Chủ Nhật, 29 tháng 5, 2022

 

THỦ ĐOẠN NHAM HIỂM CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

Hoằng Tháo

Cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng Hồ Chí Minh gắn liền với sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, kiên định con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Không thể phủ nhận Hồ Chí Minh là Anh hùng giải phóng dân tộc, Nhà văn hóa lớn đã được UNESCO vinh danh và giá trị tư tưởng của Người, song thực hiện âm mưu "diễn biến hòa bình”, các thế lực phản động, thù địch, cơ hội đã dùng danh nghĩa "phi chính phủ", “từ thiện” để lập một số quỹ hỗ trợ cho các tổ chức phản động chống phá, xuyên tạc về Hồ Chí Minh, tư tưởng Hồ Chí Minh như Quỹ Đầu tư phát triển Mỹ (USAID), Quỹ Hỗ trợ dân chủ nhân quyền (NDI), Quỹ Quốc gia hỗ trợ dân chủ (NED), Việt Tân... Cùng với đó là việc bảo trợ cho các "loa truyền thông" như Trung tâm Asia, Chantroimoi media, Danlambao, Tiếng Dân News… thường xuyên đăng tải các thông tin, bài viết, phỏng vấn để bôi đen sự thật, trắng trợn xuyên tạc, vu cáo tiểu sử, sự nghiệp, tư tưởng Hồ Chí Minh.

Thông qua các trang mạng xã hội trên, những kẻ tự xưng là yêu nước, dân chủ và cả những người “có tiếng nói phản biện" ở trong và ngoài nước đã không chỉ bịa đặt, bôi đen một số thông tin về đời tư, về ngày sinh, về những người thân trong gia đình Chủ tịch Hồ Chí Minh, về nguồn gốc của Người nhằm hạ bệ thần tượng mà còn xuyên tạc và phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh khi cho rằng tư tưởng Hồ Chí Minh là sự du nhập những tư tưởng ngoại lai vào Việt Nam; Hồ Chí Minh là nhà dân tộc chủ nghĩa chứ không phải là người cộng sản; Hồ Chí Minh đi trên cỗ xe Nho giáo đến với chủ nghĩa Mác - Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh là tư biện, lý thuyết, giáo điều, sao chép, máy móc chủ nghĩa Mác - Lênin đã lỗi thời, đã bị xóa bỏ nên không phù hợp với thực tiễn Việt Nam hiện nay…

Thâm độc hơn, là họ đã không từ một thủ đoạn nào để bôi xấu và tìm cách đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin; tách rời mối quan hệ biện chứng giữa tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin, để khi thì đề cao, tuyệt đối hóa tư tưởng Hồ Chí Minh, khi thì lại cho rằng Hồ Chí Minh không có tư tưởng vì đó là một nhà hoạt động thực tiễn.

Thực tế, tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả lịch sử và lôgíc từ sự kết hợp tự nhiên truyền thống yêu nước với chủ nghĩa Mác - Lênin; là sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin ở Việt Nam và cả các nước thuộc địa của chủ nghĩa thực dân, đế quốc. Nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh không chỉ trung thành với những nguyên lý của học thuyết cách mạng, khoa học và hiện đại này; không giáo điều mà chính là nắm lấy tinh thần, bản chất khoa học, cách mạng của nó để bổ sung, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin trong thời đại mới bằng thực tiễn của cách mạng Việt Nam. Sự bổ sung và phát triển sáng tạo ấy thể hiện rõ trong quá trình vận dụng và phát triển sáng tạo lý luận về dân tộc và cách mạng giải phóng dân tộc; về thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, chú trọng xây dựng và chỉnh đốn Đảng cầm quyền trong sạch, vững mạnh; về xây dựng, tập hợp lực lượng, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân trong các hình thức mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi; về xây dựng nhà nước kiểu mới của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản; về gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội và lý luận về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ chế độ tư bản chủ nghĩa; về rèn luyện đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên… trong tiến trình cách mạng Việt Nam hơn 9 thập niên qua.

Hơn thế nữa, không phải tự nhiên Hồ Chí Minh lại nói chủ nghĩa Mác - Lênin không những là “cẩm nang” thần kỳ, là kim chỉ nam mà còn là “mặt trời soi sáng” con đường cho nhân dân các dân tộc bị áp bức, bóc lột tàn bạo dưới ách thống trị của chủ nghĩa thực dân, đế quốc; trong đó, có nhân dân Việt Nam đi đến thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Bởi, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác - Lênin khi được đọc Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương của Lênin về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa đăng trên báo L’Humanité, ngày 16 và 17/7/1920 và Người nhận thấy: “Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!”. Từ đó tôi hoàn toàn tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba”(1). Bởi, chủ nghĩa Mác - Lênin chính là nguồn gốc lý luận chủ yếu, quyết định sự hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh. Chủ nghĩa Mác - Lênin là một trong 3 nguồn gốc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh (chủ nghĩa yêu nước Việt Nam; tinh hoa văn hoá phương Đông và phương Tây; chủ nghĩa Mác - Lênin) và là thành tố quan trọng nhất. Chủ nghĩa Mác - Lênin không chỉ cung cấp cho Hồ Chí Minh thế giới quan, phương pháp luận khoa học, những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử mà còn là hòn đá tảng, là cơ sở để Người vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam để đề ra con đường cách mạng Việt Nam phù hợp với yêu cầu của dân tộc và xu thế của thời đại.

Bản chất của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là khoa học và cách mạng, cho nên, không thể tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin; đồng thời, cũng không thể đề cao, tuyệt đối hóa tư tưởng Hồ Chí Minh mà phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, nhất là càng không thể lấy tư tưởng Hồ Chí Minh để thay thế cho chủ nghĩa Mác - Lênin và ngược lại. Thực tế, tư tưởng Hồ Chí Minh được hình thành từ cội nguồn chính yếu là chủ nghĩa Mác - Lênin và “trong khi giải quyết những vấn đề của cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã góp phần phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin trên nhiều vấn đề quan trọng, đặc biệt là lý luận về cách mạng giải phóng dân tộc và tiến lên chủ nghĩa xã hội ở các nước thuộc địa và phụ thuộc" như Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 18/2/1995 của Bộ Chính trị khóa VII đã khẳng định.

Bản chất của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là khoa học và cách mạng, cho nên, không thể tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin; đồng thời, cũng không thể đề cao, tuyệt đối hóa tư tưởng Hồ Chí Minh mà phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, nhất là càng không thể lấy tư tưởng Hồ Chí Minh để thay thế cho chủ nghĩa Mác - Lênin và ngược lại./.

 

 

NHẬN DIỆN CÁC THỦ ĐOẠN LỪA ĐẢO

Hoằng Tháo

Theo Bộ Công an, các đối tượng đã lợi dụng sự khó khăn về nguồn vốn, thiếu hiểu biết và lòng tham của một bộ phận cá nhân, doanh nghiệp; sơ hở trong việc phát hành các văn bản tiếp nhận, trả lời của các cơ quan chức năng để lấy mẫu, chữ ký, sửa chữa nội dung để hoạt động lừa đảo. Các đối tượng đứng tên thành lập, đại diện các doanh nghiệp, hoặc bằng nhiều cách để có tên trong danh sách sáng lập viên các doanh nghiệp khác, được bổ nhiệm giữ các chức vụ phụ trách về tài chính, được ủy quyền để tiếp nhận nguồn vốn từ nước ngoài…

Cùng với đó, là câu kết, móc nối với các cá nhân mạo danh là đại diện các cơ quan, tổ chức, nhà đầu tư nước ngoài không có thật vào Việt Nam hoặc mời/đề nghị các cá nhân, tổ chức trong nước cùng ra nước ngoài để tiếp xúc, gặp gỡ nhằm tạo niềm tin. Đặc biệt, các đối tượng tạo được niềm tin rất lớn với các cá nhân, tổ chức trong nước về nguồn tiền nên các cơ quan chức năng rất khó giải thích để phòng ngừa, ngăn chặn hoạt động lừa đảo.

Thông qua các mối quan hệ xã hội để giới thiệu, chào mời các cá nhân, doanh nghiệp trong nước về các nguồn vốn vay lớn, lãi suất thấp, tài trợ cho các dự án về an sinh xã hội, môi trường. Đặc biệt, bằng nhiều cách thức, các đối tượng tìm cách tiếp xúc, quan hệ với các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, lãnh đạo các Bộ, ngành (đương chức, nghỉ hưu) có uy tín, chức vụ để nhờ cậy, tác động, tạo sức ép với các cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương.

Để tạo sự quan tâm, chú ý của các cơ quan chức năng, cá nhân, doanh nghiệp trong nước, hồ sơ tiếp nhận vốn nước ngoài có dấu hiệu nghi vấn thường nêu chung chung mục đích đầu tư cho các dự án kinh tế, dự án an sinh xã hội; trong đó, có các dự án mới được đồng ý về mặt chủ trương, chưa được các cấp có thẩm quyền cấp phép hoặc lên mạng Internet lấy thông tin, hình ảnh của các dự án để đưa vào hồ sơ, gồm cả những dự án lớn của Chính phủ như: dự án cao tốc Bắc - Nam, các dự án xây dựng bệnhviện, trường học…

Đáng chú ý, các đối tượng còn lợi dụng tình hình thiên tai, dịch bệnh để đưa đưa vào các “tờ trình”, “đơn đề nghị” tiếp nhận vốn từ nước ngoài. Cụ thể như, lợi dụng dịch bệnh COVID-19 diễn biến phức tạp tại TP Hồ Chí Minh và một số tỉnh, thành phố, nhóm công ty liên quan đến Đỗ Phú Phong đã gửi rất nhiều hồ sơ và lồng ghép nội dung “hỗ trợ quỹ vaccine”, “hỗ trợ dịch bệnh COVID-19” nhằm tạo sự chú ý, quan tâm của cơ quan chức năng, các doanh nghiệp, tổ chức…

Một trong những vấn đề đáng quan tâm là việc các đối tượng lợi dụng sự thông thoáng trong đăng ký thành lập doanh nghiệp để tham gia thành lập, đại diện pháp luật của nhiều doanh nghiệp với số vốn điều lệ rất lớn lên đến hàng trăm, hàng ngàn tỷ đồng. Tuy nhiên, các doanh nghiệp này đều không có hoạt động sản xuất kinh doanh, không hoạt động tại địa chỉ đăng ký kinh doanh, “chủ doanh nghiệp” thì không xác định được nơi cư trú và cũng không liên hệ được...

Đối với hình thức khai thác “kho báu”, “di sản”, “ngoại tệ trôi nổi”, các đối tượng thường lồng ghép các vấn đề tâm linh nhằm tạo niềm tin, mê hoặc các cá nhân, tổ chức nhằm thực hiện mục đích lừa đảo, lôi kéo tham gia. Thậm chí, có những cá nhân cho biết số ngoại tệ trôi nổi lên tới hàng trăm ngàn tỷ USD, được vận chuyển bằng rất nhiều container về Việt Nam qua đường biển mà các cơ quan chức năng Việt Nam cũng như nước ngoài không biết, được cất giữ trong nhiều kho trên khắp đất nước, mà chỉ những người được giao “mật mã” mới vào được, ai cố tình tìm cách xâm nhập vào kho, hoặc nghe các đối tượng nói mà thiếu lòng tin sẽ phải trả giá rất đắt, kể cả tính mạng.

Tương tự, là các “tờ trình”, “đơn đề nghị” được tiếp nhận nguồn vốn ủy thác của các quỹ nhân đạo, quỹ đầu tư, quỹ tài chính quốc tế… có trụ sở tại nước ngoài. Tuy nhiên, qua xác minh, tìm hiểu, các quỹ này không có thật hoặc có rất ít thông tin liên quan đến hoạt động, đại diện các quỹ thậm chí đang bị cơ quan chức năng nước sở tại truy thu thuế, thu hồi giấy phép…

Sau khi đã tiếp cận, tạo được lòng tin, các đối tượng thường yêu cầu cá nhân, tổ chức có nhu cầu tiếp nhận/vay vốn chi trả các khoản chi phí (đi lại, giao dịch, làm thủ tục, mời chuyên gia nước ngoài thẩm định dự án...), tiền đặt cọc, tiền góp vốn, nếu có nhu cầu xem các giấy tờ có liên quan đến nguồn tiền thì phải “chi phí” để kết nối với cấp lãnh đạo, cơ quan nhà nước đang nắm giữ với lý do tài liệu “mật”... và tìm cách chiếm đoạt.

Đây là các thỏa thuận miệng, hợp đồng hợp tác có tính chất dân sự, khi có đơn thư tố cáo, các đối tượng sẽ thỏa thuận đền bù theo hình thức dân sự để tránh bị xử lý theo pháp luật về hình sự, nhưng sau đó sẽ tiếp tục tìm cách trì hoãn trả lại tiền hoặc trả thành nhiều lần. Một số cá nhân khi bị triệu tập làm việc đã khai báo không có bản gốc hoặc được các đối tượng khác (mà bản thân họ cũng không xác định được nhân thân, lai lịch) cung cấp nên cơ quan Công an rất khó khăn trong truy nguyên và xử lý; hoặc sử dụng các văn bản trả lời, tiếp nhận của cơ quan chức năng để sửa chữa nội dung, tạo niềm tin đối với các cá nhân/doanh nghiệp để hoạt động lừa đảo...

Với nhiệm vụ được phân công, Cục An ninh Kinh tế đã phối hợp Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thẩm tra các chứng từ giả mạo của ngân hàng; tổ chức tuyên truyền, cảnh báo trên các phương tiện truyền thông đại chúng; chủ động tham mưu cấp ủy, chính quyền địa phương, các bộ, ban, ngành về phương thức, thủ đoạn hoạt động của các đối tượng để phòng ngừa, ngăn chặn không để các đối tượng lợi dụng hoạt động lừa đảo. Phối hợp Công an các địa phương xác minh, làm rõ hoạt động của các đối tượng liên quan và có biện pháp răn đe, cảnh cáo; đấu tranh, làm rõ hoạt động lừa đảo của các đối tượng có hành vi vi phạm pháp luật.

Các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp trong nước cần cảnh giác với thủ đoạn hoạt động nghi vấn liên quan đến lừa đảo qua hình thức tiếp nhận vốn nước ngoài của các đối tượng, không để các đối tượng lợi dụng thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, hoặc chính bản thân sẽ bị vướng vào vòng lao lý. Trong trường hợp bị các đối tượng lừa đảo, cần thông báo đến cơ quan Công an để được hướng dẫn.

 

 

“TỰ DIỄN BIẾN”, “TỰ CHUYỂN HÓA” LÀ CÓ THẬT

VÀ NGUY HIỂM KHÔN LƯỜNG

Thứ nhất, về nội hàm và những hình thức biểu hiện của “tự diễn biến” và “tự chuyển hóa”. Các tham luận và ý kiến từng bước kiến giải nội hàm phong phú, đa dạng và phức tạp của vấn đề “tự diễn biến” và “tự chuyển hóa”. Đặc biệt, có ý kiến và tham luận phác họa những kịch bản, những tình huống của sự vận động đa diện và ngổn ngang của vấn đề này. Ở chừng mực nào đó, đây vẫn chỉ là những phác thảo, những chấm phá, đòi hỏi các nhà khoa học và chúng ta tiếp tục tìm tòi, phát hiện thêm. Chẳng hạn, “tự diễn biến” là thế nào, tới mức nào thì dẫn tới “tự chuyển hóa”? Nếu không khu biệt rõ, rất dễ nhầm lẫn. Mà nhầm lẫn thì đi đến rất dễ nghi oan, thậm chí rất dễ quy chụp, và dẫn tới rối loạn, lạc hướng. Thế là, vô hình trung lại rơi vào “tự diễn biến” ngoài ý muốn, “tự chuyển hóa” một cách vô thức; thậm chí gây phiền toái, hàm oan cho đồng chí mình, tự gây rối mối quan hệ nội bộ. Lợi bất cập hại! Hậu quả thật khó hình dung nổi. Vì thế, đề nghị chúng ta tiếp tục suy ngẫm nội hàm các phạm trù này, nhất là mối quan hệ giữa “tự diễn biến” - “tự chuyển hóa”; “diễn biến hòa bình” - “tự diễn biến” - “tự chuyển hóa” và những biểu hiện phức tạp, khó lường; những kịch bản đa diện của vấn đề này.

Thứ hai, về thực tiễn cuộc đấu tranh phòng, chống “tự diễn biến” và “tự chuyển hóa” của chúng ta và những vấn đề đang đặt ra. Các tham luận và ý kiến phát biểu đề cập một cách khá bao quát vấn đề, đều đã khẳng định: “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là có thật và nguy hiểm khôn lường. Và vì thế, đây là một cuộc đấu tranh phức tạp, ngay trong nội bộ, ở mỗi con người, tại mỗi tổ chức; có mặt trước hết trên bình diện tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống… nhưng lại thể hiện rất thầm kín, thậm chí dễ che giấu, ngụy trang, biến ảo, rất khó nhận biết, phát hiện; có mặt trên khắp các lĩnh vực của đời sống kinh tế, xã hội, văn hóa, an ninh, quốc phòng, đối ngoại, rất da dạng; có mặt ở mọi quy mô không gian, rất khó kiểm soát: trong nước, nước ngoài, liên hệ giữa trong nước và nước ngoài; biểu hiện ở đa đối tượng, đa chủ thể…ở mọi cấp, mọi ngành; nó lại diễn ra ở mọi thời điểm rất khó tiên lượng; nắm bắt…

Do đó, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” rất nguy hiểm, nguy hiểm tới mức khôn lường. Công việc phòng, chống rất khó khăn; tính chất đấu tranh rất phức tạp, rất tinh tế; phương châm phòng, chống đòi hỏi rất mềm dẻo, linh hoạt và phải rất chủ động… Các tham luận và các ý kiến trình bày, ở dưới nhiều góc độ, mọi tính chất và mức độ, đều chỉ rõ điều đó. Và thời gian vừa qua, chúng ta đã rất chủ động và nỗ lực trên mặt trận này, nhưng phải thừa nhận rằng, sự cố gắng chưa ngang tầm, hiệu quả của việc phòng, chống chưa đạt như mong muốn, chưa tương xứng với sự đòi hỏi của Đảng, sự yêu cầu của nhân dân ta. Thậm chí có mặt diễn biến phức tạp hơn; lây lan cả tới những bộ phận rất nhạy cảm, những lĩnh vực rất then chốt và những chủ thể khá quan trọng.

Thứ ba là, chúng ta phải tiếp tục làm gì và làm như thế nào, để góp phần phòng, chống một cách chủ động và hiệu quả hơn “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”? Cụ thể: Các hình thức, tính chất và mức độ nguy hiểm của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”? Ai, tổ chức nào “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”? Định lượng chúng như thế nào? Ai chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”?…

Về mục tiêu: Các tham luận và ý kiến phát biểu đều thống nhất khẳng định, việc xây dựng Đảng vững mạnh, trong sạch một phần quan trọng tùy thuộc vào cuộc đấu tranh phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” - một vấn đề cấp bách có ý nghĩa sống còn đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và sự tồn vong của chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Về quan điểm chỉ đạo: Phải quyết liệt, đồng bộ và thống nhất từ trên xuống dưới, từ dưới lên trên, từ đầu đến cuối, nhưng phải có trọng tâm, trọng điểm; có lộ trình và bước đi thích hợp; phải huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị và toàn thể dân tộc xây dựng Đảng và Nhà nước vững mạnh, trong sạch, ngay từ mỗi cán bộ, đảng viên, công chức,  từ từng tổ chức của Đảng, của bộ máy nhà nước...

Về phương châm thực hiện: Bảo đảm sự lãnh đạo chặt chẽ và dân chủ của các cấp ủy; bảo đảm sự thống nhất giữa việc ổn định với đổi mới, phát triển để nhằm ổn định và đẩy mạnh đổi mới; kết hợp chặt chẽ giữa chống “diễn biến hòa bình” với phòng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; bảo đảm sự thống nhất giữa việc xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh với sự xây dựng bộ máy nhà nước, hiệu lực và hiệu quả và làm lành mạnh các quan hệ xã hội, trước mắt gắn chặt với thực hiện tốt Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI về “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng” và Chỉ thị số 03, của Bộ Chính trị, “Về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

Điều hết sức đáng ghi nhận là, các tham luận và các ý kiến phát biểu, dưới nhiều góc độ và mức độ, đều tập trung hoạch định, kiến nghị và khuyến nghị thực thi đồng bộ và hiệu quả hệ các giải pháp căn bản và chủ yếu: Về tư tưởng chính trị và bảo đảm công tác giáo dục tư tưởng chính trị; về lý luận và nâng cao công tác lý luận của Đảng; về đổi mới cơ chế quản lý kinh tế và điều hành nền kinh tế vĩ mô; về đổi mới và kiện toàn tổ chức bộ máy các cấp và xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên; về đổi mới phương thức cầm quyền của Đảng; về đổi mới công tác kiểm tra, giám sát của Đảng, thực thi và bảo vệ pháp luật của Nhà nước; về tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ; về dựa hẳn vào nhân dân để xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước…; về tăng cường chất lượng và hiệu quả công tác an ninh, quốc phòng, đối ngoại bảo đảm tích cực và chủ động hội nhập quốc tế hiệu quả; về tăng cường vai trò của hệ thống chính trị và nâng cao vị thế và sức mạnh của nhân dân trong xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước vững mạnh, trong sạch; về gắn chặt cuộc đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” với phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; về gắn cuộc đấu tranh phòng, chống quan liêu, tham nhũng và lãng phí với việc đẩy lùi tình trạng cát cứ, cục bộ và lợi ích nhóm; về ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên; về bảo đảm không ngừng dân chủ và kỷ cương, kỷ luật; về nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp, đặc biệt là đội ngũ cán bộ ở tầm vĩ mô, có tính chiến lược; về đổi mới công tác khen thưởng và kỷ luật; và đặc biệt là, nâng cao sức đề kháng của mỗi tổ chức đảng, từng cấp chính quyền, đoàn thể, của mỗi cán bộ, đảng viên…

                                                                                             BIỂN RỘNG

 

 

 

PHÒNG, CHỐNG “DIỄN BIẾN HOÀ BÌNH” - NHIỆM VỤ QUAN TRỌNG CỦA CÔNG TÁC TƯ TƯỞNG TRONG QUÂN ĐỘI TA HIỆN NAY

“Diễn biến hoà bình” là phương thức chống phá chủ nghĩa xã hội của các thế lực thù địch bằng các biện pháp phi vũ trang. Vào những năm 80, 90 của thế kỷ trước, với chiến lược này, chúng đã nhanh chóng xoá bỏ chủ nghĩa xã hội ở Đông Âu, Liên Xô và đẩy hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa trên thế giới lâm vào thoái trào.

Việt Nam - một trong số các nước xã hội chủ nghĩa còn lại, được các thế lực thù địch xác định là một trọng điểm chống phá. Theo đó, chúng ra sức tuyên truyền, xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và vai trò lãnh đạo của Đảng. Lợi dụng ưu thế về công nghệ thông tin, các phương tiện truyền thông hiện đại, các thế lực thù địch đã huy động 63 đài phát thanh có chương trình Việt ngữ, trên 400 báo, tạp chí, 88 nhà xuất bản và nhiều hãng thông tấn, báo chí nước ngoài; trên 1.600 trang web, blog và các trang mạng xã hội, trong đó đặc biệt là Đài RFA, RFI, VOA tiếng Việt…,1 nhằm đẩy mạnh tuyên truyền tư tưởng, đạo đức, lối sống thực dụng phương Tây, đề cao giá trị đồng tiền, ích kỷ cá nhân, phi đạo đức, phi luân lý, làm băng hoại phẩm chất, đạo đức và lối sống tốt đẹp của xã hội, của nhân dân và Quân đội ta.

Lợi dụng vấn đề về dân tộc, sắc tộc, tôn giáo và chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền” và “tự do tín ngưỡng”, đi sâu khai thác những sơ hở, thiếu sót của Đảng, Nhà nước ta ở các cấp trong việc thực hiện các chính sách đối với đồng bào dân tộc ít người, đồng bào vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ cách mạng trước đây và đồng bào theo đạo để lừa mị, chia rẽ, phân hoá, tạo ra mâu thuẫn dân tộc, sắc tộc, gây rối trật tự trị an. Chúng tìm mọi cách gây bất ổn về chính trị tư tưởng, kích động chia rẽ nội bộ Đảng, Nhà nước, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ hòng làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân ta giao động, mất lòng tin vào sự lãnh đạo của Đảng, vai trò quản lý của Nhà nước và mục tiêu, con đường chủ nghĩa xã hội.

Đối với Quân đội nhân dân Việt Nam, các thế lực thù địch cũng thừa hiểu rằng: với một Quân đội đã có lịch sử truyền thống vẻ vang hơn 70 năm ra đời, trưởng thành và chiến thắng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, một Quân đội mà truyền thống trung với nước, với Đảng, hiếu với dân đã ăn sâu vào “máu thịt” của nhiều thế hệ cán bộ, chiến sĩ, thì việc làm cho Quân đội xa rời mục tiêu chính trị của Đảng là khó có thể thực hiện được ngay. Chính vì thế chúng xác định, trước hết và dễ thực hiện hơn là thường xuyên tác động “pha loãng chính trị” của Đảng trong Quân đội, nhằm tạo ra sự thờ ơ về chính trị, thực hiện “phi chính trị hoá” Quân đội ta. Chúng cố tình xuyên tạc hình ảnh cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”. Chúng còn kích động vào hoàn cảnh khó khăn, gian khổ, hy sinh của cán bộ, chiến sĩ ta ở nơi biên giới, hải đảo và đem ra so sánh thiệt, hơn với những đối tượng khác trong xã hội. Chúng tiến hành cổ động tâm lý tự do, ngại khuôn khổ tổ chức, kỷ luật quân đội, kích động gây mâu thuẫn giữa cán bộ với chiến sĩ, giữa cán bộ với nhau, giữa đơn vị và nhân dân nơi đóng quân gây mất đoàn kết trong nội bộ đơn vị, cơ quan, từ đó làm phai nhạt hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” trong quần chúng nhân dân. Đồng thời, sử dụng vật chất mua chuộc, tha hoá đội ngũ cán bộ, sĩ quan các cấp, tập trung vào đối tượng sĩ quan cao cấp, nhằm thông qua đó hướng lái chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, Quân đội dần dần chệch hướng; phai nhạt dần về lý tưởng, tinh thần cách mạng xã hội chủ nghĩa hướng theo con đường tư bản chủ nghĩa.

Trước thực tế đó, nếu chúng ta không nhận thức rõ tầm quan trọng của cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc, nhất là âm mưu, thủ đoạn thâm độc chống phá ta của các thế lực thù địch thông qua chiến lược “diễn biến hòa bình”, để luôn đề cao cảnh giác, mài sắc ý chí, kiên trì đấu tranh thì hậu quả sẽ thật khó lường.

Để phòng, chống âm mưu, thủ đoạn chống phá cách mạng Việt Nam của các thế lực thù địch và tay sai của chúng về chiến lược “diễn biến hoà bình”, Đảng, Nhà nước và Quân đội ta đã tích cực, chủ động thường xuyên làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho các thế hệ cán bộ, chiến sĩ nhận rõ bản chất không hề thay đổi và sự nguy hại của chiến lược này. Mặt khác, coi trọng đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho các tầng lớp nhân dân. Xây dựng đoàn kết, thống nhất trong Đảng, trong cơ quan nhà nước và các đoàn thể chính trị - xã hội vững mạnh; tích cực tham gia đấu tranh có hiệu quả phòng, chống tham nhũng, lãng phí… Nhờ đó, sau hơn 30 năm đổi mới toàn diện đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng đã thu được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 12 của Đảng chỉ rõ: “Nhìn tổng thể, qua 30 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa”2.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được còn bộc lộ một số tồn tại như: trình độ lý luận, tính nhạy bén và bản lĩnh chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ chủ trì chưa tương xứng với vị trí, yêu cầu, nhiệm vụ của Quân đội trong cuộc đấu tranh mới, nhất là trên mặt trận lý luận chính trị, tư tưởng. Đặc biệt, công tác quản lý tư tưởng ở một số đơn vị còn chủ quan, giản đơn, chất lượng giáo dục chính trị chưa cao, thiếu chiều sâu và bền vững. Vẫn còn các biểu hiện mơ hồ, mất cảnh giác, cá nhân chủ nghĩa, thiếu trách nhiệm, quan liêu, quân phiệt, cơ hội, thực dụng trong một bộ phận cán bộ, đảng viên… Trong khi đó, yêu cầu mới của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc đang đặt ra đối với Quân đội ta hết sức nặng nề: “Củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia, ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó, Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là nòng cốt… Chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch”3.

Từ tình hình trên, đòi hỏi Quân đội ta phải tiếp tục nâng cao hơn nữa tính chiến đấu, tích cực, chủ động đấu tranh phòng, chống hiệu quả âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch. Để thực hiện tốt nhiệm vụ đó, trước yêu cầu mới, đòi hỏi công tác tư tưởng trong Quân đội phải tập trung tiến hành đồng bộ, hiệu quả nhiều giải pháp, trong đó phải làm tốt một số nội dung cơ bản sau:

Một là, kết hợp chặt chẽ việc quán triệt quan điểm, đường lối chủ trương của Đảng với giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm nâng cao giác ngộ chính trị và củng cố vững chắc trận địa tư tưởng trong Quân đội. Đây là vấn đề có ý nghĩa quyết định đến củng cố sự nhất trí về chính trị tinh thần cho toàn quân, làm cho cán bộ, chiến sĩ luôn có bản lĩnh chính trị vững vàng, có trình độ tiếp thu chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, điều lệnh, điều lệ của Quân đội, chế độ quy định của đơn vị, từ đó chủ động, sáng tạo giải quyết tốt các vấn đề trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao. Bằng nhiều hình thức tuyên truyền, thông qua nhiều kênh thông tin giúp cho mọi người nắm chắc tình hình của đất nước, nhiệm vụ Quân đội trong tình hình mới, đồng thời vạch trần những âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch chống phá cách mạng Việt Nam nói chung, Quân đội ta nói riêng. Thường xuyên giáo dục nâng cao ý thức chính trị, tinh thần cảnh giác cách mạng, tạo sức “đề kháng, miễn dịch” đối với những quan điểm sai trái, phản động, những tư tưởng và hành động nguy hại như: cơ hội chủ nghĩa, thực dụng, lối sống ích kỷ cá nhân, cực đoan, xa hoa…

Hai là, kết hợp chặt chẽ và phát huy đồng bộ sức mạnh của công tác tư tưởng với công tác tổ chức và công tác chính sách của Quân đội, nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả đấu tranh phòng, chống “diễn biến hoà bình” trong tình hình hiện nay. Xây dựng tư tưởng phải đi đôi với xây dựng tổ chức và giải quyết chính sách thì mới phát huy đồng bộ sức mạnh của công tác này. Trong xây dựng ý thức tư tưởng, không được xem nhẹ vai trò của công tác tổ chức và công tác chính sách. Nâng cao năng lực lãnh đạo của tổ chức đảng các cấp, nhất là ở đơn vị cơ sở. Khắc phục triệt để tình trạng mất đoàn kết, cục bộ, bè phái… Duy trì thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kịp thời phát hiện và xử lý các trường hợp cán bộ, đảng viên mắc khuyết điểm.

Ba là, thường xuyên coi trọng bồi dưỡng, rèn luyện nâng cao năng lực hoạt động thực tiễn, nâng cao bản lĩnh chính trị và phẩm chất đạo đức, lối sống cho đội ngũ cán bộ chính trị các cấp, nhất là đối với chính ủy, chính trị viên - người chủ trì về chính trị ở đơn vị. Các tổ chức đảng phải thường xuyên chăm lo xây dựng bản lĩnh chính trị, nắm vững quan điểm, tư tưởng trong các nghị quyết của Đảng, của Quân ủy Trung ương để khi có tình huống phức tạp đủ sức lãnh đạo về chính trị tư tưởng, không để bị động, bất ngờ trước những âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch. Phải tăng cường chỉ đạo, quan tâm chăm lo bồi dưỡng nâng cao kỹ năng giáo dục chính trị đối với đội ngũ những người làm công tác chính trị tư tưởng, nhất là cán bộ chính trị các cấp trong Quân đội. Như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng căn dặn: “Tư cách của chính trị viên có ảnh hưởng rất quan trọng đến bộ đội. Người chính trị viên tốt, thì bộ đội ấy tốt. Người chính trị viên không làm tròn nhiệm vụ, thì bộ đội ấy không tốt. Vô luận ở cấp bậc nào, chính trị viên có ba nhiệm vụ chính: đối với bộ đội, đối với nhân dân, đối với quân địch… Đối với bộ đội, chính trị viên phải thân thiết như một người chị, công bình như một người anh, hiểu biết như một người bạn”4.

Bốn là, tiếp tục thực hiện tốt việc đẩy mạnh xây dựng môi trường văn hoá quân sự, xây dựng Quân đội vững mạnh toàn diện, lấy xây dựng vững mạnh về chính trị làm cơ sở. Môi trường văn hoá quân sự đóng vai trò hết sức quan trọng trong giáo dục xây dựng tư tưởng và nhân cách quân nhân. Bởi giáo dục không nằm ngoài mối liên hệ biện chứng với các mối quan hệ xã hội và hoàn cảnh xã hội nhất định. Các đơn vị cơ sở là nơi trực tiếp giáo dục, định hướng thái độ, hành vi hoạt động của quân nhân. Chỉ có ở trong tập thể quân nhân mới có mục đích hoạt động thống nhất, mang ý nghĩa định hướng xã hội cao, có bầu không khí tâm lý lành mạnh, dân chủ, đoàn kết, quan tâm đến nhau đúng mức, có các chế độ qui định chặt chẽ trong một môi trường văn hoá quân sự giàu tính lý tưởng, giàu lòng nhân ái, thấm đượm tình đồng chí, đồng đội, có nếp sống chính qui hoá, có thẩm mỹ quân sự thì sẽ xây dựng, bồi dưỡng, rèn luyện nên những người quân nhân xứng đáng với danh hiệu anh “Bộ đội Cụ Hồ” mà nhân dân ta đã trao tặng.

Xây dựng Quân đội nhân dân vững mạnh về chính trị là cơ sở để nâng cao chất lượng tổng hợp, khả năng sẵn sàng chiến đấu và sức mạnh chiến đấu của Quân đội, trực tiếp đấu tranh trên mọi mặt trận làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân, đấu tranh thắng lợi trên mặt trận chính trị tư tưởng, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

 

                                                                                             BIỂN RỘNG

 

 

Chủ động đấu tranh với các âm mưu của các thế lực thù địch hiện nay

THN

Trong những năm gần đây, khoa học, công nghệ, đặc biệt internet ngày càng phát triển mạnh mẽ và đây cũng là lúc số người tự xưng, khoác áo “đấu tranh bảo vệ môi trường, cho tự do, dân chủ" để thực hiện các ý đồ, mục đích xấu... có đất diễn.

Các thế lực thù địch trong và ngoài nước sử dụng hàng ngàn trang website, mạng xã hội, diễn đàn, blog cá nhân, tổ chức hàng ngàn chiến dịch chống phá, mỗi ngày tung hàng trăm bài viết, thư ngỏ, bản tuyên bố bằng các luận điệu vu cáo và các bình luận thâm độc, đặc biệt là xuyên tạc công tác phòng, chống tham nhũng của Đảng, Nhà nước, công tác điều tra, xử lý các vụ án tham nhũng, tiêu cực để xuyên tạc cho rằng “cuộc đấu tranh tham nhũng là sự thanh trừng nội bộ”.

Lợi dụng các sự kiện chính trị trọng đại của đất nước như: các kỳ họp Quốc hội khóa XV, các hội nghị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, kỷ niệm các ngày lễ lớn... để bóp méo bản chất, xuyên tạc lịch sử, sai lệch chủ trương, đường lối bảo vệ độc lập, chủ quyền đất nước của Đảng, Nhà nước, đồng thời tung tin bịa đặt, đồn đoán về tình trạng sức khỏe, đời tư của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước... Đặc biệt là thời gian gần đây, triệt để lợi dụng tình hình căng thẳng giữa Nga và Ukraina để kích động, xuyên tạc đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta. 

Để chủ động đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, không ngừng nâng cao công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, trong thời gian tới, cấp ủy, chính quyền các địa phương cần thường xuyên nắm bắt tình hình tư tưởng, dư luận xã hội kịp thời, sâu sát, đặc biệt luồng tư tưởng bức xúc trong nhân dân, luôn bám sát các sự kiện chính trị, xã hội, các vấn đề có thể phát sinh phức tạp, chú ý quan tâm việc triển khai các công trình, dự án trọng điểm trên địa bàn để kịp thời chỉ đạo, xử lý dứt điểm.

Chủ động xây dựng tài liệu tuyên truyền, phối hợp cung cấp thông tin chính thống khi có sự việc phức tạp, nhạy cảm xảy ra trên từng địa bàn, liên hệ cung cấp thông tin khi xảy ra tại các địa phương khác để phục vụ công tác tuyên truyền, định hướng dư luận kịp thời, tránh bị lợi dụng xuyên tạc, kích động, gây phức tạp tình hình an ninh, trật tự tại địa phương.

Tăng cường tuyên truyền, vận động những người có uy tín, các tổ chức quần chúng, cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân luôn ủng hộ, thể hiện quan điểm, chính kiến rõ ràng để bảo vệ Đảng, chính quyền trước các vụ việc phức tạp phát sinh, tạo sức mạnh truyền thông rộng rãi. Đồng thời, cấp ủy các cấp cần cụ thể hóa bằng các quy định, quy chế, giao nhiệm vụ cho đội ngũ cán bộ, đảng viên nâng cao vai trò, trách nhiệm tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch - xác định đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu hiện nay. 

Bên cạnh đó, trước tình hình an ninh, chính trị phức tạp trên thế giới hiện nay, mỗi cán bộ, đảng viên cần tiếp cận thông tin tuyên truyền đúng đắn, luôn đứng vững trên lập trường, đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước đó là bảo vệ nền độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết, trước hết. Thường xuyên theo dõi, nắm chắc các luồng tư tưởng trái chiều, luôn chủ động đấu tranh với thông tin giả, xấu độc, xuyên tạc đường lối đối ngoại của Đảng và mối quan hệ song phương của Việt Nam với các nước khác.

 

 

Chiêu thức chống phá mới của các thế lực thù địch hiện nay

THN

Thời gian gần đây các thế lực thù địch đã dùng nhiều hình thức, biện pháp, huy động tối đa các phương tiện truyền thông để tuyên truyền, xuyên tạc, vu cáo trắng trợn tình hình dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo và vấn đề dân tộc ở Việt Nam.

Chúng đưa ra yêu sách đòi mở rộng dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo, tự do lập hội để tập hợp lực lượng, kích động gây bạo loạn. Đặc biệt, chúng luôn tìm mọi cách hướng lái truyền thông nhằm tác động vào quá trình xây dựng hệ thống pháp luật, nhất là thời điểm sửa đổi các văn bản pháp luật về dân chủ, nhân quyền, tôn giáo hoặc ban hành các chỉ thị, nghị quyết, quy định về xây dựng, chỉnh đốn Đảng,… để bôi nhọ, hạ thấp uy tín của Đảng, Nhà nước; kích động, lôi kéo, chia rẽ nội bộ, nhằm gây áp lực với Đảng, Nhà nước ta.

Đồng thời, thành lập nhiều tổ chức và đưa người vào Việt Nam để theo dõi, tìm hiểu, thu thập thông tin về vấn đề dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo, tiến hành móc nối, cài cắm, truyền bá tư tưởng sai trái, vu cáo, xuyên tạc tình hình thực tế ở Việt Nam.

Để đẩy nhanh “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, âm mưu các thế lực thù địch là nhất thiết phải thực hiện “dân chủ” trong đời sống xã hội.

Trước hết là thúc đẩy “dân chủ hóa” trong nội bộ Đảng Cộng sản Việt Nam, tiếp đó thực hiện “dân chủ hóa” trong truyền thông và xã hội. Hai yếu tố này có quan hệ mật thiết với nhau, yếu tố thứ nhất mang tính quyết định đến tiến trình “dân chủ hóa” từ bên trên, bên trong nội bộ ta; yếu tố thứ hai sẽ đẩy nhanh “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của toàn xã hội.

Quá trình “dân chủ hóa” truyền thông là đưa dân chủ vào mạng truyền thông quốc gia và đội ngũ cán bộ, phóng viên báo chí, truyền thông. Con đường xâm nhập để hướng lái truyền thông của các thế lực thù địch là tác động thông qua các hoạt động hợp tác giáo dục, hội thảo, giao lưu, “mượn” các phương tiện truyền thông của Nhà nước, các địa phương, cơ quan, đơn vị để tuyên truyền cho chúng.

Lợi dụng sự phát triển của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (4.0), các thế lực thù địch sẵn sàng mạnh tay đầu tư tài chính cho quảng cáo, đầu tư, tài trợ các chương trình nhằm tác động, dẫn dắt giới truyền thông hoạt động theo ý đồ của chúng, đưa truyền thông tách khỏi sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước.

Mặt khác, chúng còn lợi dụng các trang mạng xã hội, Facebook, blogger và một số báo, đài phương Tây, hệ thống phương tiện truyền thông của lực lượng phản động người Việt lưu vong,… để tuyên truyền, xuyên tạc, vu cáo, kêu gọi dân chủ, nhân quyền, tự do ngôn luận, tự do báo chí và cạnh tranh trên lĩnh vực truyền thông, gây nhiễu loạn tư tưởng, mất phương hướng trong đời sống xã hội.

Ngoài ra, các thế lực thù địch còn tăng cường hoạt động xâm nhập, móc nối, xây dựng nhân tố bên trong để tác động tư tưởng, phá hoại bản sắc văn hóa dân tộc, thực hiện xâm lăng văn hóa để thúc đẩy nhanh “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ ta...

Đây là những con đường mà các thế lực thù địch đang tìm mọi cách, bằng nhiều biện pháp tiến hành thường xuyên hòng chuyển hóa chế độ chính trị ở Việt Nam. Vì vậy, mỗi cán bộ đảng viên, mọi công dân chúng ta cần không ngừng nâng cao cảnh giác, nhận diện rõ âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động chống phá ta hiện nay, góp phần giữ vững môi trường hòa bình , ổn định, phát triển đất nước, không để các thế lực thù địch lợi dụng chống phá.

 

Thứ Hai, 16 tháng 5, 2022

 

ĐƯỜNG TRƯỜNG SƠN - HUYẾT MẠCH NỐI LIỀN

HẬU PHƯƠNG VÀ TIỀN TUYẾN TRONG KHÁNG CHIẾN

CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC

Hoa Súng

Ngày 19/5/1959, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định mở tuyến vận tải chi viện chiến lược Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh. Đây là một quyết định lịch sử, thể hiện quyết tâm và ý chí sắt đá của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta: “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, “Tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”. Đường Trường Sơn đã đi vào lịch sử, trở thành con đường huyền thoại, một biểu tượng của dân tộc anh hùng.

Khi tuyến đường vận tải quân sự chiến lược đường Trường Sơn ra đời, Đoàn 559 vinh dự được giao nhiệm vụ tổ chức tuyến chi viện chiến luợc này. Lực lượng ban đầu gồm 500 cán bộ chiến sĩ “quân đi tính từng người, hàng chuyển tính từng cân” do Thượng tá Võ Bẩm chỉ huy. Điểm đầu tuyến đường là khu rừng Khe Hó (Bãi Hà, Do Linh, Quảng Trị) - điểm khởi đầu cho một trận đồ bát quái giữa đại ngàn Trường Sơn. Đoàn vừa vận chuyển vừa mở đường hành quân với phương châm: “Đi không dấu, nấu không khói, nói không tiếng” để đảm bảo bí mật tối đa.

Theo Chỉ thị của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, ngày 23/10/1961, Bộ tổng Tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam đã quyết định thành lập Đoàn 759, tiền thân của Lữ đoàn 125 Hải quân để vận chuyển vũ khí, trang bị cho chiến trường miền Nam bằng đường biển - làm nên huyền thoại đường Hồ Chí Minh trên biển với những con tàu không số, nối liền hậu phương lớn miền Bắc với tiền tuyến lớn miền Nam.

Từ những con đường mòn men theo dải Trường Sơn hùng vĩ, từ những đội quân “đi không dấu, nấu không khói, nói không tiếng”, trong suốt 16 năm hoạt động (1959 - 1975), đường chiến lược Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh - huyết mạch nối liền hậu phương miền Bắc với tiền tuyến lớn miền Nam không chỉ là tuyến vận tải quân sự, tuyến hậu cần chiến lược mà còn là một chiến trường tổng hợp, một mặt trận chiến đấu quyết liệt giữa ta và địch.

Đường Trường Sơn - Hồ Chí Minh - một kỳ tích của quân đội nhân dân Việt Nam ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; một “con đường của ý chí quyết chiến quyết thắng và lòng dũng cảm, của khí phách một dân tộc anh hùng”; là tuyến đường huyền thoại, bởi đây không chỉ là một tuyến chi viện chiến lược quy mô lớn mà còn là một chiến trường thực sự, nơi đấu trí, đấu lực quyết liệt giữa một bên là toàn dân tộc Việt Nam nghèo nàn, lạc hậu với một bên là đế quốc Mỹ giàu có hùng mạnh với bộ máy chiến tranh khổng lồ, tối tân nhất thời đại.

 

 

TA CHỦ ĐỘNG KẾT HỢP HIỆU QUẢ GIỮA CÁC MẶT ĐẤU TRANH CHÍNH TRỊ, QUÂN SỰ, NGOẠI GIAO, TẠO NÊN SỨC MẠNH

TỔNG HỢP GIÀNH THẮNG LỢI

Trung Lập

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, ba mặt trận quân sự, chính trị và ngoại giao có quan hệ mật thiết, tác động lẫn nhau, hỗ trợ cho nhau, cùng thúc đẩy sự nghiệp cách mạng phát triển mạnh mẽ đến thắng lợi. Ban Chấp hành Trung ương Đảng chỉ rõ: “Đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị ở miền Nam là nhân tố chủ yếu quyết định thắng lợi trên chiến trường, làm cơ sở cho thắng lợi trên mặt trận ngoại giao. Chúng ta chỉ có thể giành được trên bàn hội nghị những cái mà chúng ta đã giành được trên chiến trường”[1]. Ngày 30-3-1972, cuộc tiến công chiến lược bắt đầu diễn ra và ngày càng quyết liệt. Song tại Paris, cuộc đấu tranh ngoại giao của ta vẫn đang trong giai đoạn bế tắc, đế quốc Mỹ và ngụy quyền Sài Gòn ngoan cố đòi hỏi những điều khoản có lợi cho chúng. Vì vậy, để thúc đẩy và giành được một giải pháp vững chắc trên bàn đàm phán, Ban Chấp hành Trung ương Đảng chủ trương đẩy mạnh hơn nữa tiến công trên mặt trận quân sự, đặc biệt phải giành cho được thắng lợi lớn trong tháng 5 và tháng 6-1972.

Với vai trò là hướng tiến công chiến lược chủ yếu, Mặt trận Trị-Thiên có nhiệm vụ hết sức nặng nề, vừa phải phối hợp tác chiến nhịp nhàng, chặt chẽ với các chiến trường khác để đạt được mục tiêu chiến lược đề ra, vừa phải phục vụ nhiệm vụ chính trị, kết hợp với đấu tranh ngoại giao để giành thắng lợi trên bàn đàm phán. Thực hiện chủ trương của trên, từ cuối tháng 4-1972, Chiến dịch tiến công Trị-Thiên được đẩy mạnh và ngày 2-5-1972, quân và dân ta đã giải phóng hoàn toàn tỉnh Quảng Trị.

Cùng thời gian đó, các Chiến dịch tiến công Bắc Tây Nguyên, Chiến dịch tiến công Nguyễn Huệ thực hiện được một phần cơ bản ý định chiến lược, góp phần làm thay đổi cục diện chiến trường. Những thắng lợi liên tiếp của quân và dân miền Nam đã cổ vũ quân và dân miền Bắc chiến đấu và giành thắng lợi trong cuộc đọ sức với đế quốc Mỹ trong trận “Điện Biên Phủ trên không” cuối năm 1972. Điều kiện và thời cơ cho cuộc đấu tranh trên bàn đàm phán tại Hội nghị Paris của ta ngày càng chín muồi.

Phát huy thắng lợi trên chiến trường, Bộ Chính trị đẩy mạnh đấu tranh ngoại giao trên bàn Hội nghị Paris, buộc Mỹ phải đàm phán theo hướng giải quyết toàn bộ vấn đề về chiến tranh Việt Nam. Ngày 27-1-1973, chính quyền Mỹ buộc phải ký kết hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam. Hiệp định Paris được ký kết là thành quả rực rỡ của sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vĩ đại, của cuộc đấu tranh, đấu trí kiên quyết, sáng tạo trên ba mặt trận quân sự, chính trị, ngoại giao.

Bài học kinh nghiệm được rút ra là ba mặt đấu tranh quân sự, chính trị và ngoại giao đều có vai trò quan trọng, quan hệ mật thiết, thúc đẩy, tác động lẫn nhau hướng tới mục tiêu giành thắng lợi hoàn toàn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Trong điều kiện đối tượng, đối tác đan xen như hiện nay, vận dụng bài học kinh nghiệm về chỉ đạo chiến tranh với tinh thần độc lập tự chủ, đúng đắn, sáng tạo của Đảng ta trong cuộc tiến công chiến lược năm 1972 đặt ra yêu cầu phải có sự chỉ đạo chủ động quyết đoán, kịp thời, phối hợp nhịp nhàng giữa ba mặt đấu tranh quân sự, chính trị, ngoại giao để đạt được mục tiêu chiến lược. Sự phối hợp giữa ba mặt đấu tranh được thể hiện ở giữ vững ổn định về chính trị kết hợp với xây dựng tiềm lực an ninh, quốc phòng vững chắc và đẩy mạnh hội nhập quốc tế, trong đó có đối ngoại quốc phòng. Đối ngoại quốc phòng có nhiệm vụ: “Đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn quan hệ hợp tác song phương với các đối tác, đặc biệt là các đối tác chiến lược, đối tác toàn diện và các đối tác quan trọng khác, tạo thế đan xen lợi ích và tăng độ tin cậy. Chủ động, tích cực tham gia các cơ chế đa phương về quốc phòng, an ninh theo tư duy mới về bảo vệ Tổ quốc”[2].

Thắng lợi của cuộc tiến công chiến lược 1972 và giải phóng Quảng Trị là một minh chứng tiêu biểu thể hiện năng lực lãnh đạo nhạy bén, sắc sảo của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng, sự sáng tạo, quyết đoán của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng trong quá trình phân tích, nắm bắt thời cơ cũng như khi triển khai và điều hành chiến dịch, chọn hướng tiến công chiến lược, sử dụng lực lượng và hình thức tác chiến thích hợp để giành được thắng lợi. Thắng lợi của hướng tiến công chiến lược Trị-Thiên và giải phóng Quảng Trị cùng với những thắng lợi quân sự trong năm 1972 đã làm thay đổi cục diện chiến tranh, “đánh cho Mỹ cút”, tạo điều kiện, thời cơ tiến lên “đánh cho ngụy nhào” giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Những bài học kinh nghiệm rút ra từ cuộc tiến công chiến lược 1972 vẫn còn nguyên giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc, cần được tiếp tục vận dụng linh hoạt, hiệu quả trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay./.


[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 28, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003, tr.174.

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.163.

 

 

TA CHỦ ĐỘNG KẾT HỢP HIỆU QUẢ GIỮA CÁC MẶT ĐẤU TRANH CHÍNH TRỊ, QUÂN SỰ, NGOẠI GIAO, TẠO NÊN SỨC MẠNH

TỔNG HỢP GIÀNH THẮNG LỢI

Trung Lập

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, ba mặt trận quân sự, chính trị và ngoại giao có quan hệ mật thiết, tác động lẫn nhau, hỗ trợ cho nhau, cùng thúc đẩy sự nghiệp cách mạng phát triển mạnh mẽ đến thắng lợi. Ban Chấp hành Trung ương Đảng chỉ rõ: “Đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị ở miền Nam là nhân tố chủ yếu quyết định thắng lợi trên chiến trường, làm cơ sở cho thắng lợi trên mặt trận ngoại giao. Chúng ta chỉ có thể giành được trên bàn hội nghị những cái mà chúng ta đã giành được trên chiến trường”[1]. Ngày 30-3-1972, cuộc tiến công chiến lược bắt đầu diễn ra và ngày càng quyết liệt. Song tại Paris, cuộc đấu tranh ngoại giao của ta vẫn đang trong giai đoạn bế tắc, đế quốc Mỹ và ngụy quyền Sài Gòn ngoan cố đòi hỏi những điều khoản có lợi cho chúng. Vì vậy, để thúc đẩy và giành được một giải pháp vững chắc trên bàn đàm phán, Ban Chấp hành Trung ương Đảng chủ trương đẩy mạnh hơn nữa tiến công trên mặt trận quân sự, đặc biệt phải giành cho được thắng lợi lớn trong tháng 5 và tháng 6-1972.

Với vai trò là hướng tiến công chiến lược chủ yếu, Mặt trận Trị-Thiên có nhiệm vụ hết sức nặng nề, vừa phải phối hợp tác chiến nhịp nhàng, chặt chẽ với các chiến trường khác để đạt được mục tiêu chiến lược đề ra, vừa phải phục vụ nhiệm vụ chính trị, kết hợp với đấu tranh ngoại giao để giành thắng lợi trên bàn đàm phán. Thực hiện chủ trương của trên, từ cuối tháng 4-1972, Chiến dịch tiến công Trị-Thiên được đẩy mạnh và ngày 2-5-1972, quân và dân ta đã giải phóng hoàn toàn tỉnh Quảng Trị.

Cùng thời gian đó, các Chiến dịch tiến công Bắc Tây Nguyên, Chiến dịch tiến công Nguyễn Huệ thực hiện được một phần cơ bản ý định chiến lược, góp phần làm thay đổi cục diện chiến trường. Những thắng lợi liên tiếp của quân và dân miền Nam đã cổ vũ quân và dân miền Bắc chiến đấu và giành thắng lợi trong cuộc đọ sức với đế quốc Mỹ trong trận “Điện Biên Phủ trên không” cuối năm 1972. Điều kiện và thời cơ cho cuộc đấu tranh trên bàn đàm phán tại Hội nghị Paris của ta ngày càng chín muồi.

Phát huy thắng lợi trên chiến trường, Bộ Chính trị đẩy mạnh đấu tranh ngoại giao trên bàn Hội nghị Paris, buộc Mỹ phải đàm phán theo hướng giải quyết toàn bộ vấn đề về chiến tranh Việt Nam. Ngày 27-1-1973, chính quyền Mỹ buộc phải ký kết hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam. Hiệp định Paris được ký kết là thành quả rực rỡ của sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vĩ đại, của cuộc đấu tranh, đấu trí kiên quyết, sáng tạo trên ba mặt trận quân sự, chính trị, ngoại giao.

Bài học kinh nghiệm được rút ra là ba mặt đấu tranh quân sự, chính trị và ngoại giao đều có vai trò quan trọng, quan hệ mật thiết, thúc đẩy, tác động lẫn nhau hướng tới mục tiêu giành thắng lợi hoàn toàn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Trong điều kiện đối tượng, đối tác đan xen như hiện nay, vận dụng bài học kinh nghiệm về chỉ đạo chiến tranh với tinh thần độc lập tự chủ, đúng đắn, sáng tạo của Đảng ta trong cuộc tiến công chiến lược năm 1972 đặt ra yêu cầu phải có sự chỉ đạo chủ động quyết đoán, kịp thời, phối hợp nhịp nhàng giữa ba mặt đấu tranh quân sự, chính trị, ngoại giao để đạt được mục tiêu chiến lược. Sự phối hợp giữa ba mặt đấu tranh được thể hiện ở giữ vững ổn định về chính trị kết hợp với xây dựng tiềm lực an ninh, quốc phòng vững chắc và đẩy mạnh hội nhập quốc tế, trong đó có đối ngoại quốc phòng. Đối ngoại quốc phòng có nhiệm vụ: “Đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn quan hệ hợp tác song phương với các đối tác, đặc biệt là các đối tác chiến lược, đối tác toàn diện và các đối tác quan trọng khác, tạo thế đan xen lợi ích và tăng độ tin cậy. Chủ động, tích cực tham gia các cơ chế đa phương về quốc phòng, an ninh theo tư duy mới về bảo vệ Tổ quốc”[2].

Thắng lợi của cuộc tiến công chiến lược 1972 và giải phóng Quảng Trị là một minh chứng tiêu biểu thể hiện năng lực lãnh đạo nhạy bén, sắc sảo của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng, sự sáng tạo, quyết đoán của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng trong quá trình phân tích, nắm bắt thời cơ cũng như khi triển khai và điều hành chiến dịch, chọn hướng tiến công chiến lược, sử dụng lực lượng và hình thức tác chiến thích hợp để giành được thắng lợi. Thắng lợi của hướng tiến công chiến lược Trị-Thiên và giải phóng Quảng Trị cùng với những thắng lợi quân sự trong năm 1972 đã làm thay đổi cục diện chiến tranh, “đánh cho Mỹ cút”, tạo điều kiện, thời cơ tiến lên “đánh cho ngụy nhào” giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Những bài học kinh nghiệm rút ra từ cuộc tiến công chiến lược 1972 vẫn còn nguyên giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc, cần được tiếp tục vận dụng linh hoạt, hiệu quả trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay./.


[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 28, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003, tr.174.

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.163.

 

 

CHỦ ĐỘNG TỔ CHỨC VÀ ĐIỀU HÀNH CHIẾN DỊCH ĐÚNG ĐẮN,

SÁNG TẠO, KỊP THỜI XOAY CHUYỂN CỤC DIỆN CUỘC CHIẾN TRANH TRONG CUỘC TIẾN CÔNG CHIẾN LƯỢC XUÂN HÈ 1972

 

Hoa Súng

Giữa năm 1971, Quân ủy Trung ương họp, xác định chủ trương mở cuộc tiến công chiến lược trên chiến trường miền Nam trong năm 1972. Đầu năm 1972, khi thời cơ chiến lược ngày càng đến gần, Quân ủy Trung ương quyết định đánh địch bằng ba đòn chiến lược: Đòn tiến công của bộ đội chủ lực trên những hướng và chiến trường có lợi; đòn tiến công và nổi dậy ở các vùng nông thôn đồng bằng quan trọng; đòn tiến công của phong trào đấu tranh chính trị ở đô thị. Ngày 11-3-1972, Thường vụ Quân ủy Trung ương quyết định chính thức phương án tiến hành cuộc tiến công chiến lược năm 1972. Cụ thể: Chiến trường Trị-Thiên là hướng tiến công chiến lược chủ yếu; chiến trường Đông Nam Bộ và Tây Nguyên cùng với Khu 5 là hướng phối hợp. Quyết tâm đó được Bộ Chính trị thông qua ngày 23-3-1972. Theo đó, Chiến dịch Trị-Thiên được Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương xác định là một chiến dịch quy mô lớn, một chiến dịch hiệp đồng binh chủng, một chiến dịch tổng hợp cả về quân sự và chính trị, có nhiệm vụ quan trọng là tiêu diệt lực lượng quân sự địch, nhất là quân chủ lực và phương tiện chiến tranh, làm cho lực lượng đối phương bị tổn thất nặng nề, phương tiện, tinh thần chiến đấu suy sụp, làm thay đổi so sánh lực lượng có lợi cho ta. Phương châm chỉ đạo chiến dịch là: Phải nắm thật vững vấn đề đánh tiêu diệt, không cho địch co cụm lớn; phối hợp chặt chẽ giữa các hướng, giữa đòn tiến công quân sự với nổi dậy của quần chúng và đòn binh vận. Đối với chỉ huy tác chiến: Phải kiên quyết, chủ động, cơ động linh hoạt, chắc thắng nhưng rất táo bạo; vừa tiêu diệt, vừa làm tan rã địch, lấy tiêu diệt là chủ yếu; tiêu diệt địch và phá vỡ phòng tuyến địch có trọng điểm, đồng thời đánh thọc sâu táo bạo; kết hợp tiến công quân sự với nổi dậy của quần chúng để làm đảo lộn thế trận của địch; luôn luôn có lực lượng dự bị mạnh, có vật chất dự trữ, phát huy sức cơ động của bộ đội; vừa tác chiến, vừa củng cố.

Để đủ sức thực hiện và hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ chiến lược, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng chủ động tập trung một khối binh lực lớn trên hai hướng Quảng Trị và Thừa Thiên (quân số khoảng hơn 4 sư đoàn). Tháng 6 và tháng 7-1972, Bộ Quốc phòng tiếp tục điều động Sư đoàn 320, Sư đoàn 312 và Sư đoàn 325 vào tăng cường cho chiến trường Quảng Trị. Đây là những sư đoàn chủ lực có sức mạnh lớn, khả năng cơ động nhanh đã được rèn luyện, trưởng thành qua thực tiễn. Nhiệm vụ của các khối chủ lực được Bộ Chính trị nhấn mạnh: Tiêu diệt một số sư đoàn chủ lực ngụy, đồng thời đến lúc nào đó sẽ tập trung phát huy sức mạnh của quả đấm chủ lực cùng với lực lượng địa phương đẩy mạnh tấn công và nổi dậy đánh bại âm mưu bình định của địch, thúc đẩy phong trào thành thị thành cao trào. Với khối binh lực mạnh đó, quân và dân ta bất ngờ tiến công, phá tan hệ thống phòng ngự kiên cố, vững chắc của địch, làm chủ chiến trường ngay từ đầu chiến dịch.

Phát huy sức mạnh tổng hợp ba thứ quân, lực lượng vũ trang địa phương, được tăng cường một số đơn vị chủ lực, chủ động luồn sâu, vu hồi đánh chia cắt chiến dịch, gây rối loạn sau lưng địch, diệt ác, phá kìm, hỗ trợ cho quần chúng nổi dậy đấu tranh, góp phần vào thắng lợi. Hoạt động của lực lượng vũ trang địa phương khiến địch rối loạn, rút bỏ hàng loạt căn cứ, như: Dốc Miếu, Quán Ngang, Bến Ngự, Cửa Việt... tạo điều kiện cho quần chúng nổi dậy giải phóng hai huyện Gio Linh và Cam Lộ. Ở hai huyện Triệu Phong và Hải Lăng, lực lượng vũ trang địa phương phối hợp với Trung đoàn 27 và một bộ phận bộ binh cơ giới mở mũi vu hồi thọc sâu, vừa tiêu diệt địch chia cắt chiến dịch, vừa diệt ác phá kìm, hỗ trợ cho quần chúng nhân dân nổi dậy, góp phần giải phóng hoàn toàn vùng đồng bằng Quảng Trị. Sau khi giải phóng Quảng Trị, lực lượng vũ trang địa phương (Tiểu đoàn 3 và Tiểu đoàn 8 của Quảng Trị và lực lượng an ninh vũ trang, tự vệ của thị xã) đã phối hợp với bộ đội chủ lực kiên cường chiến đấu chốt giữ các mục tiêu phòng ngự, các trận địa, đánh bại các đợt tiến công của địch.

Trải qua gần 3 tháng tiến công liên tục (ngày 30-3 đến 27-6-1972), Chiến dịch tiến công Trị-Thiên giành được thắng lợi. Kết quả, chỉ tính riêng Mặt trận Trị-Thiên, ta đã tiêu diệt 83.790 tên, bắt 3.685 tên, thu và phá hủy 922 khẩu pháo các loại, 1.181 xe tăng, bắn rơi 714 máy bay, phá hủy nhiều kho tàng, vũ khí, trang bị của địch. Thắng lợi của chiến dịch có ý nghĩa chiến lược, toàn diện, lần đầu tiên giải phóng hoàn toàn một tỉnh ở miền Nam, tiêu diệt một bộ phận quan trọng lực lượng chủ lực cơ động của địch. Chiến dịch tiến công Trị-Thiên và giải phóng Quảng Trị đánh dấu bước phát triển của lực lượng vũ trang miền Nam trong tác chiến hiệp đồng binh chủng quy mô lớn. Đồng thời, từng binh chủng đã phát huy tối đa khả năng, sở trường của mình, tạo ra sức đột kích mạnh, tốc độ tiến công nhanh, có khả năng thực hiện thọc sâu, chia cắt, hình thành những mũi vu hồi lợi hại. Từ Chiến dịch tiến công Trị-Thiên đặt ra yêu cầu về tổ chức chỉ huy, phải kịp thời phát triển quy mô, tổ chức phù hợp với quy mô tác chiến. Thực tiễn trong những năm 1973-1975, các quân đoàn 1, 4, 2, 3 được thành lập để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975.

Để đáp ứng nhiệm vụ bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới, vận dụng bài học lịch sử từ cuộc tiến công chiến lược năm 1972, nhất là kinh nghiệm về tổ chức và điều hành chiến dịch, trong đó có sử dụng và phát huy sức mạnh tác chiến hiệp đồng binh chủng, Quân đội nhân dân Việt Nam được xây dựng theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, có tổ chức biên chế hợp lý về số lượng, bảo đảm về chất lượng, hiệu quả trong chiến đấu. Việc tổ chức biên chế, cơ cấu lực lượng quân binh chủng được xây dựng cẩn trọng, khoa học, đồng bộ, phù hợp với điều kiện thực tiễn, có thể phát huy tối đa được sức mạnh tổng hợp trong mọi tình huống. Cán bộ, chiến sĩ toàn quân luôn chủ động, tích cực học tập nâng cao trình độ mọi mặt, nhận thức rõ đường lối quân sự của Đảng, yêu cầu nhiệm vụ cách mạng, nhiệm vụ của quân đội; cảnh giác trước âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, phi chính trị hóa quân đội. Các cơ quan, đơn vị trong toàn quân thực hiện ba đột phá, tạo sự chuyển biến về tổ chức, biên chế; huấn luyện và đào tạo; xây dựng chính quy, chấp hành kỷ luật, pháp luật của bộ đội và cải cách hành chính quân sự; coi trọng huấn luyện đồng bộ, chuyên sâu, sát thực tế chiến đấu./.

 

 

ĐẢNG TA CHỦ ĐỘNG NẮM BẮT THỜI CƠ MỞ CUỘC

TIẾN CÔNG CHIẾN LƯỢC 1972 TRÊN TOÀN MIỀN NAM

 

Hoa Súng

Sau gần ba năm triển khai chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” và “Học thuyết Níchxơn” ở Đông Dương, đế quốc Mỹ chẳng những không giành được thắng lợi có tính chất bước ngoặt mà ngày càng lún sâu vào tình thế khó khăn. Cuộc chiến tranh kéo dài đã tác động trực tiếp đến tình hình kinh tế, chính trị, xã hội, khiến nội bộ giới chức cầm quyền cũng như giữa chính quyền và nhân dân Mỹ chia rẽ nghiêm trọng trước thềm cuộc bầu cử tổng thống vào năm 1972. Song với bản chất ngoan cố, chính quyền Mỹ vẫn cố gắng tìm kiếm thắng lợi quân sự nhằm giành ưu thế về ngoại giao để kết thúc chiến tranh theo kịch bản của Mỹ. Tại miền Nam Việt Nam, những thất bại quân sự liên tiếp trong những năm 1970-1971, đẩy quân đội Mỹ-ngụy và quân đánh thuê vào thế bị động, từ chủ động mở các cuộc hành quân tiến công chiến lược lui về phòng ngự chiến dịch và chiến lược, kéo theo mâu thuẫn giữa chính quyền Mỹ với ngụy quyền Sài Gòn cũng như trong nội bộ ngụy quyền, ngụy quân Sài Gòn diễn ra gay gắt. Lực lượng quân sự của địch trên các chiến trường giảm sút cả về số lượng lẫn suy yếu về tinh thần. Chương trình “bình định” đang đứng trên bờ vực phá sản. Phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân ở các đô thị diễn ra khá sôi nổi, quyết liệt bằng nhiều hình thức phong phú, có khí thế tiến công, đánh dấu một bước biến chuyển về chất lượng, gây rối loạn hậu phương, hậu cứ của địch.

Về phía ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân và dân ta vẫn nắm quyền chủ động và phát triển cuộc kháng chiến theo hướng thuận lợi. Con đường chi viện chiến lược từ hậu phương miền Bắc ngày càng vươn dài đến chiến trường miền Nam. Đồng thời với cách mạng Việt Nam, cách mạng Campuchia và Lào có những bước tiến mới, góp phần mở rộng vùng căn cứ liên hoàn, vững chắc giữa ba nước Đông Dương. Vị thế và uy tín của Việt Nam trong quan hệ quốc tế được củng cố và mở rộng, nhận được đồng tình ủng hộ mạnh mẽ của các nước xã hội chủ nghĩa cùng nhân dân tiến bộ thế giới. Nhìn chung, tương quan so sánh thế và lực giữa ta và địch ngày càng chênh lệch, nghiêng hẳn về phía ta, nhiều điều kiện thuận lợi mới đã xuất hiện cả về lực lượng, thế bố trí, tinh thần của quân và dân.

Trên cơ sở phân tích, đánh giá khách quan, toàn diện thực tiễn chiến trường cũng như tình hình thế giới, khu vực có liên quan, Ban Chấp hành Trung ương Đảng nhận định: Ta đang ở thế thắng, thế thuận lợi, thế đi lên, mặc dù còn có những khó khăn và nhược điểm cần khắc phục; địch đang ở thế thua, thế khó khăn, thế đi xuống, mặc dù chúng đang còn có lực lượng và có những chỗ mạnh nhất định; và nếu ta đánh mạnh đồng loạt trên toàn chiến trường thì lực lượng của chúng sẽ bị co kéo và phân tán hơn nữa. Trong công điện ngày 29-11-1971, gửi Trung ương Cục về đánh giá tình hình phong trào đấu tranh chính trị ở Sài Gòn và nhiệm vụ năm 1972, đồng chí Lê Duẩn dự đoán: Năm 1972 là năm cách mạng miền Nam có thời cơ lớn để chuyển sang một bước ngoặt, một giai đoạn mà quy luật chiến tranh cách mạng của ta, quy luật nổi dậy và tiến công, tiến công và nổi dậy, làm chủ để tiêu diệt địch, tiêu diệt địch để làm chủ, có khả năng phát huy tác dụng đầy đủ nhất của nó, với tất cả quy mô và sức mạnh của nó. Từ đó, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam quyết định mở cuộc tiến công chiến lược trên toàn chiến trường miền Nam trong năm 1972, trong đó có hướng tiến công chủ yếu Trị-Thiên, nhằm tạo ra một chuyển biến căn bản cho cuộc kháng chiến. Mục đích của cuộc tiến công chiến lược nhằm giành thắng lợi quân sự quyết định trên chiến trường, buộc Mỹ phải chấp nhận các điều kiện của ta ở Hội nghị Paris.

Quyết tâm chiến lược và kết quả cuộc tiến công quân sự của quân và dân ta ở miền Nam, đặc biệt thắng lợi tại chiến trường Trị-Thiên, giải phóng Quảng Trị gây bất ngờ cho đế quốc Mỹ và ngụy quyền Sài Gòn. Thắng lợi của cuộc tiến công chiến lược 1972 và giải phóng Quảng Trị là minh chứng cho tư duy chỉ đạo chiến lược nhạy bén, sắc sảo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, trực tiếp là Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng; sự lãnh đạo sáng tạo, kiên quyết của Đảng ủy và Bộ tư lệnh Chiến dịch. Đảng ta luôn phân tích, lượng định khách quan tình hình, sát với thực tiễn để hạ quyết tâm mở cuộc tiến công chiến lược vào thời điểm có lợi nhất trên một hướng chiến lược quan trọng và giành thắng lợi quyết định. Đây là bài học kinh nghiệm quý báu được Đảng ta một lần nữa vận dụng linh hoạt, sáng tạo trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Ngày nay, trước những diễn biến phức tạp, khó lường của tình hình thế giới, khu vực, kinh nghiệm về chủ động nắm bắt thời cơ trong cuộc tiến công chiến lược 1972 vẫn còn nguyên giá trị trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Kế thừa và vận dụng sáng tạo kinh nghiệm đó, yêu cầu đặt ra đối với toàn Đảng, toàn quân và toàn dân là cần phải nắm chắc địch, đánh giá đúng so sánh lực lượng, kịp thời chuyển hóa thế trận, phương thức tác chiến phù hợp. Nắm chắc địch là phải thấy rõ được bản chất, âm mưu, các thủ đoạn của các thế lực thù địch trên mọi phương diện, trong mọi tình huống; đánh giá đúng đối tượng để rút ra những kết luận khách quan, xử trí kịp thời các tình huống, đặc biệt trong những thời điểm có tính chất bước ngoặt về chiến lược. Muốn vậy, phải quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng về bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Từ đó không ngừng bồi dưỡng, nâng cao hiệu quả năng lực dự báo, tham mưu chiến lược về quân sự, quốc phòng, phù hợp với khả năng của đất nước và đối tượng tác chiến, không để bị động, bất ngờ; phát huy tốt vai trò nòng cốt của quân đội trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, vai trò của cả hệ thống chính trị trong xây dựng "thế trận lòng dân", thế trận phòng thủ cơ bản quân khu và khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố ngày càng vững chắc, phù hợp với sự phát triển của điều kiện kinh tế, xã hội, góp phần tăng cường tiềm lực quốc phòng, sức mạnh phòng thủ đất nước./.