Thứ Tư, 31 tháng 1, 2018

KHÔNG THỂ CÓ QUÂN ĐỘI TRUNG LẬP VỀ CHÍNH TRỊ
Không phải hiện nay chúng ta mới biết đến luận điệu “quân đội phải trung lập về chính trị”, bởi nó đã từng xuất hiện trong thời kỳ diễn ra cuộc cách mạng Nga lần thứ nhất. Khi đó, để đối phó với sự xung đột quyết liệt giữa tuyệt đại đa số nhân dân lao động Nga với chính phủ Nga hoàng, bọn tôi tớ của nền chuyên chế Nga hoàng đã ra sức tuyên truyền về “tính trung lập của quân đội, về sự cần thiết phải giữ cho quân đội đứng ngoài chính trị”. Từ thực tiễn nước Nga khi đó, V.I.Lênin cho rằng, đó là sự lừa đảo, dối trá của chính phủ Nga hoàng. Để phản bác lại sự lừa dối này, V.I.Lênin đã chứng minh bằng thực tiễn lịch sử cho tất cả binh sĩ và quần chúng lao động Nga đã được giác ngộ chính trị thấy rõ: “Cả Đảng Dân chủ - lập hiến lẫn chính phủ đều theo đuổi những lợi ích riêng trong vấn đề quân đội. Bọn sát nhân cần đến quân đội làm công cụ tàn sát. Bọn tư sản tự do chủ nghĩa cần đến quân đội để bảo vệ nền quân chủ tư sản…”. Với dẫn chứng về việc, trong thực tế giai cấp tư sản “bao giờ cũng đã lôi kéo quân đội vào chính trị phản động”, V.I.Lênin đưa ra kết luận rằng: “Quân đội không thể và không nên trung lập. Không lôi kéo quân đội vào chính trị - đó là khẩu hiệu của bọn tôi tớ giả nhân giả nghĩa của giai cấp tư sản…”; nếu có ai hoặc lực lượng nào tuyên truyền, cổ xúy cho luận điệu: “quân đội phải trung lập về chính trị”, thì đó chỉ là sự “che giấu những nguyện vọng thật sự của giai cấp tư sản”. Đó không chỉ là thực tế tồn tại trong lịch sử nước Nga từ những năm đầu thế kỷ 20. Cả lý luận và thực tiễn lịch sử xã hội có giai cấp đối kháng và chế độ người bóc lột người trước đó cho thấy: nhà nước và quân đội đều là sản phẩm của xã hội có giai cấp; giai cấp nào đương quyền lãnh đạo xã hội cũng đều tìm cách nắm lực lượng vũ trang, mà trực tiếp là quân đội và sử dụng quân đội như một công cụ bạo lực hữu hiệu duy nhất để tiến hành đấu tranh giai cấp, bảo vệ và mở rộng lợi ích của giai cấp đó.
Trong lịch sử xã hội cận, hiện đại và đương đại, các đảng chính trị cầm quyền đều thông qua nhà nước để nắm lấy quân đội nhằm thực hiện mục tiêu chính trị của đảng mình. Đó không phải là ngoại lệ đối với các nước lựa chọn thể chế chính trị xã hội chủ nghĩa, mà rất phổ biến ở các nước đi theo thể chế chính trị tư bản chủ nghĩa. Hiện tại, chủ nghĩa tư bản tuy đã có nhiều thay đổi để thích ứng với tình hình, còn nhiều tiềm năng phát triển, nhưng về bản chất vẫn là chế độ áp bức, bóc lột và bất công, theo đó thì đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc vẫn tiếp tục diễn ra gay gắt, quyết kiệt hơn giữa giai cấp tư sản với các lực lượng tiến bộ khác bị giai cấp tư sản áp bức, bóc lột. Trước tình hình như vậy, để đối phó với lực lượng tiến bộ và bảo vệ lợi ích của mình, giai cấp tư sản sẽ còn phải sử dụng lực lượng vũ trang, chủ yếu là quân đội làm công cụ bạo lực.
Ngày nay, mặc dù ở các nước tư bản chủ nghĩa đang duy trì thể chế đa đảng, các đảng chính trị luôn đấu tranh với nhau rất gay gắt để nắm chính quyền và thông qua chính quyền để lãnh đạo xã hội, nhưng trong thực tế, chỉ có các đảng chính trị được sự hậu thuẫn của các tập đoàn tư bản độc quyền mới có lực và cơ hội để nắm được chính quyền; vì thế, tính nhất nguyên về chính trị của nhà nước tư sản không bao giờ mất đi, cho dù đảng này hay đảng khác (đại diện cho các nhóm, tập đoàn khác nhau của giai cấp tư sản) giành được quyền lãnh đạo xã hội. Do vậy, dù đảng chính trị nào nắm chính quyền, quân đội của các nước này vẫn là công cụ chủ yếu để bảo vệ quyền lợi tối cao của giai cấp tư sản. Theo đó, quân đội ở đây là một bộ phận cấu thành của nhà nước tư sản, được nhà nước tư sản chu cấp nuôi dưỡng, quản lý và sử dụng, nên mục tiêu chiến đấu, chức năng, nhiệm vụ, cơ chế quản lý đối với các quân đội đó hoàn toàn phụ thuộc vào quan điểm và mục tiêu chính trị của giai cấp lãnh đạo nhà nước tư sản. Vì thế, quân đội ở các nước này bao giờ cũng luôn là lực lượng chính trị, mang bản chất chính trị của nhà nước tư sản. Trong thực tế lịch sử, quân đội của nhà nước tư sản không chỉ được sử dụng để bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc mình, mà còn được sử dụng để đàn áp sự phản kháng của nhân dân lao động ở ngay trong nước mình và nhất là ở các nước mà họ tiến hành chiến tranh xâm lược. Thực tiễn lịch sử cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân ta chống lại sự xâm lược, ách thống trị của thực dân Pháp, phát xít Nhật và đế quốc Mỹ đã chứng minh quá rõ bản chất chính trị của quân đội các nước này - thứ chính trị tư sản đặc sệt. Vậy là, trong thực tế đã không có và sẽ không thể có quân đội “phi chính trị”, “trung lập về chính trị”, đứng ngoài nhà nước, hay không phụ thuộc giai cấp nào như người ta đang rao giảng và ảo tưởng.
Vì vậy, thế lực nào cho rằng, quân đội trung lập về chính trị là quan điểm sai trái. Đó là hành vi xuyên tạc, chống phá sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc ở nước ta. Hành động này tuy không mới, nhưng được tiến hành dưới chiêu bài thực hiện quyền dân chủ, bởi từ lâu không ít thế lực thù định của cách mạng nước ta đã tranh thủ mọi cơ hội, tìm mọi cách làm suy giảm từng bước, tiến tới xóa bỏ hoàn toàn sự lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam với mục đích cuối cùng phải đạt được của chúng là xóa bỏ cho được chế độ xã hội chủ nghĩa mà Đảng và nhân dân ta lựa chọn, đã phải đổi bằng xương máu của nhiều thế hệ người Việt Nam trong các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất giang sơn và ngày nay trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, chúng ta đang phấn đấu vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh”.
Thực tiễn hơn 73 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, quân đội ta chỉ duy nhất gắn liền với sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ ngày đầu thành lập, “Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân” đã được tổ chức theo nguyên tắc lấy chi bộ đảng làm hạt nhân lãnh đạo. Tuy đã có một số lần thay đổi cơ chế lãnh đạo, nhưng nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp, về mọi mặt đối với quân đội luôn được thực hiện nghiêm túc, nhất quán. Nhờ đó, quân đội ta không ngừng trưởng thành, lớn mạnh, trở thành đội quân “bách chiến, bách thắng”, góp phần quan trọng vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thời kỳ đổi mới. Cái giá phải trả khi từ bỏ nguyên tắc mácxit về xây dựng quân đội cách mạng ở Liên Xô, cũng như bài học về xây dựng lực lượng vũ trang Việt Nam những năm đầu sau Cách mạng Tháng Tám luôn nhắc nhở chúng ta rằng, trong mọi hoàn cảnh phải kiên trì quan điểm: Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với lực lượng vũ trang nói chung, Quân đội nhân dân nói riêng, là nguyên tắc cơ bản, bất di bất dịch. Mọi suy nghĩ và hành động xa rời sự lãnh đạo của Đảng đều làm cho Quân đội ta mất phương hướng hành động, biến chất về chính trị, do đó Quân đội sẽ đứng ngoài cuộc đấu tranh vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Lịch sử hình thành và phát triển của Quân đội ta đã khẳng định rõ ràng điều đó, vì thế không chấp nhận bất cứ lý do gì và cũng chẳng có thế lực nào có quyền đòi hỏi phải thay đổi cơ chế lãnh đạo, quản lý đối với lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam nói chung, Quân đội nhân dân nói riêng. Để đấu tranh vạch trần sự dối trá, lừa bịp từ các quan điểm sai trái về xây dựng quân đội kiểu mới đang diễn ra hiện nay, một mặt, chúng ta cần phải gắn kết chặt chẽ giữa nâng cao tinh thần cảnh giác với nâng cao ý thức chính trị và trách nhiệm công dân trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của mọi công dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mặt khác, càng phải coi trọng xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, trên cơ sở đó xây dựng quân đội vững mạnh toàn diện. Chỉ có như vậy mới là bảo đảm vững chắc để quân đội ta luôn kiên định mục tiêu kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; đảm bảo cho Quân đội ta luôn là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân trong công cuộc xây dựng và bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ.
TRUNG LẬP
TẠI SAO CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ
CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM LÀ CHÍNH NGHĨA
Chân lý không có gì quý hơn độc lập tự do trong lịch sử và hiện tại, trong lý luận và thực tiễn đã chứng minh một tinh thần nhân văn, nhân đạo cao cả, không gì thay thế được, chân lý ấy có ý nghĩa dân tộc, ý nghĩa thời đại sâu sắc như thế tại sao lại gọi là "phi nhân tính" được. Chỉ có những người không có lương tâm trong sáng, không biết đề cao phẩm giá con người, mất đi lòng tự trọng, tự tôn dân tộc mới trắng trợn xuyên tạc lịch sử đến như vậy mà thôi. Chính nước Mỹ đã đưa hàng triệu thanh niên Mỹ sang Việt Nam tham chiến, nhiều lính Mỹ đã bỏ mạng trên chiến trường. Di chứng của chiến tranh còn tác động lâu dài đến nước Mỹ ngày nay, thế mà chính tại nước Mỹ nhà cầm quyền Mỹ lại lớn tiếng cho rằng những người Mỹ chết trận ở Việt Nam là nạn nhân của chủ nghĩa cộng sản. Thử hỏi nếu chính phủ Mỹ không đưa binh lính Mỹ với những vũ khí tối tân, hiện đại nhất của nước Mỹ sang Việt Nam bắn giết hàng triệu đồng bào, chiến sĩ Việt Nam vô tội và cướp đi sinh mạng hàng vạn thanh niên Mỹ. Những nạn nhân đó của chiến tranh do chính giới cầm quyền Mỹ hiếu chiến gây ra sao lại đổ lỗi cho chủ nghĩa cộng sản gây ra. Những người Mỹ yêu nước chân chính tự họ sẽ tìm ra một câu trả lời xác đáng đâu là “phi nhân tính” thực sự.
Cùng với những luận điệu xuyên tạc lịch sử về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nêu trên, ngày nay bọn cơ hội chủ nghĩa còn tung ra nhiều luận điệu xuyên tạc lịch sử, phủ địch con đường cách mạng Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn - con đường cách mạng xã hội chủ nghĩa. Họ tìm cách hạ thấp, xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, Nhà nước; nói xấu, hạ thấp uy tín của các đồng chí lãnh tụ. Chúng ta phải tỉnh táo phát hiện và đề phòng những âm mưu, thủ đoạn thâm độc ấy, phải có khả năng tự miễn dịch trong mỗi tổ chức, mỗi con người.
Thế kỷ thứ XX là thế kỷ dân tộc Việt Nam giương cao ngọn cờ đấu tranh cho độc lập dân tộc, đi tiên phong trong phong trào đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân cũ và mới. Biết bao thế hệ con người Việt Nam đã hy sinh xương máu, công sức để làm nên sự nghiệp vĩ đại, giải phóng dân tộc, mở đường đưa dân tộc đi vào hàng các dân tộc tiền phong trên thế giới. Thế kỷ thứ XXI những người Việt Nam tiếp nhận di sản của những con người Việt Nam trong thế kỷ thứ XX để lại, quyết đem trí tuệ, sức lực, ý chí tự lực, tự cường, cần cù, chịu khó, biết chắt chiu từng cơ hội để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội trên đất nước ta. Đó là cách tốt nhất để đấu tranh và đấu tranh có hiệu quả với những quan điểm sai trái, thù địch đang chống lại Đảng, Nhà nước, cách mạng Việt Nam. Đó là nhiệm vụ của mỗi chúng ta.
TRUNG LẬP


          CẢNH GIÁC VỚI NHỮNG LUẬN ĐIỆU THÙ ĐỊCH,
                             PHẢN ĐỘNG VỀ BIỂN ĐÔNG
                                                                            
Thời gian gần đây, trên các trang mạng xã hội tiếp tục xuất hiện những bình luận trái chiều về tình hình biển Đông, chủ trương chính sách, nguyên tắc giải quyết vấn đề chủ quyền biển, đảo của Đảng và Nhà Nước ta hiện nay. Trong đó đáng chú ý có luận điệu cho rằng “theo Mỹ mất đảng, còn đảo”. Cũng theo luận điệu này, đã có kẻ rêu rao rằng, thời gian qua, do Đảng và Nhà nước ta quá mềm yếu, nhu nhược về chính sách ngoại giao, nhất là với Trung Quốc, nên để tình hình tranh chấp biển, đảo có xu hướng bất lợi, để Trung Quốc ngang ngược lấn chiếm, gây hấn với lực lượng chấp pháp và bà con ngư dân trên vùng biển nước ta. Việt Nam cần dựa vào nước thứ ba có sức mạnh về quân sự, kinh tế và ảnh hưởng quốc tế, thì Trung Quốc sẽ không dám đụng đến chủ quyền của Việt Nam.
Những luận điệu trên đây thực chất cũng không phải mới mẻ gì, nhưng điều mà các thế lực thù địch, phản động thông qua những luận điệu kiểu này muốn hướng tới đó là: “muốn bảo vệ được chủ quyền Quốc gia dân tộc, nhất là chủ quyền ở biển Đông trong tình hình hiện nay, nhất thiết phải thay đổi chế độ, xóa bỏ sự lãnh đạo độc quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam”, theo họ, làm được như vây Việt Nam mới có điều kiện thuận lợi để tiếp nhận viện trợ từ các nước tư bản khác đứng đầu là Mỹ  có tiềm lực kinh tế, quân sự mạnh và ảnh hưởng quốc tế để giúp Việt Nam bảo vệ chủ quyền quốc gia.
Đó thực sự là những luận điệu lợi dụng tình hình phức tạp ở biển Đông đang diễn ra hiện nay, để lừa bịp không ít người nhẹ dạ, cả tin, nhưng bản thân nội dung trong các luận điệu trên chứa đựng những nội dung thể hiện rõ âm mưu không những thù địch, phản động mà còn hết sức thâm độc đó là đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đưa nước ta đi theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản thì mới bảo vệ được chủ quyền quốc gia ở biển Đông. Đây là luận điệu hết sức phản động và thù địch, chúng ta cần kiên quyết đấu tranh bác bỏ!
Những thành tựu đạt được của hơn 30 năm đổi mới vừa qua đã tiếp tục khẳng định những bài học và kinh nhiệm trong thời kỳ đấu tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc vẫn còn nguyên giá trị, đó là vấn đề về tự lực, tự cường, dựa vào sức mình là chính, đó là sự thắng lợi của đường lối chính trị, quân sự độc lập, tự chủ sáng tạo của Đảng ta. Đó là sự kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại. Những bài học kinh và nghiệm quý đó tiếp tục được  nhân rộng và phát huy trong tình hình mới. Đảng ta tiếp tục khẳng định: Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế; vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh… Tích cực hợp tác cùng các nước, các tổ chức khu vực và quốc tế …chủ động, kiên quyết đấu tranh, làm thất bại mọi âm mưu, hành động can thiệp vào công việc nội bộ, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh quốc gia và ổn định chính trị của Việt Nam.Thúc đẩy giải quyết các vấn đề còn tồn tại về biên giới, lãnh thổ, ranh giới biển và thềm lục địa với các nước liên quan trên cơ sở nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế và khu vực; làm tốt công tác quản lý biên giới, xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác cùng phát triển. Cùng cố, phát triển quan hệ hợp tác, hữu nghị truyền thống với các nước láng giềng có chung biên giới. Kiên quyết lập trường, quan điểm không liên minh với nước khác để chống lại nước thứ ba.
Lịch sử thế giới hiện đại trong những năm vừa qua cũng đã chứng minh rằng, bất kể quốc gia, dân tộc nào chủ trương bảo vệ thể chế, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của mình mà dựa dẫm vào các thế lực ngoại bang đều đi đến đến kết cục là mất ổn định tình hình an ninh, chính trị, xã hội. Sự mất ổn định đó lại là mảnh đất “màu mỡ” cho chủ nghĩa khủng bố, tội phạm phát triển, thế rồi thậm chí là nội chiến, chiến tranh liên miên nổ ra chưa có hồi kết, tàn phá nghiêm trọng đất nước. Trong không ít những quốc gia, dân tộc đang từng ngày, từng giờ phải hứng chịu những khổ đau của chiến tranh đó đã từng và đang diễn ra sự can thiệp và lệ thuộc vào Mỹ. Quân đội Mỹ với vũ khí vô cùng hiện đại đã hiện diện trên các quốc gia này nhưng chưa hề và chưa bao giờ bảo vệ sự bình yên của người dân các nước nơi họ có hoạt động quân sự mà tình hình diễn biến dường như là ngược lại, giống như kiểu “đổ thêm dầu vào lửa”, ngọn lửa của chiến tranh và chết chóc ngày càng bùng phát giữ dội. Điều ao ước bình dị của những người dân nước này về hòa bình ngày càng trở lên xa vời.
Nhưng điều tôi muốn nói trên đây để một lần nữa khẳng định cái luận điệu “theo Mỹ mất đảng, còn đảo” là cực kỳ thù địch, phản động. Điều đó được khẳng định thông qua chính những sự kiện lịch sử và hiện thực đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Luận điệu thù địch, phản động này về bản chất cũng chính là âm mưu nằm trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đang điên cuồng chống phá cách mạng Việt Nam. 
                                                                                                            ĐỨC BÁCH




Chủ Nhật, 28 tháng 1, 2018

NHẬN DIỆN KẺ ĐỊCH XUYÊN TẠC VỀ
QUỐC PHÒNG - AN NINH CỦA VIỆT NAM
Thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình” chống phá Việt Nam, các thế lực thù địch xác định lĩnh vực quốc phòng - an ninh và lực lượng vũ trang là một trong những mục tiêu trọng yếu phải tập trung phá hoại, làm suy yếu. Tham vọng ngông cuồng và ảo tưởng của họ là nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với lĩnh vực quốc phòng - an ninh và lực lượng vũ trang. “Phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang, làm cho lực lượng vũ trang xa rời mục tiêu, lý tưởng, mất phương hướng chính trị, không thực hiện đúng chức năng luôn là mục tiêu xuyên suốt của các thế lực thù địch. Vì thế, chúng tập trung phá hoại bằng nhiều thủ đoạn hết sức đa dạng, tinh vi và thâm độc, trong đó, thông tin xuyên tạc về lĩnh vực quốc phòng - an ninh, mà trọng điểm là quân đội và công an đang được sử dụng như một công cụ hữu hiệu để thực hiện mưu đồ trên.
Những thông tin và luận điệu xuyên tạc liên quan đến lĩnh vực quốc phòng - an ninh mà các thế lục thù địch tung ra hoàn toàn là những thông tin vu khống, bịa đặt, không đúng sự thật về tình hình quốc phòng - an ninh của đất nước. Đó là những thông tin không có căn cứ khoa học, thực tiễn, hoặc là những thông tin, luận điệu dựa trên những sự kiện quốc phòng - an ninh có thật, đã và đang diễn ra nhưng được lập luận theo lối xảo trá, “đánh lận con đen”, thêu dệt, thổi phồng một cách vụng về, nhằm xuyên tạc bản chất, hướng người nghe, người đọc đến những suy diễn tiêu cực, kích động người tiếp nhận thông tin tiến hành các hoạt động biểu tình, chống phá gây mất trật tự an ninh, an toàn xã hội.
Nội dung thông tin và luận điệu xuyên tạc trên lĩnh vực quốc phòng - an ninh hiện nay hết sức đa dạng, với nhiều biểu hiện khác nhau, nhưng không khó nhận diện. Chủ yếu vẫn là: đòi “phi chính trị hóa” Quân đội và Công an, phủ nhận nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với lực lượng vũ trang và sự nghiệp quốc phòng, an ninh; tuyên truyền xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng về công tác quốc phòng, an ninh, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, nhất là “thế trận lòng dân”; xuyên tạc mục đích của các hợp đồng mua bán vũ khí, trang bị cho Quân đội và Công an, quy kết rằng: Việt Nam tăng cường tiềm lực quốc phòng - an ninh để chống lại một nước thứ ba, khơi mào cho một cuộc chạy đua vũ trang trong khu vực; xuyên tạc mục đích các chuyến thăm của lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước và Quân đội ta tới các nước và nguyên thủ các nước tới thăm Việt Nam, nhất là chuyến thăm tới các nước lớn; xuyên tạc, bóp méo tình hình khiếu kiện, mất ổn định và cách giải quyết của lãnh đạo, chính quyền ở một số địa phương; xuyên tạc lịch sử và thực trạng tình hình biên giới, hiện trạng trên biển. Thậm chí, chúng còn dàn dựng những tình huống va chạm với cảnh sát giao thông để quay phim, chụp ảnh rồi tuyên truyền xuyên tạc bản chất sự việc. Chúng đặc biệt chú ý đến trạng thái tâm lý của quân và dân ta, của dư luận xã hội để tuyên truyền, xuyên tạc vị trí, chức năng, nhiệm vụ của Quân đội và Công an; đặt lợi ích kinh tế đối lập với lợi ích quốc phòng - an ninh; đối lập giữa hai nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhằm phủ định vai trò của quốc phòng, an ninh trong sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta, v.v.
Không khó để nhận thấy lực lượng tiến hành các hoạt động thông tin và đưa ra những luận điệu xuyên tạc trên lĩnh vực quốc phòng - an ninh gồm cả những đối tượng phản động trong nước và ngoài nước, những kẻ cơ hội chính trị, thành phần bất mãn với chế độ, những kẻ ham lợi ích vật chất, bị thế lực thù địch móc nối, mua chuộc, dụ dỗ. Bên cạnh đó, cũng có một số người do kém hiểu biết, bị thiếu thông tin chính thống hoặc người có hiểu biết nhưng bàng quan và thiếu ý thức chính trị đã có những hành động, phát ngôn không đúng, vô tình tiếp tay tuyên truyền cho các thế lực thù địch, phản động.
Để thực hiện các hoạt động tuyên truyền xuyên tạc, ngoài việc sử dụng các phương tiện truyền thống, hiện nay chúng triệt để lợi dụng in-tơ-nét với các trang mạng của một số đài nước ngoài phát tiếng Việt, đặc biệt là Facebook và Blog (với khả năng siêu kết nối, Facebook đang là lựa chọn số một cho hoạt động tuyên truyền, xuyên tạc của chúng). Đối tượng chúng hướng đến để tuyên truyền những thông tin, luận điệu xuyên tạc là các tầng lớp nhân dân, nhưng trọng tâm, trọng điểm là giới trẻ (thanh niên, học sinh, sinh viên) nhằm tạo lập lực lượng đối lập với Đảng, Nhà nước ta.
Các hoạt động thông tin và luận điệu xuyên tạc trên lĩnh vực quốc phòng - an ninh được tiến hành ở mọi thời điểm, nhưng cường độ cao và quyết liệt nhất vẫn là vào các ngày lễ lớn của dân tộc, khi diễn ra sự kiện chính trị quan trọng của đất nước, các hoạt động đối ngoại, nhất là đối ngoại quốc phòng - an ninh, hoặc khi tình hình an ninh, chính trị - xã hội, tình hình biên giới, biển, đảo có những diễn biến phức tạp, nhạy cảm.
Mục đích của những thông tin và luận điệu xuyên tạc đó là làm xấu hình ảnh của Quân đội và Công an trước nhân dân, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nhằm tạo ra sự nghi ngờ, gây tâm lý hoang mang trong nhân dân, làm xói mòn niềm tin của nhân dân vào đường lối lãnh đạo, cách thức giải quyết sự việc liên quan đến quốc phòng - an ninh của Đảng và Nhà nước ta. Đồng thời, truyền bá tư tưởng, đạo đức, lối sống phương Tây vào Quân đội, Công an, làm cho cán bộ, chiến sĩ mơ hồ, lơi lỏng nhiệm vụ, rơi vào lối sống thực dụng, từng bước tác động nhằm làm phai nhạt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, xa rời bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc và truyền thống tốt đẹp của "Bộ đội Cụ Hồ". Cùng với các hoạt động khác, mục tiêu cuối cùng của chúng là phủ định sự lãnh đạo của Đảng ta đối với Quân đội và Công an, vô hiệu hóa Quân đội, Công an khi đất nước có biến động.

HƯỚNG DƯƠNG
KẺ THÙ TUYÊN TRUYỀN CHỐNG ĐẢNG, NHÀ NƯỚC TA 
Trong những năm qua, khi Đảng và Nhà nước ta đang tiến hành đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức và lối sống, những biểu hiện của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong Đảng và xã hội, thì các thế lực thù địch, phần tử cơ hội, những kẻ tự xưng là “đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền tại Việt Nam” lại đưa lên các trang mạng, blog hoặc dưới dạng “thư ngỏ” hàng ngàn tin, bài có nội dung quan điểm sai trái, độc hại, tiến hành các hoạt động xuyên tạc, chống phá; chúng cho rằng cuộc đấu tranh chống tham nhũng chẳng qua là cuộc “đấu đá” nội bộ, nhóm lợi ích mới cướp (lại) nhóm lợi ích cũ… nhằm kích động tâm lý bất mãn của người dân trước thực trạng xã hội còn có những vấn đề chưa được giải quyết, nhằm hạ thấp uy tín của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chúng kêu gào phải sao chép mô hình dân chủ phương Tây, gieo rắc các quan niệm mơ hồ, lệch lạc như: “nhân quyền cao hơn chủ quyền”, “nhân quyền không biên giới”, “lợi ích cá nhân cao hơn lợi ích cộng đồng, lợi ích quốc gia, dân tộc”
Chúng xác định phải xâm nhập vào được tư tưởng, chính trị của cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân thì sẽ có kết quả to lớn. Trong cuốn sách “Chiến thắng không cần chiến tranh” của cựu Tổng thống Mỹ R.Nixon đã khẳng định: “Mặt trận tư tưởng là mặt trận quyết định nhất, toàn bộ vũ khí của chúng ta, các hoạt động mậu dịch viện trợ, quan hệ kinh tế sẽ không đi đến đâu nếu chúng ta thất bại trên mặt trận tư tưởng. Cái sẽ có tác dụng quyết định đối với lịch sử là tư tưởng, chứ không phải là vũ khí”. Những giọng điệu mê sảng của các tổ chức, cá nhân nước ngoài thiếu thiện chí và đám “dân chủ Việt” trong nước vẫn thường cho rằng: “Việt Nam không có tự do ngôn luận”, “Việt Nam vi phạm nhân quyền”. Chúng cổ xúy cho những phần tử bất mãn, những kẻ vi phạm pháp luật thông qua quyền tự do ngôn luận, tự do lập hội, chúng kích động mỗi người dân có quyền bày tỏ chứng kiến của mình không giới hạn và liên kết với những người khác hình thành các tổ chức đối lập thoát ly khỏi sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước. Nhất là cứ sau mỗi lần các cơ quan chức năng bắt giữ, truy tố, xét xử các đối tượng vi phạm pháp luật là gần như ngay lập tức chúng tuyên bố “Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền”. Chúng thông tin một chiều về các vấn đề tiêu cực, tệ nạn xã hội, tham nhũng, lãng phí,… lấy hiện tượng quy thành bản chất, rồi thổi phồng thành những “sai lầm cố hữu” nhằm gây tác động xấu đến tư tưởng, tâm lý người dân. Không những thế, chúng còn tuyên truyền, lôi kéo, kích động các phần tử bất mãn dưới danh nghĩa các “nhà dân chủ” để tập hợp lực lượng, hòng dựng “ngọn cờ”, lập các tổ chức chống đối thông qua các trang mạng, blog cá nhân; lợi dụng phản biện xã hội để chống Đảng, chế độ, phủ nhận thành quả của sự nghiệp đổi mới đất nước. Để thực hiện mưu đồ trên, các tổ chức, cá nhân tự xưng “nhà dân chủ” viện dẫn các quy định của luật pháp quốc tế và luật pháp Việt Nam về quyền con người, nhất là quyền tự do ngôn luận, nhưng họ lại viện dẫn không đầy đủ, mang tính cắt xén, làm sai lệch bản chất của vấn đề, họ cố tình tảng lờ đi những điều khoản, quy định khác về nghĩa vụ kèm theo khi thực hiện các quyền đó. Ví dụ: trong phiên phúc thẩm Tòa án Cấp cao tại Đà Nẵng xét xử vụ án Nguyễn Ngọc Như Quỳnh về tội “Tuyên truyền chống phá Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam” theo Điều 88 Bộ luật Hình sự, các luật sư viện dẫn Điều 25 Hiến pháp Nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (năm 2013): “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình”, nhưng luật sư lại cố tình quên và không đọc hết vế còn lại của điều luật quy định là: “Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Tức là những quyền đó phải được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật.
Thực tiễn trên thế giới không quốc gia nào có quyền tự do ngôn luận, tự do tôn giáo, tự do lập hội tuyệt đối, quyền này thường bị hạn chế bởi các quy định rất chặt chẽ của pháp luật. Tại Khoản 2, Điều 29 Tuyên ngôn quốc tế về Nhân quyền năm 1948 quy định: “Trong khi hành xử những quyền tự do của mình, ai cũng phải chịu những giới hạn do luật pháp đặt ra ngõ hầu những quyền tự do của người khác cũng được thừa nhận và tôn trọng, những đòi hỏi chính đáng về đạo lý, trật tự công cộng và an lạc chung trong một xã hội dân chủ cũng được thỏa mãn”. Tại khoản 3, Điều 19, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị nhấn mạnh: “Việc thực hiện những quyền quy định tại khoản 2 điều này kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt. Do đó, việc này có thể phải chịu một số hạn chế nhất định, tuy nhiên, những hạn chế này phải được quy định trong pháp luật và là cần thiết để: a) Tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác, b) Bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của xã hội”. Trên tinh thần cơ bản của công ước quốc tế, Việt Nam công nhận và đảm bảo việc thực thi quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, mọi công dân đều có quyền bày tỏ chính kiến của mình, song quyền này phải được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật, không làm ảnh hưởng đến quyền tự do của người khác, không làm tổn hại đến lợi ích của tập thể, của quốc gia, dân tộc. Những hành vi lợi dụng các quyền này mà vi phạm pháp luật thì không chỉ Việt Nam mà bất kỳ quốc gia nào trên thế giới đều không thể chấp nhận.
Chính vì nghĩa đó nên đạo luật chống phản loạn của Mỹ quy định: “Việc viết, in, phát biểu hay phổ biến… mọi văn bản sai sự thực, có tính chất xúc phạm hay ác ý chống chính quyền đều là tội”. Bên cạnh đó, Điều 2358 Chương 115 Bộ luật Hình sự Mỹ nghiêm cấm mọi hành vi “in ấn, xuất bản, biên tập, phát thanh, truyền bá, buôn bán, phân phối hoặc trưng bày công khai bất kỳ tài liệu viết hoặc in nào có nội dung vận động, xúi giục hoặc giảng giải về trách nhiệm, sự cần thiết tham vọng hoặc tính đúng đắn của hành vi lật đổ hoặc tiêu diệt bất kỳ chính quyền cấp nào tại Mỹ bằng vũ lực hoặc bạo lực”. Còn Hiến pháp Cộng hòa Liên bang Đức Điều 18 ghi rõ: “Ai lợi dụng các quyền tự do ngôn luận, đặc biệt là tự do báo chí, tự do tuyên truyền… làm công cụ chống lại trật tự của xã hội tự do dân chủ sẽ bị tước bỏ quyền công dân”. Bản tuyên ngôn Nhân quyền và Công quyền (Pháp) quy định tại Điều XI: “Việc tự do thông đạt ý kiến và tư tưởng là một quyền hạn trong các quyền hạn rất quý của người ta. Vậy phàm công dân nào cũng có thể được tự do ngôn luận, tự do trước tác, tự do ấn loát, trừ ra khi lạm dụng quyền tự do ấy thì phải chịu trách nhiệm theo như pháp luật đã định”. Cũng giống như các nước khác trên thế giới, Việt Nam cũng đề ra những quy định pháp luật để hạn chế và ngăn chặn mọi hành vi lợi dụng các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí để xâm hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân, tiêu biểu như: Điều 79, 88, 258 Bộ luật Hình sự; Điều 6, 10, 28 Luật Báo chí; Điều 9, Nghị định 55/2001/NĐ-CP của Chính phủ “Về quản lý, cung cấp và sử dụng dịch vụ Internet”... Việc trong thời gian gần đây, cơ quan chức năng có những hình thức xử lý đối với các cá nhân như: Nguyễn Hữu Vinh, Nguyễn Hữu Quốc Duy, Trần Thị Nga, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh… về hành vi cố tình lợi dụng quyền tự do cá nhân nhằm xâm hại đến lợi ích chính đáng của tổ chức, cá nhân, cơ quan, Nhà nước đã cho thấy tính nghiêm minh của pháp luật.
Tại Hội nghị giao ban quản lý nhà nước của Bộ Thông tin - Truyền thông, Bộ trưởng Bộ Thông tin - Truyền thông Trương Minh Tuấn nhấn mạnh: “Chúng ta không sợ phải nói về vấn đề nhân quyền, tự do ngôn luận. Tự do ngôn luận không có nghĩa là tự do xúc phạm danh dự nhân phẩm của người khác. Tự do ngôn luận không phải là tự do xuyên tạc, bóp méo sự thật, là tự do mạo danh người khác trên mạng xã hội. Tự do ngôn luận cũng không có nghĩa là tự do bôi xấu, đưa hình ảnh dung tục, khiêu dâm, kích động bạo lực, kích động chiến tranh, kích động chia rẽ mối hận thù dân tộc. Chúng ta không cấm phát ngôn chính kiến trên google, facebook mà chỉ yêu cầu gỡ bỏ thông tin vi phạm pháp luật, xuyên tạc, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của cá nhân, tổ chức”. Vì vậy, việc đấu tranh phản bác việc lợi dụng “dân chủ”, “nhân quyền”, “dân tộc”, “tôn giáo”, nhất là tự do ngôn luận để chống phá Đảng, Nhà nước ta của các thế lực thù địch là một nhiệm vụ thường xuyên tất yếu của cả hệ thống chính trị. Để thực hiện được điều đó, cần nhận rõ các dạng quan điểm sai trái, những luận điệu thù địch để có những đối sách phù hợp. Tập trung xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh, làm tốt công tác tư tưởng trong cán bộ, đảng viên và toàn dân bằng cách tuyên truyền, tổ chức, giáo dục giác ngộ, nâng cao nhận thức của người dân trước những âm mưu thâm độc của các thế lực thù địch; đảm bảo cho họ phân biệt được đúng, sai; sàng lọc, tiếp nhận thông tin có lợi cho quốc gia, dân tộc, không tin, không cổ xúy, lan truyền những thông tin xấu, có hại cho Đảng, cho đất nước. Đồng thời, tăng cường tuyên truyền thông tin chính thống, định hướng dư luận hướng tới sự thống nhất tư tưởng và thống nhất hành động trong toàn xã hội. Tiếp tục đẩy mạnh đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực - một thứ giặc nội xâm nguy hại để giữ vững niềm tin của nhân dân, bảo vệ pháp luật, bảo vệ Đảng, chế độ XHCN.
Chúng ta tin tưởng rằng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự điều hành, quản lý tập trung thống nhất của Nhà nước, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân sẽ thực hiện thắng lợi chủ trương chủ động ngăn chặn, phản bác các thông tin, quan điểm xuyên tạc, sai trái, thù địch, góp phần làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” chống phá Việt Nam của các thế lực thù địch.
BÀN LUẬN 
BẢN CHẤT “HỘI ANH EM DÂN CHỦ”
VÀ “MẮT XÍCH” TRẦN THỊ XUÂN
“Hội Anh em dân chủ” núp dưới cái bóng gọi là “dân chủ” nhưng bản chất của hội là một tổ chức phản động có mục đích hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân, Trần Thị Xuân là một thành viên tích cực trong tổ chức phản động ấy.
Sinh ra và lớn lên tại xã Thạch Kim, huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh nhưng thời gian gần đây, Trần Thị Xuân đã có nhiều hoạt động xâm phạm nghiêm trọng đến an ninh, trật tự trên địa bàn Hà Tĩnh. Cụ thể, tháng 5-2016, thông qua một số người quen và mạng xã hội, Trần Thị Xuân đã làm quen với đối tượng Nguyễn Trung Trực, trú tại Thạch Trạch, Bố Trạch, Quảng Bình, Trưởng ban điều hành Chi hội Anh em dân chủ miền Trung (đối tượng đã bị cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Quảng Bình bắt về hành vi "Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân" vào ngày 04-8-2017).
Sau khi được kết nạp vào hội, đầu tháng 7-2016, Xuân được bầu làm Phó Ban điều hành Chi hội Anh em dân chủ miền Trung. Xuân hoạt động hội với vai trò móc nối, tuyển lựa các đối tượng khác vào tổ chức, chống phá Đảng, Nhà nước và chính quyền nhân dân các cấp, tập trung và phát triển lực lượng tại địa bàn Hà Tĩnh.
Thông qua mạng xã hội, Trần Thị Xuân đã chia sẻ các bài viết, hình ảnh của các tổ chức, cá nhân phản động, cực đoan có nội dung chống Đảng, chống Nhà nước, kêu gọi, kích động biểu tình, tổ chức hoạt động tình nguyện trong giới trẻ. Hơn nữa, với vai trò là Phó Ban điều hành”Chi hội Anh em dân chủ miền Trung”, dưới sự chỉ đạo của đối tượng “cộm cán” trong hội, được sự tài trợ, hậu thuẫn của các tổ chức phản động trong và ngoài nước, Xuân ngày càng hoạt động tích cực cho hội, thực hiện mục tiêu chung của hội là chống phá và lật đổ chính quyền. Trần Thị Xuân đã nhận tiền của tổ chức khủng bố, phản động lưu vong ở nước ngoài và các đối tượng cực đoan trong nước.
Để khuyếch trương cho cái gọi là “dân chủ” ấy, Xuân đã tham gia các hoạt động dưới danh nghĩa “vì cộng đồng”, “từ thiện”, nhưng thực chất là dùng tiền, vật chất của các tổ chức phản động lôi kéo, móc nối các đối tượng khác trên địa bàn cùng tham gia các hội, nhóm chống đối.
Trần Thị Xuân đã câu kết cùng một số đối tượng trong các tổ chức phản động như Bạch Hồng Quyền ( quê thôn Cói, xã An Đổ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam), hiện đang bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hà Tĩnh truy nã toàn quốc về tội gây rối trật tự công cộng); Hoàng Đức Bình (34 tuổi, tại xã Hưng Trung, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An), bị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Nghệ An khởi tố về tội “Chống người thi hành công vụ; lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân”, quy định tại Điều 257, 258 – Bộ luật Hình sự), tham gia tụ tập, gây rối tại huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh.
Tổ chức "Hội Anh em dân chủ" nhằm tập hợp các phần tử chống Nhà nước để tiến hành hoạt động lật đổ chính quyền nhân dân, tham gia nhiều cuộc kích động và biểu tình gây rối ở nhiều địa phương, được điều hành, chỉ đạo bởi tổ chức phản động, khủng bố ở nước ngoài. Trần Thị Xuân là một mắt xích trong đường dây “Hội Anh em dân chủ” bị cơ quan An ninh Điều tra Công an Hà Tĩnh bắt giữ, chặn đứng âm mưu hoạt động lật đổ chính quyền nhân dân. Việc bắt giữ Trần Thị Xuân được dư luận đồng tình, ủng hộ.
BÀN luận








  

Thứ Năm, 25 tháng 1, 2018

ĐẤU TRANH CHỐNG “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH” TRÊN LĨNH VỰC
CHÍNH TRỊ - TƯ TƯỞNG TRONG QUÂN ĐỘI HIỆN NAY
Trong giai đoạn hiện nay, các thế lực thù địch luôn coi nước là một trọng điểm trong chiến lược “diễn biến hòa bình”, mà mũi nhọn chống phá nhằm vào lĩnh vực chính trị - tư tưởng. Chúng công kích, xuyên tạc, phủ nhận vai trò chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước, chế độ XHCN và ra sức chống phá lực lượng vũ trang nhân dân về chính trị.
Trong đó, đối tượng hàng đầu mà chúng tập trung chống phá quyết liệt là Quân đội nhân dân Việt Nam. Với nhiều thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt để chống phá toàn diện quân đội, nhưng trước hết nhằm xoá bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với quân đội; xuyên tạc, phủ định mục tiêu, lý tưởng và bản chất, truyền thống của quân đội; phá hoại mối đoàn kết mật thiết giữa quân đội với nhân dân và tình đoàn kết quốc tế, làm cho quân đội giảm sút sức mạnh chính trị, tinh thần, không còn là lực lượng chiến đấu, lực lượng chính trị tin cậy và trung thành tuyệt đối của Đảng, Nhà nước và nhân dân.
Thực hiện đánh phá trên lĩnh vực chính trị - tư tưởng, trước hết các thế lực thù địch mưu toan làm thay đổi tư tưởng, ý thức hệ, nhằm “phi chính trị hoá” quân đội. Do đó, chúng dùng mọi thủ đoạn, phương tiện, biện pháp mà trước hết là lợi dụng ưu thế về phương tiện thông tin hiện đại, với một số lượng lớn các đài, báo và mạng internet, các trang mạng xã hội... tập trung xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; phủ nhận bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc của Quân đội nhân dân Việt Nam; phủ nhận mục tiêu chiến đấu của quân đội, hòng tạo “khoảng trống” về tư tưởng trong quân đội, từ đó tiến hành các hoạt động “lấp khoảng trống” về ý thức hệ, về tư tưởng bằng hệ tư tưởng tư sản, từng bước chuyển hoá lập trường tư tưởng vô sản sang lập trường tư tưởng tư sản, thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ quân đội, đẩy quân đội đứng ngoài chính trị, phá hoại chính trị vô sản của quân đội.
Điều nguy hiểm là chúng âm mưu tạo ra sự thờ ơ về chính trị trong cán bộ, chiến sĩ, trong đó tập trung vào đối tượng quân nhân là thanh niên, chiến sĩ mới. Bằng các thủ đoạn tuyên truyền, xuyên tạc, phủ nhận các giá trị tốt đẹp của cách mạng, của dân tộc, chúng muốn làm cho thế hệ quân nhân trẻ hiện nay quên đi quá khứ hào hùng của Đảng, của dân tộc, hấp thụ các giá trị văn hoá, tư tưởng lối sống tư sản, từ đó đối lập với các thế hệ quân nhân đi trước, quay lưng lại với cách mạng, với Đảng. Chúng còn triệt để lợi dụng những khuyết điểm, những tiêu cực trong quá trình đổi mới, hội nhập quốc tế ở nước ta để tác động vào quân đội, nhằm tạo ra những hiệu ứng tiêu cực trong một bộ phận cán bộ, chiến sĩ, làm phai nhạt dần và làm giảm sút niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước.
Để đánh phá trên lĩnh vực chính trị - tư tưởng của quân đội, các thế lực thù địch còn tìm mọi cách đưa sản phẩm phi văn hoá vào đời sống tinh thần của quân đội. Thông qua những hoạt động văn hoá - nghệ thuật, đưa trái phép tài liệu, sách báo có nội dung xấu độc vào quân đội, nhằm từng bước tác động làm suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống của quân nhân, làm phai nhạt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu vì độc lập dân tộc và CNXH, hòng từng bước tạo ra một thế hệ quân nhân có lối sống thực dụng, thích hưởng thụ, xa rời lý tưởng cách mạng. Thông qua các hoạt động văn học, nghệ thuật hướng vào những nội dung, hình thức thể hiện quan điểm tư sản, làm phai mờ dòng văn học - nghệ thuật cách mạng, kháng chiến, xoá hình tượng người chiến sĩ cách mạng hy sinh quên mình vì Tổ quốc, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, tạo dựng hình tượng người lính theo quan điểm phi giai cấp, đứng ngoài chính trị, xa lạ với chính trị của Đảng, của dân tộc.
Để thực hiện đấu tranh chống DBHB trên lĩnh vực chính trị - tư tưởng trong quân đội hiện nay đạt hiệu quả cần chú trọng tiến hành đồng bộ nhiều hoạt động mà trước hết là phải đẩy mạnh giáo dục chính trị - tư tưởng, nâng cao giác ngộ mục tiêu lý tưởng chiến đấu, xây dựng ý chí quyết tâm, rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, chiến sĩ. Nếu cán bộ, chiến sĩ có giác ngộ chính trị, bản lĩnh vững vàng, ý chí quyết tâm cao, đạo đức cách mạng trong sáng sẽ tạo sự “miễn dịch” cần thiết, tăng sức “đề kháng”, đủ để ngăn chặn, loại trừ sự thẩm thấu và xâm nhập của các luận điệu tuyên truyền xuyên tạc.
Thường xuyên giáo dục nâng cao trình độ văn hoá, khoa học kỹ thuật quân sự hiện đại, nâng cao đời sống văn hoá tinh thần cho bộ đội, tẩy trừ văn hoá phẩm xấu độc, phản động. Tích cực bồi dưỡng cán bộ, chiến sĩ nâng cao năng lực đấu tranh chống lại sự phá hoại của các thế lực thù địch trên lĩnh vực chính trị - tư tưởng thông qua  trang bị những kiến thức về lý luận, văn hoá, khoa học kỹ thuật quân sự, chuyên môn nghiệp vụ; đề phòng và khắc phục quan điểm vũ khí luận của tư tưởng quân sự tư sản, đề cao quá mức sức mạnh vũ khí, trang bị kỹ thuật công nghệ cao, dẫn đến mất lòng tin vào khả năng và sức mạnh chiến đấu của quân đội hiện nay.
Cùng với công tác giáo dục nâng cao nhận thức mọi mặt cho mọi cán bộ, chiến sĩ trong quân đội, phải thường xuyên chăm lo xây dựng các tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh gắn với xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện. Xây dựng tổ chức cơ sở đảng vững mạnh, trong sạch về chính trị, tư tưởng, tổ chức là yếu tố quan trọng hàng đầu bảo đảm sự vững chắc của trận địa chính  trị - tư tưởng xã hội chủ nghĩa trong các đơn vị quân đội. Cùng với đó, phải tăng cường xây dựng đơn vị vững mạnh thông qua tiếp tục thực hiện có hiệu quả Chỉ thị số 917/1999/CT-QP ngày 22-9-1999 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng về xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, trong đó có yêu cầu hàng đầu là vững mạnh về chính trị - tư tưởng. Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện các Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” và “Xây dựng môi trường văn hoá trong sạch, lành mạnh” ở các đơn vị quân đội.
Chú trọng tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ, chủ động kịp thời có biện pháp ngăn ngừa “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” ở các đơn vị quân đội. Công tác bảo vệ chính trị nội bộ phải nhằm bảo đảm sự trong sạch về chính trị, tư tưởng, tổ chức của tổ chức đảng và các đơn vị quân đội. Do đó, phải thường xuyên giáo dục nâng cao tinh thần cảnh giác, ý thức bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, bảo vệ quân đội cho mọi quân nhân.
Thực hiện phối hợp chặt chẽ với cáưc cơ quan tuyên truyền, văn hoá, báo chí của Đảng, Nhà nước và các tổ chức khác trong hệ thống chính trị nhằm phản bác có hiệu quả  các quan điểm sai trái, thù địch, các luận điệu tuyên truyền, lừa bịp mị dân về chính trị - tư tưởng của các thế lực thù địch. Đồng thời phối hợp chặt chẽ các hoạt động quân sự, quốc phòng với an ninh và đối ngoại; tăng cường phối hợp với tất cả các cấp, các ngành, các lực lượng trong hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương trong cuộc đấu tranh chống DBHB  nói chung và đấu tranh chống DBHB trên lĩnh vực chính trị - tư tưởng trong quân đội nói riêng.
                                                                       HOẰNG THÁO



MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ ĐẤU TRANH CHỐNG LỢI DỤNG
VẤN ĐỀ DÂN TỘC PHÁ HOẠI CÁCH MẠNG HIỆN NAY
Một là, cần nhận thức đầy đủ vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của việc bảo đảm quyền các dân tộc thiểu số trong giải quyết vấn đề dân tộc ở Việt Nam.
Bảo đảm quyền của các dân tộc thiểu số có tầm quan trọng đặc biệt đối với ổn định và phát triển của đất nước. Nó được chế định bởi điều kiện địa - chính trị, kinh tế, nhân văn, môi trường của vùng dân tộc thiểu số; bởi tính chất khó khăn, phức tạp của vấn đề dân tộc do di tồn lịch sử, giới hạn nguồn lực đầu tư, rào cản của phong tục, tập quán và trình độ phát triển, đặc biệt là hoạt động chống phá của các thế lực thù địch. Vì vậy, bảo đảm quyền của các dân tộc thiểu số không thể thực hiện nhanh chóng bằng một vài chương trình, dự án hoặc chỉ bằng can thiệp hành chính, mà phải thông qua giải pháp tổng hợp, thực hiện theo các bước phát triển ngắn hạn, trung hạn và dài hạn, giai đoạn trước tạo tiền đề phát triển cho giai đoạn sau. Đây là sự nghiệp lâu dài, gian khổ; cần nhiều nguồn lực đầu tư lớn, gồm cả nhân lực, tài lực, vật lực; cần sự tham gia của cả hệ thống chính trị, của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế; cần sự tương trợ, giúp nhau cùng phát triển giữa các dân tộc; cao nhất vẫn là khơi dậy ý thức tự lực, tự cường của bản thân đồng bào các dân tộc.
Hai là, bảo đảm quyền của các dân tộc là vấn đề liên ngành, đa ngành, từ kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội, môi trường - sinh thái, quan hệ quốc tế, quốc phòng - an ninh.
Quyền kinh tế là vấn đề trước hết cần được quan tâm, vì nó liên quan đến quyền an sinh và phát triển, quyền tiếp cận các nguồn lực một cách bình đẳng. Quyền chính trị được thể hiện ở quyền bình đẳng của công dân trong bầu cử, ứng cử, tham gia quản lý nhà nước, tham dự các nghị trình chính sách, mà ở đó tạo nguồn, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng và cơ cấu hợp lý cán bộ dân tộc thiểu số trong các cơ quan hệ thống chính trị chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng. Quyền văn hóa không chỉ có ý nghĩa bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, mà còn liên quan đến những vấn đề cốt lõi nhất cho duy trì và phát triển một cộng đồng dân tộc. Các vấn đề môi trường, sinh thái liên quan rất chặt chẽ đến quyền của các dân tộc trong bảo vệ không gian sinh tồn và phát triển của cộng đồng. Vấn đề quyền của các dân tộc thiểu số trong thế giới hiện đại không còn bó hẹp trong biên giới quốc gia mà mang tính xuyên quốc gia, kể cả chế định trong các văn kiện chính trị - pháp lý quốc tế. Chẳng hạn, Tuyên bố của Liên hợp quốc về quyền của người thuộc về các nhóm thiểu số về ngôn ngữ, tôn giáo, chủng tộc (năm 1992), Công ước khung của Hội đồng châu Âu về bảo vệ dân tộc thiểu số (năm 1995), Hiến chương về ngôn ngữ vùng hoặc thiểu số của châu Âu (năm 1994), Bản khuyến nghị Lund về sự tham gia có hiệu quả của các dân tộc thiểu số trong đời sống công cộng (năm 1999)... Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (năm 1966) đã ghi nhận rõ việc bảo vệ quyền con người và quyền của dân tộc thiểu số tại các điều 2, 4, 27. Ở các nước có nhiều nhóm thiểu số về dân tộc, tôn giáo và ngôn ngữ thì những cá nhân thuộc các dân tộc, tôn giáo, ngôn ngữ thiểu số đó, cùng các thành viên khác của cộng đồng mình, không thể bị tước bỏ quyền có đời sống văn hóa riêng, quyền được theo và thực hành tôn giáo riêng, hoặc quyền được sử dụng tiếng nói riêng...
Bảo đảm quyền của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam là công việc của nhiều chủ thể, từ Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội, doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế và toàn cộng đồng xã hội. Đó còn là việc xử lý mối quan hệ giữa tôn trọng các giá trị phổ quát được ghi nhận trong các công ước quốc tế mà Việt Nam đã cam kết với tính toán đầy đủ những đặc thù trong bảo đảm quyền cho các dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (năm 1966) ghi: “Tại những nước có nhiều nhóm dân tộc thiểu số, tôn giáo và ngôn ngữ cùng chung sống, thì những cá nhân thuộc các dân tộc, tôn giáo, ngôn ngữ và các thiểu số đó, cùng với những thành viên khác của cộng đồng mình, không thể bị tước bỏ quyền được thụ hưởng nền văn hóa riêng, quyền được thể hiện và thực hành tôn giáo riêng hoặc quyền được sử dụng tiếng nói riêng của họ”.
Phù hợp với các Công ước quốc tế về quyền con người, pháp luật Việt Nam đã ghi nhận và bảo đảm đầy đủ quyền của dân tộc thiểu số. Hiến pháp Việt Nam năm 2013 đã ghi nhận: “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quốc gia thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam. Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc. Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt. Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình. Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước” (Điều 5); Các quy định về quyền bình đẳng giữa các dân tộc trong Hiến pháp được thể chế bằng chế định về Hội đồng Dân tộc (Điều 75). Ngoài ra, quyền bình đẳng giữa các dân tộc còn được ghi nhận và cụ thể hóa trong nhiều văn bản pháp luật khác của Việt Nam, như Luật Quốc tịch năm 2008 (Điều 1) khẳng định sự bình đẳng về quyền có quốc tịch của các dân tộc thiểu số; Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (Điều 29), Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (Điều 20), Luật Tố tụng hành chính 2015 (Điều 17, Điều 21) quy định về quyền bình đẳng của mọi công dân trong tiến hành tố tụng và quyền được sử dụng tiếng nói, chữ viết của các dân tộc trong quá trình tiến hành tố tụng. Đây chính là những quy định bảo vệ quyền của người dân tộc thiểu số trong việc bảo đảm sự bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật và tòa án. Bộ luật Hình sự năm 1999 (Điều 1) xác định một trong những nguyên tắc của luật hình sự là bảo vệ quyền bình đẳng giữa đồng bào các dân tộc. Luật Bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 (Điều 8, Điều 9) quy định về sự tham gia bình đẳng của các dân tộc thiểu số vào việc bầu cử, ứng cử đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân... Về quyền giữ gìn bản sắc văn hóa, Hiến pháp năm 2013 (Điều 5) ghi rõ: “Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình; Điều 42 cũng ghi nhận: “Công dân có quyền xác định dân tộc của mình, sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ, lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp”. Trong nhiều văn bản pháp luật khác, trong đó bao gồm Bộ luật Dân sự năm 2015 (các điều 5, 7, 26, 29) quy định về việc áp dụng tập quán, chính sách đối với quan hệ dân sự, quyền có họ, tên, quyền xác định, xác định lại dân tộc. Pháp luật Việt Nam cũng ghi nhận quyền được Nhà nước hỗ trợ để phát triển về mọi mặt. Hiến pháp năm 2013 quy định: “Nhà nước, xã hội đầu tư phát triển sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc sức khỏe của nhân dân, thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân, có chính sách ưu tiên chăm sóc sức khỏe cho đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào ở miền núi, hải đảo và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn” (Điều 58); “Nhà nước ưu tiên phát triển giáo dục ở miền núi, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn...” (Điều 61). Luật Giáo dục năm 2005 (Điều 61, Điều 82) quy định về việc Nhà nước thành lập các trường phổ thông dân tộc nội trú, dân tộc bán trú, dự bị đại học cho con em dân tộc thiểu số và chính sách luân chuyển cán bộ quản lý giáo dục công tác ở các vùng dân tộc thiểu số được học tiếng dân tộc thiểu số để nâng cao chất lượng dạy và học; Luật Khám, chữa bệnh năm 2009 (Điều 4) quy định về chính sách của Nhà nước về khám, chữa bệnh cho đồng bào dân tộc thiểu số, được ưu tiên bố trí ngân sách đáp ứng nhu cầu khám bệnh, chữa bệnh cơ bản của nhân dân... Luật Hộ tịch năm 2014 quy định về thẩm quyền đăng ký thay đổi, cải chính, bổ sung hộ tịch, xác định lại dân tộc, thủ tục đăng ký thay đổi, cải chính, bổ sung hộ tịch, xác định lại dân tộc (Điều 46, Điều 47). Bộ luật Lao động năm 2012 nghiêm cấm hành vi phân biệt đối xử về dân tộc (Điều 8)... Đó là những bằng chứng thực tiễn - pháp lý sinh động cho thấy quyền của các dân tộc thiểu số đã được tôn trọng, ghi nhận, thực thi và bảo vệ.
Ba là,, mối quan hệ giữa quyền của thành viên dân tộc và quyền tập thể dân tộc. Đây là mối quan hệ rất cơ bản trong quá trình bảo đảm quyền dân tộc và đấu tranh chống lợi dụng vấn đề dân tộc của các thế lực thù địch. Quyền cá nhân con người thuộc mọi dân tộc đều bình đẳng trước pháp luật, thống nhất giữa quyền cá nhân và quyền tập thể cộng đồng dân tộc được đặt chung trong quyền của quốc gia - dân tộc. Bình đẳng về quyền con người đã được Hiến pháp năm 2013 và các luật ghi nhận đầy đủ. Tuy nhiên, do xuất phát điểm thấp, điều kiện địa lý cách biệt, các rào cản về ngôn ngữ, nên khả năng thực hiện quyền của đồng bào dân tộc thiểu số thường bị hạn chế. Bởi vậy, bảo đảm quyền này phải được ưu tiên trong các chính sách phát triển. Các quyền đều có thể được thực hiện thông qua hai hình thức: trực tiếp và gián tiếp, từ quyền chính trị, quyền văn hóa, quyền tiếp cận các nguồn lực phát triển, quyền an sinh và phát triển,... Quyền chính trị được thực hiện bằng hình thức dân chủ trực tiếp hoặc hình thức dân chủ đại diện. Trong điều kiện đa tộc người cư trú phân tán và xen kẽ, các dân tộc có trình độ và quy mô dân số khá cách biệt,... thì dân chủ đại diện đóng vai trò rất quan trọng nhằm bảo đảm quyền chính trị của các dân tộc thiểu số, thông qua lựa chọn cơ cấu những người thật sự tiêu biểu của các dân tộc vào hệ thống chính trị các cấp. Dân chủ đại diện có ưu thế trong lựa chọn được những đại biểu ưu tú tham gia các cơ cấu chính trị mà dân chủ trực tiếp không thể thay thế được và nhờ đó khắc phục những hạn chế của trình độ và quy mô dân số quá chênh lệch giữa các dân tộc, thậm chí những dân tộc có dân số rất ít, dưới 10.000 người. Thông qua phát huy hình thức dân chủ đại diện mà các dân tộc thiểu số, đặc biệt là các tộc người thiểu số có dân số ít, thực hiện quyền tham dự chính trị, qua đó phản ánh ý chí của đồng bào các dân tộc, đưa lợi ích, nguyện vọng của đồng bào vào các nghị trình, hoạt động hoạch định chính sách cũng như tổ chức thực thi chính sách có hiệu quả.
`Kết quả các cuộc bầu cử Quốc hội, Hội đồng nhân dân những kỳ gần đây cho thấy việc bảo đảm quyền tham dự chính trị của đại diện cộng đồng các dân tộc thiểu số. Ngày 09 – 6 - 2016, Hội đồng Bầu cử quốc gia đã công bố Nghị quyết về kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV. Theo đó, có 86/496 đại biểu trúng cử, tương ứng 17,30% tổng số đại biểu trúng cử, là người dân tộc thiểu số. Trong 4 nhiệm kỳ Quốc hội gần đây, tỷ lệ đại biểu Quốc hội là người dân tộc thiểu số chiếm từ 15,6% đến 17,27% (so với tỷ lệ dân số các dân tộc thiểu số chiếm 14,3% trong tổng dân số cả nước). Trong tổng số 500 đại biểu Quốc hội khóa XIII, có 78 đại biểu Quốc hội là người dân tộc thiểu số thuộc 29 dân tộc khác nhau, đến từ 26 tỉnh, thành phố (chiếm tỷ lệ 15,6%). Đại biểu là người dân tộc thiểu số tham gia Hội đồng nhân dân cấp tỉnh nhiệm kỳ 2011 - 2016 là 688 người, chiếm 18%; cấp huyện là 4.237 người, chiếm 20,1%; cấp xã là 62.383 người, chiếm 22,46%. Số lượng đại biểu Quốc hội là người dân tộc thiểu số khóa XII là 87, chiếm 17,6%. Số lượng đại biểu Quốc hội là người dân tộc thiểu số khóa XI là 86, chiếm 17,2%. Như vậy, đại biểu là người dân tộc thiểu số luôn chiếm một phần tỷ lệ lớn trong tổng số các đại biểu nói chung xét trên tổng dân số. Theo điều tra dân số cả nước tại thời điểm ngày 1-4-2009, dân số Việt Nam có 85.846.997 người, trong đó có 54 dân tộc và người nước ngoài cùng sinh sống, dân tộc Kinh có 73.594.427 người, chiếm 85,7%, các dân tộc thiểu số chiếm 14,3 % tổng dân số.
Bốn là, về giải quyết mối quan hệ giữa quyền con người với quyền công dân, quyền dân tộc - tộc người với quyền quốc gia - dân tộc của đồng bào các dân tộc thiểu số.
Đây là mối quan hệ rất cơ bản, quan trọng cần được nhận thức thấu đáo và tổ chức thực hiện nghiêm túc trong quá trình bảo đảm quyền của các dân tộc thiểu số và đấu tranh chống lợi dụng vấn đề dân tộc. Không ít cư dân các dân tộc thiểu số, nhất là các nhóm cư dân thường di cư xuyên biên giới chỉ xem trọng ý thức dân tộc - tộc người, quyền dân tộc - tộc người mà xem nhẹ ý thức công dân và quyền của quốc gia - dân tộc. Điều này thường bị các thế lực thù địch lợi dụng, cường điệu hóa ý thức dân tộc - tộc người, hạ thấp hoặc phủ nhận ý thức công dân, kích động chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa ly khai. Trong lịch sử nước ta, trong đồng bào các dân tộc đều đã hình thành và phát triển ý thức quốc gia - dân tộc, “đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt”, đều xác định “nước Việt Nam là nước chung”(5) như Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định trong Thư gửi Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam tại Plâycu (tháng 4-1946). Đó là chất keo gắn bó, đoàn kết các dân tộc trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước, cùng chung sức xây dựng nên nước Việt Nam có hình thái lãnh thổ và kết cấu đa dân tộc như ngày nay. Vì vậy, giáo dục ý thức công dân, tinh thần quốc gia - dân tộc cho các dân tộc thiểu số là một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng trong quá trình bảo đảm quyền của các dân tộc. Bởi vì, cư dân thuộc bất cứ thành phần dân tộc nào trong thời đại ngày nay cũng đều phải định cư, sinh sống, hoạt động kinh tế trong lãnh thổ quốc gia nhất định, thực hiện quyền và nghĩa vụ với một nhà nước - dân tộc nhất định. Chính trên lãnh thổ quốc gia - dân tộc và nằm dưới sự quản lý của nhà nước quốc gia - dân tộc mà thành viên của dân tộc đó trở thành công dân, có điều kiện thực hiện các quyền và nghĩa vụ chính đáng của mình. Do đó, thống nhất giữa ý thức dân tộc - tộc người với ý thức công dân, giữa quyền con người và quyền công dân, giữa quyền và nghĩa vụ là những vấn đề rất cơ bản trong quá trình bảo đảm quyền của các dân tộc thiểu số.
Năm là, về mối quan hệ giữa tính phổ biến và tính đặc thù trong bảo đảm quyền của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam.
Tính phổ biến xuất phát từ các giá trị phổ quát của quyền con người, bất luận đó là người thuộc dân tộc thiểu số hay dân tộc đa số, dân tộc thiểu số dân số lớn hay dân tộc thiểu số dân số ít, nhất là các quyền an sinh và phát triển. Tính đặc thù xuất phát từ đặc điểm vấn đề dân tộc và quan hệ dân tộc - tộc người, từ trình độ phát triển của từng dân tộc và của quốc gia - dân tộc, từ bản sắc văn hóa các tộc người thiểu số ở nước ta. Tính đặc thù có thể xem xét ở cả cấp độ quốc gia - dân tộc, cấp độ vùng và cấp độ địa phương. Ở cấp độ quốc gia, Nhà nước ghi nhận đầy đủ quyền dân tộc trong Hiến pháp, pháp luật; cơ cấu hợp lý đại diện các dân tộc trong Quốc hội, Chính phủ, các bộ/ngành; bảo đảm quyền tham gia của các dân tộc thiểu số trong hoạch định và thực thi chính sách. Tuy nhiên, chính ở cấp độ vùng và địa phương mới có điều kiện thể hiện tính đa dạng của dân tộc - tộc người, của nhóm địa phương trong quá trình triển khai thực thi các chính sách bảo đảm quyền của các dân tộc thiểu số. Trong điều kiện mô hình nhà nước đơn nhất, cần thiết phải có sự phân cấp hợp lý cho các địa phương trong hoạch định các chủ trương mang tính địa phương, để bảo đảm thể hiện được đầy đủ tính địa phương và tính dân tộc - tộc người trong mỗi chính sách quản lý và phát triển, trong cơ cấu hệ thống chính trị địa phương, sâu xa là bảo đảm tốt hơn quyền của các dân tộc thiểu số. Tại địa phương, tùy quy mô dân số dân tộc - tộc người, mức độ xen cài giữa các dân tộc thiểu số và dân tộc đa số, giữa dân tộc thiểu số tại chỗ và dân tộc mới đến, giữa dân tộc thiểu số có dân số lớn với dân tộc thiểu số có dân số ít... mà lựa chọn những mô hình quản lý và phát triển phù hợp. Hiện nay, ở tất cả các xã và thôn, làng dân tộc thiểu số, thể chế nhà nước đã được thiết lập với bộ máy khá hoàn bị. Nhưng không vì thế mà xem nhẹ vai trò của luật tục, thiết chế xã hội truyền thống trong quản lý xã hội, bản sắc văn hóa địa phương. Các thiết chế xã hội truyền thống luôn tồn tại song hành với thiết chế nhà nước, thậm chí ở nhiều nơi các thiết chế xã hội truyền thống có ảnh hưởng rất sâu đậm trong đời sống đồng bào các dân tộc. Trong bộ máy quản lý nhà nước hiện nay thôn, làng được coi là đơn vị dân cư, đơn vị xã hội cơ sở nhưng không phải là một cấp hành chính. Mỗi thôn, làng có một người đứng đầu với chức danh là “trưởng thôn”, “trưởng bản”, vừa tuân thủ luật pháp nhà nước, vừa điều hành theo luật tục trong quản lý các đơn vị dân cư, thậm chí người dân thường tự nguyện chấp hành luật tục hơn là chế tài của pháp luật. Vì thế, chú ý đầy đủ tính địa phương và tính tộc người trong mỗi chính sách quản lý và phát triển bên cạnh tăng cường tính thống nhất quản lý của chính quyền Trung ương là những vấn đề lớn cần quan tâm trong chính sách dân tộc. Bảo đảm quyền của các dân tộc thiểu số và đấu tranh chống lợi dụng vấn đề dân tộc là những vấn đề lớn cần được nhận thức, xử lý đầy đủ, thấu đáo trong thực hiện chính sách dân tộc ở nước ta hiện nay./.
BIỂN RỘNG



"DIỄN BIẾN HÒA BÌNH" CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH
TRÊN LĨNH VỰC TƯ TƯỞNG - VĂN HÓA Ở VIỆT NAM

Âm mưu cơ bản và lâu dài của các thế lực thù địch là xoá bỏ chế độ chủ nghĩa xã hội ở nước ta, xoá bỏ chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, thủ tiêu sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Những người cầm đầu nước Mỹ đã nhiều lần công khai tuyên bố rằng, đối với Việt Nam, Mỹ đã thua trong chiến tranh, bây giờ phải tìm mọi cách để thắng trong hoà bình; đã thua trên chiến trường, bây giờ phải thắng trên thị trường.
Để thực hiện âm mưu cơ bản đó, “Diễn biến hòa bình” là một chiến lược nằm trong hệ thống chiến lược phản cách mạng của chủ nghĩa đế quốc do Mỹ cầm đầu. Đây chính là “Thủ đoạn hoà bình giành thắng lợi”. Trong chiến lược này, tấn công trên mặt trận tư tưởng - văn hoá được coi là “mũi đột phá”, hòng làm tan rã niềm tin, gây hỗn loạn về lý luận và tư tưởng, tạo ra “khoảng trống” để dần dần đưa hệ tư tưởng tư sản vào nhằm đi tới xoá bỏ hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa. Cựu Tổng thống Mỹ R.Nixơn đã khẳng định: “Mặt trận tư tưởng là mặt trận quyết định nhất. Toàn bộ vũ khí của chúng ta, các hoạt động mậu dịch, viện trợ, quan hệ kinh tế sẽ không đi đến đâu nếu chúng ta thất bại trên mặt trận tư tưởng”
Để lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch cho rằng, đối với Việt Nam cần phải điều chỉnh các biện pháp và phương thức, thay đổi các thủ đoạn để tiến hành “Diễn biến hòa bình” cho thích hợp, vì tình hình Việt Nam không giống các nước Đông Âu  hay Liên Xô trước đây. Chủ trương của chúng là phá hoại trên tất cả các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, tưởng, văn hoá, xã hội, ngoại giao, khoa học, giáo dục và khi cần thì dung cả biện pháp quân sự. Tuy nhiên trọng tâm và then chốt vẫn là phá hoại về tư tưởng - văn hoá. Bởi vì chúng xác định rằng tước bỏ hệ tư tưởng của nhân dân là khâu đột phá quan trọng trong “Diễn biến hoà bình”. Đây cũng là biện pháp đỡ tốn kém tiền của, nhưng lại đạt hiệu quả cao nhất.
Do vậy, chúng tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng là Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, xuyên tạc con đường Cách mạng xã hội chủ nghĩa mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn. Các thé lực thù địch cho rằng Chủ nghĩa Mác-Lênin chỉ phù hợp với thế kỉ XIX, nay đã lạc hậu, không còn phù hợp với trình độ lực lượng sản xuất và văn hóa nước ta. Chúng cho rằng: hầu hết các nước ngày nay đều bác bỏ Chủ nghĩa Mác - Lênin, chỉ còn một vài nước "ngoan cố" (Việt Nam, Trung Quốc, Cu Ba, Triều Tiên) còn tôn thờ. Bịa đặt rằng Chủ nghĩa Mác - Lênin đưa ra các nguyên tắc: " đấu tranh giai cấp", "tập trung dân chủ"… là cổ vũ cho bạo lực, cho chiến tranh, cho độc quyên độc đoán, thủ tiêu dân chủ, không phù hợp với xu thế của thời đại, do đó không thể thúc đẩy xã hội phát triển.Chúng phủ định các nguyên ly cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin     
Cùng với đó, chúng cho rằng Hồ Chí Minh là người tiếp thu "mù quáng" chủ nghĩa Mác - Lênin chứ không hề có tư tưởng cao siêu. Du nhập chủ nghĩa Mác-Lênin  với thuyết "đấu tranh giai cấp" đã gây ra cảnh "nồi da nấu thịt" suốt mấy chục năm, đó là một sai lầm mà lịch sử không bao giờ tha thứ.
Phủ nhận mục tiêu, lí tưởng con đường đi lên chủ nghĩa xã hội: Kẻ thù phê phán triệt để, bôi đen chủ nghĩa xã hội hiện thực, bác bỏ con đường xã hội chủ nghĩa, công khai ca ngợi chủ nghĩa tư bản. Chúng lập luận rằng: "đường lối phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa là chắp vá, là không tưởng", Việt Nam đang đứng giữa ngã ba đường, không biết đi theo con đường nào. Họ đòi "lựa chọn lại" con đường mà Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân ta đã chọn.
Tấn công vào vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam và phá vỡ hệ thống chính trị của chúng ta thông qua “Tự diễn biến” trong đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý: Chúng tung ra những ấn phẩm có nội dung phê phán, phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng công khai trong cả nước. Ở nước ngoài, các nhóm phản động sống lưu vong như "Diễn đàn", "Thông luận" đã truyền qua đài BBC, RFI…chuyển về nước đòi "đổi mới triệt để", "cải tổ Đảng" xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng. Chúng lên tiếng đòi "Đảng Cộng sản Việt Nam dũng cảm làm cuộc đổi mới chính trị toàn diện và triệt để". Vu cáo Đảng Cộng sản Việt Nam chiếm quyền của nhân dân, vi phạm dân chủ, nhân quyền, "độc đoán", "đảng trị". Lợi dụng chúng ta công khai tự phê bình, đấu tranh chống tham nhũng và quan liêu…trong Đảng và trong bộ máy Nhà nước để công kích và nói xấu Đảng. Chúng thổi phồng những khuyết điểm, sai lầm của một số cá nhân đảng viên để gán cho Đảng Cộng sản đủ thứ thói tật, bệnh hoạn như: "đổ nát", "võ biền", "thất nhân tâm"…,nhằm gây nghi ngờ, chia rẽ trong nội bộ nhân dân, trong Đảng, và giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước và các lực lượng vũ trang.
Đối với cán bộ công chức nhà nước, chúng lợi dụng tình hình đời sống việc làm khó khăn để kêu gọi mọi người đấu tranh đòi cải thiện điều kiện việc làm, đòi được bảo hiểm, tăng lương hoặc bỏ cơ quan, xí nghiệp để buôn bán, làm ăn tự do. Chúng tìm cách phân hóa nội bộ, dựng chuyện vu khống gây chia rẽ mất đoàn kết.
Lợi dụng chiêu bài "dân chủ, nhân quyền, dân tộc và tôn giáo" để gây sức ép về chính trị, kích động hình thành xu hướng li khai, đối lập với Đảng Cộng sản
Mỹ và các nước Phương Tây ra sức lợi dụng chiêu bài "dân chủ", "nhân quyền" để can thiệp trắng trợn vào công việc nội bộ của Việt Nam. Chúng đưa ra chiêu bài "nhân quyền cao hơn chủ quyền", "nhân quyền không biên giới".
Hàng năm Mỹ và các nước phương Tây trực tiếp hoặc lôi kéo một số nước trình dự thảo lên án một số nước vi phạm nhân quyền, trong đó có Việt Nam, công khai trắng trợn chống Việt Nam bằng cách gây sức ép, vận động các nước Châu Âu và các nước thành viên ECOSOC không bỏ phiếu cho Việt Nam, loại Việt Nam ra khỏi Uỷ ban nhân quyền quốc tế.
Quốc hội Mỹ ban hành 7 nghị quyết vu cáo nước ta vi phạm dân chủ, nhân quyền. Đáng chú y là Hạ viện Mỹ đã thông qua Dự luật nhân quyền 2004 (HR 1587) "Dự luật nhân quyền Việt Nam năm 2005 (HR 3190)
Chính quyền trung ương Mỹ đã thao túng cho các hoạt động chống phá Việt Nam của một số chính quyền địa phương ở Mỹ: 49 thành phố, 3 quận, hạt và 3 tiểu bang cho phép treo cờ 3 sọc, 3 thành phố ra nghị quyết “không cho phép các đoàn cao cấp cộng sản Việt Nam tới thăm”. 
Về vấn đề dân tộc, khuyến khích, nuôi dưỡng các đối tượng phản động, lợi dụng vấn đề dân tộc gia tăng hoạt động tuyên truyền chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, gắn với truyền đạo trái pháp luật nhằm tranh thủ nắm quần chúng. Chúng sử dụng bọn phản động người Việt lưu vong ở nước ngoài để chống phá ta: hiện có khoảng 695 tổ chức và nhóm phản động    (“Tổ chức Nhà nước Đề ga” của Ksorkok ở Mỹ, “Uỷ ban cứu trợ vượt biên” của Nguyễn Đình Thắng ở Mỹ, “Uỷ ban bảo vệ quyền làm người” của Võ Văn Ái ở Pháp…), tiến hành móc nối với các phần tử cơ hội chính trị ở trong nước dựng lên những ngọn cờ chống ta, đưa lực lượng về Việt Nam hoạt động phá hoại, manh động.  Các thế lực thù địch đưa ra luận thuyết mới “Một quốc gia-một dân tộc” và đang có ý đồ thành lập “Vương quốc Mông” ở Tây Bắc, “Nhà nước Đề ga độc lập” ở Tây Nguyên, “Nhà nước Khơme Crôm” ở Nam Bộ và “Nhà nước Chăm độc lập” ở Nam Trung Bộ …nhằm phá vỡ sự thống nhất quốc gia Việt Nam.
Về vấn đề tôn giáo, với ý đồ sử dụng tôn giáo làm lực lượng thúc đẩy nhanh tiến trình “dân chủ hóa” nhằm thay đổi chế độ chính trị  ở Việt Nam, các thế lực thù địch đang ra sức hậu thuẫn cho các đối tượng chống đối trong tôn giáo cả về tinh thần và vật chất: Gây sức ép với ta về một số vấn đề: đòi mở lại nhà thờ ở Tây Nguyên, công nhận Tin lành ở Tây Bắc…,vu khống Việt Nam tiến hành chống đạo Tin lành…Chúng lợi dụng chính sách mở cửa của Đảng và Nhà nước, đưa hàng chục phái đoàn vào “tìm hiểu tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam” để nắm bắt tình hình, hỗ trợ, chỉ đạo các hoạt động chống phá Việt Nam. Chúng ý đồ thành lập “Uỷ ban liên tôn giáo chống cộng”, phục hồi cái gọi là “Giáo hội phật giáo Việt Nam thống nhất”, đấy mạnh truyền đạo trái phép, tách Tin Lành của người Thượng ra khỏi Tin Lành người Kinh thành “Tin lành Đề ga”. Tại Tây Bắc chúng ra sức phát triển Tin lành dưới các tên “Vàng Chứ”, “Thìn Hùng” lôi kéo được gần 5,6 vạn người ở 489 bản thuộc 119 xã của 30 huyện tham gia, trong đó có 27 đảng viên, 31 công an viên, 127 dân quân, 175 trưởng phó bản. Gần đây, hoạt động truyền đạo Tin lành vào sinh viên các trường đại học ở thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội tăng lên bất bình thường.
Lợi dụng việc toàn cầu hóa và chính sách mở cửa của Đảng và Nhà nước để gieo rắc những quan điểm, giá trị phương Tây, làm băng hoại bẳn sắc dân tộc.
Với chủ trương: “Trước mắt phải đánh vào những giá trị căn bản của nền văn hóa”; một mặt, chúng triệt để khoét sâu, lợi dụng sự suy thoái về đạo đức, lối sống về một bộ phận cán bộ, đảng viên, sự xuống cấp về văn hóa trong một bộ phận xã hội để hủy hoại các giá trị văn hóa dân tộc. Mặt khác, chúng triệt lợi dụng sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ, nhất là trong lĩnh vực viễn thong để truyền bá, gieo rắc văn hóa, lối sống tư sản, văn hóa Mỹ, văn hóa phẩm đồ trụy. Chúng ca ngợi các giá trị “tự do, dân chủ” tư sản, đề cao chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa cá nhân cực đoan chạy theo đồng tiền bằng mọi giá, lối sống sa đọa, ăn chơi hưởng lạc, hoàn toàn xa lạ với đạo đức con người xã hội chủ nghĩa, từ đó làm phai nhạt dần mục tiêu lý tưởng, tha hóa ngay trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, để làm tha hóa toàn xã hội. Đẩy mạnh các chương trình giáo dục của các quỹ Fullbright Humphey, Ford… đặt “Thư viện lưu động”, “Giá sách miễn phí”; dự án “Góc nước Mỹ” trong một số trường đại học của ta để đẩy nhanh tiến trình thâm nhập “ giá trị Mỹ” vào tầng lớp trí thức học sinh, sinh viên, văn nghệ sỹ. Đặc biệt, chúng âm mưu tạo ra “75% thành phần Chính phủ Việt Nam tốt nghiệp tại Hoa Kỳ” (Michalak phát biểu trước cộng đồng người Mỹ gốc Việt ngày 14/10/2007)
Sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng, mạng Internet, sách báo, tạp chí để tuyên truyền, xuyên tạc, kích động chống phá Đảng và Nhà nước: Với luận điểm “làn sóng điện đang thay thế thanh gươm: cây bút là phương tiện đi vào trái tim, khối óc con người”…, các thế lực thù địch triệt để lợi dụng các phương tiện thông tin chống Việt Nam: Sử dụng 52 đài phát thanh và truyền hình có chương trình Việt ngữ, 429 tờ báo và tạp chí tiếng Việt, 74 nhà xuất bản để tuyên truyền chống Việt Nam. Chỉ riêng năm 2003, ta đã phát hiện trên 7000 tài liệu chiến tranh tâm lý, hơn 50 ngàn thư ân xá quốc tế chuyển vào Việt Nam. Chúng tăng cường sử dụng Internet và sẵn sàng mở khóa cho các đối tượng để truy nhập những thông tin sai lệch, xuyên tạc do chúng đưa trên mạng. 3. Ảnh hưởng của “Diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng -văn hóa đối với nước ta
Một số cán bộ đảng viên suy giảm lòng tin đối với chủ nghĩa xã hội, thiếu niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, hoang mang, dao động, mất phương hướng. Nguy hiểm hơn, đã có một số cán bộ đảng viên muốn đi theo hướng phát triển tư bản chủ nghĩa và đáng chú ý là một số trường hợp còn tham gia vào việc truyền bá, phát tán các tài liệu có quan điểm sai trái.  Đặc biệt,trong nội bộ thời gian gần đây có nhiều bài viết, ý kiến bài bác, xuyên tạc, hạ uy tín các đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng, nhà nước, đòi xem xét lại chủ nghĩa Mác - Lênin và chỉ ra rằng đường lối của Đảng ta hiện nay và thiếu dân chủ…
                                                                                        BIỂN RỘNG