Thứ Ba, 10 tháng 1, 2023

 

Cơ sở thực tiễn khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam

 

Thứ nhất, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã được khẳng định trong thực tế tiến hành cách mạng và được nhân dân thừa nhận.

Thực tiễn Việt Nam đã từng có thời kỳ đa đảng. Năm 1946, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam còn tồn tại hai đảng đối lập là Việt Nam Quốc dân Đảng và Việt Nam cách mạng đồng minh Hội. Hai đảng này không đại diện cho lợi ích quốc gia, dân tộc và nhân dân, mà bám gót ngoại bang, nên không được nhân dân chấp nhận. Có thời kỳ, bên cạnh Đảng Cộng sản Việt Nam còn có Đảng Dân chủ Việt Nam (1944 - 1988) và Đảng Xã hội Việt Nam (1946 - 1988), nhưng các đảng ấy cũng không được đa số nhân dân giao cho sứ mệnh lịch sử lãnh đạo cách mạng. Các đảng ấy, đều tuân thủ đường lối lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam được nhân dân giao phó, ủy thác. Sau đó hai đảng này tuyên bố tự giải thể và chỉ còn lại Đảng Cộng sản Việt Nam. Như vậy, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là hiển nhiên, là sự lựa chọn và giao phó của lịch sử, của nhân dân và dân tộc Việt Nam, Đảng không tranh giành vai trò lãnh đạo với bất kỳ đảng phái nào.

Trong hoàn cảnh Việt Nam hiện nay, Đảng ta là đảng cầm quyền chính là thông qua việc nắm quyền, Đảng thực hiện sứ mệnh lãnh đạo xã hội, lãnh đạo hệ thống chính trị, lãnh đạo nhân dân, để đạt được mục tiêu cách mạng mà Đảng và dân tộc đều đồng thuận.

Thứ hai, vai trò lãnh đạo lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã được thực tế kiểm nghiệm, nhất là vào những bước ngoặt của lịch sử.

Từ khi ra đời cho đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân ta tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài, gian khổ, vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách và giành được những thắng lợi vĩ đại: Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đập tan ách thống trị của thực dân, phong kiến, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, đưa dân tộc ta tiến vào kỷ nguyên độc lập, tự do.Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng duy nhất lãnh đạo nhân dân giành thắng lợi trong các cuộc kháng chiến chống xâm lược, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, bảo vệ Tổ quốc, làm tròn nghĩa vụ quốc tế, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.Đặc biệt, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, công cuộc đổi mới đã thu được nhiều thắng lợi: Đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với những năm trước đổi mới. Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên. Đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Đất nước chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay.

Tuy nhiên, trong lãnh đạo, Đảng có lúc phạm sai lầm, khuyết điểm, có những sai lầm nghiêm trọng. Đảng đã nghiêm túc tự phê bình, sửa chữa khuyết điểm, tự đổi mới, chỉnh đốn để tiếp tục đưa sự nghiệp cách mạng tiến lên. Nhưng, một số kẻ thù địch, cơ hội chính trị lại không thấy hoặc cố tình lờ đi điều ấy, hơn thế, họ còn thổi phồng những khuyết điểm, sai lầm của Đảng và quy kết Đảng không đủ năng lực lãnh đạo trong điều kiện mới của đất nước. Rõ ràng đây là một sự xuyên tạc, vu cáo Đảng ta, nhằm kích động, chia rẽ nội bộ Đảng, chia rẽ Đảng, Nhà nước với nhân dân, hòng làm tan rã Đảng ta, chế độ ta từ gốc, từ bên trong, hết sức thâm độc và nguy hiểm.

Thứ ba, nhân dân Việt Nam đã thừa nhận và ủy quyền Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng duy nhất lãnh đạo, không chấp nhận đa nguyên, đa đảng.

Quan hệ Đảng - dân là mối quan hệ bản chất và máu thịt của Đảng ta. Ngay từ khi ra đời Đảng luôn gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, được nhân dân thương yêu, đùm bọc, che chở và xây dựng. Hơn 90 năm đi theo Đảng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, các tầng lớp nhân dân Việt Nam nhận rõ hơn ai hết, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam, không có một lực lượng, một tổ chức nào có thể đại diện chân chính cho lợi ích của mình. Vì thế, nhân dân tin tưởng ủy thác trao quyền lãnh đạo cho Đảng Cộng sản Việt Nam.

Thực tế cách mạng Việt Nam cho thấy, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với đất nước là sự lựa chọn tất yếu của lịch sử, là ý nguyện của nhân dân. Vì thế, các tầng lớp nhân dân mong muốn Đảng luôn giữ vững vai trò lãnh đạo, không chia sẻ quyền lực với các lực lượng khác khác trong vai trò cầm quyền của mình. Bởi đó là nguyên tắc đã được được hiến định và là một kết quả tất yếu của lịch sử cách mạng Việt Nam, không thể thay đổi

Thứ tư, ở Việt Nam, không có một lực lượng chính trị nào khác, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm, uy tín và khả năng lãnh đạo đất nước và xã hội.

Tuyệt đại đa số nhân dân mong muốn Đảng tự chỉnh đốn, khắc phục các khuyết điểm, yếu kém để hoàn thành sứ mệnh của mình là lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Để xứng đáng với sự tin cậy của nhân dân, Đảng đã đẩy mạnh công tác xây dựng, chỉnh đốn, làm cho Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh, làm tròn trách nhiệm là đội tiên phong, vai trò của Đảng cầm quyền và lãnh đạo sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn mới. Đặc biệt, Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” đã đề ra bốn nhóm giải pháp giải quyết những vấn đề cấp bách trong công tác xây dựng Đảng, trong đó nhóm giải pháp thư tư nêu rõ việc phát huy vai trò, trách nhiệm của quần chúng nhân dân trong nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay.

Tóm lại, quan điểm cho rằng "Đảng Cộng sản Việt Nam đã hết vai trò lịch sử, không còn đủ khả năng để lãnh đạo đất nước" là quan điểm sai lầm, phản khoa học, phi thực tế. Quan điểm này dựa trên những lập luận mang tính chủ quan, võ đoán, thiếu căn cứ khoa học, bất chấp đạo lý và lẽ phải thông thường, phiến diện và phi lôgic. Thực tiễn cách mạng Việt Nam và những thành quả mà nhân dân ta đạt được, dưới sự lãnh đạo của Đảng hơn 90 năm qua, đã hoàn toàn bác bỏ quan điểm sai trái, thù địch đó và chứng minh Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất có đủ khả năng lãnh đạo đất nước thực hiện mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh", xây dựng cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân./.

NMT

 Cơ sở lý luận khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam

Thứ nhất, khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội là cần thiết, tất yếu, khách quan.

Vấn đề Đảng Cộng sản cầm quyền là một trong những nội dung quan trọng được các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đề cập. Trong tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C. Mác và Ph. Ăngghen đã chỉ rõ: giai cấp công nhân là giai cấp cách mạng nhất, tiên tiến nhất, giai cấp có sứ mệnh lịch sử đào huyệt chôn chủ nghĩa tư bản. Nhưng muốn thực hiện được sứ mệnh lịch sử của mình thì giai cấp công nhân phải có "đội tiên phong với lý luận tiên phong và hành động tiên phong" để lãnh đạo. Đội tiên phong chính là Đảng Cộng sản, - bộ tham mưu chiến đấu của giai cấp công nhân. Các ông đã chứng minh, chính đảng của giai cấp công nhân ra đời là một đòi hỏi tất yếu khách quan của cuộc đấu tranh giai cấp cần có lực lượng lãnh đạo giai cấp thực hiện sứ mệnh lịch sử thế giới của mình. Ph. Ăngghen cho rằng, Đảng Cộng sản ra đời là điều kiện tiên quyết để bảo đảm cho cách mạng xã hội chủ nghĩa giành thắng lợi và thực hiện được mục tiêu cuối cùng của nó là thủ tiêu giai cấp.

Kế thừa tư tưởng trên đây của Mác - Ăngghen, V.I. Lênin khẳng định: "Về nguyên tắc, Đảng Cộng sản phải giữ vai trò lãnh đạo, đó là điều không còn phải nghi ngờ gì nữa"[2]. Bởi Đảng Cộng sản là đội tiên phong giác ngộ có tổ chức, và là tổ chức chặt chẽ nhất của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, chỉ có Đảng Cộng sản mới có đủ phẩm chất chính trị và năng lực, xứng đáng là người lãnh đạo xã hội mới. V.I. Lênin cũng chỉ rõ: "Đảng Cộng sản…. cầm quyền tức là Đảng không chỉ lãnh đạo Nhà nước mà là lãnh đạo cả xã hội"[3]. Và trong điều kiện cầm quyền đó, Đảng phải là "trí tuệ, danh dự và lương tâm của thời đại"[4].

Sự ra đời của một Đảng Cách mạng chân chính là hết sức cần thiết. Giải đáp vấn đề "Cách mệnh trước hết phải có cái gì?",Hồ Chí Minh chỉ rõ "trước hết phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững mạnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thì thuyền mới chạy"[5].Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (03-02-1930) là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam. Đây là một bước ngoặt lịch sử trọng đại, chấm dứt cuộc khủng hoảng kéo dài về tổ chức và đường lối của cách mạng Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. "Nó chứng tỏ rằng giai cấp vô sản ta đã trưởng thành và đủ sức lãnh đạo cách mạng"[6].

Thứ hai, Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước và xã hội là chính danh, hợp hiến và hợp pháp.

Trên thế giới, việc quy định về đảng chính trị trong Hiến pháp mang tính phổ biến. Chẳng hạn: Hiến pháp của các nước: Thụy Sĩ, Hàn Quốc, Cộng hòa Liên bang Đức, Trung Quốc, Hàn Quốc có 01 điều; Hiến pháp của các nước Thổ Nhĩ Kỳ, Ucraina, Ba Lan có 02 điều; Hiến pháp Udơbêkixtan có 03 điều,… quy định về đảng chính trị[7].

Các bản Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1980, năm 1992 và năm 2013 đều có 01 điều quy định: "Đảng Cộng sản Việt Nam… là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội"[8], là phù hợp với xu hướng chung của thế giới hiện nay, không phải là cá biệt.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định: "Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội Việt Nam"[9]. Điều lệ Đảng quy định: "Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền… Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị, đồng thời là một bộ phận của hệ thống ấy".

Như vậy, vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội được xây dựng trên cơ sở pháp lý đồng bộ (hệ thống các văn bản pháp luật) và đồng thuận (điều lệ, quy định) của các tổ chức có liên quan, không phải do Cương lĩnh, Điều lệ Đảng "đơn phương" quy định. Đây là một yếu tố quan trọng bảo đảm tính chính danh đầy đủ được quy định tại Hiến pháp và Điều lệ Đảng, điều lệ các tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức xã hội nghề nghiệp về mối quan hệ của Đảng với các tổ chức khác ở Việt Nam.

Thứ ba, Đảng đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc.

Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) của Đảng xác định: "Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc"[10]. Bởi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Trên thực tế, Đảng không có lợi ích nào khác ngoài việc phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Mục đích của Đảng là xây dựng nước Việt Nam độc lập, dân chủ, giàu mạnh, xã hội công bằng, văn minh, không còn người bóc lột người, thực hiện thành công chủ nghĩa xã hội và cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản. Chính vì vậy, các thế lực thù địch cho rằng "Đảng Cộng sản Việt Nam đã hết vai trò lịch sử, không còn đủ khả năng để lãnh đạo đất nước" là quan điểm sai lầm, phản khoa học.

LHS


 Thủ đoạn của các thế lực thù địch bôi nhọ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam

Chúng tung ra quan điểm "Đảng Công sản Việt Nam đã hết vai trò lịch sử, không đủ khả năng để lãnh đạo đất nước". Mục đích và thủ đoạn của chúng là gì? Có thể xem xét trên các khía cạnh sau đây:

Về chính trị: chúng cho rằng "Ở Việt Nam, công nghiệp chưa phát triển, số lượng, chất lượng công nhân giai cấp công nhân bị hạn chế. Đảng Cộng sản Việt Nam không thể gọi là Đảng của giai cấp công nhân được, nó có rất ít tính tính công nhân mà mang đậm tính nông dân, chịu ảnh hưởng nặng nề của chủ nghĩa phong kiến". Vì thế, "giai cấp công nhân và Đảng Cộng sản không thể lãnh đạo, xây dựng được chủ nghĩa xã hội đích thực ở Việt Nam" (!). "Đảng không nên giữ vai trò lãnh đạo chính trị, không nên và không thể lãnh đạo tuyệt đối". Chúng phê phán Đảng ta đã sai lầm về chính trị khi "vội vàng xóa bỏ" đảng Dân chủ và đảng Xã hội, "tạo điều kiện cho Đảng Cộng sản độc đoán, chuyên quyền, bóp nghẹt tự do, dân chủ". Chúng kêu gọi: "Từ bỏ độc quyền lãnh đạo là vấn đề căn bản vì đó là then chốt của chế độ dân chủ. Đảng Cộng sản Việt Nam cho mình cái quyền đứng trên dân tộc, cái đó không ai chịu chấp nhận"; đòi "xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng".

Về tư tưởng: chúng cho rằng "Đảng Cộng sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng là sai lầm", vì rằng "chủ nghĩa Mác - Lênin là ngoại lai, bắt nguồn từ phương Tây, nên không còn phù hợp với Việt Nam"; rằng "Học thuyết Mác là sản phẩm của thế kỷ XIX, do vậy, đem đặt nó trong bối cảnh thế kỷ XXI nếu không lạc hậu, thì cũng chẳng thể là khoa học"(!); "chủ nghĩa Mác đã đóng góp khá nhiều cho lịch sử, đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử rồi, nó không còn phù hợp với thời đại ngày nay"; v.v..

Đối với tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng cho rằng, Hồ Chí Minh là nhà "dân tộc chủ nghĩa chứ không phải là nhà mácxít"; "không thể lấy tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng" vì không phù hợp với điều kiện mới của kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. Đảng Cộng sản Việt Nam đề cao tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, là để "an dân" chứ thực chất không theo Hồ Chí Minh (!?).

Về phương diện tổ chức: chúng tập trung đánh vào các nguyên tắc tổ chức sinh hoạt Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ. "Trong nội bộ Đảng vẫn duy trì cái gọi là "chế độ tập trung dân chủ" mà hầu hết các đảng cộng sản trên thế giới đã từ bỏ, vì thế thực chất, sự quyền lực bao giờ cũng đưa đến chỗ triệt tiêu dân chủ. Nhiều lắm dân chủ chỉ trở thành đồ rởm, chỉ các tác dụng trang trí cho sự tập trung quyền lực". Chúng cho rằng, nguyên tắc tập trung dân chủ đã lỗi thời, nó chỉ thích hợp với hoạt động của Đảng khi chưa giành được chính quyền, còn hoạt động bí mật hoặc lãnh đạo trong chiến tranh; thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ là nguyên nhân gây ra độc đoán, chuyên quyền trong Đảng và trong xã hội, sẽ không có dân chủ, không có nhân đạo.

Chúng còn cho rằng, trong Đảng có nhiều phe phái: phe cải cách và phe bảo thủ; trong Đảng còn có các nhóm lợi ích, v.v..

Về đạo đức: chúng bịa đặt, bôi nhọ, nói xấu cán bộ Đảng và Nhà nước, đánh vào sinh hoạt, đạo đức, lối sống các đồng chí lãnh đạo; tung ra nhiều những chuyện giật gân trong sinh hoạt của lãnh đạo. Chúng cho rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam ngày càng suy thoái, đảng viên của Đảng suy thoái, biến chất; tham nhũng, tham ô, lãng phí là căn bệnh trầm kha không thể chữa trị được. Từ đó chúng suy diễn thành "Đảng tham nhũng", "Nhà nước tham nhũng"...

Thực chất, đây là những thủ đoạn dọn đường cho sự hình thành tư tưởng đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập hòng vô hiệu hóa vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Bàn Luận


 ĐẤU TRANH BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG TRONG CÁC TỔ CHỨC THANH NIÊN

Trong thời gian qua, các tổ chức thanh niên Việt Nam đã có nhiều hoạt động đấu tranh, phản bác quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ chế độ. Các cơ quan quản lý nhà nước về thanh niên đã tăng cường quản lý và định hướng thông tin, quyết liệt chặn, lọc các thông tin xấu, độc trên internet, mạng xã hội; ngăn chặn kịp thời các chiến dịch kích động biểu tình, bạo loạn, sử dụng internet, mạng xã hội để tung tin gây mất ổn định an ninh quốc gia.

Công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức trong thanh niên được quan tâm với nhiều hình thức đa dạng như: các cuộc thi Olympic các môn khoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; các chương trình cập nhật kiến thức, đổi mới, nâng cao chất lượng giảng dạy các môn lý luận chính trị; các chương trình thông tin, thời sự... cho thanh niên. Công tác chính trị, tư tưởng của Đảng trong các tổ chức thanh niên có nhiều đổi mới, góp phần quan trọng vào việc nâng cao nhận thức, đổi mới tư duy, thống nhất tư tưởng trên những vấn đề cơ bản của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc...

Nhìn chung, công tác đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch của các tổ chức thanh niên đã đạt được một số kết quả quan trọng, khẳng định vai trò chủ đạo của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng trong văn hóa dân tộc; góp phần quan trọng vào những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử của hơn 35 năm đổi mới.

Tuy nhiên nhận thức về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong đa số thanh niên vẫn còn những bất cập, hạn chế; nhận thức về âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch chưa đầy đủ, sâu sắc. Việc đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong các tổ chức thanh niên chưa thường xuyên, liên tục, còn bị động theo tình huống; việc cung cấp thông tin chính thống cho thanh niên chưa kịp thời, chưa đầy đủ; nhiều bài viết đấu tranh, phản bác chưa đủ sức thuyết phục về khoa học, lý luận, thiếu sức chiến đấu. Trình độ khai thác, sử dụng công nghệ thông tin của không ít tổ chức thanh niên còn bất cập, lúng túng, nhất là sử dụng công nghệ cao trong đấu tranh trên không gian mạng. Công tác giảng dạy, học tập lý luận chính trị, tổng kết thực tiễn đấu tranh, phản bác trong các tổ chức thanh niên chưa được chú trọng thường xuyên. Nội dung giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng về mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng, chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong các tổ chức thanh niên còn chậm đổi mới, thiếu sinh động, kém hiệu quả. Chưa có bộ phận chuyên sâu trong tổ chức thanh niên có trình độ lý luận chính trị, kỹ năng, kinh nghiệm sử dụng công nghệ cao trên mạng internet để chủ động đấu tranh, phản bác bằng những hình thức, phương pháp, nội dung phù hợp. Công tác kiểm tra, xử lý kỷ luật phát ngôn của thanh niên còn bị xem nhẹ, nhiều sai phạm lớn chậm được phát hiện xử lý...

Bên cạnh, nguyên nhân khách quan, nguyên nhân chủ quan của hạn chếbất cập nêu trên xuất phát từ nhận thức lơ là, coi nhẹ của không ít cấp ủy, chính quyền, đoàn thể. Việc học tập lý luận chính trị ở nhiều tổ chức thanh niên thiếu nghiêm túc, chỉ nhằm hợp thức hóa, theo phong trào. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức lực lượng chưa tập trung, thiếu thống nhất; thiếu tính chuyên nghiệp, kỹ năng, kinh nghiệm và trình độ sử dụng công nghệ...

Sự Thật


 NHỮNG ĐÒI HỎI VÔ LÝ, QUÁ TRỚN

Những năm qua, do cách nhìn thiên lệch, thiếu thiện chí nên một số cá nhân, tổ chức hoạt động dưới danh nghĩa “người bảo vệ” tự do tôn giáo và nhân quyền thế giới vẫn tung ra những thông tin thiếu khách quan, những nhận định sai trái về tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam. 

Điển hình là gần đây, Ủy ban Tự do tôn giáo quốc tế Mỹ (USCIRF) công bố báo cáo về tình hình tự do tôn giáo quốc tế năm 2021, trong đó nêu tình hình và kết quả thực hiện tôn giáo của 27 nước và một số thực thể, tổ chức trên thế giới mà USCIRF đánh giá là có những vi phạm “nghiêm trọng” hoặc “đặc biệt nghiêm trọng” để đề xuất Bộ Ngoại giao Mỹ đưa vào “danh sách các nước cần quan tâm đặc biệt” hoặc “danh sách cần theo dõi đặc biệt” về tự do tôn giáo, từ đó nhằm áp đặt chế tài với các quốc gia này trong hỗ trợ tài chính và hợp tác trên một số lĩnh vực.

Trong nội dung báo cáo về Việt Nam, USCIRF đưa ra nhận xét với giọng điệu đầy kẻ cả rằng điều kiện tự do tôn giáo của Việt Nam trong năm 2021 không có gì khác biệt so với năm 2020. Và, thông qua việc đả kích tình hình bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam, USCIRF thậm chí còn đòi sửa đổi Luật Tín ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam.

Phải khẳng định rằng, không chỉ riêng báo cáo năm 2021 mà các báo cáo thường niên của USCIRF đưa ra trong những năm gần đây đều được đánh giá là chưa chính xác, thiếu thiện chí, thiếu khách quan về tình hình tự do tôn giáo ở nhiều nước, trong đó có Việt Nam. Thậm chí, ngay cả trong chính giới Mỹ và các tổ chức nhân quyền ở Mỹ cũng xuất hiện những ý kiến cho rằng, cách tiếp cận của USCIRF nặng về chỉ trích, không giúp cải thiện tự do tôn giáo trên toàn cầu đúng với mục đích mà Quốc hội và Chính phủ Mỹ đặt ra.

Trên thực tế, Việt Nam là quốc gia có nhiều loại hình tín ngưỡng tôn giáo, trong đó có cả tôn giáo nội sinh và tôn giáo ngoại nhập và từng được ví như một “bảo tàng” về tín ngưỡng, tôn giáo của thế giới. Theo thống kê cập nhật từ Ban Tôn giáo Chính phủ, hiện nay ở Việt Nam có khoảng 95% dân số có đời sống tín ngưỡng và hơn 26,5 triệu tín đồ, chức sắc của các tôn giáo. Tính đến hết năm 2021 đã có 16 tôn giáo được Nhà nước Việt Nam công nhận, trong đó có Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Cao đài, Phật giáo Hòa hảo...

Chính sách nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam là bảo đảm và thúc đẩy quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng của người dân, bảo đảm công bằng, không phân biệt đối xử với các tôn giáo. Việt Nam cũng là một trong số ít các quốc gia trên thế giới có đạo luật về tôn giáo, cụ thể là Luật Tín ngưỡng, tôn giáo được Quốc hội thông qua ngày 18/11/2016, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2018. Luật Tín ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam quy định rất rõ các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật, không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo và lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật.

Đồng thời, Nhà nước Việt Nam tôn trọng, bảo vệ giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của tín ngưỡng, tôn giáo, truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh người có công với đất nước và cộng đồng, đáp ứng nhu cầu tinh thần của nhân dân. Nhà nước cũng bảo hộ các cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo và tài sản hợp pháp của các cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo. Đồng thời, nghiêm cấm các hành vi phân biệt đối xử, kỳ thị vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo, ép buộc, mua chuộc hoặc cản trở người khác theo hoặc không theo tín ngưỡng, tôn giáo, xúc phạm tín ngưỡng, tôn giáo; các hoạt động lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để xâm phạm quốc phòng, an ninh, chủ quyền quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, môi trường, xâm phạm đời sống xã hội cũng như thân thể, tính mạng, sức khỏe của nhân dân... Và việc xử lý đối với các hoạt động vi phạm pháp luật liên quan đến tôn giáo cũng dựa trên những quy định này.

Quyền tự do tôn giáo là vấn đề có tính lịch sử, nghĩa là phụ thuộc vào từng thời điểm lịch sử cụ thể ở từng quốc gia, gắn với từng thể chế chính trị-xã hội và điều kiện kinh tế - văn hóa - xã hội cụ thể nhất định. Nói cách khác, không thể tồn tại một khái niệm về quyền tự do tôn giáo chung chung, trừu tượng mà không gắn với một bối cảnh và thực thể nhất định.

Vì lẽ đó, không thể đem giá trị, quan niệm về tự do tôn giáo ở một quốc gia này để áp dụng hay đo lường, đánh giá mức độ quyền tự do tôn giáo ở một quốc gia khác. Đặc biệt, trên phương diện quan hệ đối ngoại giữa các quốc gia, thể chế chính trị bình đẳng, độc lập thì càng không thể đem tiêu chuẩn về tự do tôn giáo ở quốc gia này để áp đặt lên một quốc gia khác và buộc quốc gia đó phải tuân theo.

Đây cũng là những điều mà USCIRF hay bất cứ cá nhân, tổ chức nào đang muốn đưa ra những đòi hỏi quá trớn đối với việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam cần phải học thuộc!

Hoằng Tháo

 Quân đội nhân dân Việt Nam luôn tuyệt đối trung thành và giữ vững niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam

Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam ra đời ngày 22-12-1944 từ những tổ chức vũ trang tiền thân trong phong trào đấu tranh cách mạng giành độc lập, tự do của dân tộc, do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp sáng lập, tổ chức, lãnh đạo. Lịch sử cách mạng Việt Nam đã khẳng định tính tất yếu, đặc thù ra đời và vai trò to lớn của QĐND Việt Nam trong sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta. Bởi vậy, về bản chất, QĐND Việt Nam là Quân đội kiểu mới, công cụ bạo lực vũ trang của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và mang bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc.

Là công cụ bạo lực vũ trang chủ yếu của nhà nước xã hội chủ nghĩa, QĐND Việt Nam cùng với các giai cấp, thành phần của toàn dân tộc tiến hành đấu tranh chống lại các thế lực xâm lược để giành độc lập dân tộc và thực hiện thống nhất nước nhà. Sau khi đất nước độc lập, thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, QĐND Việt Nam là lực lượng nòng cốt của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Thực tế lịch sử đấu tranh cách mạng cho thấy, từ khi ra đời đến nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Quân đội ta luôn hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ được giao phó. Bản chất giai cấp công nhân và truyền thống vinh quang của Quân đội ta đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”. Nhưng thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của hơn 35 năm đổi mới toàn diện đất nước, có sự đóng góp rất quan trọng của QĐND Việt Nam.

Là Quân đội kiểu mới do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, vì vậy, QĐND Việt Nam mang bản chất giai cấp công nhân sâu sắc. Bản chất đó được biểu hiện sâu sắc ở mục tiêu, lý tưởng chiến đấu; hệ tư tưởng và nguyên tắc tổ chức xây dựng Quân đội. Đảng Cộng sản Việt Nam và nhà nước xã hội chủ nghĩa quyết định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu; quyết định các nguyên tắc tổ chức và cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội. Hệ tư tưởng trong QĐND Việt Nam là Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.  

Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 đã hiến định chương IV về bảo vệ Tổ quốc, bao gồm các Điều 64 đến Điều 68 đã thể hiện đầy đủ, sâu sắc quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về bảo vệ Tổ quốc. Bản chất chính trị của lực lượng vũ trang nhân dân nói chung và QĐND Việt Nam nói riêng, thể hiện ở những nội dung cụ thể sau.

Thứ nhất, vai trò của QĐND Việt Nam đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Điều 64 quy định: Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là sự nghiệp của toàn dân và an ninh nhân dân mà nòng cốt là lực lượng vũ trang nhân dân; phát huy sức mạnh tổng hợp của đất nước để bảo vệ vững chắc Tổ quốc, góp phần bảo vệ hòa bình ở khu vực và trên thế giới. Cơ quan, tổ chức, công dân phải thực hiện đầy đủ nhiệm vụ quốc phòng và an ninh. Như vậy, Hiến pháp đã xác định rõ QĐND Việt Nam cùng với các lực lượng vũ trang nhân dân giữ vai trò nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Thứ hai, chức năng, nhiệm vụ của QĐND Việt Nam. Điều 65 quy định: Lực lượng vũ trang nhân dân tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, nhân dân, với Đảng và Nhà nước, có nhiệm vụ bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội; bảo vệ nhân dân, Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa, cùng toàn dân xây dựng đất nước và thực hiện nghĩa vụ quốc tế.

Thứ ba, phương hướng xây dựng QĐND Việt Nam. Điều 66, 67, 68 quy định: Nhà nước xây dựng QĐND cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, có lực lượng thường trực hợp lý, lực lượng dự bị động viên hùng hậu, lực lượng dân quân tự vệ vững mạnh và rộng khắp, làm nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng.

Thứ tư, quy định trách nhiệm của Nhà nước đối với sự nghiệp xây dựng QĐND Việt Nam. Nhà nước phát huy tinh thần yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng của nhân dân, giáo dục quốc phòng và an ninh cho toàn dân; xây dựng công nghiệp quốc phòng, an ninh; bảo đảm trang bị cho lực lượng vũ trang, kết hợp quốc phòng, an ninh với kinh tế, kinh tế với quốc phòng, an ninh; thực hiện chính sách hậu phương Quân đội; bảo đảm đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ, chiến sĩ, công nhân, viên chức phù hợp với tính chất hoạt động của QĐND; xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân hùng mạnh, không ngừng tăng cường khả năng bảo vệ Tổ quốc.

Kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới và bảo đảm sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng; kiên định, giữ vững nguyên tắc Đảng Cộng sản Việt Nam là người tổ chức và lãnh đạo, Nhà nước quản lý QĐND Việt Nam-là nhân tố quyết định sự trưởng thành và chiến thắng của Quân đội và là nhân tố bảo đảm chính trị của Quân đội ta.

Các thế lực thù địch, phản động từ trước đến nay cũng hiểu rất rõ điều đó. Do vậy, chúng luôn tìm mọi cách công kích, phá hoại, nhằm tiến tới loại bỏ sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội, trong đó có quan điểm “dân sự hóa” Quân đội, tạo nguyên cớ cho các thế lực có thâm thù với cách mạng tiến hành “cuộc chiến không đánh mà thắng”, tiến tới xóa bỏ hoàn toàn chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

Vì vậy, việc nhận diện kịp thời và phê phán sự phi lý, phản động của quan điểm “dân sự hóa” Quân đội là việc làm cấp thiết trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay. Việc phát huy sức mạnh tổng hợp các tổ chức, các lực lượng trong phòng, chống luận điệu “dân sự hóa” Quân đội, góp phần tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, suy cho cùng cũng là bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với QĐND Việt Nam./.

NMT


 Thực chất của quan điểm “dân sự hóa” Quân đội

Một số học giả nước ngoài và các thế lực thù địch đang ra sức tuyên truyền cho quan điểm “siêu giai cấp” của Quân đội, “dân sự hóa” Quân đội và đi đến kết luận: Quân đội là công cụ của toàn xã hội. Họ cho rằng, "sự tồn tại của Quân đội là cần thiết để bảo đảm cho hoạt động bình thường của bất kỳ hệ thống xã hội nào. Vì vậy, Quân đội là tổ chức đứng ngoài xã hội và không có bản chất giai cấp; là lực lượng vũ trang “trung lập về chính trị” và phải được “dân sự hóa” triệt để”. Thực chất của quan điểm trên nhằm thực hiện mưu đồ “vô hiệu hóa” quân đội ở các nước xã hội chủ nghĩa dẫn đến dao động về tư tưởng, mất phương hướng chính trị, phai nhạt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, hướng tới xóa bỏ quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam. Đây là một thủ đoạn nham hiểm trong chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, phản động.

Bên cạnh đó, một số người còn lơi dụng viện dẫn vào học thuyết “Tam quyền phân lập”, ở một số nhà nước tư sản đã ban hành luật thể hiện “dân sự quản lý quân sự”, quân đội tách ra khỏi sự ảnh hưởng, chi phối của đảng phái. Điều này là hoàn toàn không đúng trong thực tế.

Bởi lẽ, phía sau chính phủ vẫn là một chính đảng đảng cầm quyền (hoặc chi phối chính sách của chính phủ). Các đảng cầm quyền vẫn can thiệp vào quản lý nhà nước về quốc phòng. Với tính cách là một hiện tượng chính trị-xã hội, bất cứ quân đội nào trong lịch sử cũng mang bản chất giai cấp sâu sắc. Sự quyết định bản chất giai cấp của một quân đội là ở chỗ: Quân đội đó là chỗ dựa của chế độ chính trị-xã hội nào; hoạt động của quân đội đó bảo vệ lợi ích cho giai cấp nào và bản chất giai cấp của nó phụ thuộc một cách trực tiếp vào bản chất giai cấp của nhà nước đã tổ chức ra quân đội đó. Bản chất giai cấp của quân đội còn được thể hiện trong quá trình xây dựng và tổ chức quân đội. Giai cấp thống trị bảo đảm sự vững mạnh về chính trị của quân đội, bảo đảm phương hướng phát triển và hoạt động của quân đội phù hợp với lợi ích của giai cấp đó. Để giữ vững phương hướng chính trị và tăng cường bản chất giai cấp cho quân đội, giai cấp thống trị tiến hành truyền bá hệ tư tưởng của nó cho quân đội bằng hệ thống giáo dục có tính chất áp đặt về tư tưởng cho binh lính; thực hiện triệt để đường lối tổ chức, phương hướng hoạt động và kiểm soát mọi hoạt động của quân đội. Điều này đã được ghi nhận theo điều lệnh quân đội Mỹ, sĩ quan chỉ huy chịu trách nhiệm về giáo dục tư tưởng và tinh thần binh sĩ. Quân đội Mỹ duy trì cả một bộ máy tuyên truyền gọi là “cơ quan thông tin và giáo dục quân đội” để tiến hành công tác tư tưởng. Trong các quân chủng của quân đội Mỹ đều có cơ quan thông tin. Bên cạnh việc lãnh đạo công tác tuyên truyền, cổ động, cơ quan này còn chuẩn bị và xuất bản những sách giáo khoa về tư tưởng, những tài liệu phát thanh, báo chí, phát hành những phim ảnh ca tụng chủ nghĩa tư bản.

Như vậy, sự ra đời, tồn tại và phát triển của quân đội luôn gắn với vai trò của giai cấp và nhà nước. Thực tế cho thấy, giai cấp và nhà nước luôn giữ vai trò quyết định đối với quân đội về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Về chính trị, giai cấp và nhà nước quyết định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu và các chức năng, nhiệm vụ cơ bản của quân đội. Đồng thời, hệ tư tưởng của giai cấp đó luôn giữ vai trò thống trị đối với quân đội, chi phối đến đời sống tinh thần của quân đội. Về tổ chức, giai cấp và nhà nước quyết định đường lối, nguyên tắc tổ chức xây dựng quân đội; quyết định cơ chế lãnh đạo, thành phần chỉ huy và binh lính tham gia trong quân đội.

Bên cạnh đó, hoạt động của quân đội phụ thuộc vào chế độ chính trị-xã hội, chịu sự quy định của giai cấp và nhà nước tổ chức ra nó. Là một bộ phận của chỉnh thể xã hội thuộc kiến trúc thượng tầng, quá trình phát triển của quân đội tất yếu chịu sự chi phối, tác động của các quy luật xã hội nói chung.

Trong các yếu tố ảnh hưởng đến bản chất giai cấp của quân đội, yếu tố giai cấp luôn tác động trực tiếp, mạnh mẽ và quyết định nhất. Quân đội nào cũng do nhà nước tổ chức ra và chịu sự chi phối bởi đường lối chính trị của một giai cấp. Bài học xương máu của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu cho thấy, khi đảng cộng sản mất vai trò lãnh đạo, sự biến chất của nhà nước là không tránh khỏi và hậu quả tất yếu của nó là làm cho quân đội mất phương hướng chính trị. Mặc dù năm 1991, Hồng quân Liên Xô có quân số hơn 3 triệu người nhưng đã không bảo vệ được chế độ xã hội chủ nghĩa sụp đổ. Đó là bi kịch lớn của lịch sử!

LHS


Thứ Tư, 4 tháng 1, 2023

 

BÀI HỌC THỰC TIỄN XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM VỀ CHÍNH TRỊ

Xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam về chính trị thực chất là xây dựng và giữ vững bản chất giai cấp công nhân, tính dân tộc và tính nhân dân sâu sắc, đảm bảo cho Quân đội luôn là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân; là đội quân cách mạng của nhân dân, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu. Quán triệt tinh thần đó, những năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, trực tiếp là Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, quân đội ta không ngừng trưởng thành, lớn mạnh, thực sự là đội quân cách mạng, của dân, do nhân dân và vì nhân dân; xứng đáng với danh hiệu “Bộ đội Cụ Hồ” mà nhân dân đã trao tặng và lời khen ngợi của Bác Hồ: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”. Hiện nay, tình hình thế giới, khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường. Trên cơ sở đường lối bảo vệ Tổ quốc đã được thể hiện trong các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, trọng tâm là Nghị quyết Đại hội XII, Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XI) về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; đồng thời tiếp tục khẳng định và cụ thể hóa luận điểm giữ vững sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội nhân dân Việt Nam; phát huy nội lực là chính; kết hợp chặt chẽ giữa yếu tố, tạo sức mạnh tổng hợp để bảo vệ Tổ quốc. Theo đó, tiếp tục củng cố, bổ sung, hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ và cơ chế, luật pháp xây dựng quân đội. Đảng ta chỉ rõ: “Xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, ưu tiên hiện đaị hóa một số quân, binh chủng, lực lượng; vững mạnh về chính trị, nâng cao chất lượng tổng hợp sức chiến đấu, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân”. Chú trọng giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ, chiến sĩ có lập trường tư tưởng chính trị vững vàng, kiên định, có ý chí tiến công cách mạng, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân. Trong bối cảnh đó, yêu cầu xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị càng phải được coi trọng, trở thành vấn đề vừa cơ bản, vừa cấp bách.

Trước hết, phải tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị, định hướng tư tưởng cho bộ đội. Đây thực chất là định hướng tăng cường bản chất giai cấp công nhân, tính dân tộc và tính nhân dân của quân đội. Qua đó, làm cho cán bộ, chiến sĩ giác ngộ sâu sắc lý tưởng cách mạng, mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, trung thành vô hạn với Đảng, Tổ quốc, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; có phẩm chất đạo đức trong sáng; kiên định, vững vàng, tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, luôn đoàn kết, gắn bó máu thịt với nhân dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân, vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Để thực hiện được điều đó, trước mắt, cấp ủy, chỉ huy các cấp phải tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nghiêm túc Đề án “Đổi mới công tác giáo dục chính trị tại đơn vị trong giai đoạn mới”; sớm hoàn thiện Quy chế giáo dục chính trị đi đôi với tích cực đổi mới chương trình, nội dung, hình thức, phương pháp sát với yêu cầu xây dựng quân đội về chính trị. Đặc biệt, phải gắn công tác đảng, công tác chính trị với định hướng tư tưởng để mỗi cán bộ, chiến sĩ nhận thức đúng tình hình, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, xây dựng quân đội; nắm vững thời cơ, thách thức, thuận lợi, khó khăn; phân biệt rõ “đối tượng”, “đối tác” theo quan điểm của Đảng; không mơ hồ, mất cảnh giác, xử lý tốt mọi tình huống không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống.

Hai là, cần coi trọng phát huy vai trò và hiệu lực, hiệu quả của hoạt động công tác đảng, công tác chính trị, để công tác này thực sự là “linh hồn, mạch sống” của quân đội. Cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp cần quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo các mặt công tác: tư tưởng, tổ chức, cán bộ, bảo vệ chính trị nội bộ, dân vận, chính sách, quần chúng; đề cao dân chủ, kỷ cương, kỷ luật; giữ vững đoàn kết nội bộ. Đồng thời, quán triệt và thực hiện nghiêm túc các nghị quyết, chỉ thị, hướng dẫn của Quân uỷ Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị. Trên cơ sở đó, xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội vững mạnh cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu; nâng cao chất lượng công tác quy hoạch cán bộ chủ chốt các cấp, nhất là cán bộ cấp chiến lược. Toàn quân tập trung nâng cao hiệu quả công tác đảng, công tác chính trị trong các nhiệm vụ; trọng tâm là nhiệm vụ huấn luyện, diễn tập, sẵn sàng chiến đấu, xây dựng đơn vị, công tác quân sự, quốc phòng địa phương, phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, tìm kiếm, cứu hộ cứu nạn và nhiệm vụ gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc... Để thực hiện tốt điều đó, cấp ủy, chỉ huy các đơn vị phải chăm lo xây dựng cơ quan chính trị, đội ngũ cán bộ chính trị vững mạnh về mọi mặt, nhất là khả năng tham mưu, đề xuất với Đảng, Nhà nước, Quân uỷ Trung ương, Bộ Quốc phòng những vấn đề chiến lược, nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với nhiệm vụ xây dựng Quân đội nhân dân, xây dựng nền quốc phòng toàn dân và thế trận quốc phòng toàn dân, bảo vệ Tổ quốc.

Ba là, tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ và chủ động đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ vững chắc trận địa tư tưởng của Đảng trong quân đội. Đây vừa là định hướng cơ bản, vừa là một trong những giải pháp quan trọng để xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị. Trước hết, các cấp ủy phải chăm lo thực hiện tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ; chú trọng bảo vệ tổ chức, con người trong sạch, vững mạnh, an toàn tuyệt đối về chính trị, chống sự xâm nhập, móc nối, cài cắm, lộ lọt thông tin. Đồng thời, chủ động đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch, nhất là âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong các cơ quan, đơn vị, góp phần bảo vệ vững chắc trận địa tư tưởng của Đảng trong Quân đội. Cùng với đó, phải chú trọng đấu tranh làm thất bại mọi thủ đoạn thâm độc của địch, kiên quyết, kiên trì bác bỏ những luận điệu, quan điểm sai trái, thù địch, tuyên truyền, kích động, gây tâm lý cho cán bộ, chiến sĩ, đồng thời phải chủ động bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, thành tựu công cuộc đổi mới của Đảng. Về mặt nhận thức, cần thấy rõ đây là cuộc chiến không khoan nhượng, nhưng rất gay go, quyết liệt, bởi đó là cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh về tư tưởng, lý luận. Cuộc chiến đó diễn ra thường xuyên, quyết liệt đối với Quân đội và ngay trong đời sống tinh thần của từng cán bộ, chiến sĩ. Do đó, các đơn vị, trước hết là đội ngũ cán bộ chính trị các cấp cần coi trọng công tác giáo dục chính trị tư tưởng, làm cho cán bộ, chiến sĩ hiểu rõ sự nguy hiểm của chiến lược “Diễn biến hòa bình”, âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch; từ đó, nâng cao tinh thần cảnh giác, có giải pháp phòng, chống hiệu quả. Các cơ quan Báo chí quân đội phải thể hiện rõ vai trò nòng cốt, xung kích, tích cực, chủ động viết các bài có tính lý luận, tính chiến đấu cao, kịp thời phản bác quan điểm sai trái của các thế lực thù địch. Các đơn vị văn hóa - nghệ thuật quân đội cần tăng cường nghiên cứu, sáng tác nhiều tác phẩm có giá trị nghệ thuật, tính chính trị cao, tôn vinh hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” cả trong thời kỳ chiến tranh cách mạng và sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.

Bốn là, nâng cao hiệu quả xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, cần tích cực nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, làm cơ sở đề ra giải pháp phù hợp. Suốt 75 xây dựng, chiến đấu và phát triển, trong đó có xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị. Chúng ta đã có rất nhiều bài học thực tiễn có giá trị cần được nghiên cứu, được rút ra để tiếp tục vận dụng xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị. Ngày nay, sự nghiệp xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, tăng cường quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc đang đặt ra nhiều vấn đề mới cả về lý luận và thực tiễn cần được tiếp tục nghiên cứu, luận giải thấu đáo, có cơ sở khoa học. Do đó, công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận càng phải được quan tâm đúng mức. Đó là nhiệm vụ quan trọng, cấp thiết đối với toàn quân, trước hết của các cơ quan nghiên cứu, học viện, nhà trường quân đội, nhằm giúp cho Quân uỷ Trung ương, Bộ Quốc phòng, trực tiếp là Tổng cục Chính trị có cơ sở để xác định hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả công tác đảng, công tác chính trị, xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị./.

 

                                                                                            BIỂN RỘNG

 

 MỘT BIỂU HIỆN CỦA “TỰ CHUYỂN HÓA”        TRONG                        CÁN BỘ ĐẢNG VIÊN HƯU TRÍ CẦN PHẢI ĐẤU TRANH

          Đại hội lần thứ XIII, nhất là tại Hội nghị Trung ương lần thứ tư (khóa XIII) Đảng ta đã nhận định “Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Và hiện nay, không chỉ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên đương chức mà còn “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một số cán bộ, đảng viên đã nghỉ hưu. Xin được kể lại câu chuyện có thật sau:

          Chúng tôi - những “tỷ phú thời gian” (hưu trí rỗi rãi) thường hay tụ tập, “trà dư tửu hậu” với đủ thứ chuyện, đủ mọi cung bậc cảm xúc. “Trụ sở” của chúng tôi là nhà của một anh bạn đồng hương với tôi - một vị chủ nhà hiếu khách, lúc nào cũng sẵn lòng rộng mở. Những câu chuyện dù là chuyện gần hay chuyện xa, chuyện lo cho con, cho cháu trong làm ăn, học hành, chuyện sức khỏe… thì cuối cùng, như một dòng chảy tự nhiên, vẫn hội tụ ở vấn đề thời cuộc, nhất là những việc “nóng” mà dư luận xã hội quan tâm. Câu chuyện thường “sôi động” hẳn lên, có khi trở nên gay cấn, bởi suy nghĩ của mỗi người về một sự việc đâu phải lúc nào cũng “nhìn về một hướng”. Người “lớn tiếng” nhất “hội” là anh N, một cán bộ cấp vụ của Bộ M, đã “hạ cánh” được dăm bảy năm, với hơn 30 năm tuổi Đảng và hàng tháng được nhận mức lương hưu vào loại “ít ai bằng” như anh thường “khoe”. Song, điều tôi băn khoăn là những “tham luận” của anh N gần như lần nào cũng đều nhuốm màu “xám”, chẳng thấy một sự tích cực nào. Anh luôn coi mình là người “thông thái”, “hiểu biết”, rồi chê bai vị lãnh đạo này, dè bửu vị lãnh đạo nọ, nào là “không xứng tầm”, nào là “kém bản lĩnh”, “không trong sạch”... Thậm chí anh còn đưa ra những thông tin không được kiểm chứng, thiếu cơ sở, có thể coi là “tin vịt” vừa mới “cập nhật” trên mạng xã hội, chẳng hạn như việc lãnh đạo thành phố X bị đại gia “xỏ mũi”, những căn biệt thự sang trọng của cán bộ tỉnh Y… rồi anh “phán” rằng xã hội ta bây giờ “loạn” hết cả rồi, các cấp lãnh đạo chỉ lo “giữ ghế”, chỉ lo “vơ vét”, chăm lo cho người thân, gia đình, “chiến hữu”, suy nghĩ theo “tư duy nhiệm kỳ” mà thôi!

          Có lần, quá bức xúc với sự nhìn nhận quá thiên lệch, võ đoán của anh N, một “thành viên” của “hội” đã “nói như xát ớt” rằng: “Ông” N ơi, sao “ông” chỉ “thấy cây mà không thấy rừng”; sao “ông” lại đem hiện tượng riêng lẻ để quy thành bản chất? Nói như “ông”, nếu xã hội này “loạn” rồi thì bản thân “ông”, gia đình “ông” liệu có sống yên ổn được hay không? Hàng tháng “ông” có còn được lĩnh lương hưu hậu hĩnh không? Hàng ngày, hằng giờ, trên các trang “lề trái”, chúng ta đã thấy không ít những thông tin trái chiều, xuyên tạc, bóp méo sự thật về những gì đang diễn ra trên đất nước ta. Nếu cứ nói như vậy, vô hình trung chính “ông” đã bị “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” theo những luận điệu đó rồi. Bị “dồn” một hồi, anh N đỏ mặt tía tai và từ sau lần đó không thấy anh “hùng hồn” tham luận nhuốm màu “xám” nữa. Riêng tôi cảm thấy buồn và tự hỏi, phải chăng, với những suy nghĩ, nhìn nhận lệch lạc đó, anh N chính là một biểu hiện của sự “tự chuyển hóa” ngay trong con người anh cũng như trong một bộ phận cán bộ, đảng viên hiện nay - một “căn bệnh” mà Đảng ta đã chỉ ra và đang quyết liệt ngăn chặn.

                                                                                            BIỂN RỘNG

 


SỰ RA ĐỜI CỦA CHIẾN LƯỢC “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH”

          Sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, trước sự lớn mạnh của Liên Xô và sự ra đời của một loạt nước xã hội chủ nghĩa, hệ thống xã hội chủ nghĩa hình thành và không ngừng lớn mạnh, phong trào cách mạng thế giới phát triển nhanh chóng. Đế quốc Mỹ coi Liên Xô là đối thủ chính trên con đường thực hiện giấc mộng bá chủ thế giới. Tổng thống Mỹ H.S.Truman đề ra “chiến lược ngăn chặn”, sử dụng thủ đoạn cứng rắn, coi trọng thủ đoạn quân sự để “ngăn chặn” sự “bành trướng” của Liên Xô và sự phát triển mở rộng của chủ nghĩa cộng sản. Tuy nhiên, chiến lược ngăn chặn không có hiệu quả cao; nhiều người trong chính giới Mỹ tỏ ra thức thời hơn, muốn tìm một phương thức khác có thể chống chủ nghĩa xã hội hiệu quả hơn. G.Kennan, đại diện lâm thời sứ quán Mỹ ở Liên Xô, ngày 22/12/1946 đã đề nghị với Chính phủ Mỹ dùng các biện pháp chống Liên Xô toàn diện hơn, bao gồm bao vây quân sự, phong tỏa kinh tế, lật đổ chính trị.

Tình hình thế giới từ cuối những năm 40 của thế kỷ XX trở đi càng chứng tỏ chính sách đối ngoại của Mỹ dựa trên sức mạnh quân sự với nền tảng độc quyền hạt nhân đã bị phá sản. Tháng 01/1961, Kennedy nhậm chức Tổng thống Mỹ và đưa ra chiến lược “phản ứng linh hoạt” thay thế chiến lược “trả đũa ồ ạt” của Tổng thống Eisenhower trước đó. Chủ trương của Kennedy đối với địch thủ Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu là vừa phải giữ thái độ cứng rắn bằng sức mạnh quân sự, vừa có thái độ mềm dẻo bằng các biện pháp hòa bình, để “giải phóng” các nước này, đưa các nước này trở lại “thế giới tự do”. Với chính sách “mũi tên và cành ô liu”, nước Mỹ đẩy mạnh chạy đua vũ trang, mặt khác cũng tăng cường thực hiện “diễn biến hòa bình”.

Tháng 01/1969, Richard Nixon lên nhậm chức Tổng thống và đã điều chỉnh chiến lược toàn cầu theo hướng giảm bớt sự đối đầu căng thẳng, tăng cường đối thoại hòa bình giữa Mỹ và các đối thủ. Richard Nixon thay thế chiến lược “phản ứng linh hoạt” của thời Kennedy, B.Johnson bằng chiến lược “răn đe thực tế” với chính sách “cây gậy và củ cà rốt”. Tuy vẫn coi trọng răn đe hạt nhân, nhưng đã giảm bớt lực lượng quân sự ở nước ngoài; tạo thế cân bằng giữa các nước lớn; tăng cường tiếp xúc hòa bình với các nước xã hội chủ nghĩa, lấy hòa hoãn thay dần cho “chiến tranh lạnh”; qua tiếp xúc, hòa hoãn để thẩm thấu tư tưởng và văn hóa, tác động vào kinh tế, phá hoại quốc phòng, an ninh, gieo rắc hạt giống chống phá chủ nghĩa xã hội từ bên trong.

Sang thập kỷ 80 của thế kỷ XX, thế giới có những biến chuyển lớn. Trọng điểm cạnh tranh quốc tế đã dần dần chuyển từ chạy đua vũ trang sang phát triển và cạnh tranh về sức mạnh tổng hợp quốc gia, trong đó lấy khoa học công nghệ làm tiên phong, kinh tế làm cơ sở và quân sự làm hậu thuẫn. Nắm bắt được xu thế phát triển mới, chủ nghĩa tư bản đã nhanh chóng ứng dụng khoa học - kỹ thuật hiện đại vào phát triển kinh tế và trang bị quân sự. Chủ nghĩa tư bản hiện đại đạt được sự ổn định và có mặt phát triển. Trong khi đó, nhiều nước xã hội chủ nghĩa lâm vào khủng hoảng. Lợi dụng cơ hội đó, chủ nghĩa đế quốc càng coi trọng chiến lược “diễn biến hòa bình”, lấy đó làm đòn tấn công chính chống phá Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa.

Tổng thống Mỹ R.Reagan, từ đầu nhiệm kỳ thứ hai (1985-1988) đã chuyển hướng chiến lược đối ngoại của Mỹ, lấy “diễn biến hòa bình” làm biện pháp chính đối với các nước xã hội chủ nghĩa. R.Reagan đề xuất cuộc “cách mạng dân chủ” với nội dung chính là dựa vào sức mạnh tổng hợp quốc gia của Mỹ, tăng cường quan hệ kinh tế, văn hóa, đẩy mạnh tuyên truyền tư tưởng... vào các nước xã hội chủ nghĩa để chuyển hóa các nước này; coi đây như là một cuộc “thập tự chinh Đông tiến giành tự do” của chủ nghĩa đế quốc, tấn công toàn diện vào các nước xã hội chủ nghĩa thông qua “diễn biến hòa bình”.

Cuối những năm 80 của thế kỷ XX, chủ nghĩa đế quốc đã hoàn chỉnh chiến lược “diễn biến hòa bình”. Năm 1988, cựu Tổng thống Mỹ R.Nixon cho xuất bản cuốn sách “1999-chiến thắng không cần chiến tranh”. Nixon cho rằng, nhìn về tương lai, trong những năm còn lại của thế kỷ XX, nếu muốn sử dụng lại bất cứ một chính sách nào đã thất bại trong quá khứ đều không thể chấp nhận được; "ngăn chặn" đã lỗi thời, mà phải thực hiện một chiến lược mới - chiến lược “diễn biến hòa bình”.

Tháng 5/1989, Tổng thống Mỹ George H.W.Bush đưa ra chiến lược “vượt trên ngăn chặn”, trong đó, linh hồn là “diễn biến hòa bình”. Bush cho rằng, cuộc đọ sức mang tính lịch sử giữa hai chế độ tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa đã đi vào giai đoạn cuối cùng. Mục tiêu, biện pháp của chiến lược “vượt trên ngăn chặn” là lợi dụng chính sách cải tổ của các nước xã hội chủ nghĩa, thực hiện “diễn biến hòa bình”, lợi dụng hòa hoãn để tác động mọi mặt, làm cho các nước xã hội chủ nghĩa đi chệch hướng xã hội chủ nghĩa, dẫn đến sụp đổ, tan rã. Reagan coi Đông Âu là trọng điểm và Liên Xô là then chốt của “diễn biến hòa bình”./.

Sự Thật

 

 


 

 

VẠCH TRẦN LUẬN ĐIỆU ĐÒI THỰC HIỆN ĐA NGUYÊN, ĐA ĐẢNG

                                                                                                   

          Thời gian qua, nhằm âm mưu xóa bỏ vai trò, sứ mệnh lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động chống phá bằng việc đưa ra nhiều luận điểm phi lý, trong đó có việc thực hiện “đa nguyên, đa đảng”. Chúng nhai đi nhai lại rằng chỉ có “đa nguyên, đa đảng” thì Việt Nam mới có dân chủ thực sự và “đa nguyên, đa đảng” cây gậy thần giúp đất nước nhanh chóng thoát khỏi đói nghèo.

          Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đã tạo ra bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam; kết thúc thời kỳ khủng hoảng về đường lối cứu nước và mở ra thời kỳ cả dân tộc đi theo ngọn cờ của Đảng. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, với đường lối đúng đắn, dựa trên cơ sở lý luận Mác - Lênin, phù hợp với điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam và xu thế phát triển của lịch sử loài người, Đảng ta đã quy tụ, đoàn kết chung quanh mình tất cả các giai cấp và các tầng lớp nhân dân yêu nước, xây dựng nên lực lượng cách mạng to lớn và rộng khắp, đấu tranh chống thực dân, phong kiến vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tính đến nay, sau hơn 88 năm, qua các giai đoạn phát triển khác nhau, Đảng ta ngày càng khẳng định năng lực lãnh đạo sáng suốt của mình khi đưa cách mạng Việt Nam vượt qua nhiều khó khăn tưởng như không thể vượt qua để thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền CNXH. Vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội đã được thực tiễn lịch sử ghi nhận và quy định trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013.

          Thế nhưng, bất chấp thực tế lịch sử mang tính quy luật, thời gian qua, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị đã tìm mọi cách, áp dụng mọi thủ đoạn để tuyên truyền, phát tán các tài liệu phản động như những “điệp khúc” muôn thuở, cũ rích, nào là “thể chế độc đảng toàn trị”, nào là “sai lầm đường lối” của Đảng Cộng sản Việt Nam về con đường xây dựng CNXH… nên “xã hội không có tự do, dân chủ”. Vì vậy, đã đến lúc Đảng Cộng sản Việt Nam cần tự kết thúc vai trò lịch sử của mình vì chỉ có “đa nguyên, đa đảng” thì Việt Nam mới có dân chủ thực sự, có được sự giàu có, ấm no. Thậm chí, chúng còn hô hào: Tình hình thế giới và trong nước đã chín muồi để người dân Việt Nam chọn lựa cho mình một lực lượng chính trị khác thay thế cho Đảng Cộng sản (!). Không khó để nhận thấy, khi đưa ra những luận điệu sặc mùi phản động nêu trên, mục tiêu mà các thế lực thù địch, cơ hội chính trị hướng tới là hạ thấp, đi đến thúc đẩy việc xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Thông qua những cái gọi là “tâm thư”, “tâm nguyện”, chúng ra sức bôi nhọ, xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đồng thời, với dã tâm “đánh tráo lịch sử”, “đổi trắng thay đen”, chúng trắng trợn phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội thông qua những nội dung chỉ trích, “kiến nghị”, đòi hỏi vô lý, phi thực tế. Mục tiêu cuối cùng của chúng là lừa mị, kích động, hòng làm chệch hướng con đường mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn là xây dựng chế độ XHCN, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

          Thực tế cho thấy, những đòi hỏi “đa nguyên, đa đảng” ở Việt Nam là vấn đề không mới, trái lại là chiêu bài lỗi thời chỉ lừa gạt được một số ít người thiếu hiểu biết. Những luận điểm này, về bản chất chính trị là phản động nhằm chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ ta, về nhận thức là phản khoa học, chủ quan, phi thực tiễn. Kết luận như vậy là vì Đảng Cộng sản Việt Nam đóng vai trò là lực lượng chính trị lãnh đạo xã hội mang tính quy luật, là sự giao phó của lịch sử, của cách mạng Việt Nam thông qua quá trình sàng lọc, lựa chọn một cách đúng đắn. Đây cũng là sự lựa chọn mang tính lịch sử của nhân dân Việt Nam trong quá trình đấu tranh cách mạng đầy khó khăn, gian khổ, hy sinh. Mọi luận điệu đòi hỏi Đảng Cộng sản Việt Nam phải “từ bỏ vị thế lãnh đạo”, “thay đổi Cương lĩnh xây dựng đất nước”, phải “chuyển đổi thể chế chính trị”… đều là phản động, phi lý, với mục tiêu không có gì khác là nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, thực hiện “đa nguyên chính trị”, chuyển hóa thể chế CHXHCN Việt Nam sang mô hình xã hội theo kiểu phương Tây.

          Điều đáng lo ngại là dù về bản chất, những luận điệu phản động nêu trên không có một chút giá trị gì, nhưng bằng các chiêu trò giả mạo, cắt xén, ngụy tạo bằng chứng để vu cáo, tạo thật giả lẫn lộn, biến có thành không, không thành có, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị đã khiến không ít người nhẹ dạ, có nhận thức hạn chế tin và nghe theo chúng. Từ đó, dẫn tới sự dao động về tư tưởng, hoài nghi về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với cách mạng Việt Nam, đối với xã hội Việt Nam; gây nên sự phân tâm trong xã hội. Rõ ràng, con bài “đa nguyên, đa đảng” chỉ là những chiêu bài đã quá lỗi thời của các thế lực thù địch và cơ hội chính trị nhằm thực hiện mưu đồ chính trị đen tối của chúng. Nhận diện âm mưu, thủ đoạn nham hiểm của chúng, Nghị quyết Đại hội XII của Đảng đã đề ra phương hướng, nhiệm vụ củng cố quốc phòng, an ninh trong tình hình mới, trong đó nhấn mạnh, cần chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị ngăn chặn, phản bác những thông tin và luận điệu sai trái, đặc biệt, cần chỉ rõ những biểu hiện của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, trong đó có biểu hiện “đòi thực hiện “đa nguyên, đa đảng”. Hơn lúc nào hết, đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi biểu hiện “đòi thực hiện “đa nguyên, đa đảng” và khẳng định vai trò, sứ mệnh lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là một trong những vấn đề cấp thiết nhằm góp phần đẩy mạnh công cuộc đổi mới đất nước vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Để củng cố quyết tâm chính trị này chúng ta cần tiếp tục trau dồi đạo đức cách mạng, nâng cao ý thức chính trị, đề cao tinh thần cảnh giác và kiên quyết đấu tranh chống những quan điểm và tư tưởng thù địch sai trái, giữ vững ổn định chính trị đất nước.

 

Hoằng Tháo