MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ ĐẤU
TRANH CHỐNG LỢI DỤNG
VẤN ĐỀ DÂN TỘC PHÁ HOẠI CÁCH MẠNG
HIỆN NAY
Một là, cần nhận thức đầy đủ vai trò, vị
trí đặc biệt quan trọng của việc bảo đảm quyền các dân tộc thiểu số
trong giải quyết vấn đề dân tộc ở Việt Nam.
Bảo đảm quyền của
các dân tộc thiểu số có tầm quan trọng đặc biệt đối với ổn định và
phát triển của đất nước. Nó được chế định bởi điều kiện địa - chính
trị, kinh tế, nhân văn, môi trường của vùng dân tộc thiểu số; bởi tính
chất khó khăn, phức tạp của vấn đề dân tộc do di tồn lịch sử, giới hạn
nguồn lực đầu tư, rào cản của phong tục, tập quán và trình độ phát triển, đặc
biệt là hoạt động chống phá của các thế lực thù địch. Vì vậy, bảo đảm
quyền của các dân tộc thiểu số không thể thực hiện nhanh chóng bằng một vài
chương trình, dự án hoặc chỉ bằng can thiệp hành chính, mà phải thông qua
giải pháp tổng hợp, thực hiện theo các bước phát triển ngắn hạn, trung hạn
và dài hạn, giai đoạn trước tạo tiền đề phát triển cho giai đoạn sau. Đây
là sự nghiệp lâu dài, gian khổ; cần nhiều nguồn lực đầu tư lớn, gồm
cả nhân lực, tài lực, vật lực; cần sự tham gia của cả hệ thống
chính trị, của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế; cần
sự tương trợ, giúp nhau cùng phát triển giữa các dân tộc; cao nhất vẫn
là khơi dậy ý thức tự lực, tự cường của bản thân đồng bào các dân
tộc.
Hai là, bảo đảm quyền của các dân tộc là
vấn đề liên ngành, đa ngành, từ kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội, môi
trường - sinh thái, quan hệ quốc tế, quốc phòng - an ninh.
Quyền
kinh tế là vấn đề trước hết cần được quan tâm, vì nó liên quan đến quyền an
sinh và phát triển, quyền tiếp cận các nguồn lực một cách bình đẳng. Quyền
chính trị được thể hiện ở quyền bình đẳng của công dân trong bầu cử, ứng
cử, tham gia quản lý nhà nước, tham dự các nghị trình chính sách,
mà ở đó tạo nguồn, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng và cơ cấu hợp
lý cán bộ dân tộc thiểu số trong các cơ quan hệ thống chính trị chiếm
một vị trí đặc biệt quan trọng. Quyền văn hóa không chỉ có ý nghĩa bảo
tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, mà còn liên quan đến những vấn đề cốt
lõi nhất cho duy trì và phát triển một cộng đồng dân tộc. Các vấn đề
môi trường, sinh thái liên quan rất chặt chẽ đến quyền của các dân tộc trong
bảo vệ không gian sinh tồn và phát triển của cộng đồng. Vấn đề quyền của các
dân tộc thiểu số trong thế giới hiện đại không còn bó hẹp trong biên giới quốc
gia mà mang tính xuyên quốc gia, kể cả chế định trong các văn kiện chính
trị - pháp lý quốc tế. Chẳng hạn, Tuyên bố của Liên hợp quốc về quyền của
người thuộc về các nhóm thiểu số về ngôn ngữ, tôn giáo, chủng tộc (năm 1992),
Công ước khung của Hội đồng châu Âu về bảo vệ dân tộc thiểu số (năm 1995), Hiến
chương về ngôn ngữ vùng hoặc thiểu số của châu Âu (năm 1994), Bản khuyến nghị
Lund về sự tham gia có hiệu quả của các dân tộc thiểu số trong đời sống công
cộng (năm 1999)... Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (năm
1966) đã ghi nhận rõ việc bảo vệ quyền con người và quyền của dân tộc thiểu số
tại các điều 2, 4, 27. Ở các nước có nhiều nhóm thiểu số về dân tộc, tôn giáo
và ngôn ngữ thì những cá nhân thuộc các dân tộc, tôn giáo, ngôn ngữ thiểu số
đó, cùng các thành viên khác của cộng đồng mình, không thể bị tước bỏ quyền có
đời sống văn hóa riêng, quyền được theo và thực hành tôn giáo riêng, hoặc quyền
được sử dụng tiếng nói riêng...
Bảo
đảm quyền của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam là công việc của nhiều chủ thể,
từ Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ
chức xã hội, doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế và toàn cộng đồng xã
hội. Đó còn là việc xử lý mối quan hệ giữa tôn trọng các giá trị phổ quát được
ghi nhận trong các công ước quốc tế mà Việt Nam đã cam kết với tính toán
đầy đủ những đặc thù trong bảo đảm quyền cho các dân tộc thiểu số ở Việt
Nam. Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (năm 1966) ghi: “Tại
những nước có nhiều nhóm dân tộc thiểu số, tôn giáo và ngôn ngữ cùng chung
sống, thì những cá nhân thuộc các dân tộc, tôn giáo, ngôn ngữ và các thiểu số
đó, cùng với những thành viên khác của cộng đồng mình, không thể bị tước bỏ
quyền được thụ hưởng nền văn hóa riêng, quyền được thể hiện và thực hành tôn
giáo riêng hoặc quyền được sử dụng tiếng nói riêng của họ”.
Phù hợp với các Công
ước quốc tế về quyền con người, pháp luật Việt Nam đã ghi nhận và bảo đảm đầy
đủ quyền của dân tộc thiểu số. Hiến pháp Việt Nam năm 2013 đã ghi nhận: “Nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quốc gia thống nhất của các dân tộc cùng
sinh sống trên đất nước Việt Nam. Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và
giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc. Ngôn
ngữ quốc gia là tiếng Việt. Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ
gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt
đẹp của mình. Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều
kiện để các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước”
(Điều 5); Các quy định về quyền bình đẳng giữa các dân tộc trong Hiến pháp được
thể chế bằng chế định về Hội đồng Dân tộc (Điều 75). Ngoài ra, quyền bình đẳng
giữa các dân tộc còn được ghi nhận và cụ thể hóa trong nhiều văn bản pháp luật
khác của Việt Nam, như Luật Quốc tịch năm 2008 (Điều 1) khẳng định sự bình đẳng
về quyền có quốc tịch của các dân tộc thiểu số; Bộ luật Tố tụng hình sự năm
2015 (Điều 29), Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (Điều 20), Luật Tố tụng hành
chính 2015 (Điều 17, Điều 21) quy định về quyền bình đẳng của mọi công dân
trong tiến hành tố tụng và quyền được sử dụng tiếng nói, chữ viết của các dân
tộc trong quá trình tiến hành tố tụng. Đây chính là những quy định bảo vệ quyền
của người dân tộc thiểu số trong việc bảo đảm sự bình đẳng của mọi công dân
trước pháp luật và tòa án. Bộ luật Hình sự năm 1999 (Điều 1) xác định một trong
những nguyên tắc của luật hình sự là bảo vệ quyền bình đẳng giữa đồng bào các
dân tộc. Luật Bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 (Điều 8, Điều 9)
quy định về sự tham gia bình đẳng của các dân tộc thiểu số vào việc bầu cử, ứng
cử đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân... Về quyền giữ gìn bản sắc văn hóa,
Hiến pháp năm 2013 (Điều 5) ghi rõ: “Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ
viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và
văn hóa tốt đẹp của mình; Điều 42 cũng ghi nhận: “Công dân có quyền xác định dân
tộc của mình, sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ, lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp”. Trong nhiều
văn bản pháp luật khác, trong đó bao gồm Bộ luật Dân sự năm 2015 (các điều 5,
7, 26, 29) quy định về việc áp dụng tập quán, chính sách đối với quan hệ dân
sự, quyền có họ, tên, quyền xác định, xác định lại dân tộc. Pháp luật Việt Nam
cũng ghi nhận quyền được Nhà nước hỗ trợ để phát triển về mọi mặt. Hiến pháp
năm 2013 quy định: “Nhà nước, xã hội đầu tư phát triển sự nghiệp bảo vệ, chăm
sóc sức khỏe của nhân dân, thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân, có chính sách ưu
tiên chăm sóc sức khỏe cho đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào ở miền núi, hải
đảo và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn” (Điều 58); “Nhà
nước ưu tiên phát triển giáo dục ở miền núi, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc
thiểu số và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn...” (Điều
61). Luật Giáo dục năm 2005 (Điều 61, Điều 82) quy định về việc Nhà nước thành
lập các trường phổ thông dân tộc nội trú, dân tộc bán trú, dự bị đại học cho
con em dân tộc thiểu số và chính sách luân chuyển cán bộ quản lý giáo dục công
tác ở các vùng dân tộc thiểu số được học tiếng dân tộc thiểu số để nâng cao
chất lượng dạy và học; Luật Khám, chữa bệnh năm 2009 (Điều 4) quy định về chính
sách của Nhà nước về khám, chữa bệnh cho đồng bào dân tộc thiểu số, được ưu
tiên bố trí ngân sách đáp ứng nhu cầu khám bệnh, chữa bệnh cơ bản của nhân
dân... Luật Hộ tịch năm 2014 quy định về thẩm quyền đăng ký thay đổi, cải
chính, bổ sung hộ tịch, xác định lại dân tộc, thủ tục đăng ký thay đổi, cải
chính, bổ sung hộ tịch, xác định lại dân tộc (Điều 46, Điều 47). Bộ luật Lao
động năm 2012 nghiêm cấm hành vi phân biệt đối xử về dân tộc (Điều 8)... Đó
là những bằng chứng thực tiễn - pháp lý sinh động cho thấy quyền
của các dân tộc thiểu số đã được tôn trọng, ghi nhận, thực thi và
bảo vệ.
Ba là,, mối quan hệ
giữa quyền của thành viên dân tộc và quyền tập thể dân tộc. Đây là mối quan hệ
rất cơ bản trong quá trình bảo đảm quyền dân tộc và đấu tranh chống lợi dụng
vấn đề dân tộc của các thế lực thù địch. Quyền cá nhân con người thuộc mọi
dân tộc đều bình đẳng trước pháp luật, thống nhất giữa quyền cá nhân
và quyền tập thể cộng đồng dân tộc được đặt chung trong quyền của
quốc gia - dân tộc. Bình đẳng về quyền con người đã được Hiến pháp năm 2013
và các luật ghi nhận đầy đủ. Tuy nhiên, do xuất phát điểm thấp, điều
kiện địa lý cách biệt, các rào cản về ngôn ngữ, nên khả năng thực hiện quyền
của đồng bào dân tộc thiểu số thường bị hạn chế. Bởi vậy, bảo đảm quyền
này phải được ưu tiên trong các chính sách phát triển. Các quyền đều
có thể được thực hiện thông qua hai hình thức: trực tiếp và gián
tiếp, từ quyền chính trị, quyền văn hóa, quyền tiếp cận các nguồn lực
phát triển, quyền an sinh và phát triển,...
Quyền chính trị được thực hiện bằng hình thức dân chủ trực tiếp hoặc hình
thức dân chủ đại diện. Trong điều kiện đa tộc người cư trú phân tán và xen kẽ,
các dân tộc có trình độ và quy mô dân số khá cách biệt,... thì dân chủ đại diện
đóng vai trò rất quan trọng nhằm bảo đảm quyền chính trị của các dân tộc thiểu
số, thông qua lựa chọn cơ cấu những người thật sự tiêu biểu của các dân
tộc vào hệ thống chính trị các cấp. Dân chủ đại diện có ưu thế trong lựa
chọn được những đại biểu ưu tú tham gia các cơ cấu chính trị mà dân chủ trực
tiếp không thể thay thế được và nhờ đó khắc phục những hạn chế của trình độ và
quy mô dân số quá chênh lệch giữa các dân tộc, thậm chí những dân tộc có dân
số rất ít, dưới 10.000 người. Thông qua phát huy hình thức dân chủ đại
diện mà các dân tộc thiểu số, đặc biệt là các tộc người thiểu số có dân số ít,
thực hiện quyền tham dự chính trị, qua đó phản ánh ý chí của đồng bào
các dân tộc, đưa lợi ích, nguyện vọng của đồng bào vào các nghị trình, hoạt
động hoạch định chính sách cũng như tổ chức thực thi chính sách có hiệu
quả.
`Kết quả các cuộc
bầu cử Quốc hội, Hội đồng nhân dân những kỳ gần đây cho thấy việc
bảo đảm quyền tham dự chính trị của đại diện cộng đồng các dân tộc
thiểu số. Ngày 09 – 6 - 2016, Hội đồng Bầu cử quốc gia đã công bố Nghị quyết
về kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV. Theo đó, có 86/496 đại biểu trúng
cử, tương ứng 17,30% tổng số đại biểu trúng cử, là người dân tộc thiểu số.
Trong 4 nhiệm kỳ Quốc hội gần đây, tỷ lệ đại biểu Quốc hội là người dân tộc
thiểu số chiếm từ 15,6% đến 17,27% (so với tỷ lệ dân số các dân tộc thiểu
số chiếm 14,3% trong tổng dân số cả nước). Trong tổng số 500 đại biểu
Quốc hội khóa XIII, có 78 đại biểu Quốc hội là người dân tộc thiểu số thuộc 29
dân tộc khác nhau, đến từ 26 tỉnh, thành phố (chiếm tỷ lệ 15,6%). Đại biểu là
người dân tộc thiểu số tham gia Hội đồng nhân dân cấp tỉnh nhiệm kỳ 2011 - 2016
là 688 người, chiếm 18%; cấp huyện là 4.237 người, chiếm 20,1%; cấp xã là
62.383 người, chiếm 22,46%. Số lượng đại biểu Quốc hội là người dân tộc thiểu
số khóa XII là 87, chiếm 17,6%. Số lượng đại biểu Quốc hội là người dân tộc
thiểu số khóa XI là 86, chiếm 17,2%. Như vậy, đại biểu là người dân tộc thiểu
số luôn chiếm một phần tỷ lệ lớn trong tổng số các đại biểu nói chung xét trên
tổng dân số. Theo điều tra dân số cả nước tại thời điểm ngày 1-4-2009, dân số
Việt Nam có 85.846.997 người, trong đó có 54 dân tộc và người nước ngoài cùng
sinh sống, dân tộc Kinh có 73.594.427 người, chiếm 85,7%, các dân tộc thiểu
số chiếm 14,3 % tổng dân số.
Bốn là, về giải quyết mối quan hệ
giữa quyền con người với quyền công dân, quyền dân tộc - tộc người với
quyền quốc gia - dân tộc của đồng bào các dân tộc
thiểu số.
Đây là mối quan hệ
rất cơ bản, quan trọng cần được nhận thức thấu đáo và tổ chức thực
hiện nghiêm túc trong quá trình bảo đảm quyền của các dân tộc thiểu
số và đấu tranh chống lợi dụng vấn đề dân tộc. Không ít cư dân các
dân tộc thiểu số, nhất là các nhóm cư dân thường di cư xuyên biên giới
chỉ xem trọng ý thức dân tộc - tộc người, quyền dân tộc - tộc người
mà xem nhẹ ý thức công dân và quyền của quốc gia - dân tộc. Điều này
thường bị các thế lực thù địch lợi dụng, cường điệu hóa ý thức dân
tộc - tộc người, hạ thấp hoặc phủ nhận ý thức công dân, kích động
chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa ly khai. Trong lịch sử nước ta,
trong đồng bào các dân tộc đều đã hình thành và phát triển ý thức
quốc gia - dân tộc, “đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột
thịt”, đều xác định “nước Việt Nam là nước chung”(5) như Chủ tịch Hồ
Chí Minh khẳng định trong Thư gửi Đại hội các dân tộc thiểu
số miền Nam tại Plâycu (tháng 4-1946). Đó là chất keo gắn bó,
đoàn kết các dân tộc trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước, cùng
chung sức xây dựng nên nước Việt Nam có hình thái lãnh thổ và kết
cấu đa dân tộc như ngày nay. Vì vậy, giáo dục ý thức công dân, tinh
thần quốc gia - dân tộc cho các dân tộc thiểu số là một nhiệm vụ
đặc biệt quan trọng trong quá trình bảo đảm quyền của các dân tộc.
Bởi vì, cư dân thuộc bất cứ thành phần dân tộc nào trong thời đại ngày
nay cũng đều phải định cư, sinh sống, hoạt động kinh tế trong lãnh
thổ quốc gia nhất định, thực hiện quyền và nghĩa vụ với một nhà
nước - dân tộc nhất định. Chính trên lãnh thổ quốc gia - dân tộc và
nằm dưới sự quản lý của nhà nước quốc gia - dân tộc mà thành viên
của dân tộc đó trở thành công dân, có điều kiện thực hiện các quyền
và nghĩa vụ chính đáng của mình. Do đó, thống nhất giữa ý thức dân
tộc - tộc người với ý thức công dân, giữa quyền con người và quyền công
dân, giữa quyền và nghĩa vụ là những vấn đề rất cơ bản trong quá
trình bảo đảm quyền của các dân tộc thiểu số.
Năm là, về mối quan
hệ giữa tính phổ biến và tính đặc thù trong bảo đảm quyền của các
dân tộc thiểu số ở Việt Nam.
Tính phổ biến xuất
phát từ các giá trị phổ quát của quyền con người, bất luận đó là
người thuộc dân tộc thiểu số hay dân tộc đa số, dân tộc thiểu số dân
số lớn hay dân tộc thiểu số dân số ít, nhất là các quyền an sinh và
phát triển. Tính đặc thù xuất phát từ đặc điểm vấn đề dân tộc và
quan hệ dân tộc - tộc người, từ trình độ phát triển của từng dân
tộc và của quốc gia - dân tộc, từ bản sắc văn hóa các tộc người
thiểu số ở nước ta. Tính đặc thù có thể xem xét ở cả cấp độ quốc
gia - dân tộc, cấp độ vùng và cấp độ địa phương. Ở cấp độ quốc gia,
Nhà nước ghi nhận đầy đủ quyền dân tộc trong Hiến pháp, pháp luật;
cơ cấu hợp lý đại diện các dân tộc trong Quốc hội, Chính phủ, các
bộ/ngành; bảo đảm quyền tham gia của các dân tộc thiểu số trong
hoạch định và thực thi chính sách. Tuy nhiên, chính ở cấp độ vùng
và địa phương mới có điều kiện thể hiện tính đa dạng của dân tộc -
tộc người, của nhóm địa phương trong quá trình triển khai thực thi
các chính sách bảo đảm quyền của các dân tộc thiểu số. Trong điều
kiện mô hình nhà nước đơn nhất, cần thiết phải có sự phân cấp hợp
lý cho các địa phương trong hoạch định các chủ trương mang tính địa
phương, để bảo đảm thể hiện được đầy đủ tính địa phương và
tính dân tộc - tộc người trong mỗi chính sách quản lý và
phát triển, trong cơ cấu hệ thống chính trị địa phương, sâu xa là bảo
đảm tốt hơn quyền của các dân tộc thiểu số. Tại địa phương, tùy quy
mô dân số dân tộc - tộc người, mức độ xen cài giữa các dân tộc thiểu
số và dân tộc đa số, giữa dân tộc thiểu số tại chỗ và dân tộc mới
đến, giữa dân tộc thiểu số có dân số lớn với dân tộc thiểu số có
dân số ít... mà lựa chọn những mô hình quản lý và phát triển phù
hợp. Hiện nay, ở tất cả các xã và thôn, làng dân tộc thiểu số, thể chế nhà
nước đã được thiết lập với bộ máy khá hoàn bị. Nhưng không vì thế mà xem nhẹ
vai trò của luật tục, thiết chế xã hội truyền thống trong quản lý
xã hội, bản sắc văn hóa địa phương. Các thiết chế xã hội truyền thống
luôn tồn tại song hành với thiết chế nhà nước, thậm chí ở nhiều nơi các thiết
chế xã hội truyền thống có ảnh hưởng rất sâu đậm trong đời sống đồng
bào các dân tộc. Trong bộ máy quản lý nhà nước hiện nay thôn, làng được coi
là đơn vị dân cư, đơn vị xã hội cơ sở nhưng không phải là một cấp hành chính.
Mỗi thôn, làng có một người đứng đầu với chức danh là “trưởng thôn”, “trưởng
bản”, vừa tuân thủ luật pháp nhà nước, vừa điều hành theo luật tục
trong quản lý các đơn vị dân cư, thậm chí người dân thường tự nguyện
chấp hành luật tục hơn là chế tài của pháp luật. Vì thế, chú ý đầy
đủ tính địa phương và tính tộc người trong mỗi chính
sách quản lý và phát triển bên cạnh tăng cường tính thống nhất quản
lý của chính quyền Trung ương là những vấn đề lớn cần quan tâm trong
chính sách dân tộc. Bảo đảm quyền của các dân tộc thiểu số và đấu
tranh chống lợi dụng vấn đề dân tộc là những vấn đề lớn cần được
nhận thức, xử lý đầy đủ, thấu đáo trong thực hiện chính sách dân
tộc ở nước ta hiện nay./.
BIỂN RỘNG