền con người được tôn trọng và bảo vệ. Nhưng trong điều kiện kháng chiến trường kỳ từ năm 1945 đến 1975 nhiều quyền về kinh tế, xã hội của công dân chưa có điều kiện để thực hiện đầy đủ. Bước vào thời kỳ đổi mới, Đảng ta đã quán triệt nguyên tắc đổi mới phải dựa trên chủ nghĩa Mác - Lênin, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng và đặc biệt là quyền làm chủ của Nhân dân. Việt Nam không chấp nhận mô hình dân chủ, nhân quyền của phương Tây, không sao chép mô hình dân chủ kiểu “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập”. Nhờ sự lãnh đạo vững vàng, sáng suốt của Đảng, Nhân dân ta đã vượt qua khủng hoảng kinh tế - xã hội, từng bước vươn lên đạt được những thành tựu to lớn: chính trị xã hội ổn định; quốc phòng an ninh được giữ vững; kinh tế tăng trưởng khá; xã hội cởi mở, đoàn kết; giá trị văn hóa của các dân tộc đang được khôi phục và phát triển; quan hệ quốc tế rộng mở, vị thế của đất nước được nâng cao. Với những thành tựu to lớn về mọi mặt đó Việt Nam đã được Liên hợp quốc tín nhiệm bầu làm thành viên của Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc khóa 2014 - 2016.
          Đến nay, Việt Nam đã ký kết, phê chuẩn hầu hết các công ước quốc tế về quyền con người, đồng thời đã nội luật hóa các công ước đó trong hệ thống pháp luật quốc gia Việt Nam. Hiến pháp 2013 (được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 28/11/2013) lần đầu tiên quyền con người, quyền và nghĩa vụ công dân được quy định đầy đủ, trực tiếp, rõ ràng thành 1 chương (chương II). Đó là công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào…(Điều 24); quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, quyền tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình… và việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định... (Điều 25). Những nguyên tắc về quyền con người cũng được ghi nhận bao gồm 3 nội dung lớn: Xác định rõ mối quan hệ giữa Nhà nước với người dân; nguyên tắc hạn chế quyền và nguyên tắc “suy luận vô tội”. Ví dụ, Điều 14 ghi: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật”. Việc đảm bảo các quyền cơ bản của công dân sau hơn 30 năm đổi mới, đời sống vật chất, tinh thần của các tầng lớp Nhân dân được cải thiện rõ rệt, công cuộc xóa đói, giảm nghèo thu được kết quả tích cực. Chỉ số phát triển con người (HDI) tăng nhanh. Nhân dân ta được phát huy các quyền cơ bản trên tất cả các lĩnh vực chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội… phù hợp với đặc điểm, tình hình đất nước. Trong hợp tác quốc tế về bảo vệ và thúc đẩy quyền con người, chúng ta đã tham gia hầu hết các công ước của Liên hợp quốc về nhân quyền như: Công ước về quyền dân sự, chính trị; Công ước về quyền kinh tế, văn hóa, xã hội; Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ; Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc; Công ước về quyền trẻ em; Công ước về không áp dụng những hạn chế luật pháp đối với tội phạm chiến tranh và tội chống lại lòa người; Công ước về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia; Nghị định thư về ngăn chặn, trấn áp và trừng phạt tội buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em; Công ước của tổ chức lao động quốc tế (ILO) về chính sách việc làm… Trong khuôn khổ các đối thoại và hợp tác quốc tế về quyền con người cả song phương lẫn đa phương, các nước và các đối tác đều đánh giá cao những thành tựu mà Việt Nam đạt được trên lĩnh vực nhân quyền. Những đóng góp tích cực và hiệu quả của nước ta vào mục tiêu thúc đẩy và bảo vệ quyền con người, giữ vững các nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc tế về nhân quyền là bằng chứng khẳng định Đảng, Nhà nước ta luôn tôn trọng, bảo đảm các quyền cơ bản của người dân. Điều này không chỉ thể hiện ở việc kiện toàn hệ thống pháp luật, chính sách liên quan đến quyền con người mà còn được thực hiện trên tất cả các mặt tự do ngôn luận, báo chí, thông tin; tự do tín ngưỡng, tôn giáo; bảo đảm an sinh xã hội, xóa đói, giảm nghèo, giáo dục...
          Đáng tiếc trong thời gian qua, một số người, hoặc không hiểu, hoặc cố tình không hiểu đã có hành vi vi phạm pháp luật. Chẳng hạn, họ cho rằng, quyền biểu tình đã được quy định trong Hiến pháp 2013. Hay một số người cho rằng, Hiến pháp 2013 đã quy định công dân có quyền “lập hội” từ đó họ đã cho ra đời một số tổ chức mạng với nhóm khởi xướng và tổ chức “ký tên” tham gia, như “Tuyên bố” về “ Phong trào con đường Việt Nam”; “Tuyên bố 258” (Tuyên bố của mạng lưới Blogger Việt Nam”; “Tuyên bố về thực thi quyền dân sự, chính trị”; Tuyên bố mạng “Diễn đàn xã hội dân sự”… Về mặt pháp lý, đây là những hành động và những tổ chức phi pháp. Bởi vì theo quy định của Điều 25, Hiến pháp 2013 “việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”.
          Không phủ nhận rằng, hiện nay Việt Nam đang phải đối diện với không ít những vấn đề khó khăn về thực hiện quyền con người. Đó là sự phân hóa giàu nghèo, tình trạng quan liêu tham nhũng, suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, tình trạng người dân không được hưởng đầy đủ các hàng hóa, dịch vụ tương xứng với chất lượng và giá cả… Tuy nhiên, với việc nhận thức đúng đắn hơn, đầy đủ hơn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, tiếp tục hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; xây dựng và phát huy vai trò tư vấn, phản biện của Mặt trận Tổ quốc, của các tổ chức đoàn thể xã hội…, các quyền và tự do cơ bản của con người trên đất nước ta nhất định sẽ được bảo đảm ngày càng tốt hơn. Nhân quyền ở Việt Nam có bước tiến vững chắc gắn chặt với Hiến pháp và hệ thống pháp luật. Điều đó có nghĩa, quyền con người sẽ tồn tại vững chắc, lâu dài trong chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam./.

 “MỘT DÂN TỘC KHÔNG TỰ LỰC CÁNH SINH MÀ CỨ NGỒI CHỜ DÂN TỘC KHÁC GIÚP ĐỠ THÌ KHÔNG XỨNG ĐÁNG ĐƯỢC ĐỘC LẬP.”

HN
Lời dạy trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong: “Bài nói chuyện tại hội nghị chiến tranh du kích”, ngày 13 tháng 7 năm 1952. Đây là giai đoạn cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân ta chuẩn bị chuyển sang tổng phản công. Trong nhận thức của một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhân dân và lực lượng vũ trang có biểu hiện trông chờ vào sự giúp đỡ của các nước bạn. Mặt khác, lại xuất hiện tư tưởng nóng vội muốn đánh thắng ngay. Trước tình hình đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh muốn chấn chỉnh nhận thức, củng cố niềm tin, phát huy nội lực của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân tích cực tham gia thúc đẩy cuộc kháng chiến nhanh chóng giành thắng lợi.
Qua bài nói chuyện, Người nhấn mạnh, cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta là trường kỳ gian khổ nhưng lại phải tự lực cánh sinh, dựa vào sức mình là chính. Lời dạy trên đây của Chủ tịch Hồ Chí Minh có giá trị lý luận và thực tiễn to lớn trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Thực hiện lời dạy của Người, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đã nhận thức rõ chủ trương, đường lối lãnh đạo của Đảng đối với cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đoàn kết, thống nhất, phát huy cao độ tinh thần tự lực, tự cường trong thực hiện nhiệm vụ của từng cá nhân, đơn vị, từng địa phương và nhiệm vụ chung của cách mạng. Tinh thần tự lực, tự cường của cả dân tộc là nhân tố quan trọng để làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu, mở ra một thời kỳ mới trong lịch sử phát triển của dân tộc.
Ngày nay, xu thế mở cửa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, nhưng tinh thần độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường vẫn là yếu tố quyết định đối với sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia, dân tộc. Do đó, trong khi mở rộng hợp tác quốc tế theo tinh thần Việt Nam là đối tác tin cậy và là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, Đảng ta phát huy cao độ tinh thần đại đoàn kết toàn dân, chủ động tự lực cánh sinh thực hiện thắng lợi đường lối đổi mới, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy, cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam phải đề cao tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo; ra sức học tập, tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng, trình độ, năng lực, phương pháp, tác phong công tác đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; nêu cao tinh thần chịu đựng gian khổ, hy sinh, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, cũng kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa... hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ”. Đồng thời, luôn làm tốt công tác đối ngoại quốc phòng để mở rộng quan hệ quốc tế, tranh thủ sự hợp tác, ủng hộ của các đối tác góp phần xây dựng Quân đội nhân dân tiến lên chính quy, hiện đại.

 KHÔNG CÓ LỰC LƯỢNG NÀO ĐỦ SỨC THAY THẾ SỨ MỆNH LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

THN

 Trong bối cảnh mới hiện nay, Đảng Cộng sản Việt Nam là chính Đảng duy nhất hội tụ đầy đủ phẩm chất, năng lực, tiêu chí để lãnh đạo đất nước, dân tộc Việt Nam phát triển. Hiện nay, bên cạnh những cơ hội vẫn tồn tại nhiều thách thức ảnh hưởng tới sự phát triển của Việt Nam: Hợp tác, cạnh tranh, đấu tranh giữa các nước, nhất là các nước lớn diễn biến ngày càng phức tạp, có nguy cơ gây mất ổn định trên quy mô toàn cầu; chiến tranh sắc tộc, chiến tranh khu vực, xung đột tôn giáo và khủng bố quốc tế vẫn có khả năng bùng phát dưới những hình thức mới; tình hình Biển Đông có thể diễn biến phức tạp; kinh tế thế giới phát triển chậm lại, nguy cơ rơi vào khủng hoảng, suy thoái; chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa cường quyền nước lớn, chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa dân túy ngày càng nổi lên... Điều đó đòi hỏi chính đảng lãnh đạo quốc gia là đoàn kết, tập hợp được quần chúng nhân dân; có tính tiên phong, cách mạng; có sức mạnh và kỷ luật tập thể; toàn tâm, toàn ý vì lợi ích chung của nhân dân, dân tộc. Ở Việt Nam hiện nay, để có được những điều kiện, nhân tố nêu trên chỉ có duy nhất Đảng Cộng sản Việt Nam.

Thứ nhất, chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam mới có đủ phẩm chất chính trị và năng lực, xứng đáng là người lãnh đạo đất nước trong bối cảnh mới.

Đảng CSVN là đội tiên phong giác ngộ, có tổ chức chặt chẽ nhất, Đảng hình thành nên những sức mạnh, phẩm chất nổi trội và nhờ đó lãnh đạo, dẫn dắt nhân dân ta, đất nước ta vượt qua các khó khăn, thử thách trên con đường phát triển, đó là:

Sức mạnh của sự đoàn kết, thống nhất thành một khối vững chắc cả về chính trị, tư tưởng và hành động trong Đảng, bảo đảm sự tập trung trong lãnh đạo của Đảng. Sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng dựa trên cơ sở mục đích, lý tưởng của Đảng, trên cơ sở lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn dân tộc, trên cơ sở phát huy dân chủ, tôn trọng ý kiến cá nhân. Sự thống nhất về tổ chức và phương thức hành động tạo ra sức mạnh lớn lao cho Đảng vượt qua được các khó khăn, thử thách. Có tinh thần triệt để cách mạng, sức chiến đấu mạnh mẽ, được tôi luyện và ý thức kỷ luật cao, được tổ chức và hoạt động chặt chẽ, nghiêm ngặt theo tư tưởng, nguyên tắc của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Sự sẵn sàng hy sinh, chấp nhận những khó khăn, gian khổ, khả năng vươn lên không ngừng của Đảng vì lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động, của dân tộc Việt Nam.

Thứ hai, chỉ có duy nhất Đảng Cộng sản Việt Nam mới gắn bó mật thiết với nhân dân, tập hợp được đông đảo quần chúng nhân dân tin và đi theo Đảng.

Vai trò lãnh đạo của Đảng chính là trách nhiệm, nhiệm vụ cao cả mà nhân dân Việt Nam tin tưởng giao phó cho Đảng CSVN. Sức mạnh của Đảng bắt nguồn từ mối liên hệ mật thiết với nhân dân, từ sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân đối với Đảng. Mục tiêu lãnh đạo của Đảng là để nhân dân thực sự là người chủ đất nước, để toàn bộ quyền lực “đều ở nơi dân”. Đảng luôn có trách nhiệm với dân và tăng cường mối quan hệ máu thịt với dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Đảng được nhân dân tin yêu, giúp đỡ, thừa nhận là đội tiên phong lãnh đạo của mình, là Đảng của chính mình. Nhân dân thấy rằng lợi ích căn bản của mình gắn liền với sự nghiệp cách mạng do Đảng lãnh đạo; mục đích, lý tưởng của Đảng cũng chính là ước mơ, nguyện vọng lâu đời của nhân dân, của dân tộc.

Đảng luôn cầu thị, không ngừng đổi mới để tự hoàn thiện. Đảng CSVN không hề bảo thủ mà luôn đổi mới, cập nhật, nhằm làm cho Đảng mạnh lên, có đường lối đúng đắn, giúp Đảng hoàn thành sứ mệnh, nhiệm vụ đặt ra, đưa Việt Nam vượt qua các khó khăn, thách thức, giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác trong bối cảnh mới hiện nay. Thực tiễn đất nước và thế giới không ngừng vận động, biến đổi, rất nhiều vấn đề mới, yếu tố mới xuất hiện đòi hỏi phải được giải quyết, Đảng ta luôn tìm tòi, học hỏi, tổng kết thực tiễn để đề ra đường lối, quyết sách đúng đắn, phù hợp, Đảng luôn quan tâm đến đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng để Đảng hoàn thành mọi trách nhiệm, nhiệm vụ trong các giai đoạn cách mạng, nhất là những trách nhiệm, nhiệm vụ mới nảy sinh từ thực tiễn hiện nay, để Đảng luôn giữ được bản chất cách mạng, khoa học, vì lợi ích của quần chúng nhân dân, trước sau giữ mối liên hệ mật thiết với quần chúng nhân dân. Đảng CSVN xác định chất lượng, năng lực của đội ngũ đảng viên có tính chất quyết định đối với chất lượng, năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, do vậy, Đảng chú trọng kết nạp những người ưu tú vào Đảng và luôn luôn làm trong sạch Đảng, loại bỏ những phần tử biến chất, xét lại, cơ hội chủ nghĩa ra khỏi Đảng. Đảng luôn siết chặt kỷ luật Đảng để chống suy thoái, tiêu cực và tham nhũng của một bộ phận cán bộ, đảng viên, làm cho Đảng thật sự TSVM. Đảng ta ý thức rõ rằng, một đảng duy nhất cầm quyền, bên cạnh mặt thuận lợi là cơ bản cũng chứa đựng không ít nguy cơ, mà một trong số đó là dễ quan liêu, xa rời quần chúng, dễ chủ quan... Để tránh nguy cơ đó, Đảng luôn kiên định mục tiêu đã lựa chọn, thường xuyên tự đổi mới, nâng cao bản lĩnh chính trị, năng lực lãnh đạo và sức mạnh về mọi mặt, giữ vững phẩm chất đạo đức cách mạng, phong cách công tác gần gũi với nhân dân.

Như vậy, lịch sử đã chứng minh và khẳng định vai trò, sứ mệnh của Đảng CSVN là chính đảng duy nhất lãnh đạo, dẫn dắt dân tộc và nhân dân Việt Nam tiếp tục phát triển, bắt kịp xu hướng của thời đại. Do vậy, những luận điểm sai lầm, suy diễn về vai trò của Đảng CSVN, cho rằng Đảng CSVN đã hết vai trò lịch sử, không còn đủ khả năng để lãnh đạo đất nước là quan điểm phản động, sai trái, không có cơ sở cả về lý luận và thực tiễn, hết sức phiến diện, quy chụp, phi thực tế khi không thấy rõ hoàn cảnh lịch sử cụ thể của Việt Nam trong đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng CNXH, không thừa nhận những thành quả phát triển đất nước Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng CSVN trong suốt hơn 95 năm qua./.

Thứ Tư, 30 tháng 7, 2025

 

TĂNG CƯỜNG THÔNG TIN CHÍNH THỐNG, HẠN CHẾ KHOẢNG TRỐNG THÔNG TIN LÀM THẤT BẠI THỦ ĐOẠN CHỐNG PHÁ ĐẢNG TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH HIỆN NAY

Hoa Súng – K6

Hơn 95 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta đã vượt qua biết bao khó khăn, gian khổ, hy sinh, mất mát để giành những thắng lợi vẻ vang, vĩ đại. Đặc biệt, sau gần 40 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, trở thành quốc gia đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội khu vực Đông Nam Á và thế giới.

Từ một nước nghèo nàn, lạc hậu, bị chiến tranh tàn phá, bị bao vây, cô lập, đến nay Đảng ta đã có quan hệ với trên 150 đảng ở 115 quốc gia trên thế giới. Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 194 quốc gia trên thế giới. Tính đến ngày 16/5/2025, Việt Nam có quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện với 13 quốc gia là Trung Quốc, Liên bang Nga, Ấn Độ, Hàn Quốc, Mỹ, Nhật Bản, Australia, Pháp, Malaysia, New Zealand, Indonesia, Singapore và Thái Lan.

Ngoài ra, Việt Nam đã đăng cai tổ chức nhiều sự kiện có tầm vóc lớn, được thế giới quan tâm như Hội nghị cấp cao APEC 2006, 2017 (trong tương lai là 2027) hay Hội nghị thượng đỉnh Mỹ - Triều 2019. Việt Nam đã trở thành nước đang phát triển, có thu nhập trung bình, quốc phòng, an ninh vững chắc, hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế toàn cầu, nền văn minh nhân loại; đảm nhiệm trọng trách, phát huy tích cực vai trò tại nhiều tổ chức, diễn đàn quốc tế quan trọng.

Lịch sử là một dòng chảy liên tục. Ngày nay, khi cách mạng chuyển sang một giai đoạn mới, sứ mệnh của Đảng cũng rất nặng nề, đòi hỏi Đảng không ngừng đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao năng lực cầm quyền.

Thế giới đang trong giai đoạn thay đổi có tính thời đại, định hình trật tự, cục diện mới. Xu thế hợp tác, phát triển là chủ đạo trong quan hệ quốc tế song cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, các trung tâm quyền lực tiếp tục diễn biến phức tạp, ngày càng gay gắt hơn trên các không gian truyền thống và phi truyền thống. Xung đột, chiến tranh diễn ra ở nhiều khu vực, không loại trừ nguy cơ lan rộng. Sự phát triển, chạy đua, cạnh tranh về khoa học kỹ thuật và công nghệ gây ra những biến đổi sâu sắc, đã và đang làm thay đổi phương thức hoạt động, tổ chức, cách thức tiến hành chiến tranh, can dự, can thiệp của các nước.

Xu hướng vận động của tình hình thế giới tạo ra cơ hội để Việt Nam đạt mục tiêu chiến lược 100 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng, tạo tiền đề vững chắc đạt mục tiêu 100 năm thành lập nước nhưng cũng phải đối mặt với những thách thức trong giữ vững độc lập, tự chủ, từ đó tác động trực tiếp, thách thức đến nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.

Với ý nghĩa đó, Đại hội Đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2025-2030 tiến tới đại hội toàn quốc lần thứ XIV của Đảng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Để chuẩn bị cho sự kiện quan trọng này, Tổng Bí thư Tô Lâm đã có bài viết với tiêu đề “Tổ chức tốt Đại hội Đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2025-2030”.

Tổng Bí thư nhấn mạnh “Đây không chỉ là đợt sinh hoạt chính trị to lớn, sâu rộng trong toàn Đảng, toàn dân mà còn là tiền đề để tổ chức thành công Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. Cao hơn, chuỗi sự kiện này là một trong những yếu tố then chốt tạo nền tảng chính trị vững chắc đưa đất nước vững bước tiến vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên phát triển, giàu mạnh, phồn vinh, thịnh vượng, sánh vai với các cường quốc năm châu như tâm nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn vàn kính yêu và ước vọng của toàn dân tộc”.

Từ nay đến khi diễn ra Đại hội XIV của Đảng, các thế lực thù địch, đối tượng phản động, cơ hội chính trị, bất mãn sẽ càng đẩy mạnh thực hiện các “chiến dịch tuyên truyền” trên không gian mạng. Tình hình đó đòi hỏi chúng ta cần phải nâng cao tinh thần cảnh giác, gia tăng sức “đề kháng” và khả năng “miễn dịch” cho các tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân.

Các cơ quan chức năng cần chủ động cung cấp thông tin kịp thời, chính xác, khách quan, đúng định hướng để phòng, chống thông tin xấu, độc trên internet, mạng xã hội. Cơ quan chức năng cần chủ động cung cấp thông tin liên quan đại hội, nhất là công tác nhân sự bởi thông tin càng cởi mở thì sự lan toả càng mạnh mẽ, kết nối thông suốt, càng có điều kiện để phòng, chống tin giả, tin xấu độc, ngăn ngừa khoảng trống thông tin.

Cùng với đó là việc xử lý hành vi lợi dụng “dân chủ”, “nhân quyền”, “tự do ngôn luận” để phát tán tài liệu vu cáo, bôi nhọ cán bộ, đảng viên, xuyên tạc, chống phá đại hội đảng các cấp và Đại hội XIV của Đảng./.

 

 CẢNH GIÁC TRƯỚC GIA TĂNG CÁC CHIẾN DỊCH TUYÊN TRUYỀN CHỐNG PHÁ CÁCH MẠNG TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

Hoa Súng – K6

Trước thềm Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam các thế lực thù địch, các tổ chức phản động lưu vong, số đối tượng chống đối coi đây là “thời điểm vàng” để đẩy mạnh thực hiện các chiến dịch tuyên truyền với những thủ đoạn nguy hiểm trên các phương tiện thông tin, nhất là không gian mạng.

Nội dung các đối tượng bôi nhọ, xuyên tạc về việc sắp xếp, tinh gọn bộ máy; nền kinh tế thị trường định hướng XHCN; vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng; công tác nhân sự trước Đại hội XIV… Tuy nhiên hoạt động của chúng không còn đơn lẻ mà được tiến hành ồ ạt theo kiểu chiến dịch, phủ sóng trên các trang web, nền tảng mạng xã hội ở nước ngoài.

Để gia tăng hiệu quả, quy mô, mức độ tác động của “chiến dịch tuyên truyền” trên không gian mạng, các thế lực thù địch cùng lúc triển khai nhiều lực lượng, phương tiện, tuyên truyền trên các nền tảng Tik Tok, Facebook, Youtobe…, đồng loạt đưa một chủ đề trong một khoảng thời gian nhất định.

Điển hình như chiến dịch tuyên truyền đòi xóa bỏ Điều 4, Hiến pháp 2013 khi Đảng, Nhà nước ta tiến hành lấy ý kiến nhân dân về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp; chiến dịch kêu gọi tẩy chay Đại hội XIV Đảng Cộng sản Việt Nam; chiến dịch bàn luận nhân sự Đại hội XIV…

Điều dễ nhận thấy là những tổ chức, cá nhân kêu gọi “chiến dịch tuyên truyền” trên đều đến từ các tổ chức phản động lưu vong như tổ chức Việt Tân, “Đảng Dân chủ nhân dân”, “Đảng Vì dân”, “Tập hợp dân chủ đa nguyên”, “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”…

Hỗ trợ chiến dịch của các tổ chức này là những mạng truyền thông nước ngoài thiếu thiện chí với Việt Nam như RFI tiếng Việt, RFA tiếng Việt; các tổ chức quốc tế, NGO nước ngoài thường xuyên có những hoạt động xuyên tạc, vu cáo Việt Nam về nhân quyền như tổ chức Theo dõi nhân quyền - HRW, Ân xá quốc tế - AI, Phóng viên không biên giới - RSF….

Bên cạnh đó, các “chiến dịch tuyên truyền” chống phá Đại hội XIV của Đảng còn được tiến hành mạnh mẽ, quyết liệt với sự phối kết hợp của lực lượng chống đối cả trong và ngoài nước, nhất là số dân biểu cực hữu trong chính giới một số nước phương Tây cùng số đối tượng chống đối, bất mãn trong nước.

Đầu tiên, có thể nhận thấy hoạt động chống phá thông qua các “chiến dịch tuyên truyền” trên không gian mạng được hướng đến công tác nhân sự và thông tin liên quan đến lãnh đạo Đảng, Nhà nước trước thềm Đại hội XIV.

Lợi dụng tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống tham nhũng, tiêu cực của một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhất là những vụ việc liên quan cán bộ cấp cao ở Trung ương và địa phương, chúng lấy đó là một cái cớ quan trọng để thổi phồng, quy chụp tham nhũng, tiêu cực là tình trạng “phổ biến”, là “bản chất” của Đảng.

Vì thế, chúng đã mỉa mai rằng, ai là nhân sự đại hội, ai vào tứ trụ, ai vào Trung ương thì “cũng như nhau mà thôi”. Cùng với đó, chúng còn tìm mọi cách đơm đặt, chế tạo các video clip bằng cách ghép hình ảnh, âm thanh làm nhiễu loạn, lẫn lộn thật - giả; tán phát đơn thư nặc danh hòng công kích, bôi nhọ danh dự, uy tín của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, những cán bộ, đảng viên trong diện quy hoạch nhân sự cho đại hội...

Nội dung của các “chiến dịch tuyên truyền” thường hướng theo một chủ đề thống nhất như: Tuyên truyền chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng; tuyên truyền chống phá vai trò lãnh đạo của Đảng, đòi xóa bỏ Điều 4 Hiến pháp 2013; xuyên tạc cương lĩnh, dự thảo các văn kiện Đại hội; bôi nhọ nguyên tắc tổ chức, vấn đề nhân sự Đại hội XIV… Chẳng hạn, trong quá trình chuẩn bị cho Đại hội XIV của Đảng, việc Trung ương Đảng công bố dự thảo văn kiện để lấy ý kiến từ cơ sở là một bước quan trọng, thể hiện tính dân chủ, cầu thị.

Tuy nhiên, lợi dụng thời điểm này, các thế lực thù địch đã tăng cường phát tán những luận điệu xuyên tạc, bóp méo sự thật bằng việc tung ra nhiều luận điệu sai lệch như “văn kiện chỉ ca ngợi thành tích, không nhìn nhận hạn chế”; “các mục tiêu phát triển không thực tế, viển vông, thiếu cơ sở khoa học”; “Đảng không minh bạch trong công khai nội dung văn kiện”; “chính sách chỉ phục vụ lợi ích nhóm, không đại diện ý chí nhân dân”; “dự thảo các văn kiện của Đại hội XIV chỉ mang tính hình thức, thiếu tính thực tiễn, không phản ánh đúng nguyện vọng của người dân”… Từ đó, chúng kêu gọi người dân tẩy chay văn kiện, đòi “sửa từ gốc” như thay đổi thể chế, từ bỏ con đường đi lên CNXH của đất nước…

Đối với công tác nhân sự của Đại hội, các trang mạng của tổ chức phản động lưu vong, đài báo nước ngoài đã đồng loạt tán phát hàng chục bài viết có nội dung xuyên tạc về công tác nhân sự Đại hội XIV, bịa đặt “nội bộ Đảng Cộng sản Việt Nam đang hình thành phe cánh để tranh giành, đấu đá quyền lực; vu cáo “lợi ích nhóm”, “thanh trừng phe phái” trong công tác nhân sự; cho rằng vấn đề nhân sự Đại hội Đảng bị một số thế lực bên ngoài can thiệp, từ đó rêu rao “không thể khách quan”, “không công bằng”, “chỉ để nhằm hợp thức hóa việc sắp xếp ghế, đấu đá, tranh giành quyền lực”, “chỉ là màn kịch đấu đá trong nội bộ các tổ chức đảng, tạo phe cánh, tạo thế lực”…

Các thế lực thù địch, tổ chức phản động lưu vong cũng thông qua các “chiến dịch tuyên truyền” để dựng lên những “ngọn cờ” dưới vỏ bọc những người có “tâm huyết” với vận mệnh của đất nước, mượn danh “tiếng nói”, “nguyện vọng” của đa số dân chúng để “góp ý”, “kiến nghị” với Đảng, Nhà nước. Đây là một trong những âm mưu xảo trá, làm cho môi trường thông tin xã hội nhiễu loạn, khiến người dân không phân biệt được đúng - sai, trắng - đen, thực - ảo, thật - giả lẫn lộn; gây tâm lý hoang mang, hoài nghi, mất tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước trước thềm Đại hội XIV.

 Như vậy, luận điệu chống phá thông qua các “chiến dịch tuyên truyền” trước thềm Đại hội Đảng XIV như trên dù không có gì mới nhưng lại được các thế lực thù địch, phản động khéo léo ngụy tạo với nhiều thủ đoạn nham hiểm, vừa trực diện trắng trợn, vừa che giấu úp mở, gieo sự nghi hoặc với người đọc, người nghe, người xem thời gian qua không chỉ tạo ra sự nhiễu loạn thông tin, gây ra những hoài nghi, hoang mang, mất niềm tin trong một bộ phận quần chúng, cán bộ, đảng viên mà còn tác động, ảnh hưởng xấu tới tình hình an ninh, trật tự./.

Thứ Bảy, 19 tháng 7, 2025

 

ĐẤU TRANH PHẢN BÁC QUAN ĐIỂM ĐỐI LẬP TƯ TƯỞNG

HỒ CHÍ MINH VỚI CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN

Hoa Súng

Sau khi chế độ xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, phong trào cộng sản rơi vào thoái trào, lực lượng chống cộng đắc ý tuyên bố về “sự cáo chung” của học thuyết Mác và tương lai vĩnh hằng của chủ nghĩa tư bản nhưng thành công của sự nghiệp Đổi mới ở Việt Nam và ở một số nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã phản bác lại luận điệu đó. Vì thế, cách mạng Việt Nam trở thành “tâm điểm” của “Diễn biến hòa bình”. Một trong những thủ đoạn thâm độc mà các lực lượng chống đối Việt Nam hay sử dụng đó là đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin nhằm đả phá tận gốc rễ nền tảng tư tưởng của Đảng, tiến tới mục tiêu cuối cùng là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, thay đổi chế độ hiện hành trên đất nước ta. Vì thế, chống lại luận điệu xuyên tạc này là một nội dung căn cốt trong cuộc đấu bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và phản bác các quan điểm sai trai, thù địch hiện nay.

Có thể khẳng định: Giữa tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ nghĩa Mác - Lênin tồn tại mối quan hệ biện chứng được thể hiện trên 3 phương diện chính sau đây.

Thứ nhất, chủ nghĩa Mác - Lênin là cội nguồn lý luận cơ bản hình thành nên tư tưởng Hồ Chí Minh.

Trong quá trình tìm đường cứu nước, bằng sự nhạy cảm chính trị và khảo sát kỹ lưỡng thực tiễn, Hồ Chí Minh đã tìm đến chủ nghĩa Mác - Lênin - chân lý lớn của thời đại. Tuy nhiên, cứu nước là vấn đề trọng đại; nhà yêu nước phải trở thành nhà tư tưởng với hệ thống quan điểm đúng đắn mới có thể dẫn đường cho dân tộc. Chủ nghĩa Mác - Lênin đã cung cấp cho Hồ Chí Minh nhân sinh quan cách mạng, thế giới quan, phương pháp luận khoa học và các nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử để trên cơ sở đó, Người tổng kết kiến thức, tổng kết lịch sử và kinh nghiệm thực tiễn để hình thành nên “một phương lược cứu quốc đầy đủ nhất”[1]. Tuyên bố đi theo “chủ nghĩa Mã Khắc Tư và Lênin[2], Hồ Chí Minh đã trở thành một nhà tư tưởng mácxít sáng tạo. Nếu chủ nghĩa Mác - Lênin lấy giai cấp công nhân làm vũ khí “vật chất”, nếu giai cấp công nhân lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm “vũ khí tinh thần” thì Nguyễn Ái Quốc lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm “vũ khí không gì thay thế”[3] cho nhận thức và hành động của mình. Nếu không có chủ nghĩa Mác - Lênin, Nguyễn Ái Quốc không thể vượt khỏi những hạn chế của những sỹ phu Việt Nam yêu nước thời trước; tư tưởng của Người không thể mang đầy đủ đặc tính khoa học, cách mạng, nhân văn; con đường mà Người vạch ra không thể trở thành con đường “bách chiến, bách thắng” như trên thực tế đã diễn ra. Cho dù tư tưởng Hồ Chí Minh được hình thành dưới sự tác động của nhiều nhân tố, bao gồm cả khách quan và chủ quam, cả tiền đề lịch sử và tiền đề tư tưởng như truyền thống văn hóa dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại nhưng quan trọng nhất, quyết định nhất vẫn là chủ nghĩa Mác - Lênin. Do đó, mối quan hệ giữa chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh trước hết là quan hệ giữa cội nguồn và tư tưởng được hình thành trên nền tảng cội nguồn đó. 

Thứ hai, tư tưởng Hồ Chí Minh là sự kế thừa, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam.  

Tin và đi theo chủ nghĩa Mác - Lênin nhưng thấu hiểu đặc tính “mở” của nó, Hồ Chí Minh không tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin theo lối giáo điều, sách vở, không bị trói buộc trong cái “vỏ” ngôn từ mà nắm lấy “cái thần”, cái “linh hồn sống” của chủ nghĩa Mác - Lênin là phép duy vật biện chứng. Nắm vững nguyên tắc thực tiễn của chủ nghĩa Mác - Lênin, Người nhận thức rõ sự khác biệt giữa xã hội Việt Nam và xã hội phương Tây nên đã khẳng định: “Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên một triết lý nhất định của lịch sử nhưng lịch sử nào? Lịch sử châu Âu. Mà châu Âu là gì? Đó chưa phải là toàn thể nhân loại”[4]. Sau này, Hồ Chí Minh còn nói rõ hơn: “Học chủ nghĩa Mác - Lênin không phải nhắc như con vẹt “Vô sản thế giới liên hiệp lại” mà phải thống nhất chủ nghĩa Mác - Lênin với thực tiễn cách mạng Việt Nam. Nói đến chủ nghĩa Mác - Lênin ở Việt Nam là nói đến chủ trương chính sách của Đảng... Chủ nghĩa Mác - Lênin không phải ở đâu người ta cũng làm cộng sản, cũng làm Xôviết”[5]. Với tinh thần độc lập tự chủ, Hồ Chí Minh ít khi nói đến các khái niệm, phạm trù hay quy luật của triết học Mác - Lênin nhưng Người đã đem những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin vận dụng vào thực tiễn một cách rất linh hoạt và từ chính thực tiễn của cách mạng Việt Nam, Người đã rút ra những kết luận mang tầm chân lý nhưng rất dễ hiểu để bổ sung, làm giàu cho chủ nghĩa Mác - Lênin. Với tư duy sáng tạo, Hồ Chí Minh đã phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin trên một loạt các vấn đề căn cốt của cách mạng Việt Nam, từ cách mạng giải phóng dân tộc cho đến cách mạng xã hội chủ nghĩa. Bằng cách đó, Người đã bổ sung, làm giàu cho kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh trở thành dòng chảy tiếp nối chủ nghĩa Mác - Lênin trong một thời đại mới và không gian mới. Chính sự vận dụng, phát triển sáng tạo của Hồ Chí Minh đã làm cho học thuyết Mác - Lênin được “Việt hóa”, thích ứng được với điều kiện Việt Nam. Người cũng giúp dân tộc Việt Nam thoát khỏi tâm lý thụ động để phát huy truyền thống tự lực, tự cường và nhờ đó, cách mạng Việt Nam đã giành được những thắng lợi vĩ đại. Tư tưởng Hồ Chí Minh đã để lại bài học lớn: Chủ nghĩa Mác - Lênin là “kim chỉ nam hành động nhưng không phải khuôn mẫu, “linh đan kê sẵn”; nếu biến lý luận Mác - Lênin thành “kinh thánh” và công thức sáo mòn tức là đã gạt bỏ nó ra khỏi thực tiễn không ngừng biến đổi. Vì thế, người trung thành nhất phải là người sáng tạo nhất.

Thứ ba, chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là hai bộ phận cấu thành nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong quá trình chuẩn bị thành lập Đảng, Nguyễn Ái Quốc đã mở đầu tác phẩm Đường Cách mệnh bằng câu nói của Lênin, rằng không có lý luận cách mạng thì không thể có phong trào cách mạng... Chỉ có đảng nào được một lý luận tiên phong dẫn đường thì mới có khả năng làm tròn vai trò chiến sĩ tiên phong”[6]. Trong Cương lĩnh thành lập Đảng (tháng 2/1930), dù không trực tiếp tuyên bố Đảng Cộng sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng nhưng Nguyễn Ái Quốc đã đề ra chủ trương “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”[7] và điều kiện tiên quyết để gia nhập Đảng là phải “tin theo chủ nghĩa cộng sản”[8]. Điều đó chứng tỏ Đảng Cộng sản Việt Nam đi theo lý tưởng cộng sản, đi theo con đường mà chủ nghĩa Lênin đã vạch ra. Đến Hội nghị Trung ương lần 1 (tháng 10/1930), Luận Cương Chánh trị của Đảng Cộng sản Đông Dương đã tuyên bố: “Đảng là đội tiên phong của vô sản giai cấp lấy chủ nghĩa Các Mác và Lênin làm gốc”[9]. Việc Cương lĩnh đầu tiên của Đảng do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo được thông qua tại Hội nghị Thành lập Đảng đã chứng tỏ rằng, ngay từ khi ra đời, cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã trở thành nền tảng tư tưởng của Đảng. Tại Đại hội Đảng VII (năm 1991), trong hoàn cảnh chế độ xã hội chủ nghĩa đã sụp đổ ở Đông Âu và Liên Xô đang đứng trước sự sụp đổ, Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn tuyên bố: “Đảng ta lấy Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản”[10]. Sự bổ sung “Tư tưởng Hồ Chí Minh” vào nền tảng tư tưởng của Đảng tại Đại hội Đảng VII hoàn toàn phù hợp với thực tế đã diễn ra từ năm 1930 và với tình cảm của cán bộ, đảng viên, nhân dân dành cho Hồ Chủ Tịch. Trên thực tế, nền tảng tư tưởng của Đảng được tạo thành bởi chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh luôn là “thể thống nhất liền khối”. Nó hiện hữu và quyện chặt trong nhau, không thể chia cắt.

Tóm lại, giữa tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ nghĩa Mác - Lênin là mối quan hệ biện chứng, hữu cơ không thể tách rời. Mọi luận điệu đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin đều là phản khoa học, phản lịch sử .

Nhận diện thủ đoạn và âm mưu của các lực lượng thù địch khi đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ nghĩa Mác - Lênin. Đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là vấn đề mang tính quy luật của một đảng chính trị. Như mọi cuộc chiến khác, muốn giành thắng lợi, người tranh đấu phải hiểu rõ thủ đoạn và âm mưu của đối phương. Thực tế cho thấy, để đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với cội nguồn tư tưởng của nó là chủ nghĩa Mác - Lênin, lực lượng chống phá đã sử dụng các luận điệu chủ yếu sau đây.   

Trước hết, họ phủ nhận sự tồn tại của“Tư tưởng Hồ Chí Minh” với lý do Hồ Chí Minh chỉ là nhà hoạt động thực tiễn chứ không phải nhà tư tưởng. Mặc dù giá trị, tầm vóc của tư tưởng Hồ Chí Minh đã được kiểm định bằng thắng lợi của cách mạng Việt Nam và phong trào giải phóng dân tộc trên toàn thế giới, được thừa nhận bởi các học giả trong và ngoài nước, những kẻ xuyên tạc vẫn rêu rao, rằng “tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ là sự tô vẽ của Đảng Cộng sản Việt Nam”. Để chứng minh minh điều đó, họ đưa ra các luận chứng mang tính khiên cưỡng: Xét về nội dung, Hồ Chí Minh là người đọc nhiều, nhớ nhiều, giỏi tổng thuật chủ kiến của người khác và không dẫn nguồn nên người ta cứ tưởng Hồ Chí Minh là người đưa ra các quan điểm đó nhưng thực chất thì không phải (!). Xét về hình thức thì Hồ Chí Minh chỉ có bức thư ngắn, bài viết, bài nói ngắn chứ không có các tác phẩm đồ sộ như các nhà tư tưởng khác. Họ còn rêu rao rằng, trong bối cảnh ngọn cờ Mác - Lênin mất “thiêng” khi chế độ xã hội chủ nghĩa sụp đổ liên tiếp ở các nước Đông Âu, tại Đại hội VII (năm 1991) Đảng Cộng sản Việt Nam vội vã “nhào lặn” ra cái gọi là “Tư tưởng Hồ Chí Minh” để “gia cố” cho nền tảng tư tưởng đang “lung lay” của mình. Do đó, tư tưởng Hồ Chí Minh hoàn toàn là sản phẩm chủ quan, duy ý chí của Đảng Cộng sản Việt Nam với mong muốn giữ lại quyền lãnh đạo của Đảng. Luận điệu xuyên tạc này của lực lượng thù địch hoàn toàn đối lập với sự thật lịch sử. Nhờ có tư tưởng Hồ Chí Minh - sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin ở Việt Nam, cách mạng Việt Nam đã giành nhiều thắng lợi vĩ đại. Tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ làm biến đổi số phận của dân tộc Việt Nam mà còn góp phần làm sụp đổ chủ nghĩa thực dân trên quy mô toàn thế giới, thúc đẩy “bánh xe lịch sử theo hướng tiến bộ[11]. Cùng với Đảng Cộng sản Việt Nam, nhiều nhà khoa học và chính khách lớn của thời đại đã khẳng định giá trị và tầm vóc thời đại của tư tưởng Hồ Chí Minh. Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Mỹ - Gớt Hôn viết: “Đồng chí Hồ Chí Minh là một lãnh tụ và một nhà tư tưởng macxítlêninnít vĩ đại của thế giới. Đồng chí Hồ Chí Minh là con người cần thiết xuất hiện đúng lúc, đúng yêu cầu lịch sử với những tư tưởng và ý kiến đúng. Chính vì vậy, đồng chí đã làm ra lịch sử”[12]. Giáo sư Nhật Bản Singgô Sibata viết công trình mang tên Hồ Chí Minh - nhà tư tưởng. Việc những kẻ chống phá “quay lưng” với những bằng chứng xác thực về sự tồn tại và giá trị to lớn, bền vững của tư tưởng Hồ Chí Minh không xuất phát từ lý do khoa học mà từ động cơ chính trị đen tối. Đây không phải là sự cố chấp, bảo thủ mà là sự cố tình phủ nhận, “đổi trắng thay đen” nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Với đặc tính “tiền hậu bất nhất” của những kẻ chuyên “nói càn”, lực lượng chống phá còn có một giọng điệu hoàn toàn khác là ra sức ca tụng, đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh và phủ nhận giá trị của chủ nghĩa Mác - Lênin. Để “hạ bệ” chủ nghĩa Mác - Lênin, họ đã đưa ra nhiều lý do khác nhau. Đầu tiên, họ vin vào“yếu tố thời đại”, rằng chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ phù hợp với thế kỷ XIX, cùng lắm là đầu thế kỷ XX, chỉ thích hợp với văn minh công nghiệp, bây giờ nhân loại đã ở thế kỷ XXI; trong thời đại kinh tế tri thức và toàn cầu hóa, sứ mệnh của giai cấp công nhân đã khác đi, vai trò của trí thức “lên ngôi” nên chủ nghĩa Mác đã trở nên lỗi thời và bị lịch sử vượt qua. Đây cũng là cách lập luận rất “hàm hồ” bởi cho dù thời đại mà chúng ta đang sống khác rất nhiều so với thời đại mà Mác - Ăngghen - Lênin đã sống nhưng những biến đổi của nó vẫn không vượt ra ngoài những quy luật chung nhất mà chủ nghĩa Mác - Lênin đã khám phá ra. Với đặc tính “mở”, chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn là lý luận và phương pháp luận khoa học cho sự nhận thức xã hội, nhận thức thời đại mà chưa có một chủ nghĩa nào có thể thay thế.

“Yếu tố địa lý” cũng là lý do để họ phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, rằng  chủ nghĩa Mác - Lênin không phải là sản phẩm của Việt Nam, nó là học thuyết  “ngoại lai”, “nhập ngoại” từ phương Tây nên không phù hợp với Việt Nam - một xã hội phương Đông với nền kinh tế tiền tư bản chủ nghĩa. Họ còn “lu loa” rằng: Khi chủ nghĩa Mác - Lênin đã chết trên quê hương của C. Mác, trên quê hương của Lênin, rộng hơn là ở cả châu lục mà nó đã sinh ra mà những người cộng sản Việt Nam vẫn cứ theo đuổi nó, “hà hơi tiếp sức” cho nó thì đó là tư duy bảo thủ, hành động phản dân, hại nước. Những kẻ đưa ra luận điệu trên đã cố tình không hiểu sức mạnh của sự trừu tượng hóa, khái quát hóa và tầm nhìn thời đại của lý luận Mác - Lênin. Mặc dù chủ nghĩa Mác - Lênin có nguồn gốc lý luận trực tiếp từ phương Tây nhưng đúng như Nguyễn Ái Quốc đã khẳng định, “chủ nghĩa Mác sẽ còn đúng ở đó[13], tức là ở phương Đông, nhất là khi nó đã được bổ sung bằng “dân tộc học phương Đông” như Nguyễn Ái Quốc từng nhấn mạnh và nỗ lực thực hiện.

Lý do thứ ba (được sử dụng nhiều nhất) để họ phản bác chủ nghĩa Mác - Lênin chính là sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu, rằng sự sụp đổ đã chứng tỏ chủ nghĩa Mác - Lênin sai lầm từ bản chất chứ không phải là do nhận thức sai, vận dụng sai và vì thế, khẩu hiệu “chủ nghĩa Mác - Lênin bách chiến, bách thắng” đã hoàn toàn mất giá trị. Họ cố tình không hiểu rằng sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô là sự sụp đổ của một mô hình xã hội chủ nghĩa nhiều khuyết tật và chậm được sửa chữa chứ không phải sự sụp đổ của một học thuyết khoa học. Tính bền vững của chủ nghĩa Mác - Lênin so với các học thuyết khác nằm ở chỗ nó dựa trên một thế giới quan khoa học là phép biện chứng duy vật.  

Lý do thứ tư họ đưa ra để đòi hủy bỏ chủ nghĩa Mác  - Lênin chính là sự khác biệt giữa chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh vì chủ nghĩa Mác chủ trương đấu tranh giai cấp, Hồ Chí Minh lại chủ trương đại đoàn kết toàn dân tộc và Hồ Chí Minh là người theo chủ nghĩa dân tộc chứ không phải theo chủ nghĩa cộng sản; do đó, không có gì chung đúc giữa tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ nghĩa Mác - Lênin. Họ còn cho rằng, trong lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam đã tồn tại “cuộc nội chiến về tư tưởng giữa tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ nghĩa Mác - Lênin” nhưng thực chất đó chỉ là sự đấu tranh giữa tư tưởng Hồ Chí Minh với các quan điểm giáo điều, cứng nhắc trong vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin mà thôi.

Sau khi đưa ra nhiều “cơn cớ” đầy tính ngụy biện, họ đi đến kết luận: Lúc này chỉ cần nói đến tư tưởng Hồ Chí Minh là đủ, chỉ có tư tưởng Hồ Chí Minh là “đáng giá” và vì thế, cần loại bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin ra khỏi nền tảng tư tưởng của Đảng. Luận điệu “đề cao” tư tưởng Hồ Chí Minh, đem tư tưởng Hồ Chí Minh đối lập với chủ nghĩa Mác - Lênin là hoàn toàn đối lập với tình cảm, tâm nguyện của bản thân Hồ Chí Minh. Sinh thời, từ lúc trở thành người cộng sản (năm 1920) cho đến khi từ giã cõi đời, Hồ Chí Minh luôn gắn bó chặt chẽ và hết lời đề cao chủ nghĩa Mác - Lênin. Từ năm 1927, Người đã khẳng định: Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin. Câu nói của Hồ Chí Minh, rằng “tất cả mọi người đều có quyền nghiên cứu một chủ nghĩa. Riêng tôi, tôi đã nghiên cứu chủ nghĩa Các Mác[14] đã nói lên sự lựa chọn kiên quyết của Người. Để nói về vai trò to lớn của chủ nghĩa Mác - Lênin với cách mạng Việt Nam, Người còn khẳng định: Chủ nghĩa Lênin đối với chúng ta, những người cách mạng và nhân dân Việt Nam, không những là cái cẩm nang thần kỳ, mà còn là mặt trời soi sáng cho chúng ta đi tới thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản”[15]. Sự gắn bó không thể tách rời của Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin còn thể hiện qua những tình tiết rất sinh động và cảm động. Khi viết Di chúc gửi lại, Người đã gọi việc từ giã cõi đời của mình là “đi gặp các cụ Các Mác, cụ Lênin” bởi giữa các bậc vĩ nhân ấy là sự đồng điệu về khát vọng giải phóng con người và “tình hữu ái vô sản” thiêng liêng. Thậm chí, trong lần trả lời phỏng vấn cuối cùng vào ngày 15/7/1969, Hồ Chí Minh còn khẳng định: “Chúng tôi giành được thắng lợi đó là do nhiều nhân tố nhưng cần phải nhấn mạnh rằng... trước hết là nhờ cái vũ khí không thể thay thế được là chủ nghĩa Mác - Lênin”[16]. Như vậy, từ lúc rơi những giọt nước mắt hạnh phúc khi đọc bản Luận cương của Lênin cho đến tháng ngày cuối cùng của cuộc đời, Hồ Chí Minh đều gắn bó với chủ nghĩa Mác - Lênin bằng tình yêu và lòng biết ơn vô hạn. Do đó, đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin là một sự xuyên tạc lịch sử mà Hồ Chí Minh là một nhân chứng sống động nhất.

Phải khẳng định rằng: Việc đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh và hạ thấp chủ nghĩa Mác - Lênin thực chất là một âm mưu đen tối, thủ đoạn tinh vi. Sự nguy hiểm của nó nằm ở tính ngụy biện, dễ làm người ta ngộ nhận, tin theo bởi nó “đánh vào” tình yêu lãnh tụ và tinh thần tự tôn dân tộc. Tuy nhiên, đây thực chất không phải là sự ca ngợi, không phải là đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh theo đúng giá trị của nó mà chỉ là thủ pháp “nâng lên để hạ xuống”, là tìm cách cô lập, tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh khỏi ngọn nguồn lý luận chủ yếu của nó để qua đó làm suy yếu và tiến tới phủ định chính tư tưởng Hồ Chí Minh. Sâu xa hơn, những kẻ chống phá không chỉ phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin hay tư tưởng Hồ Chí Minh mà còn muốn phủ nhận toàn bộ cương lĩnh, đường lối của Đảng được hoạch định trên nền tảng tư tưởng đó để đi đến mục tiêu cuối cùng là xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xóa bỏ chế độ đang hiện hành, xóa bỏ định hướng đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Trước âm mưu thâm hiểm của kẻ thù, việc kiên quyết chống lại sự xuyên tạc đó là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân ta nhưng trước hết thuộc về những người đang hoạt động trên lĩnh vực lý luận chính trị. 

Giải pháp đấu tranh với quan điểm đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ nghĩa Mác - Lênin. Lâu nay, “Diễn biến hòa bình” là chiến lược tấn công của chủ nghĩa đế quốc vào các nước xã hội chủ nghĩa nhằm xóa bỏ chế độ chủ nghĩa xã hội mà không cần dùng chiến tranh vũ trang. Để tiến hành “cuộc chiến tranh không khói súng”, “khâu đột phá” mà các thế lực phản động thường sử dụng, đó là tấn công trên mặt trận tư tưởng. Việc đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ là một luận điệu chống phá nhằm phủ định đường lối và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, kích động bạo loạn lật đổ để thay đổi thể chế chính trị hiện hành ở nước ta. Chừng nào mục đích của chúng vẫn chưa đạt được thì sự chống phá vẫn còn diễn ra với các hình thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi, phức tạp hơn. Lúc này, để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, chúng ta phải mài sắc vũ khí lý luận để đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch nói chung và quan điểm đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin nói riêng. Để chống lại giọng điệu xuyên tạc, lừa bịp này, cần tập trung thực hiện đồng bộ một số giải pháp sau đây.

Một là, phải nâng cao nhận thức cho toàn Đảng, toàn dân về mối quan hệ biện chứng giữa tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ nghĩa Mác - Lênin và động cơ đen tối của lực lượng chống phá khi phủ nhận mối quan hệ này. Lúc này, phải làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân thấu hiểu rằng, quan hệ giữa chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là quan hệ giữa cội nguồn và phát triển, giữa cái chung và cái đặc thù nên “tuy hai mà là một, tuy một mà là hai”. Vì thế, không thể tách rời, đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin, cũng không thể lấy tư tưởng Hồ Chí Minh thay thế cho chủ nghĩa Mác - Lênin và ngược lại. Cho dù tư tưởng Hồ Chí Minh có nhiều điểm sáng tạo so với chủ nghĩa Mác - Lênin nhưng nó lại thống nhất với Mác - Lênin ở chiều sâu bản chất, ở lý tưởng giải phóng những con người cùng khổ... Cũng cần nhận thức rõ rằng, việc các thế lực thù địch tách rời mối quan hệ biện chứng giữa tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin không phải là kết quả của việc chưa có đủ thông tin hay chưa có phương pháp nghiên cứu phù hợp mà là sự chủ ý xuyên tạc, bịa đặt và lừa bịp nhằm thực hiện “diễn biến hòa bình” ở nước ta. Khi và chỉ khi thấu hiểu bản chất của vấn đề, mọi người sẽ không bị dao động bởi các lập luận gian trá, ngụy biện của lực lượng chống phá.

Hai là, tiếp tục đẩy mạnh công tác giáo dục lý luận chính trị để cán bộ, đảng viên thấu hiểu nội dung, bản chất khoa học, cách mạng, nhân văn của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong những năm tháng đất nước bị chia cắt, kẻ thù đế quốc cũng tìm “trăm phương ngàn kế” để ly gián nhân dân miền Nam với Bác, với Đảng, với miền Bắc xã hội chủ nghĩa nhưng chúng đã thất bại trước ý chí và sự trung thành của nhân dân: “Dù ai nói ngả, nói nghiêng/ Lòng ta vẫn vững như kiềng ba chân/ Dù ai rào dậu, ngăn sân/ Lòng ta vẫn vững là dân Bác Hồ”. Lúc này cũng vậy, nếu cán bộ và nhân dân đều thấu hiểu, thấu cảm giá trị đích thực, sức sống thời đại của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh thì mọi sự xuyên tạc sẽ trở nên vô nghĩa. Do đó, phải tập trung thực hiện chỉ thị 23 - CT/ TW ngày 09/02/2018 của Ban Bí thư Về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới. Hiện trạng “nhạt đảng, phai đoàn, khô lý tưởng” và căn bệnh lười học lý luận chính trị của một bộ phận cán bộ, đảng viên chính là “mảnh đất màu mỡ” cho kẻ thù đẩy mạnh công tác phản tuyên truyền. Lý do là bởi nếu không nắm chắc nội dung, bản chất và giá trị của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh thì không chỉ không thể lý giải đúng và trúng các vấn đề do thực tiễn cuộc sống đặt ra mà còn dễ bị ngả nghiêng trước “giọng lưỡi xảo trá” của kẻ xấu. Vì thế, làm tốt công tác giáo dục, đẩy lùi căn bệnh lười học lý luận chính trị, tích cực bồi đắp tri thức khoa học cho cán bộ và nhân dân chính là tạo “vắc xin” phòng chống sự xâm nhập của các luồng thông tin xấu, độc.

Ba là, cần phải xây dựng đội quân tinh nhuệ trên mặt trận công tác tư tưởng là các chuyên gia về lý luận chính trị để đấu tranh trực diện với các luận điệu xuyên tạc của kẻ thù. Lực lượng này phải được cung cấp thông tin thường xuyên để có thể phản bác kịp thời các luận điệu xuyên tạc của kẻ xấu. Các chuyên gia tham gia vào trận chiến trên mặt trận tư tưởng phải có thái độ vừa mạnh mẽ, vừa điềm tĩnh, vừa kiên quyết, vừa kiên trì và mọi lập luận phải đạt tới mức sắc sảo, tinh thông về lý luận, phong phú, sinh động về thực tiễn để tạo ra sự tương phản và đập lại những luận điệu kệch cỡm, hàm hồ của những kẻ đối nghịch. Cũng cần thường xuyên tổ chức các buổi tọa đàm, trao đổi kinh nghiệm giữa các cơ quan chức năng, lực lượng nòng cốt về kinh nghiệm đấu tranh trên không gian mạng để lực lượng trực tiếp bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trở thành những chiến sỹ thực thụ trên mặt trận văn hóa tư tưởng với trình độ “bút chiến” cao.   

Bốn là, tiếp tục kiên định và tăng cường hơn nữa sự vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn đất nước để thúc đẩy nhanh tiến trình Đổi mới đất nước, làm cho nhân dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc và không ngừng nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Đây thực chất là giải pháp dùng thực tiễn để bảo vệ lý luận bởi thực tiễn là nơi kiểm nghiệm mọi chân lý một cách xác thực nhất. Việc xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội trên mảnh đất Việt Nam chính là minh chứng hùng hồn nhất cho sức sống, giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ nghĩa Mác - Lênin trong thời đại ngày nay. Ngược lại, mỗi hành vi sai trái của cá nhân và tổ chức Đảng đều là sự “tiếp tay” cho kẻ thù trong việc tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng. Vì thế, việc tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng phải gắn chặt với công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh.  

Lịch sử phát triển của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh luôn song hành với cuộc đấu tranh bảo vệ chân giá trị của học thuyết và chống lại những quan điểm sai trái thù địch. Vì thế, đấu tranh chống lại quan điểm đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin là việc làm mang tính quy luật nhằm gia tăng sức mạnh của Đảng và làm thất bại mưu đồ xuyên tạc, chống phá của các lực lượng thù địch. Bằng sự đúng đắn trong nhận thức cũng như trong hành động, bằng nhiệt huyết của trái tim và khối óc, mỗi cá nhân, tổ chức trong hệ thống chính trị phải có trách nhiệm tham gia vào việc khẳng định chân lý: Thế giới còn đổi thay nhưng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh sống mãi./.

 



[1] Trần n Giàu: Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam, Nxb CTQG, H, 2011, tr 141

[2] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2011, t.2, tr.304. 

[3] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.15, tr.590. 

 

[4] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sdd, t.1, tr.509-510.

[5] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sdd, t.6, tr.368-369.

[6] V.I. Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, M. t.6, tr.31-32.

[7] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.3, tr.1

[8] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.3, tr.5

[9] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb CTQG, H, 2002, t,2, tr. 100.

[10] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, 2007, t.50, tr. 610.

[11] Trích xã  luận báo Chiến đấu (Công gô), số đặc biệt ra ngày 12/9/1969, in trong Hồ Chí Minh trong ký ức bạn bè quốc tế, Nxb CTQG, H, 2009, tr. 50.

[12] Thế giới ca ngợi và thương tiếc Hồ Chí Minh, Nxb Sự thật, H, 1976, tr. 530.

[13] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.1, tr.509.

 

[14] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t 4, tr.315.

[15] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.12, tr.563.

[16] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.15, tr 589 - 590.