Thứ Năm, 28 tháng 2, 2019

CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH XUYÊN TẠC
HỘI NGHỊ THƯỢNG ĐỈNH MỸ - TRIỀU
Hội nghị thượng đỉnh Mỹ - Triều lần thứ 2 giữa Tổng thống Donald Trump và nhà lãnh đạo Kim Jong Un diễn ra tại Thủ đô Hà Nội từ ngày 27-28/02/2019 liên quan đến vấn đề phi hạt nhân hóa trên Bán đảo Triều tiên đang nhận được sự quan tâm của đông đảo dư luận trong nước và quốc tế. Tuy nhiên, lợi dụng sự kiện chính trị trọng đại này các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước dường như đang tức tối, chúng tìm mọi cách liên kết với nhau để thực hiện mưu đồ đen tối, nhằm phá hoại sự kiện chính trị được cả thế giới đặc biệt quan tâm này. Những ngày vừa qua trên mạng xã hội đã xuất hiện một số tài khoản kêu gọi người dân tham gia biểu tình, khiếu kiện, gây rối làm mất an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở một số địa phương. Không loại trừ chúng thực hiện các hoạt động khủng bố để gây tiếng vang, tạo sự chú ý của thế giới biết đến Việt Nam như là một nước “bất ổn về chính trị”, nhằm hạ uy tín của Việt Nam trên chính trường Quốc tế. Điển hình là tiến sĩ, doanh nhân Nguyễn Quang A là một tên cơ hội chính trị, thành viên bọn CCCĐ muốn khom lưng quỳ gối làm thân trâu ngựa cho ngoại bang, đã hội tụ bầy đàn 100 tên "trí thức lưu manh" - "dân chủ cuội" viết kiến nghị - chửi thuê, khóc mướn - gửi Tổng thống Mỹ Donald Trump, kêu đòi can thiệp vào công việc nội bộ Việt Nam. Việc làm này rõ ràng là phản bội Tổ quốc. Vì vậy, mọi người dân cần phải hết sức đề cao tinh thần cảnh giác, tránh không để những thông tin xiên tạc, bịa đặt trên mạng xã hội tác động dẫn đến bị lôi kéo, kích động tập trung đông người, biểu tình, khiếu kiện gây mất an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Phải nhận thức đúng đắn về ý nghĩa tầm quan trọng của Hội nghị Thượng đỉnh Mỹ Triều cũng như chủ trương, đường lối chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước ta về công tác đối ngoại. Qua đó góp phần bảo vệ sự bình yên đất nước và hình ảnh đất nước, con người Việt Nam hòa bình, thân thiện, hiếu khách trong cộng đồng Quốc tế.
                                                                                                                                                              HN


LẠI MỘT TRÒ MÈO CỦA VIỆT TÂN
Trên các trang mạng xã hội phản động và RFA, VOA Tiếng Việt, Việt Tân phát tán tài liệu “Đảng Việt Tân và đấu tranh bất bạo động”. Trong đó, ca ngợi những ai tham gia “cuộc đấu tranh chính nghĩa” của Việt Tân là “những người chân chính”, góp phần “xây dựng một nước Việt Nam dân chủ, phát triển”. Cần phải nói ngay rằng, đó chỉ là trò mèo, kích động, “thọc gậy bánh xe”, nhằm gây mất an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, chống phá Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Việt Tân trong khi vị thế của Việt Nam đang được nâng lên trên trường quốc tế. Hẳn không nói chắc các vị trong ban lãnh đạo về cái gọi là “Đảng Việt Tân”cũng đã hiểu, thiết tưởng không cần nhắc lại. Đó là hiện thực khách quan của một nước đang trên đà phát triển dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam!
Trước hết, cần làm rõ thế nào là một cuộc đấu tranh chính nghĩa và phi nghĩa. Cả lý luận và thực tiễn đã chứng minh, tính chất của cuộc đấu tranhđược quy định bởi mục đích của nó. Ở Việt Nam,cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược theo con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là chính nghĩa. Vì, mục tiêu của nó là giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người, đưa người dân Việt Nam từ thân phận nô lệ thành người làm chủ xã hội, làm chủ cuộc sống của mình. Thực chất, đó là cuộc đấu tranh cho khát vọng của độc lập, thống nhất đất nước, quyền được sống, quyền được làm người, được sống trong tự do, hạnh phúc của cả dân tộc Việt Nam. Vì thế, cuộc đấu tranh ấy đã phát huy được sức mạnh tổng hợp của dân tộc và thời đại, cuốn phăng bè lũ cướp nước và bán nước. Và chính vì thế, đất nước Việt Nam đã giành được độc lập, thống nhất, người dân Việt Nam đã trở thành người chủ thực sự, quyết định vận mệnh phát triển của đất nước và chính mình. Hiện nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, cả dân tộc Việt Nam lại tiếp tục cuộc đấu tranhđể thực hiện khát vọng “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, góp phần vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Đó là cuộc đấu tranhchính nghĩa, đấu tranh vì quyền con người.
Vậy, cái gọi là “đấu tranh cho chính nghĩa” của “Việt Tân” là gì? Để làm rõ điều đó, chúng ta cần nhìn thấu mục đích của Việt Tân là nhằm muốn đưa dân tộc Việt Nam chạy theo các giá trị tư bản chủ nghĩa, rồi trở thành thuộc địa của bọn thực dân, đế quốc, mà trước hết là nhằm gây mất an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, phá hoại công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta. Thực chất là chúng muốn phá hoại con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội và mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn. Đó là cuộc đấu tranh phi nghĩa, chống lại sự ổn định, hòa bình, phát triển của nhân dân Việt Nam cũng như của nhân loại. Cho nên, mặc cho Việt Tân bày hết trò này đến trò khác vẫn không được nhân dân Việt Nam và cộng đồng yêu chuộng hòa bình, phát triển trên thế giới ủng hộ. Có chăng, lời kêu gọi của chúng chỉ được những kẻ mang nặng tư tưởng dân tộc cực đoan, chống cộng cực đoan, làm công cụ cho các thế lực phản động vànhững phần tử cơ hội về chính trị, thoái hóa, biến chất, trở cờ.
Nhân đây, cũng nói thêm rằng Việt Tân có tên đầy đủ là “Việt Nam canh tân cách mạng đảng”, trụ sở chính đặt tại: 2530 Berryessa Rd234 San Jose CA 95132 - 2903, Mỹ và “Văn phòng 2” tại Băng Cốc, Thái Lan, đối tượng cầm đầu, chỉ huy là Đỗ Hoàng Điềm, sinh 1963, quốc tịch Mỹ, tự xưng là “Chủ tịch Việt Tân” cùng Lý Thái Hùng (tên thật Bùi Bằng Đoàn), sinh 1953, quốc tịch Mỹ, tự xưng là “Tổng Bí thư”. Hiện nay, Nhà nước Việt Nam khẳng định: Việt Tân là tổ chức khủng bố. Vì thế, tổ chức, cá nhân nào có hành vi tham gia, tuyên truyền, lôi kéo, xúi giục người khác tham gia, tài trợ, nhận tài trợ và tham gia các khóa đào tạo, huấn luyện do “Việt Tân” tổ chức; hoạt động theo sự chỉ đạo của “Việt Tân”,… sẽ đồng phạm tội khủng bố, tài trợ khủng bố và sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật Việt Nam.
Đúng là “vải thưa không che được mắt thánh”. Cái trò mèo của Việt Tân đã bị nhân dân Việt Nam nhận rõ và bác bỏ./.

HN

Thứ Ba, 26 tháng 2, 2019

NÂNG CAO KHẢ NĂNG “TỰ BẢO VỆ” TRONG PHÒNG, CHỐNG “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH”, “TỰ DIỄN BIẾN”, “TỰ CHUYỂN HÓA” Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

Vấn đề “tự diễn biến” xét từ góc độ là sự suy giảm, suy thoái về mặt chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống dẫn đến “tự chuyến hóa” trong tổ chức, con người, trước hết là trong tổ chức đảng, tổ chức bộ máy nhà nước, trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt của Đảng và Nhà nước đã từng diễn ra ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu. Cùng với “diễn biến hòa bình’ và các nguyên nhân khác, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đã làm cho chế độ xã hội chủ nghĩa theo mô hình Xô viết ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu sụp đổ.
Nhận thức rõ tính chất nguy hiểm của chiến lược “diễn biến hòa bình”, của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” do tác động của “diễn biến hòa bình” đối với sự tồn vong của Đảng, của chế độ xã hội chủ nghĩa; ý thức rõ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đang là nguy cơ hiện hữu, rõ ràng, hết sức nguy hiểm ở nước ta hiện nay, Văn kiện Đại hội lần thứ XI của Đảng đã nhấn mạnh: Trong nội bộ, những biểu hiện xa rời mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có những diễn biến phức tạp. Văn kiện Đại hội lần thứ XII của Đảng cũng đã xác định: Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa XII) tiếp tục nhấn mạnh: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi, có mặt, có bộ phận còn diễn biến tinh vi, phức tạp hơn”; tham nhũng, lãng phí, tiêu cực vẫn còn nghiêm trọng, tập trung vào số đảng viên có chức vụ trong bộ máy nhà nước… Nhiều tổ chức đảng, đảng viên còn hạn chế trong nhận thức, lơ là, mất cảnh giác, lúng túng trong nhận diện và đấu tranh, ngăn chặn “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.
          “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ở nước ta hiện nay được đề cập ở đây là quá trình “tự diễn biến” theo chiều hướng suy giảm, suy thoái. Từ “tự diễn biến” đến một mức độ nào đó sẽ chuyển sang “tự chuyển hóa”. Từ “tự diễn biến” từng người đến “tự diễn biến” cả đội ngũ; từ “tự chuyển hóa” từng người đến “tự chuyển hóa” của cả một tổ chức, nếu chúng ta không có những biện pháp đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi hữu hiệu.
          “Tự diễn biến”, ‘tự chuyển hóa” diễn ra từ bên trong từng con người và bên trong từng tổ chức. Theo đó, việc xác định nguyên nhân của quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” phải đi tìm nguyên nhân từ chính trong con người, trong tổ chức là chủ yếu. Tuy nhiên, không thể không tính đến những nguyên nhân bên ngoài sẽ cùng với các nguyên nhân bên trong tạo nên “hợp lực” thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.
Thực tiễn sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa theo mô hình Xô viết ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu trong những năm 80 của thập kỷ XX cho thấy, “diễn biến hòa bình” và quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trong có quan hệ chặt chẽ với nhau. “Diễn biến hòa bình” từ bên ngoài sẽ thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trong. Tuy nhiên, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trong có cả nguyên nhân bên ngoài từ sự tác động của “diễn biến hòa bình” và có cả nguyên nhân bên trong do sự không thường xuyên tích cực học tập, tu dưỡng, rèn luyện của cán bộ, đảng viên.
          “Tự diễn biến” xét từ góc độ là sự suy giảm, suy thoái về mặt chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống dẫn đến “tự chuyến hóa” là một quá trình diễn ra từ bên trong mỗi tổ chức, mỗi con người. Nếu quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” lại diễn ra từ bên trong tổ chức đảng, tổ chức bộ máy nhà nước, từ bên trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt của Đảng và Nhà nước, thì tính chất lại càng cực kỳ nguy hiểm và sẽ gây nên hậu quả khôn lường đối với vai trò lãnh đạo của Đảng, vai trò quản lý, điều hành của Nhà nước, vai trò của đội ngũ cán bộ, đảng viên, đe dọa đến sự tồn vong của chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.   Bài đăng trong Tạp chí Lý luận chính trị Công an nhân dân – Học viện Chính trị Công an nhân dân, số 29, năm 2018
Để góp phần phòng, chống “diễn biến hòa bình” và đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ở nước ta hiện nay, cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp cả bên trong và bên ngoài, trong đó vấn đề nâng cao khả năng “tự bảo vệ” của mỗi tổ chức, mỗi con người trong đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” và ngăn chặn, đẩy lùi quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ở nước ta hiện nay là một trong những giải pháp hết sức quan trọng. Văn kiện Đại hội lần thứ X của Đảng đã nhấn mạnh: Nâng cao khả năng tự bảo vệ của mỗi người, của từng tổ chức, cơ quan, đơn vị.
Quan điểm về nâng cao khả năng “tự bảo vệ” của mỗi người, của từng tổ chức, cơ quan, đơn vị…của Đảng ta trong điều kiện hiện nay ở nước ta, không chỉ hoàn toàn phù hợp với quan điểm của V.I. Lênin về “Một cuộc cách mạng chỉ thực sự có giá trị khi nó biết tự vệ”, mà còn rất phù hợp với thực tiễn của cuộc cách mạng ở nước ta hiện nay, nhất là nước ta đang tiến hành công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện đang phải hàng ngày, hàng giờ đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” và quá trình “tự diễn biến’, “tự chuyển hóa” từ bên trong do tác động của “diễn biến hòa bình”; do sự tác động từ mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, mở cửa, hội nhập quốc tế; cộng với những tiêu cực nảy sinh trong quá trình xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Chỉ có nâng cao khả năng “tự bảo vệ” của mỗi người, của từng tổ chức, cơ quan, đơn vị…, tăng cường “sức đề kháng”, khả năng “miễn dịch” trước sự tác động từ mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, mở cửa, hội nhập quốc tế và sự chống phá của các thế lực thù địch, mới hy vọng đem lại cho chúng ta một sức mạnh mới trong công cuộc đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” và ngăn chặn, đẩy lùi quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở nước ta hiện nay.
Thực tiễn những sự việc cụ thể diễn ra vừa qua cho chúng ta thấy rõ một thực tế là, trước sự tác động tiêu cực của cơ chế thị trường, của quá trình mở cửa, hội nhập, trong điều kiện các thế lực thù địch thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” để thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trong, thì phương thức bảo vệ có hiệu quả nhất lại chính là “tự bảo vệ”. Ở đâu và lúc nào, tổ chức nào, con người nào biết thường xuyên, tích cực, chủ động, biết “tự bảo vệ” tổ chức mình, con người mình, thì ở đó, lúc đó, tổ chức, con người đó đủ sức vượt qua mọi thử thách, đứng vững và phát triển. Ngược lại, ở đâu, lúc nào, tổ chức, con người nào xem nhẹ, sao nhãng việc chăm lo đến vấn đề “tự bảo vệ”, thì ở đó, lúc đó, tổ chức, con người đó bị sa ngã. Không ít người, thậm chí cả cán bộ cao cấp, đã không bị gục ngã trong chiến tranh vũ trang ác liệt trước đây, mà lại bị gục ngã bởi “viên đạn bọc đường” trong điều kiện hòa bình, dưới sự tác động từ mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, sự cám dỗ của danh vị, tiền tài… Thực tế cho thấy, vừa qua một số tổ chức, cán bộ, đảng viên, có cả cán bộ cao cấp bị thi hành kỷ luật là bằng chứng cho thấy sự suy giảm khả năng “tự bảo vệ” của tổ chức đó, con người đó trong công cuộc đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” và ngăn chặn, đẩy lùi quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ hiện nay.
Để nâng cao khả năng “tự bảo vệ” của mỗi người, của từng tổ chức, cơ quan, đơn vị trước sự tác động của “diễn biến hòa bình”, sự tác động từ mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, mở cửa, hội nhập quốc tế và sự chống phá của các thế lực thù địch; góp phần phòng, chống “diễn biến hòa bình” và ngăn chặn, đẩy lùi quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyến hóa” trong nội bộ hiện nay, cần phải thực hiện tốt một số nội dung, biện pháp chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, thường xuyên tăng cường giáo dục chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân. Giáo dục nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân về mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; về tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội và những hạn chế không thể tránh khỏi trên con đường phát triển. Cần phải tăng cường công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn góp phần vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện mới. Đảm bảo cho việc tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ chí Minh một cách có cơ sở khoa học, thuyết phục, không áp đặt chủ quan.
Thứ hai, giáo dục nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân về những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới đất nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo; đồng thời, nhận thức rõ những hạn chế, bất cập không thể tránh khỏi trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, thực hiện cơ chế thị trường, mở cửa, hội nhập quốc tế. Phải từng bước thông qua đường lối, chủ trương, chính sách và công tác lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực tiễn của hệ thống chính trị, của đội ngũ cán bộ, đảng viên để từng bước hiện thực hóa mục tiêu, lý tưởng, tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội trên đất nước ta. Từng bước nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, nhất là ở vùng sâu, vùng cao, vùng xa, những căn cứ cách mạng trước đây và những gia đình, những người có nhiều công lao đóng góp cho công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc với những chế độ, chính sách phù hợp.
Thứ ba, chăm lo xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả, nhất là sự trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức; có khả năng đề ra những chủ trương, đường lối, chính sách đúng đắn, nhất là những quyết sách lớn về phát triển kinh tế – xã hội, về chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Có năng lực tổ chức lãnh đạo, quản lý, chỉ đạo thực tiễn giỏi để nhanh chóng đưa nghị quyết, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào thực tiễn cuộc sống. Kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục, rèn luyện với tự giáo dục, tự rèn luyện, chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên cả về phẩm chất, năng lực, phương pháp, tác phong công tác, xứng đáng là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân, vừa “hồng, vừa chuyên” như Bác Hồ đã dạy. Đặc biệt là kiên quyết đấu tranh chống mọi biểu hiện suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống theo tinh thần nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, khóa XII đạt được mục đích, yêu cầu đề ra. Tiếp tục thực hiện tốt việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.
Thứ tư, chăm lo xây dựng nhân tố con người, nâng cao khả năng “tự bảo vệ”, tăng cường “sức đề kháng”, khả năng “miễn dịch” của mỗi tổ chức, mỗi con người trước sự tác động từ mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, mở cửa, hội nhập quốc tế; trước mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch bằng “diễn biến hòa bình”. Đây là biện pháp tốt nhất, tích cực nhất, chủ động nhất và cũng là biện pháp có hiệu quả nhất để phòng, chống “diễn biến hòa bình”, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở nước ta hiện nay.
          Thứ năm, tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền kịp thời, có định hướng đúng đắn nhằm cung cấp thông tin chính thống cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân về chủ nghĩa tư bản, nhất là vấn đề nhận thức đúng đắn, có cơ sở lý luận và thực tiễn về bản chất của chủ nghĩa tư bản, về những mâu thuẫn cơ bản không thể giải quyết được trong xã hội tư bản, về sự điều chỉnh, thích nghi để tạm thời tồn tại của chủ nghĩa tư bản và cả những thành tựu đạt được của chủ nghĩa tư bản trong phát triển lực lượng sản xuất, khoa học kỹ thuật, công nghệ, trong khoa học tổ chức quản lý.
Thứ sáu, kết hợp chặt chẽ giữa “xây” với “chống”, lấy xây dựng cho ta mạnh lên về mọi mặt là chính, nhất là giữ vững sự ổn định chính trị xã hội, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng và phát triển bền vững nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; xây dựng và phát triển nền văn hoá tiến tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; đảm bảo trật tự, an toàn xã hội; tăng cường quốc phòng, an ninh; mở rộng quan hệ đối ngoại, nâng cao vị thế và uy tín trên trường quốc tế. Thường xuyên tích cực đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch đối với cách mạng nước ta, nhất là trên mặt trận tư tưởng, văn hóa; tích cực đấu tranh phản bác những quan điểm thù địch, sai trái chống phá công cuộc đổi mới đất nước vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong tình hình mới./.

                                                Công Bằng
VẠCH TRẦN ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN THÚC ĐẨY “TỰ DIỄN BIẾN”, “TỰ CHUYỂN HÓA” NỘI BỘ TA CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH TỪ NƯỚC NGOÀI
Trong chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam, các thế lực thù địch tìm mọi cách thực thi âm mưu, thủ đoạn thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” hòng gây chia rẽ, mất đoàn kết nội bộ ta. Khi có thời cơ, chúng sẽ kết hợp các biện pháp “nội công, ngoại kích”, nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đẩy nhanh sự sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã dày công xây dựng. Đây là những vấn đề chúng ta cần nhận diện và vạch trần.
 Nhận diện những âm mưu, thủ đoạn thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ ta của các thế lực thù địch từ nước ngoài
Phòng, chống âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch từ nước ngoài nhằm thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ ta hiện nay là một cuộc đấu tranh rất quyết liệt và nóng bỏng. Trước hết, chúng ta có thể nhận diện rõ một số âm mưu, thủ đoạn của chúng trên các vấn đề chủ yếu sau:
Thứ nhất, tuyên truyền, xuyên tạc, phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng ta.
Đối với Việt Nam, mục tiêu nhất quán của các thế lực thù địch trong chiến lược “diễn biến hòa bình” là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và chế độ xã hội chủ nghĩa, hướng lái nước ta đi theo quỹ đạo chủ nghĩa tư bản. Bởi vì chúng hiểu rất rõ chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động cách mạng của Đảng ta; là vũ khí tinh thần, ngọn nguồn sức mạnh, cơ sở vật chất, ngọn cờ giải phóng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam. Cho nên, chúng chủ ý tìm mọi cách để xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng ta, từ đó hòng phủ định những quan điểm, lý luận đổi mới của Đảng; đồng thời, chúng xen cài các triết lý, học thuyết, các giá trị của hệ tư tưởng tư bản chủ nghĩa vào xã hội Việt Nam. Chúng luôn coi mũi tiến công trực diện vào nền tảng tư tưởng của Đảng ta là sự tiến công ý thức hệ, làm “đòn xeo” thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ ta theo quỹ đạo của chúng.
Để đạt được mục tiêu thâm độc đó, các thế lực thù địch từ nước ngoài tìm mọi cách tiến công trực diện vào nhận thức, tư tưởng chính trị của cán bộ, đảng viên và người dân ở trong nước và cộng đồng người Việt Nam ở hải ngoại. Chiêu trò của chúng là biến những việc đơn giản thành phức tạp, cá biệt thành phổ biến, những điều dễ hiểu thành khó hiểu, đánh tráo khái niệm, thực hiện trò “đánh lận con đen” nhằm lôi kéo những người hạn chế về nhận thức chính trị phục vụ cho mưu đồ của chúng. Vì vậy, chúng ta không khó hiểu về các tổ chức chống cộng cực đoan, các đảng phái phản động người Việt ở nước ngoài đang ngày đêm ra rả tuyên truyền, xuyên tạc, cổ súy cho những luận điệu mà chúng cho là rất “khách quan”, “khoa học”’ rằng hiện nay, chủ nghĩa Mác – Lênin đã “lỗi thời”, “lạc hậu”, đã “cáo chung” sau sự tan rã chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu. Đồng thời, chúng tuyên truyền xuyên tạc tìm cách “hạ thần tượng Hồ Chí Minh”, hòng xóa bỏ tư tưởng Hồ Chí Minh trong cấu thành nền tảng tư tưởng của Đảng ta.
Đối với quan điểm, lý luận đổi mới về chủ nghĩa xã hội của Đảng ta, chúng không dừng ở việc phê phán, xuyên tạc mặt này, mặt kia của chủ nghĩa xã hội, mà chủ ý tung ra các luận điệu xảo trá, lập lờ, hòng xóa nhòa tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa; đồng thời, rao giảng không ngớt luận điệu chủ nghĩa xã hội chỉ là “quái thai của lịch sử” để mọi người lầm tưởng. Chúng còn võ đoán cho rằng, do Đảng Cộng sản Việt Nam lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa nên đã đưa dân tộc vào cảnh “nồi dân tộc xáo thịt”, làm cho đất nước “cứ luẩn quản trong cảnh đói nghèo”… Chúng thâm độc xen cài, khuếch trương một số thành tựu trong xã hội tư bản nhằm gây sự mơ hồ, thật – ảo giữa bản chất và hiện tượng, qua đó thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ ta.
Thứ hai, tuyên truyền xuyên tạc về dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo ở Việt Nam.
Trước những thành tựu to lớn của công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, các thế lực thù địch từ nước ngoài luôn hằn học chống phá cách mạng nước ta. Chúng luôn giở chiêu bài quốc tế hóa những vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo ở Việt Nam, nhằm gây sức ép, tạo cớ tiến công vào những quan điểm, lý luận cơ bản của Đảng ta để thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.
Lợi dụng sự sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu, cùng những khó khăn trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội của nước ta, các thế lực thù địch từ nước ngoài tăng cường tuyên truyền, xuyên tạc, phủ nhận quan điểm, lý luận đổi mới của Đảng ta về dân chủ. Thông qua các chiến dịch “chuyển lửa về quê nhà”, chúng ra sức tán dương, cổ súy cho “giá trị dân chủ tư sản”, chủ nghĩa tự do, thực dụng; tung ra những luận điệu vu khống, kích động, đòi Việt Nam phải thực hiện đa nguyên về chính trị, đa đảng đối lập thì đất nước mới có dân chủ… Núp dưới vỏ bọc “vì dân chủ”, chúng ra sức lợi dụng, khoét sâu vào những khó khăn, khuyết điểm, khuyết điểm của chúng ta trong quá trình xây dựng đất nước để bài xích, mưu toan xóa bỏ nền dân chủ xã hội chủ nghĩa mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đang xây dựng, hoàn thiện.
Từ sau Đại thắng mùa Xuân 1975, nhất là từ khi đất nước tiến hành công cuộc đổi mới năm 1986 đến nay, các thế lực thù địch từ nước ngoài cố bám giữ “vấn đề nhân quyền” để tung ra những luận điệu xuyên tạc trắng trợn quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về nhân quyền; phủ nhận mọi thành tựu về thực hiện quyền con người ở Việt Nam. Tại Hội nghị thường niên hàng năm của Liên hợp quốc về vấn đề nhân quyền, đại diện một số nước vẫn bám giữ những đòi hỏi phi lý, xếp Việt Nam vào nhóm nước vi phạm nghiêm trọng nhân quyền trên thế giới! Họ lại tìm cách áp đặt quan điểm và giá trị nhân quyền của nước họ đối với Việt Nam.
Trong âm mưu, thủ đoạn thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ ta, các thế lực thù địch từ nước ngoài luôn xoáy sâu vấn đề dân tộc, tôn giáo. Chúng không ngớt xuyên tạc, bịa đặt, vu khống, gieo rắc sự nghi ngờ trong các tầng lớp nhân dân đối với Đảng, Nhà nước ta về chính sách dân tộc và tôn giáo; kích động và khơi dậy sự phản kháng của những kẻ bất mãn, các phần tử cơ hội, thoái hóa, biến chất ở trong nước chống đối lại đường lối, quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước ta; tạo cớ tài trợ để can thiệp vào công việc nội bộ của nước ta.
Thứ ba, tuyên truyền, xuyên tạc nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Trong công cuộc đổi mới đất nước, Đảng ta đề ra đường lối phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đã tạo nên động lực và hiệu quả lớn, đưa đất nước từng bước vượt qua những khó khăn, thách thức và ngày càng phát triển vững chắc. Tuy nhiên, các thế lực thù địch từ nước ngoài vẫn phớt lờ và liên tục tung ra luận điệu xuyên tạc, lừa mị dư luận, cho rằng: đường lối, quan điểm, lý luận đổi mới cảu Đảng ta về xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là sự lắp ghép “đầu Ngô, mình Sở”, không có sự dung hợp giữa kinh tế thị trường với chủ nghĩa xã hội. Chúng còn cố tình bịa đặt, suy diễn, coi định hướng xã hội chủ nghĩa “chỉ mang ý nghĩa thuần túy quyền lực”. Thực chất những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam của các thế lực thù địch từ nước ngoài chỉ nhằm phục vụ cho mục tiêu xóa bỏ chế độ kinh tế xã hội chủ nghĩa, cản trở sự hội nhập quốc tế của Việt Nam hiện nay, thúc đẩy nhanh “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ ta theo ý đồ thâm hiểm của chúng.
Thứ tư, tuyên truyền, xuyên tạc đòi “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang Việt Nam.
Các thế lực thù địch từ nước ngoài chắc chắn biết rõ, lực lượng vũ trang nhân dân – Quân đội nhân dân và Công an nhân dân Việt Nam làm nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhà nước, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, chủ quyền quốc gia, dân tộc, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ nhân dân và những thành tựu công cuộc đổi mới. Vì vậy, từ trước tới nay chúng không ngớt cổ súy các quan điểm, luận điệu phản khoa học và phản động, đòi hai lực lượng “trọng yếu, thường xuyên” này của cách mạng phải “trung lập về chính trị”, “đứng ngoài chính trị”. Chúng cho rằng “quân đội và công an chỉ là của quốc gia, dân tộc, không cần đặt dưới sự lãnh đạo của đảng phái nào hay lực lượng chính trị nào”. Chúng còn tung ra lập luận có vẻ “khoa học” rằng, bản chất của lực lượng vũ trang là “phi giai cấp”; cho nên, Việt Nam phải thực hiện “trung lập hóa, chuyên nghiệp hóa lực lượng quân đội và công an”.
Thực chất những quan điểm, luận điệu của các thế lực thù địch từ nước ngoài đòi “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam để nhằm làm rối loạn về chính trị, tư tưởng, lý luận, gây khủng hoảng niềm tin trong xã hội, tạo ra “khoảng trống” về ý thức hệ của lực lượng quân đội và công an. Chúng mưu toan thực hiện “lấp khoảng trống tư tưởng” bằng cách từng bước chuyển tính chất chính trị tiến bộ, cách mạng của Quân đội nhân dân và Công an nhân dân sang lập trường chính trị của giai cấp tư sản. Mưu đồ thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đó của chúng nhằm tước bỏ sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với quân đội và công an; vô hiệu hóa vai trò quân đội, công an là công cụ bạo lực sắc bén của Đảng và Nhà nước ta trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
 Nhận diện một số tổ chức phản động và những công cụ truyền thống ở nước ngoài chống phá cách mạng Việt Nam
Để tăng cường hoạt động xuyên tạc, bôi nhọ nhân quyền ở Việt Nam, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ ta, các thế lực thù địch từ nước ngoài đã thu nạp và lập một số tổ chức phản động với thành phần là những ngụy quân, ngụy quyền của chế độ Sài Gòn cũ, những trí thức có tư tưởng cực đoan, FULRO, chức sắc bất mãn…; điển hình gồm có: bọn phản động người Thái, HMông, dao lưu vong ở Mỹ và ở Pháp, hình thành tổ chức “Hội người HMông thế giới”, “Hội văn hóa cổ truyền người HMông”, “Liên hiệp người Dao Mỹ”, “Trung tâm nghiên cứu Thái học”… Bọn phản động lưu vong ở Mỹ lập các tổ chức: “Hội người Thường Đềga” (MDA), “Hội những người miền núi” (MFI), “Hội bảo vệ nhân quyền” (MHRO); “Nhà nước Đềga độc lập”, “Tin lành Đềga”, “Trung tâm chim én đưa tin”, “Hiệp hội Khơme Crôm thế giới”, “Ủy ban mặt trận dân tộc FLURO”, “Hội bảo vệ nhân quyền người Thượng”…
Bọn phản động người Chăm lưu vong lập tổ chức “Văn phòng Chămpa quốc tế – IOC”, “Hội bảo tồn văn hóa Chămpa tại Hoa Kỳ”; Liên minh người Chămpa tại Hoa Kỳ”; “Hội văn hóa truyền thống Chămpa”; “Cộng đồng Muslim Chămpa” tại Hoa Kỳ và Pháp… Bọn phản động người Khơme Nam Bộ lưu vong ở Campuchia, Mỹ, Canada lập các hội nhóm: “Liên đoàn Khơme Krôm”, “Hội người Khơme”, “Quốc hội Khơme Krôm hải ngoại”, “Hội ái hữu”, “Hội bảo vệ nhân quyền”, “Hội phật học”… Đặc biệt, tổ chức phản động lưu vong “Việt Tân” – một tổ chức khủng bố nguy hiểm, đặt trụ sở chính tại bang California (Mỹ) và “Văn phòng 2” tại Băng Cốc (Thái Lan), tỏng hơn 30 năm qua, tổ chức này luôn có những hành động khủng bố cực kỳ nguy hiểm, chống phá sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta, đe dọa tới những người yêu chuộng hòa bình trên thế giới.
Thông qua những tổ chức phản động đó, các thế lực thù địch ở hải ngoại kích động một số đồng bào dân tộc thiểu số trong nước đòi “ly khai”, “tự trị” dân tộc. Các lực lượng an ninh của ta đã phát hiện, ngăn chặn, bóc gõ nhiều cơ sở phản động của chúng; đồng thời, kiểm soát chặt chẽ hoạt động của số đối tượng chống đối, cơ hội chính trị ở trong nước.
Từ nhiều trung tâm do bọn phản động tổ chức ở hải ngoại, các thế lực thù địch triệt để sử dụng báo chí, xuất bản và truyền thông, mạng xã hội làm phương tiện để thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ ta. Hình thức, biện pháp chúng thường tiến hành là: hội thảo, diễn đàn quốc tế, phổ biến thông tin về dân chủ và nhân quyền thông qua hình thức “phiếu cung cấp thông tin” (Alert), mạng Internet, báo điện tử, các trang Website, Blog, viết “thư góp ý”, “hồi ký”, xuyên tạc các bài viết của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, của cán bộ lão thành cách mạng… Chúng tăng cường khai thác, tập hợp những bài viết có nội dung phức tạp của một số đối tượng chống đối trong nước; sử dụng cả bài viết, thông tin liên quan tới lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước, quân đội, công an rồi sửa chữa, biên soạn, viết bài, tác phẩm xuyên tạc tán phát vào Việt Nam…
Theo thống kê chưa đầy đủ, các thế lực thù địch lập ra và đặt tại nhiều vùng lãnh thổ của một số nước khoảng 380 báo, tạp chí và hơn 60 đài phát thanh có chương trình tiếng Việt, hơn 80 nhà xuất bản và hàng nghìn trang web để đăng tải tin bài, xuất bản những ấn phẩm có nội dung phản động, xuyên tạc chống phá Việt Nam. Chúng còn lôi kéo các tổ chức truyền thông lớn của các nước phương Tây như Đài VOA (Voice of America), Đài BBC (British Broadcasting Corporation), Đài RFA (Á châu tự do – Radio Free Asia), Đài RFI (Radio France internationale)… phát sóng bằng tiếng Việt với dung lượng lớn, có nội dung xuyên tạc, bịa đặt, bôi nhọ nhằm phá hoại tư tưởng, kích động “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” ở Việt Nam. Ngoài ra các thế lực thù địch ở hải ngoại còn lợi dụng hoạt động của một số tổ chức phi chính phủ (NGO) vào mục đích chính trị, can thiệp công việc nội bộ, xâm hại an ninh và chủ quyền của Việt Nam; đồng thời, lợi dụng việc hợp tác, đầu tư, tài trợ các chương trình, dự án để tìm hiểu, nghiên cứu lịch sử phát triển, phong tục tập quán… phục vụ ý đồ móc nối, tuyển lựa, cài cắm người, thu nhập tin tức, kết hợp với tăng cường tuyên truyền, tác động giá trị dân chủ, nhân quyền phương Tây nhằm làm băng hoại đạo đức, lối sống con người Việt Nam.
Hiện nay, tình hình và nhiệm vụ cách mạng nước ta bên cạnh những thời cơ và thuận lợi là cơ bản, cũng đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức mới và lớn. Các thế lực thù địch từ nước ngoài âm mưu nhanh chóng xóa bỏ nền tảng tư tưởng, lý luận của Đảng ta là chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Thủ đoạn chống phá của chúng vừa ngấm ngầm, tinh vi, xảo quyệt, vừa công khai trắng trợn; kết hợp cả lực lượng bên ngoài và bên trong; triển khai trên nhiều lĩnh vực; lợi dụng tất cả các phương tiện, các tình huống; sử dụng tất cả các hình thức, biện pháp để chống phá. Vì vậy, việc vạch rõ những âm mưu, thủ đoạn thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ ta của các thế lực thù địch từ nước ngoài, cùng một số hình thức, biện pháp, phương tiện mà chúng thường sử dụng để phá hoại sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta trong những năm qua có ý nghĩa rất quan tọng và cấp bách. Đây thực sự là cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận rất nóng bóng, quyết liệt, phức tạp và lâu dài, đòi hỏi chúng ta phải có những giải pháp đấu tranh, ngăn chặn hữu hiệu nhằm làm thất bại mọi mưu đồ thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ ta, đưa công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa đạt được nhiều thành tựu mới./.

                                               Công Bằng
CẢNH GIÁC VỚI LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CUỘC ĐẤU TRANH PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG, SUY THOÁI Ở VIỆT NAM
Trong khi toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta đang chủ động và tích cực đưa các nghị quyết của Đảng vào cuộc sống, nhất là sau khi Hội nghị toàn quốc về công tác phòng, chống tham nhũng được tổ chức ngày 25/6/2018 thì các đối tượng xấu đã núp dưới chiêu bài dân chủ, nhân quyền lại càng ra sức chống phá. Một trong những vấn đề mà chúng tập trung xuyên tạc là quyết tâm chống tham nhũng, suy thoái của Đảng ta với những luận điệu như: đang có sự thỏa thuận ngầm về mức độ và đối tượng chống tham nhũng, suy thoái; chống tham nhũng suy thoái chỉ là cái cớ để các phe phái của Đảng Cộng sản Việt Nam mặc cả quyền lực, kiềm chế, loại bỏ lẫn nhau; Đảng Cộng sản Việt Nam không thể đấu tranh chống tham nhũng, suy thoái thành công; tham nhũng là sản phẩm tất yếu của chế độ công hữu tư liệu sản xuất, chuyên chế độc đảng; tham nhũng là vấn đề thuộc bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
 Từ nội dung của những luận điệu phản động, xuyên tạc cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, suy thoái của Đảng, Nhà nước ta, có thể nhận thấy động cơ và mục đích của các luận điệu này:
Thứ nhất, gây hoài nghi trong quần chúng nhân dân, hạ uy tín của Đảng, tiến tới phủ nhận vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội, từ đó xóa bỏ hoàn toàn chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Hiện nay, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, suy thoái là một trong những nhiệm vụ chính trị quan trọng, cấp bách do Đảng ta tổ chức và lãnh đạo. Tham nhũng, suy thoái đã và đang là vấn đề gây nhiều bức xúc trong xã hội, “làm giảm sút vai trò lãn đạo của Đảng; làm tổn thương tình cảm và suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, là một nguy cơ trực tiếp đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ” . Trong khi Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đang có khí thế và quyết tâm chính trị cao với nhiều chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức đấu tranh nhằm ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng tham nhũng, suy thoái thì các thế lực thù địch lại đưa ra những luận điệu sai trái, thù địch, xuyên tạc về cuộc đấu tranh này. Có thể khẳng định, mục đích của chúng là nhằm phá vỡ niềm tin của cán bộ, đảng viên, nhân dân đối với Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa; đối với đường lối, quan điểm, chủ trương nhất quán và quyết tâm chính trị của Đảng, Nhà nước và nhân dân trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, suy thoái ở Việt Nam hiện nay.
Thứ hai, chống phá quyết tâm của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta nhằm làm cho tình trạng tham nhũng, suy thoái tiếp tục diễn tiến và hệ quả là nền kinh tế Việt Nam bị rơi vào tình trạng kiệt quệ, khủng hoảng. Luận điệu cho rằng, Đảng ta không thể thành công trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, suy thoái, một mặt nhằm kích động, xúi giục, lôi kéo, hỗ trợ các phần tử phản động, bất mãn, cơ hội chính trị tăng cường các hoạt động chống phá dưới chiêu bài lợi dụng dân chủ, nhân quyền, tự do ngôn luận để gây hoang mang, hoài nghi trong nhân dân; mặt khác, tác động làm lung lạc tư tưởng chính trị, mất phương hướng trong cán bộ, đảng viên tiếp tục rơi vào tình trạng tham nhũng, suy thoái trầm trọng hơn, thúc đẩy Việt Nam nhanh chóng lâm vào khủng hoảng toàn diện cả về kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội, góp phần đẩy nhanh “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, tăng thêm nguy cơ tự sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đã và đang dày công xây dựng.
Thứ ba, làm suy yếu sức mạnh chính trị, tinh thần của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thực tiễn quá trình lãnh đạo và tổ chức hiện thực hóa sự nghiệp cách mạng của Đảng và Nhà nước ta cho thấy, trong các thời kỳ cách mạng, các thế lực thù địch luôn sử dụng mọi thủ đoạn để chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta hòng làm suy yếu sức mạnh chính trị, tinh thần của Đảng, của quân và dân ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc nói chung, trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng nói riêng. Đây là phương thức phổ biến, thường xuyên mà các thế lực thù địch sử dụng để thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” đối với cách mạng Việt Nam.
Từ động cơ và mục đích thực sự ẩn sau các luận điệu này sẽ cho thấy chủ thể của các luận điệu là ai. Có thể chỉ ngay ra rằng, ngoài chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch, còn có các phần từ cơ hội chính trị, phản động, bất mãn ở trong và ngoài nước, cùng những người bị mua chuộc, lôi kéo, kích động, xúi giục. Bên cạnh đó còn có cả những cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Đây là những cán bộ, đảng viên do thiếu tu dưỡng, rèn luyện; quan điểm, bản lĩnh, lập trường tư tưởng không kiên định, hoang mang, dao động trước những tác động đột biến từ bên ngoài, tính chiến đấu giảm sút, ý thức tổ chức kỷ luật kém; sa vào chủ nghĩa cá nhân, ích kỷ, hẹp hòi, bị cám dỗ, mua chuộc bởi lợi ích vật chất tầm thường, không làm tròn chức trách, nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân đã tin cậy giao phó.
 Có phải ở Việt Nam hiện nay đang có sự thỏa thuận ngầm về mức độ và đối tượng tham nhũng, suy thoái; chống tham nhũng, suy thoái chỉ là cái cớ để các phe phái trong Đảng Cộng sản Việt Nam mặc cả quyền lực, kiềm chế, loại bỏ lẫn nhau; Đảng Cộng sản Việt Nam không thể đấu tranh chống tham nhũng, suy thoái thành công…?! Phải khẳng định dứt khoát rằng, đây là những luận điệu hết sức sai trái, xuyên tạc sự thật cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam. Sở sĩ khẳng định như vậy là bởi:
Một là, tham nhũng, suy thoái là hiện tượng mang tính lịch sử – xã hội gắn liền với sự tồn tại của nhà nước. Trong đó, tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó để vụ lợi. Quyền lực là yếu tố quyết định làm phát sinh hành vi tham nhũng, người có quyền lực thì mới có thể sử dụng quyền lực một cách bất chính để thu lợi. Còn suy thoái hàm chứa sự tha hóa quyền lực (quyền lực chính trị, quyền lực hành chính, quyền lực kinh tế, quyền lực tư pháp, quyền lực thông tin…) để đạt được mục đích là đem lại lợi ích cho cá nhân, hoặc nhóm lợi ích. Tham nhũng và suy thoái có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Tham nhũng là biểu hiện nghiêm trọng nhất của suy thoái vì nó gắn với quyền lực, tha hóa quyền lực của người có chức vụ, quyền hạn trong bộ máy nhà nước, làm phương hại đến lợi ích cá nhân và xã hội.
Hai là, tham nhũng, suy thoái là vấn nạn toàn cầu mang tính phổ biến, không chỉ riêng có ở một quốc gia, vùng lãnh thổ nào, không phụ thuộc vào chế độ chính trị và trình độ phát triển. Tham nhũng, suy thoái tồn tại ở mọi chế độ có nhà nước vì nó luôn gắn với nhà nước và quyền lực. Khi còn tồn tại nhà nước và quyền lực nhà nước bị lạm dụng, hay bị biến dạng thì còn tồn tại tham nhũng, suy thoái. Điều đó có nghĩa, ở bất cứ chế độ xã hội nào, tham nhũng, suy thoái đều gắn với quyền lực bị thao túng, bị tha hóa. Đặt vấn đề như vậy để thấy rằng, sự tồn tại của tình trạng tham nhũng, suy thoái là hoàn toàn khách quan ở mọi chế độ chính trị, mọi quốc gia và vùng lãnh thổ. Tham nhũng, suy thoái là tình trạng chung của thế giới, chỉ khác là các nhà nước với chế độ chính trị và trình độ phát triển khác nhau sẽ có những cơ chế, biện pháp khác nhau để đấu tranh, ngăn chặn và kiểm soát sao cho đạt được hiệu quả mong muốn. Khi tham nhũng, suy thoái trở thành phổ biến, nghĩa là khi các loại quyền lực đã bị lạm dụng, bị biến dạng đến mức không còn là vai trò điều hòa lợi ích xã hội, thì sẽ làm mất đi sự ổn định chính trị, đe dọa an ninh quốc gia và sự tồn vong của mọi thể chế xã hội.
Để khẳng định tham nhũng, suy thoái là vấn nạn toàn cầu mang tính phổ biến, không chỉ riêng có ở một quốc gia, vùng lãnh thổ nào, không phụ thuộc vào chế độ chính trị và trình độ phát triển, xin dẫn ra một số minh chứng như sau: Ở Thái Lan, ngày 21/10/2008, cựu Thủ tướng Thaksin Shinawatra đã bị tuyên án tù chung thân với tội danh vi phạm luật chống tham nhũng và lạm dụng quyền lực. Đây là án tù đầu tiên đối với một cựu thủ tướng. Ở Hàn Quốc, Tổng thống Park Geun Hye bị phế truất ngày 10/3/2017 sau cuộc hạch tội của Quốc hội. Ngày 04/6/2018, Tòa án Hàn Quốc tuyên phạt bà 24 năm tù giam và tịch thu hàng triệu USD vì nhận hối lộ và lạm dụng quyền lực. Ở Mỹ, ngày 07/11/2007, cựu Thống đốc bang lllinois George Ryan thụ án tù giam về tội tham nhũng. Trước đó, ngày 06/11/2007, Cảnh sát trưởng quận Cam Michael S. Carona và cựu Cảnh sát trưởng New York Bernard bị tố cáo tham nhũng. Ông Carona bị cáo buộc 7 tội danh, trong đó có tội danh tham nhũng và đồng lõa nhận tiền, quà hối lộ. Ngày 09/11/2007, Bernard Kerik, nguyên Cảnh sát trưởng cảnh sát New York cũng đã phải ra hầu tòa về tội tham nhũng. Ở Malaysia, ngày 27/6/2018, Cảnh sát công bố trị giá tài sản bị tịch thu vì tham nhũng của cựu Thủ tướng Najib Razak lên tới 273 triệu USD. Đây là vụ thu giữ tài sản do tham nhũng mà có lớn nhất trong lịch sử nước này… Theo kết quả khảo sát về tham nhũng năm 2016 của Tổ chức Minh bạch thế giới (Transparency international – T1) đối với 168 quốc gia cho thấy, trong số 100 quốc gia tham nhũng nhất trong các quốc gia thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), còn Nhật Bản có tên trong dánh sách 18 quốc gia phát triển có chỉ số tham nhũng cao nhất thế giới.
Từ những ví dụ trên cho thấy, tham nhũng, suy thoái đã, đang và vẫn còn tiếp tục diễn ra ở mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ, không phụ thuộc vào chế độ chính trị và trình độ phát triển. Tham nhũng, suy thoái là vấn nạn toàn cầu, các quốc gia, vùng lãnh thổ dù theo chế độ xã hội chủ nghĩa hay tư bản chủ nghĩa đều phải đối mặt với tệ nạn này, nguyên nhân dẫn đến tham nhũng, suy thoái không phải do chế độ chính trị hay do đảng phái náo nắm quyền lãnh đạo. Vì thế, luận điệu cho rằng ở Việt Nam, chế độ một đảng cầm quyền là nguyên nhân sinh ra tệ tham nhũng; do đảng cầm quyền độc đoán cai trị nên tình trạng tham nhũng xảy ra; tham nhũng là sản phẩm tất yếu của chế độ công hữu tư liệu sản xuất, chuyên chế độc đảng; tham nhũng là vấn đề thuộc bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam… là những giọng điệu xuyên tạc, bịa đặt trắng trợn.
 Khẳng định thành công của cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, suy thoái dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam xuất phát từ những lý do:
Thứ nhất, Tại Hội nghị toàn quốc về công tác phòng, chống tham nhũng tổ chức ngày 25/6/2018, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “công cuộc chống “giặc nội xâm” đang ở giai đoạn hết sức quan trọng, quyết liệt”, vì thế “Hội nghị lần này không chỉ có ý nghĩa động viên tinh thần, mà còn bàn các công việc thiết thực, cụ thể nhằm tạo bước chuyển biến mới mạnh mẽ hơn, hiệu quả cao hơn nữa trong công tác phòng, chống tham nhũng”. Chính những chuyển biến mới, mạnh mẽ hơn, hiệu quả cao hơn được tạo ra sau Hội nghị sẽ là động lực và đột phá mới cho cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, suy thoái ở nước ta trong thời gian tới.
Thứ hai, Bộ Chính trị đã ban hành một số quy định làm hành lang quản lý cán bộ, xử lý sai phạm, như: Quy định số 90-QĐ/TW ngày 04/8/2017 về tiêu chuẩn chức danh, tiêu chí đánh giá cán bộ thuộc diện Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý; Quy định số 102-QĐ/TW ngày 15/11/2017 về xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm. Đặc biệt, Nghị quyết Trung ương 7 khóa XII về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đã được ban hành với nhiều nội dung đổi mới quan trọng, có tính đột phá. Nghị quyết này không chỉ yêu cầu phải có phương pháp đánh giá cán bộ thật sự khách quan, chính xác, mà còn phải có cơ chế tạo động lực, đổi mới sáng tạo, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên qua thực tiễn có nhiều khó khăn, thách thức lớn. Đây là một trong những nhiệm vụ, giải pháp quan trọng để đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự tha hóa quyền lực trong bộ máy công quyền cũng như suy thoái, biến chất của một bộ phận cán bộ, đảng viên để củng cố và nâng cao niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, suy thoái. Ngoài ra, Đảng ta còn có chủ trương xây dựng và hoàn thiện thể chế kiểm soát quyền lực và chống chạy chức, chạy quyền, thân quen, lợi ích nhóm trong công tác cán bộ theo nguyên tắc mọi quyền lực phải được kiểm soát chặt chẽ bằng cơ chế và quyền hạn phải được ràng buộc với trách nhiệm. Kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm khắc các tổ chức, cá nhân vi phạm kỷ luật Đảng, pháp luật Nhà nước, lạm dụng, lợi dụng quyền lực để thực hiện hành vi sai trái trong công tác cán bộ hoặc tiếp tay cho chạy chức, chạy quyền. Kiên quyết hủy bỏ, thu hồi các quyết định không đúng về công tác cán bộ, đồng thời xử lý nghiêm tổ chức, cá nhân sai phạm, có hành vi tham nhũng trong công tác cán bộ.
Thứ ba, Nghị quyết số 04-NQ/TW về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ đang có sức lan tỏa ngày càng mạnh mẽ không chỉ đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên mà với mọi tầng lớp nhân dân. Theo đó, công tác xây dựng Đảng được coi trọng hơn, ý thức toàn Đảng, toàn dân chăm lo xây dựng Đảng cao hơn. Đặc biệt, cùng với vai rò và trách nhiệm của các cấp ủy Đảng trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, suy thoái đã và đang phát huy ngày càng hiệu quả, thì người đứng đầu cũng đã thấy rõ trách nhiệm của mình trong cuộc đấu tranh này. Tất cả điều này đã làm cho vai trò, vị trí, uy tín của Đảng được nâng lên rõ rệt ở cả trong nước và trên trường quốc tế. Bên cạnh đó, Đảng đã có thêm kinh nghiệm để làm tốt hơn, đó là việc kết hợp giữa “xây” và “chống” theo định hướng “xây” là cơ bản, “chống” phải quyết liệt.
Thứ tư, chủ trương của Đảng, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về phòng, chống tham nhũng, suy thoái được bổ sung, hoàn thiện kịp thời theo hướng bám sát và phù hợp với thực tiễn tình hình tham nhũng, suy thoái. Thực tiễn cho thấy, văn kiện các kỳ đại hội Đảng thời kỳ đổi mới đều đề cập đến vấn đề phòng, chống tham nhũng, suy thoái và Đảng ta đã xác định tham nhũng là một trong bốn nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng, của chế độ. Đại hội X chỉ rõ: “Tích cực phòng ngừa và kiên quyết chống tham nhũng, lãng phí là đòi hỏi bức xúc của xã hội, là quyết tâm chính trị của Đảng ta, nhằm xây dựng bộ máy lãnh đạo và quản lý trong sạch, vững mạnh, khắc phục một trong những nguy cơ lớn đe dọa sự sống còn của chế độ ta”. Nhận thức rõ tính chất nguy hại của tham nhũng, suy thoái, Hội nghị Trung ương 3 khóa X đã ban hành Nghị quyết số 04-NQ/TW ngày 21/8/2006 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí; Hội nghị Trung ương 5 khóa XI đã có kết luận số 21-KL/TW ngày 25/5/2012 yêu cầu tiếp tục thực hiện nghiêm túc, đồng bộ mục tiêu, quan điểm và các giải pháp được nêu trong Nghị quyết Trung ương 3 khóa X, đồng thời xác định các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm để tạo chuyển biến rõ rệt đối với công tác phòng, chống tham nhũng; Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; Nghị quyết Trung ương khóa 4 khóa XI về một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay; Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.
Nhờ thực hiện tốt các nghị quyết, kết luận, chỉ thị của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư về phòng, chống tham nhũng, suy thoái và xây dựng, chỉnh đốn Đảng mà còn công tác phòng, chống tham nhũng, suy thoái đã được cấp ủy, chính quyền các cấp quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện, tạo chuyển biến tích cực trên nhiều phương diện, với nhiều kết quả cụ thể, được dư luận quần chúng đồng tình, cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Các biện pháp phòng ngừa được triển khai đồng bộ, từng bước phát huy tác dụng. Nhiều vụ án tham nhũng nghiêm trọng đã được phát hiện, xử lý nghiêm minh. Tham nhũng bước đầu đã được kiềm chế, góp phần giữ vững ổn định chính trị và phát triển kinh tế – xã hội. Thực tế đã chứng minh, quyết tâm đấu tranh phòng, chống tham nhũng, suy thoái của Đảng là quyết tâm chính trị, bởi đây là vấn đề quyết định sự tồn vong của đất nước. Vì thế, Luật Phòng, chống tham nhũng ra đời năm 2005, đến nay tuy mới 12 năm nhưng đã 3 lần được sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện, lần mới đây nhất là tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa XIV. Việc làm này cho thấy quyết tâm của Đảng, Nhà nước ta trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, suy thoái.
Từ những vấn đề trên cho thấy, tham nhũng, suy thoái không chỉ là vấn nạn toàn cầu mang tính phổ biến, không chỉ có riêng ở một quốc gia, vùng lãnh thổ nào, không phụ thuộc vào chế độ chính trị và trình độ phát triển. Đây là cuộc đấu tranh lâu dài, thường xuyên, liên tục, phức tạp, không ít khó khăn, thách thức và cũng không dễ dàng giành được thắng lợi. Vì vậy, đòi hỏi mọi tổ chức và cá nhân là thành viên của hệ thống chính trị phải đề cao cảnh giác để có nhận thức đúng, đầy đủ không chỉ về tình trạng tham nhũng, suy thoái hiện đang tồn tại một cách khách quan trong hệ thống chính trị nước ta; mà còn về kết quả đấu tranh phòng, chống tham nhũng, suy thoái cũng như những hạn chế, khuyết điểm, tồn tại và nguyên nhân để chủ động có chủ trương, biện pháp đấu tranh phòng, chống, ngăn chặn, đẩy lùi có hiệu quả tình trạng này. Trong thời gian tới, khi cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, suy thoái ở nước ta càng được đẩy mạnh thì các thế lực thù địch, phản động sẽ tiếp tục gia tăng chống phá. Song dù khó khăn, gian khổ đến mấy cũng không thế lực nào có thể làm nhụt ý chí, quyết tâm đấu tranh phòng, chống tham nhũng, suy thoái của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Vấn đề quan trọng là, trong mọi tình huống, Đảng, Nhà nước và nhân dân phải luôn đề cao cảnh giác, nhận diện đúng âm mưu, thủ đoạn chống phá để từ đó có chủ trương, biện pháp đấu tranh kiên quyết, kịp thời./.

                                               Công Bằng
TƯƠNG QUAN LỰC LƯỢNG THỜI ĐIỂMQUÂN BÀNH TRƯỚNG TRUNG QUỐC TẤN CÔNG VIỆT NAM
17-2-1979, quân bành trướng Trung Quốc cho 32 sư đoàn (600.000 quân), 550 xe tăng, 480 khẩu pháo, 1.260 súng cối mở cuộc tấn công nước ta dọc theo biên giới phía Bắc – từ Móng Cái (Quảng Ninh) đến Phong Thổ (Lai Châu) dài hơn 1.000km.
Theo Đại cương lịch sử Việt Nam tập 3, từ sáng 17-2-1979, quân bành trướng Trung Quốc cho quân đội với lực lượng 32 sư đoàn (tương đương 600.000 quân), 550 xe tăng, 480 khẩu pháo, 1.260 súng cối mở cuộc tiến công nước ta dọc theo biên giới phía Bắc – từ Móng Cái (Quảng Ninh) đến Phong Thổ (Lai Châu) dài hơn ngàn cây số.
Báo cáo của Hội đồng Chính phủ năm 1979 khẳng định cuộc chiến này được đối phương tiến hành theo một kế hoạch đã chuẩn bị từ lâu.
Theo đó, dựa vào số quân rất đông, quân đội Trung Quốc đã cùng một lúc tiến công trên nhiều hướng, lấy ba hướng Cao Bằng, Lạng Sơn, Hoàng Liên Sơn làm trọng điểm.
Các hướng đều tập trung lực lượng rất lớn, kết hợp bộ binh, pháo binh với xe tăng, tiến công ồ ạt đánh liên tiếp hết đợt này đến đợt khác, không kể thương vong.
Họ muốn mau chóng phá vỡ các trận địa phòng thủ, đập tan sự kháng cự của lực lượng vũ trang ta, nhanh chóng chiếm lấy các mục tiêu đã định, đặc biệt là chiếm lấy các thị xã Cao Bằng, Lạng Sơn và Lào Cai trong vòng một, hai ngày.
Trước tình hình cấp bách đó, ngày 4-3-1979, Ban chấp hành Trung ương Đảng ra lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước nhất tề đứng lên bảo vệ Tổ quốc.
Sáng 5-3, chương trình phát thanh 90 phút thường ngày của Đài tiếng nói Việt Nam phát bản tin đặc biệt kêu gọi:
“Hỡi đồng bào và chiến sĩ yêu quý! Quân thù đang giày xéo non sông, đất nước ta. Độc lập, tự do, chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta đang bị xâm phạm. Hòa bình và ổn định ở Đông Nam châu Á đang bị đe dọa. Dân tộc Việt Nam ta phải ra sức chiến đấu để tự vệ…
Toàn thể đồng bào các dân tộc anh em trong cả nước, các tôn giáo, các đảng phái, già, trẻ, gái, trai hãy phát huy truyền thống Diên Hồng, triệu người như một, nhất tề đứng lên bảo vệ tổ quốc”.
Ngay trong ngày, Ủy ban Thường vụ Quốc hội họp phiên bất thường dưới sự chủ trì của Chủ tịch Quốc hội Trường Chinh.
Theo đề nghị của Hội đồng Chính phủ, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ra quyết định tổng động viên trong cả nước.
Cùng ngày, Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng ký sắc lệnh 29 – LCT ra lệnh tổng động viên trong cả nước.
Hội đồng Chính phủ ban hành nghị định về việc thực hiện quân sự hóa toàn dân, vũ trang toàn dân. Trong đó, yêu cầu nam từ 18-45 tuổi, nữ từ 18-35 tuổi có đủ điều kiện, đều gia nhập hàng ngũ du kích và tự vệ.
Ngoài ra, ai tự nguyện đều được đưa vào tổ chức vũ trang quần chúng. Khi xảy ra chiến sự ở địa phương, trừ những người được phép sơ tán đi nơi khác, còn tất cả mọi người phải ở lại làm nhiệm vụ chiến đấu và phục vụ chiến đấu.
                                           H.A

CHỐNG “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH”, “TỰ DIỄN BIẾN”, “TỰ CHUYỂN HÓA” Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

Vấn đề “tự diễn biến” xét từ góc độ là sự suy giảm, suy thoái về mặt chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống dẫn đến “tự chuyến hóa” trong tổ chức, con người, trước hết là trong tổ chức đảng, tổ chức bộ máy nhà nước, trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt của Đảng và Nhà nước đã từng diễn ra ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu. Cùng với “diễn biến hòa bình’ và các nguyên nhân khác, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đã làm cho chế độ xã hội chủ nghĩa theo mô hình Xô viết ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu sụp đổ.
Nhận thức rõ tính chất nguy hiểm của chiến lược “diễn biến hòa bình”, của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” do tác động của “diễn biến hòa bình” đối với sự tồn vong của Đảng, của chế độ xã hội chủ nghĩa; ý thức rõ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đang là nguy cơ hiện hữu, rõ ràng, hết sức nguy hiểm ở nước ta hiện nay, Văn kiện Đại hội lần thứ XI của Đảng đã nhấn mạnh: Trong nội bộ, những biểu hiện xa rời mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có những diễn biến phức tạp. Văn kiện Đại hội lần thứ XII của Đảng cũng đã xác định: Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa XII) tiếp tục nhấn mạnh: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi, có mặt, có bộ phận còn diễn biến tinh vi, phức tạp hơn”; tham nhũng, lãng phí, tiêu cực vẫn còn nghiêm trọng, tập trung vào số đảng viên có chức vụ trong bộ máy nhà nước… Nhiều tổ chức đảng, đảng viên còn hạn chế trong nhận thức, lơ là, mất cảnh giác, lúng túng trong nhận diện và đấu tranh, ngăn chặn “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.
 “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ở nước ta hiện nay được đề cập ở đây là quá trình “tự diễn biến” theo chiều hướng suy giảm, suy thoái. Từ “tự diễn biến” đến một mức độ nào đó sẽ chuyển sang “tự chuyển hóa”. Từ “tự diễn biến” từng người đến “tự diễn biến” cả đội ngũ; từ “tự chuyển hóa” từng người đến “tự chuyển hóa” của cả một tổ chức, nếu chúng ta không có những biện pháp đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi hữu hiệu.
          “Tự diễn biến”, ‘tự chuyển hóa” diễn ra từ bên trong từng con người và bên trong từng tổ chức. Theo đó, việc xác định nguyên nhân của quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” phải đi tìm nguyên nhân từ chính trong con người, trong tổ chức là chủ yếu. Tuy nhiên, không thể không tính đến những nguyên nhân bên ngoài sẽ cùng với các nguyên nhân bên trong tạo nên “hợp lực” thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.
Thực tiễn sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa theo mô hình Xô viết ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu trong những năm 80 của thập kỷ XX cho thấy, “diễn biến hòa bình” và quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trong có quan hệ chặt chẽ với nhau. “Diễn biến hòa bình” từ bên ngoài sẽ thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trong. Tuy nhiên, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trong có cả nguyên nhân bên ngoài từ sự tác động của “diễn biến hòa bình” và có cả nguyên nhân bên trong do sự không thường xuyên tích cực học tập, tu dưỡng, rèn luyện của cán bộ, đảng viên.
 “Tự diễn biến” xét từ góc độ là sự suy giảm, suy thoái về mặt chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống dẫn đến “tự chuyến hóa” là một quá trình diễn ra từ bên trong mỗi tổ chức, mỗi con người. Nếu quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” lại diễn ra từ bên trong tổ chức đảng, tổ chức bộ máy nhà nước, từ bên trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt của Đảng và Nhà nước, thì tính chất lại càng cực kỳ nguy hiểm và sẽ gây nên hậu quả khôn lường đối với vai trò lãnh đạo của Đảng, vai trò quản lý, điều hành của Nhà nước, vai trò của đội ngũ cán bộ, đảng viên, đe dọa đến sự tồn vong của chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.   Bài đăng trong Tạp chí Lý luận chính trị Công an nhân dân – Học viện Chính trị Công an nhân dân, số 29, năm 2018
Để góp phần phòng, chống “diễn biến hòa bình” và đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ở nước ta hiện nay, cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp cả bên trong và bên ngoài, trong đó vấn đề nâng cao khả năng “tự bảo vệ” của mỗi tổ chức, mỗi con người trong đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” và ngăn chặn, đẩy lùi quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ở nước ta hiện nay là một trong những giải pháp hết sức quan trọng. Văn kiện Đại hội lần thứ X của Đảng đã nhấn mạnh: Nâng cao khả năng tự bảo vệ của mỗi người, của từng tổ chức, cơ quan, đơn vị.
Quan điểm về nâng cao khả năng “tự bảo vệ” của mỗi người, của từng tổ chức, cơ quan, đơn vị…của Đảng ta trong điều kiện hiện nay ở nước ta, không chỉ hoàn toàn phù hợp với quan điểm của V.I. Lênin về “Một cuộc cách mạng chỉ thực sự có giá trị khi nó biết tự vệ”, mà còn rất phù hợp với thực tiễn của cuộc cách mạng ở nước ta hiện nay, nhất là nước ta đang tiến hành công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện đang phải hàng ngày, hàng giờ đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” và quá trình “tự diễn biến’, “tự chuyển hóa” từ bên trong do tác động của “diễn biến hòa bình”; do sự tác động từ mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, mở cửa, hội nhập quốc tế; cộng với những tiêu cực nảy sinh trong quá trình xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Chỉ có nâng cao khả năng “tự bảo vệ” của mỗi người, của từng tổ chức, cơ quan, đơn vị…, tăng cường “sức đề kháng”, khả năng “miễn dịch” trước sự tác động từ mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, mở cửa, hội nhập quốc tế và sự chống phá của các thế lực thù địch, mới hy vọng đem lại cho chúng ta một sức mạnh mới trong công cuộc đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” và ngăn chặn, đẩy lùi quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở nước ta hiện nay.
Thực tiễn những sự việc cụ thể diễn ra vừa qua cho chúng ta thấy rõ một thực tế là, trước sự tác động tiêu cực của cơ chế thị trường, của quá trình mở cửa, hội nhập, trong điều kiện các thế lực thù địch thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” để thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trong, thì phương thức bảo vệ có hiệu quả nhất lại chính là “tự bảo vệ”. Ở đâu và lúc nào, tổ chức nào, con người nào biết thường xuyên, tích cực, chủ động, biết “tự bảo vệ” tổ chức mình, con người mình, thì ở đó, lúc đó, tổ chức, con người đó đủ sức vượt qua mọi thử thách, đứng vững và phát triển. Ngược lại, ở đâu, lúc nào, tổ chức, con người nào xem nhẹ, sao nhãng việc chăm lo đến vấn đề “tự bảo vệ”, thì ở đó, lúc đó, tổ chức, con người đó bị sa ngã. Không ít người, thậm chí cả cán bộ cao cấp, đã không bị gục ngã trong chiến tranh vũ trang ác liệt trước đây, mà lại bị gục ngã bởi “viên đạn bọc đường” trong điều kiện hòa bình, dưới sự tác động từ mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, sự cám dỗ của danh vị, tiền tài… Thực tế cho thấy, vừa qua một số tổ chức, cán bộ, đảng viên, có cả cán bộ cao cấp bị thi hành kỷ luật là bằng chứng cho thấy sự suy giảm khả năng “tự bảo vệ” của tổ chức đó, con người đó trong công cuộc đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” và ngăn chặn, đẩy lùi quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ hiện nay.
Để nâng cao khả năng “tự bảo vệ” của mỗi người, của từng tổ chức, cơ quan, đơn vị trước sự tác động của “diễn biến hòa bình”, sự tác động từ mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, mở cửa, hội nhập quốc tế và sự chống phá của các thế lực thù địch; góp phần phòng, chống “diễn biến hòa bình” và ngăn chặn, đẩy lùi quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyến hóa” trong nội bộ hiện nay, cần phải thực hiện tốt một số nội dung, biện pháp chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, thường xuyên tăng cường giáo dục chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân. Giáo dục nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân về mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; về tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội và những hạn chế không thể tránh khỏi trên con đường phát triển. Cần phải tăng cường công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn góp phần vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện mới. Đảm bảo cho việc tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ chí Minh một cách có cơ sở khoa học, thuyết phục, không áp đặt chủ quan.
Thứ hai, giáo dục nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân về những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới đất nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo; đồng thời, nhận thức rõ những hạn chế, bất cập không thể tránh khỏi trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, thực hiện cơ chế thị trường, mở cửa, hội nhập quốc tế. Phải từng bước thông qua đường lối, chủ trương, chính sách và công tác lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực tiễn của hệ thống chính trị, của đội ngũ cán bộ, đảng viên để từng bước hiện thực hóa mục tiêu, lý tưởng, tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội trên đất nước ta. Từng bước nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, nhất là ở vùng sâu, vùng cao, vùng xa, những căn cứ cách mạng trước đây và những gia đình, những người có nhiều công lao đóng góp cho công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc với những chế độ, chính sách phù hợp.
Thứ ba, chăm lo xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả, nhất là sự trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức; có khả năng đề ra những chủ trương, đường lối, chính sách đúng đắn, nhất là những quyết sách lớn về phát triển kinh tế – xã hội, về chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Có năng lực tổ chức lãnh đạo, quản lý, chỉ đạo thực tiễn giỏi để nhanh chóng đưa nghị quyết, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào thực tiễn cuộc sống. Kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục, rèn luyện với tự giáo dục, tự rèn luyện, chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên cả về phẩm chất, năng lực, phương pháp, tác phong công tác, xứng đáng là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân, vừa “hồng, vừa chuyên” như Bác Hồ đã dạy. Đặc biệt là kiên quyết đấu tranh chống mọi biểu hiện suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống theo tinh thần nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, khóa XII đạt được mục đích, yêu cầu đề ra. Tiếp tục thực hiện tốt việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.
Thứ tư, chăm lo xây dựng nhân tố con người, nâng cao khả năng “tự bảo vệ”, tăng cường “sức đề kháng”, khả năng “miễn dịch” của mỗi tổ chức, mỗi con người trước sự tác động từ mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, mở cửa, hội nhập quốc tế; trước mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch bằng “diễn biến hòa bình”. Đây là biện pháp tốt nhất, tích cực nhất, chủ động nhất và cũng là biện pháp có hiệu quả nhất để phòng, chống “diễn biến hòa bình”, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở nước ta hiện nay.
 Thứ năm, tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền kịp thời, có định hướng đúng đắn nhằm cung cấp thông tin chính thống cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân về chủ nghĩa tư bản, nhất là vấn đề nhận thức đúng đắn, có cơ sở lý luận và thực tiễn về bản chất của chủ nghĩa tư bản, về những mâu thuẫn cơ bản không thể giải quyết được trong xã hội tư bản, về sự điều chỉnh, thích nghi để tạm thời tồn tại của chủ nghĩa tư bản và cả những thành tựu đạt được của chủ nghĩa tư bản trong phát triển lực lượng sản xuất, khoa học kỹ thuật, công nghệ, trong khoa học tổ chức quản lý.
Thứ sáu, kết hợp chặt chẽ giữa “xây” với “chống”, lấy xây dựng cho ta mạnh lên về mọi mặt là chính, nhất là giữ vững sự ổn định chính trị xã hội, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng và phát triển bền vững nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; xây dựng và phát triển nền văn hoá tiến tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; đảm bảo trật tự, an toàn xã hội; tăng cường quốc phòng, an ninh; mở rộng quan hệ đối ngoại, nâng cao vị thế và uy tín trên trường quốc tế. Thường xuyên tích cực đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch đối với cách mạng nước ta, nhất là trên mặt trận tư tưởng, văn hóa; tích cực đấu tranh phản bác những quan điểm thù địch, sai trái chống phá công cuộc đổi mới đất nước vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong tình hình mới./.

                                                                                        H.A