Thứ Hai, 31 tháng 12, 2018


 XUYÊN TẠC CÔNG TÁC PHÒNG CHỐNG
THAM NHŨNG CỦA ĐẢNG TA
Cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, sự suy thoái về tư tưởng, chính trị đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “ tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng, Nhà nước ta đã và đang diễn ra mạnh mẽ, quyết liệt trên tất cả các lĩnh vực. Nhận được sự quan tâm, đồng tình, ủng hộ, hưởng ứng của đông đảo cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, tạo dựng được niềm tin với nhân dân… Ấy vậy mà trên trang danlambao vẫn có người cố tình xuyên tạc làm sai lệch vấn đề, điển hình là bài viết “củi, lửa, lò và cháo lú”, của tác giả Kông Kông. Nội dung bài viết gieo rắc những tâm lý hoài nghi, bi quan, dao động về cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng của Đảng, Nhà nước ta sẽ không đem lại kết quả gì, và sẽ không đi về đâu. Xin được trao đổi với bạn đọc để hiểu rõ một vấn đề sau:
Thứ nhất, Kông Kông đã phủ nhận những cố gắng và quyết tâm chính trị của Đảng, Nhà nước ta trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Kông Kông cho rằng: Những hành động, việc làm của Đảng, Nhà nước ta trong đấu tranh, phòng, chống tham nhũng giống như những cây củi ở trong rừng, có thực tâm chặt cũng không xuể ngoại trừ lâm tặc. Đây chỉ là ý kiến cá nhân chủ quan, trên thực tế những gì đang diễn ra đã chứng minh, bác bỏ hoàn toàn những nhận định, ví von viển vông, xa rời thực tiễn về cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta của Kông Kông. Có thể nói từ sau Đại hội XII của Đảng đến nay, Tổng bí Thư Nguyễn Phú Trọng đã trực tiếp chỉ đạo cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, suy thoái trong Đảng, bộ máy nhà nước và đã đạt được những kết quả cụ thể, tích cực, bước đầu đem lại niềm tin cho nhân dân. Chưa bao giờ công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng lại diễn ra quyết liệt, mạnh mẽ, hiệu quả như bây giờ; không nể nang, không khoan nhượng và không có “vùng cấm” trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, đánh giá về công tác phòng chống tham nhũng thời gian qua, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh, đấu tranh phòng, chống tham nhũng đã trở thành phong trào, xu thế của cả xã hội. “Đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực không phải lẻ tẻ từng vụ, từng việc mà bây giờ đã thành phong trào, thành một xu thế, làm có bài bản, phân công cơ quan nào làm, kết quả thế nào, bao giờ xong. Đây là kinh nghiệm rất quý. Tạo ra được xu thế, được phong trào mới là cơ bản”. Theo đó, đã có không ít quan chức nhà nước, quan chức các doanh nghiệp nhà nước (DNNN), từ sản xuất kinh doanh đến tài chính ngân hàng… lần lượt bị kỷ luật, bị khởi tố, bắt giam hoặc bị kỷ luật tước hết các chức vụ. Đã có không ít cán bộ tha hóa biến chất, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” bị vạch mặt, chỉ tên; nhiều cán bộ sai phạm bị xử lý hoặc đang đứng dưới “thanh bảo kiếm” của kỷ luật Đảng và pháp luật của Nhà nước. Có thể nói việc xử lý kỷ luật một số cán bộ cấp cao đương chức và các cán bộ khác là minh chứng cụ thể cho quan điểm không có “vùng cấm” trong xử lý các vụ tham nhũng, được khẳng định rõ trong các nghị quyết của Đảng; thể hiện nguyên tắc: Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, xóa đi những “thành ngữ” như “hạ cánh an toàn”, “tắm từ vai tắm xuống”…
Thứ hai, cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng đã nhận được đồng thuận của đông đảo cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân. Đây là thực tế không thể phủ nhận và bác bỏ, luận điệu cho rằng, cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng của Đảng, Nhà nước ta giống như nồi cháo với đủ thứ gia vị, người ăn ngon miệng, nhai nuốt cho nhiều rồi dần dà trở nên lú lẫn là hoàn toàn sai trái, phản động, vô căn cứ, xuyên tạc các vấn đề chính trị, xã hội của đất nước. Từ sau Đại hội lần thứ XII của Đảng đến nay, UBKTTW đã tiến hành tới 16 kỳ họp, đã xem xét đề nghị xử lý những vi phạm của Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ giai đoạn 2011 - 2016; kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm đối với Ban Thường vụ Đảng ủy Tập đoàn Hóa chất Việt Nam và một số cá nhân; xem xét, thi hành kỷ luật Ủy viên Ban cán sự đảng, Thứ trưởng Bộ Công thương Hồ Thị Kim Thoa…. Hay việc Trịnh Xuân Thanh ra đầu thú; đại gia ngân hàng Trần Bê bị bắt và mới đây nhất Đảng ủy Khối Dân chính Đảng (Thành ủy TP Cần Thơ) đã ký quyết định khai trừ khỏi đảng đối với 7 cựu Thanh tra giao thông về hành vi nhận hối lộ với số tiền khoảng 4 tỷ đồng…  Những ví dụ trên đã thể hiện quyết tâm của Đảng ta trong cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng, không có “vùng cấm”, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nói tại Phiên họp thứ 12 Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng tổ chức ngày 31/7/2017 đã nói: Cái lò đã nóng lên rồi thì củi tươi vào đây cũng phải cháy. Củi khô, củi vừa vừa cháy trước, rồi cả lò nóng lên, tất cả các cơ quan vào cuộc, có ai đứng ngoài đâu. Và không thể đứng ngoài được. Cá nhân nào muốn không làm cũng không thể được, thế mới là thành công. Cuộc chiến chống tham nhũng chắc chắn còn nhiều cam go, gian nan phía trước. Để chống được căn bệnh này phải sử dụng liều thuốc mạnh, và cần một tinh thần đoàn kết thống nhất cao trong Đảng, Nhà nước và nhân dân. “Lò đã nóng, củi tươi cũng phải cháy” đang trở thành một mệnh lệnh, lời hiệu triệu cho một quyết tâm không gì lay chuyển. Quyết tâm từ người “nhóm lửa” ấy đang tạo ra một luồng gió mới, một khí thế mới, tạo nên động lực mạnh mẽ cho chúng ta trong cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng ngày càng hiệu quả và thiết thực hơn./.
MẶT TRỜI

QUÂN ĐỘI TỈNH TÁO NHẬN DIỆN NHỮNG LỜI LẼ XUYÊN TẠC TRONG CÔNG TÁC QUY HOẠCH CÁN BỘ
Sinh thời, Chủ Tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”; “Công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”. Công tác cán bộ bao gồm nhiều khâu, tuyển chọn, nhận xét, đánh giá cán bộ đến quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, bố trí, sử dung, bổ nhiệm cán bộ …Mỗi khâu có vai trò quan trọng, trong đó công tác cán bộ trong đó Đảng bộ quân đội luôn quán triệt thực hiện tốt nghị quyết của Đảng. Cùng vào việc xây dựng hệ thống tổ chức đảng, tăng cường CTĐ, CTCT; để nắm chắc quân đội, khâu then chốt là Đảng phải nắm chắc đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ chủ trì ở đơn vị. Bởi họ là người trực tiếp giáo dục, quản lí, chỉ huy, tổ chức đơn vị thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ. Lòng trung thành tuyệt đối với Đảng, bản lĩnh chính trị vững vàng, năng lực hoàn thành nhiệm vụ của đội ngũ cán bộ là một trong những yếu tố cơ bản, có ý nghĩa quyết định đảm bảo Đảng nắm chắc quân đội trong mọi tình huống. Ngày nay, trong điều kiện đất nước ta thực hiện nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN, những tác động tích cực, tiêu cực đan xen. Vì vậy sự thử thách đối với đội ngũ cán bộ trong quân đội diễn ra gay gắt. Bên cạnh đó, kẻ thù luôn chống phá quyết liệt cách mạng nước ta và chúng rất coi trọng việc lôi kéo, làm tha hóa đội ngũ cán bộ của Đảng. Vì vậy, nâng cao bản lĩnh chính trị cho đội ngũ cán bộ quân đội, nhất là đội ngũ cán bộ chủ trì không chỉ đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội về chính trị mà còn có ý nghĩa trực tiếp đánh bại âm mưu “phi chính trị hóa quân đội” của kẻ thù. Để xây dựng bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán bộ quân đội hiện nay, mỗi cơ quan, đơn vị trong toàn quân phải làm cho mỗi cán bộ, đảng viên kiên định con đường cách mạng của Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn; thấm nhuần sâu sắc chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và luật pháp của Nhà nước; tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng; giữ vững, tăng cường lập trường giai cấp công nhân; kiên trì hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; quyết tâm thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; có ý chí quyết tâm cao, nhạy bén, sắc sảo về chính trị, năng lực hoạt động thực tiễn và phương pháp, tác phong công tác tốt; lối sống trung thực, giản dị, không bị cám dỗ bởi lối sống thực dụng vì đồng tiền, chạy theo lợi ích vật chất tầm thường; không ngại khó, ngại khổ, ngại học, ngại rèn; nâng cao năng lực toàn diện, đáp ứng đòi hỏi của thời kì mới. Đặc biệt là ở những bước ngoặt khó khăn nhất của cách mạng, cấp ủy, chỉ huy của đơn vị phải xây dựng được bản lĩnh chính trị cho từng cán bộ là chủ động, bình tĩnh, không bao giờ tỏ ra dao động, do dự, chán nản hay sa vào tuyệt vọng. Tăng cường xây dựng ý chí, niềm tin không gì lay chuyển được và quyết tâm biến ý chí và niềm tin vào hoàn thành tốt nhiệm vụ. Có xây dựng được bản lĩnh chính trị vững vàng như vậy mới bảo đảm cho đội ngũ cán bộ quân đội không bị sa ngã trước sự lợi dụng, mua chuộc, lôi kéo của kẻ thù hòng làm biến chất đội ngũ cán bộ về chính trị. Hết sức cảnh giác với mọi thủ đoạn mua chuộc, lôi kéo của kẻ thù bằng lợi ích vật chất tầm thường; bằng tiền tài, gái đẹp làm tha hóa đội ngũ cán bộ dẫn đến bị kẻ thù khống chế, quay lại phản bội Tổ quốc, phản bội nhân dân./.

MẶT TRỜI

Thứ Ba, 25 tháng 12, 2018

TRỐN CHẠY CHỈ LÀ GIẢI PHÁP TÌNH THẾ
Trốn chạy trước khi bị cơ quan chức năng xử lý. Đó là phương cách mà không ít nhà dân chủ thực hiện hòng trốn chạy, thoát khỏi việc bị xử lý. Nhưng nào ngờ, đó cũng là con đường ngắn nhất để một con người công dân đường hoang trở thành một kẻ du thử, du thực, trốn chui, và có thể sẽ trở thành một kẻ lưu vong nơi xứ người. 
Nối tiếp vô số những cái tên như Thái Quang Tự, Thái Văn Dung (Nghệ An), Trần Minh Nhật (Lâm Đồng, cái tên mới nhất bị cơ quan công an truy nã được biết đến là Nguyễn Văn Tráng (SN 1991, ở xã Thành Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa) về tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”. 
Thông tin truy nã đối với Tráng được đăng tải trên cổng thông tin điện tử công an Thanh Hoá hôm 12/12. Trước đó, ngày 27-11- 2018 của cơ quan ANĐT công an tỉnh Thanh Hóa đã khởi tố đối với Hoá. Và sau khi xác định Nguyễn Văn Tráng đã vắng mặt khỏi địa phương, ngày 5-12-2018 Công an tỉnh Thanh Hóa ra quyết định truy nã bị can đối với Nguyễn Văn Tráng về tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”. 
Về tội danh của Tráng, theo tài liệu khi còn là sinh viên Trường Đại học Hồng Đức, đối tượng đã có những hoạt động đi ngược với quy chế giáo dục của nhà trường và có nhiều phát ngôn phản kháng cực đoan. Sau khi bị cho thôi học, Tráng đã thường xuyên sử dụng mạng xã hội để đăng tải các bài, hình ảnh, video clip xuyên tạc chủ trương, đường lối, nói xấu chế độ và lôi kéo kích động người dân tham gia biểu tình, gây rối trật tự công cộng.... Với những gì đã thực hiện Tráng đã bị trả giá bởi quyết định khởi tố. 
Việc Tráng chấp nhận trốn và ra đi được cho là hết sức bất ngờ, bởi thời điểm bị cơ quan Công an triệu tập làm việc với sự ngoan cố hiếm thấy của mình. Gã đã liên tục thách thức. Gã cũng tuyên bố (dù không công khai) sẽ không có ai xử lý được mình... Nhưng đúng là miệng lưỡi thế gian, Tráng đã phải lựa chọn cái cách ra đi để yên bình. Đó là điều khó mà tin được. Song, công bằng mà nói điều đó với những kẻ như Tráng còn thê thảm và khó chấp nhận hơn nhiều việc bị bắt và xử lý. Danh dự và nhân phẩm của gã cũng hoen ố từ đây. 
Hi vọng trong hành trình trốn chạy của mình, Tráng sẽ thấm hơn, hiểu hơn và trân trọng hơn những điều mình đã từng có để quay đầu là bờ! 

                                                                                             H.A
DƯ ÂM VỤ ÔNG CHU HẢO CHÍNH THỨC BỊ KHAI TRỪ ĐẢNG

Kể ra thì cũng hơi buồn lòng cho ông Chu Hảo sau khi ông này chính thức bị uỷ ban kiểm tra TƯ Đảng Cộng sản VN khai trừ đảng. Bởi rất ít, thậm chí không có ai xướng tên ông, lên tiếng ủng hộ ông thêm lần nữa như thể tất cả đã an bài, cố nữa cũng sẽ không giải quyết được điều gì. 
Xung quanh chuyện này đã có quan điểm nói rằng, sở dĩ ông Chu Hảo không còn được chú ý đến vì ông đã hết giá trị sử dụng và tất cả không ngoài cái danh đảng viên của ông ta. Về điều này, ở bài trước, blog Kênh Việt Nam cũng có viết: "Phải chăng đó là điều cho thấy, với việc bị khai trừ đảng và tiếp theo có thể ông sẽ phải rời các cương vị đang nắm giữ, Chu Hảo thực sự đã hết giá trị sử dụng. Sự im lặng, không còn la ó về Chu Hảo vì thế là dấu chấm hết đối với ông này. Ông sẽ không còn được tung hô, không còn được trọng vọng, có chăng chỉ là đám bạn bè thân thiết nói vài câu nâng bi. 
Kể ra thì chúng bạc với Chu Hảo thật. Và thế mới biết, vào Đảng Chu Hảo có nhiều thứ nhưng chính đảng cũng đủ sức tước đi của ông ta hết thảy những gì đang có. Đừng nghĩ, "đảng viên" chỉ là cái danh hão....". 
Tuy nhiên, khách quan mà nói thì đấy chưa phải là tất cả, nghĩa là trong sự im lặng đến khó hiểu này vẫn còn lí do khác. Và thật buồn khi lí do khác được nói đến liên quan một phần động cơ và nội dung khiến đám ủng hộ ông Chu Hảo lên đồng. Đó là việc 2 trong số những cá nhân tuyên bố ra khỏi đảng cộng sản VN để ủng hộ ông Chu Hảo bị nhận diện là không còn là quân nhân Quân đội đương chức trong khi trong bản tuyên bố 2 người này khẳng định hùng hồn mình đang đương chức, đang trong quân ngũ. 
Cụ thể đó là Nguyễn Hữu Hiếu, sinh năm 1990, quê ở Thiệu Tân, Thiệu Hóa, Thanh Hóa; trú quán: Nghĩa Thành, Châu Đức, Bà Rịa - Vùng Tàu; vào Đảng ngày 30-10-2011. Trước khi bị kỷ luật và bị loại ra khỏi quân đội là Trung úy, Trung đội trưởng, Trung đoàn 152 Quân khu 9; và Trần Nam, sinh năm 1960, quê quán: Trung Nguyên, Yên Lạc, Vĩnh Phúc; trú tại phường Lộc Tiến, TP. Bảo Lộc, Lâm Đồng; vào Đảng năm 1999. Tháng 10-1997, Trần Nam là Giám đốc Xí nghiệp sản xuất kinh doanh vật liệu xây dựng, Công ty Lâm Viên (Học viện Lục quân); từ năm 2001-2008, là Phó Giám đốc Công ty Lâm Viên. 
Từ năm 2011-2015, là trợ lý Ban Tham mưu kế hoạch, Phòng Hậu cần (Học viện Lục quân). Từ tháng 6-2015 Nam nghỉ chờ hưu với cấp bậc Trung tá quân nhân chuyên nghiệp, đến tháng 6-2016, Nam nghỉ hưu. 
Với việc một kẻ bị đuổi ra khỏi quân ngũ, người kia đến tuổi nghỉ hưu. Vậy nhưng trên nhiều thông tin và diễn đàn đám này nhất quyết họ đang đương chức dù tin chắc họ biết tỏng điều đó. Sự tự trọng còn rơi rớt lại bảo họ nên im lặng, càng xới sự việc lên chỉ càng làm cho mặt, uy tín và danh dự họ xấu đi mà thôi. 
Và có lẽ với điều này thì cách ứng xử đó của họ cũng rất đỗi khôn ngoan, đúng đắn. Nhưng có lẽ điều đó chỉ được với họ, còn với ông Chu Hảo, đó thực sự là nỗi buồn lớn. Ông đã lấy cả cái danh dự cuối cùng, làm những điều mà đến cái danh dự đảng viên ông ta cũng coi nhẹ, nhưng rút cuộc cái điều mà ông ta được, dành lấy chỉ là những thứ tầm thường, sự đối xử có phần lạnh nhạt, trút bỏ đến khó hiểu. 
Âu đó cũng là cái giá mà những kẻ như Chu Hảo lãnh nhận... 

                                                                    H.A
 GÓC NHÌN TOÀN CẢNH TỪ VỤ "THƯƠNG BINH" XÔNG VÀO TRỤ SỞ VFF Ở HÀ NỘI
Những ngày qua, những người dân trên dải đất hình chữ S đang sục sôi, tự hào khi Đội tuyển bóng đá Việt Nam dành chức Vô địch AFF Cup năm 2018 sau 10 năm chờ đợi. Trong khi người Việt cả trong và ngoài nước đang trong những ngày hội tưng bừng thì một vụ việc xảy ra vào ngày 10/12/2018 đã làm xấu đi hình ảnh người hâm mộ bóng đá Việt Nam khi hàng trăm cổ động viên sau khi không mua được vé đã không giữ được bình tĩnh và lao thẳng xe ba bánh vào trụ sở Liên đoàn bóng đá Việt Nam chửi bới, thóa mạ, đòi mua vé, gây ra cảnh tượng mất an ninh, trật tự tại một cơ quan này.
Điều đó không  có gì ngạc nhiên khi những năm qua, cảnh tượng "hỗn loạn" quen thuộc khi mua vé vào sân xem bóng đá tại Việt Nam. Đặc biệt là vào những trận đấu quan trọng, có sức hút như trận Chung kết AFF Cup 2018. Tuy nhiên, điều đáng chú ý là trong những cổ động viên xông vào trụ sở Liên đoàn bóng đá Việt Nam lần này có những người mà theo đa số các trang báo mạng của Việt Nam thuật lại là các "Thương binh". Ngay lập tức, vụ việc này đã gây ra sự chú ý đối với đông đảo nhân dân, đặc biệt là những tín đồ môn thể thao vua. Nhưng đáng chú ý, thông tin này còn được các tổ chức phản động lưu vong như tổ chức Việt Tân lợi dụng để làm xấu đi hình ảnh của Liên đoàn bóng đá Việt Nam, Nhà nước Việt Nam và đặc biệt là xấu đi hình ảnh của các thương binh, những người lính "Bộ đội Cụ Hồ". Do đó, cần có cái nhìn khách quan, toàn diện về vụ việc, không để các thế lực, đối tượng xấu lợi dụng vụ việc này để xuyên tạc; đồng thời để người dân trong nước có cái nhìn khách quan, toàn diện về vụ việc này:
Đầu tiên, cần khẳng định rằng: Nhu cầu xem và cổ vũ cho đội tuyển bóng đá nam nước nhà là nhu cầu chính đáng của tất cả người dân Việt Nam. Đây không chỉ là dịp để người người dân thể hiện tình yêu với đội tuyển, lòng yêu nước mà còn là dịp để tăng tình đoàn kết của người dân Việt Nam. Tuy nhiên, việc thể hiện tình cảm đó như thế nào lại là một câu chuyện đáng suy ngẫm. Đơn cử như vụ việc "người hâm mộ xông vào trụ sở VFF trên", trong đó nhiều người "tự nhận" là thương binh liệu có xứng đáng là những người yêu bóng đá, yêu nước chân chính.
Mặc dù Liên đoàn bóng đá Việt Nam đã có thông báo về việc bán vé cho một số người không có điều kiện để thực hiện mua vé trực tuyến qua mạng Internet. Nhưng một số người trong khi các cán bộ chức năng đang phân phối lại có hành vi "gây mất trật tự, làm xấu hình ảnh đẹp của người hâm mộ bóng đá Việt Nam". Những người này mượn danh là "thương binh" nhưng thực tế có không ít người là giả mạo. Qua theo dõi hình ảnh trên mạng Internet về vụ việc trên, có một số người mượn danh "thương binh Bộ đội Cụ Hồ" nhưng lại mặc đồ, đeo phù hiệu quân phục của các nước khác, thậm chí là mặc "quân phục" của chế độ Ngụy quyền Sài Gòn. Ngoài ra, đáng chú ý trong số họ không ít là phe vé hoặc đi mua vé để bán lại kiếm lời.
Thậm chí, cứ cho rằng trong số đám cổ động viên gây rối tại Trụ sở VFF trên là thương binh thật. Vậy liệu những người đó có xứng đáng với danh hiệu "Người lính Cụ Hồ, Người lính thế hệ Hồ Chí Minh". Một thế hệ đã vào sinh, ra tử vì độc lập, của dân tộc. Nhà nước và nhân dân sẽ không bao giờ quên đi sự hy sinh mất mát của thế hệ anh hùng cho dân tộc và đất nước. Nhưng một "bộ phận nhỏ" trong vụ việc nếu là thương binh thật thì đang làm mất đi thanh danh "Bộ đội Cụ Hồ". Và nghiêm trọng hơn, vụ việc trên ngay lập tức được các tổ chức phản động lưu vong như Việt Tân lợi dụng để nói xấu chính quyền, làm xấu đi hình ảnh của cựu chiến binh, thương binh Quân đội nhân dân Việt Nam.
Do đó, thiết nghĩ những người tham gia vụ việc nên bình tĩnh và nhận thức được cái sai trong cách cư xử của mình. Đồng thời, những người khác cần có cái nhìn thấu đáo về vụ việc, tránh để các đối tượng xấu lừa bịp, dụ dỗ, kích động tham gia các hoạt động vi phạm pháp luật, làm xấu đi hình ảnh người hâm mộ bóng đá Việt Nam nói riêng và người dân Việt Nam nói chung ./.
                                                                 Hướng Dương



VỤ THỦ THIÊM: KHI TIN ĐỒN LÀM BIẾN TƯỚNG MỌI THỨ
Một tuần lại nay, trên nhiều trang mạng lan truyền thông tin về việc Dòng mến Thánh giá Thủ thiêm, một dòng tu lâu đời tại TP Hồ Chí Minh thuộc Tổng Giáo phận Sài Gòn sẽ phải di dời, bàn giao mặt bằng cho ban quản lý dự án khu đô thị Thủ Thiêm, Quận 2, TP Hồ Chí Minh. Thông tin bị thất lạc tấm bản đồ quy hoạch Thủ Thiêm cũng làm cho sự việc trở nên rúng động lên và thu hút sự quan tâm của dư luận. Nhiều ý kiến khi nói đến sự việc đã kèm theo lời kêu đòi giữ lại Dòng mến Thánh giá Thủ Thiêm với lời khuyên nên giữ lại cơ sở tôn giáo này và xem đấy là một hạng mục thuộc quy hoạch khu đô thị Thủ Thiêm. 
Và theo ghi nhận thì ngoài chuyện được đề cập với mật độ dày đặc sự việc với những lời lẽ cho rằng chính quyền đang bách hại đạo Công giáo (bên cạnh sự việc tại Dòng Thánh Phaolô Hà Nội)...  thì không ít đoàn chức sắc đã tới Dòng mến thánh giá Thủ thiêm để thăm, động viên Dòng tu lâu đời này! Chính bản thân Dòng tu này cũng phát đi lời kêu gọi hiệp thông, cầu nguyện và nhiều lần tổ chức xuống đường để phản đối việc di dời trụ sở Dòng mến Thánh giá. 
Tuy nhiên, nguồn tin từ một bài báo trên news.zing.vn mới đây lại cho thấy sự việc không như đồn đoán. Rằng, Dòng Mến Thánh giá Thủ Thiêm không nằm trong 9 lô đất bán đấu giá. Cụ thể: "Tổng diện tích 9 lô đất bán đấu giá thuộc Khu chức năng số 1 của KĐT mới Thủ Thiêm là 7,8 ha và nằm tách biệt, không bao gồm diện tích Dòng mến Thánh giá Thủ Thiêm. Do đó, việc đấu giá 9 lô đất này không liên quan, cũng không ảnh hưởng gì đến hoạt động của Dòng mến Thánh giá Thủ Thiêm". 
Thông tin này cũng được ông Nguyễn Thế Minh, Trưởng ban Quản lý Đầu tư – Xây dựng KĐT mới Thủ Thiêm xác nhận. Ông Minh cũng cho biết: "mục tiêu đầu tư tại 9 lô đất là để hình thành khu trung tâm tài chính (chức năng đóng vai trò đặc biệt quan trọng tại khu lõi của KĐT mới Thủ Thiêm), thương mại, dịch vụ, tổng hợp và dân cư đa chức năng. Việc đấu giá 9 lô đất này còn nhằm xây dựng toàn bộ các tuyến đường giao thông nội khu và hạ tầng kỹ thuật của khu vực kết nối đồng bộ với hạ tầng chung của KĐT mới Thủ Thiêm". 
Ngoài ra, nguồn tin từ news.zing.vn cũng cho biết thêm: "Bí thư quận ủy quận 2 Nguyễn Hoài Nam khẳng định, TP luôn tạo mọi điều kiện, thực hiện nhiều chính sách hỗ trợ các cơ sở tôn giáo trong quá trình di dời. Theo đó, TP hoán đổi vị trí mới ở nơi có đầy đủ cơ sở hạ tầng với diện tích tăng thêm tối đa là 20%. Do các cơ sở tôn giáo là khá đặc thù nên giá trị bồi thường vật kiến trúc xây dựng cũng được áp dụng cao hơn so với nhà dân 2,8 lần.
Cùng với đó, Ủy ban MTTQ Việt Nam TP.HCM còn hỗ trợ thêm 4 triệu đồng/m2 đối với phần diện tích chính điện (của cơ sở phải di dời) nhằm tạo điều kiện để các cơ sở này có đủ điều kiện xây dựng công trình mới khang trang và chất lượng hơn. Bên cạnh đó, trong quá trình thiết kế, xây dựng, các cơ sở tôn giáo được chính quyền địa phương và các sở – ngành tạo điều kiện thuận lợi về thủ tục cấp phép xây dựng, hỗ trợ kéo điện, nước… để công trình sớm hoàn thành". 
Và như thế, xung quanh việc di dời đối với các cơ sở tôn giáo thuộc diện di dời thì chính quyền các cấp TP Hồ Chí Minh quan tâm, tạo điều kiện hết mức có thể. 
Đó có thể xem là một tin cực vui đối với những ai yêu mến và dành cho Dòng mến Thánh giá Thủ Thiêm sự quan tâm đặc biệt. Tất nhiên, đó cũng là cái tát đối với những kẻ tung tin thất thiệt, xuyên tạc về vụ việc, nhất là những thông tin nói rằng, nhà nước đang sử dụng chính dư luận liên quan Hội thánh đức chúa trời mẹ để chĩa mũi nhọn vào đạo Công giáo (???). 

                                                                 Hướng Dương
KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN NHỮNG THÀNH TỰU
VỀ NHÂN QUYỀN CỦA VIỆT NAM
Trong Báo cáo quốc gia về bảo vệ và thúc đẩy quyền con người ở Việt Nam theo cơ chế Rà soát định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ 3, Việt Nam khẳng định coi trọng cơ chế UPR của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc (LHQ), nghiêm túc triển khai các khuyến nghị UPR của các nước. Tại Hội thảo công bố Báo cáo quốc gia theo UPR chu kỳ 3 diễn ra sáng 3-12 tại Hà Nội, do Bộ Ngoại giao phối hợp với Chương trình phát triển LHQ (UNDP) tại Việt Nam tổ chức, các đại biểu đánh giá tích cực những thành tựu của Việt Nam trong lĩnh vực bảo vệ và thúc đẩy quyền con người.
Nhiều chính sách mới bảo đảm quyền con người được ban hành
Bà Caitlin Wiesen, Quyền trưởng đại diện thường trú UNDP tại Việt Nam, nhấn mạnh, ngày 3-12 là Ngày Quốc tế Người khuyết tật (NKT) và đây là vấn đề quan trọng đối với cả UNDP cũng như Chính phủ Việt Nam. Bà khẳng định: “Chúng tôi rất hài lòng Việt Nam đã phê chuẩn Công ước của LHQ về quyền của NKT năm 2015. Điều này cho thấy cam kết của Việt Nam trong việc bảo vệ những quyền này”. Báo cáo quốc gia theo UPR chu kỳ 3 cũng khẳng định những thành tựu của Việt Nam trong lĩnh vực bảo đảm các quyền của NKT, bao gồm việc thành lập Ủy ban Quốc gia về NKT năm 2015, ban hành nhiều chương trình, đề án liên quan đến NKT…Báo cáo cũng nêu bật những tiến bộ trong thúc đẩy và bảo vệ quyền con người (QCN) kể từ lần rà soát chu kỳ 2, nhấn mạnh việc này được thể hiện xuyên suốt trong các chiến lược, chính sách phát triển KT-XH, chiến lược cải cách tư pháp cũng như quá trình triển khai các nghĩa vụ và cam kết quốc tế của Việt Nam, trong đó có các khuyến nghị UPR mà Việt Nam đã chấp thuận. Báo cáo đánh giá kể từ lần rà soát chu kỳ 2, Việt Nam đã nỗ lực hoàn thiện về mặt pháp luật, thể chế, chính sách về QCN, tạo nền tảng vững chắc mang lại những kết quả thực tiễn đáng khích lệ. Theo báo cáo, kể từ lần rà soát chu kỳ 2, nhiều chính sách mới quan trọng đã được ban hành với mục tiêu để mọi người dân Việt Nam được thụ hưởng đầy đủ QCN, đặc biệt là nỗ lực xây dựng Chính phủ kiến tạo, thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững, bảo đảm quyền phát triển, quyền cho các nhóm dễ bị tổn thương, quyền của người lao động. Cụ thể, chương trình hành động của Chính phủ nhiệm kỳ 2016 - 2021 khẳng định nỗ lực xây dựng “Chính phủ kiến tạo, hành động quyết liệt, hiệu lực, hiệu quả, hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân”.
Ngoài ra, Chính phủ cũng ban hành nhiều chính sách về giảm nghèo, bảo đảm an ninh lương thực, cải thiện dinh dưỡng, thúc đẩy nông nghiệp bền vững, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân... Cùng với đó là những nỗ lực hoàn thiện pháp luật, chính sách về bình đẳng giới…Về thực hiện các cam kết quốc tế và hợp tác quốc tế về QCN, kể từ lần rà soát trước, Việt Nam đã phê chuẩn thêm hai công ước về QCN: Công ước về Quyền của NKT và Công ước Chống tra tấn và các hình thức đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục con người. Như vậy, hiện Việt Nam là thành viên của 7/9 công ước quốc tế cơ bản về QCN. Theo báo cáo, Việt Nam đang tiếp tục xem xét khả năng gia nhập Công ước về Người mất tích cưỡng bức và Công ước về Quyền của người lao động di cư và thành viên gia đình họ. Đặc biệt, báo cáo cũng nêu bật những thành tựu đạt được trong công tác bảo vệ và thúc đẩy QCN trên thực tế, bao gồm các quyền dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa, như: Các quyền bình đẳng trước pháp luật; quyền sống, quyền được tôn trọng về nhân phẩm và bất khả xâm phạm về thân thể; quyền tự do đi lại; quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; quyền tự do ngôn luận, báo chí, tự do hội họp…; thúc đẩy kinh tế phát triển bền vững, xóa đói giảm nghèo, an sinh xã hội, việc làm, bảo đảm nước sạch, chăm sóc y tế, giáo dục, nhà ở cho người nghèo…Tuy nhiên, cùng với những thành tựu nêu trên vẫn còn những thách thức đáng kể được chỉ ra trong báo cáo quốc gia UPR chu kỳ 3. Cụ thể là những tồn tại về khuôn khổ pháp lý, nguồn lực và chính sách nhằm thúc đẩy và bảo đảm các QCN, nhất là đối với các nhóm yếu thế trong xã hội.
Báo cáo cũng đồng thời đề xuất các hướng ưu tiên của Chính phủ Việt Nam trong thời gian tới nhằm bảo đảm sự thụ hưởng tốt hơn các quyền cơ bản của mỗi người dân. Trong đó, nhấn mạnh ưu tiên cao nhất của Việt Nam là tiếp tục xây dựng Nhà nước pháp quyền, cải cách pháp luật củng cố các nền tảng thể chế, pháp lý và chính sách liên quan đến bảo vệ và thúc đẩy QCN.
Việt Nam coi trọng các cam kết theo cơ chế UPR
Theo bà Caitlin Wiesen, quy trình rà soát theo UPR qua các chu kỳ được thực hiện 4 năm rưỡi một lần. Đây là một quy trình quan trọng để chứng tỏ sự tiến bộ của các nước qua các chu kỳ trong lĩnh vực bảo đảm QCN. Nếu không, các khuyến nghị giống nhau sẽ tiếp tục được nhắc lại trong các chu kỳ tiếp theo. Và giai đoạn thực hiện các khuyến nghị chính là giai đoạn quan trọng nhất trong quy trình rà soát, cho thấy chính phủ đó tích cực có các biện pháp để bảo vệ nhân quyền như thế nào. Theo ông Đặng Hoàng Giang, Chánh Văn phòng Bộ Ngoại giao, tính riêng tại UPR chu kỳ 2, Việt Nam đã chấp thuận 182/227 khuyến nghị nhận được. Tính đến tháng 10-2018, Việt Nam đã thực hiện 175 khuyến nghị (chiếm 96,2%); trong đó, 159 khuyến nghị đã được thực hiện hoàn thành, 16 khuyến nghị đã được thực hiện một phần và đang tiếp tục thực hiện. 7 khuyến nghị còn lại đang được thực hiện hoặc xem xét thực hiện vào thời điểm phù hợp. Không có khuyến nghị nào đã được chấp thuận mà chưa được xem xét thực hiện. Để triển khai các khuyến nghị UPR, Việt Nam đã chủ động xây dựng kế hoạch tổng thể được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, phân công nhiệm vụ cho các bộ, ngành liên quan. Các bộ, ngành cũng có nhiều sáng kiến để triển khai các khuyến nghị trong lĩnh vực mình phụ trách. Việc thực hiện các khuyến nghị UPR đã có những tác động tích cực, đặc biệt trong lĩnh vực xây dựng hệ thống pháp luật về QCN, bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao đời sống của người dân và thúc đẩy hợp tác, đối thoại ở cấp khu vực và quốc tế về vấn đề QCN. “Đây cũng chính là nguyên nhân, đồng thời là động lực để Việt Nam tiếp tục coi trọng và nghiêm túc thực hiện các cam kết theo cơ chế UPR”, ông Giang khẳng định.
Bà Caitlin Wiesen cho rằng, bằng việc tăng cường các cơ chế quốc gia về báo cáo, thực hiện và giám sát, Việt Nam có thể cho thấy có khuôn khổ luật pháp và thể chế phù hợp   quả để thực hiện toàn bộ các khuyến nghị từ tất cả các cơ chế QCN.Theo kế hoạch, Việt Nam sẽ trình bày và đối thoại về báo cáo quốc gia UPR chu kỳ 3 trước Hội đồng Nhân quyền LHQ trong tháng 1-2019. Đây được coi là cơ hội để Việt Nam cùng các nước thành viên LHQ cùng rà soát và xác định những lĩnh vực ưu tiên, những giải pháp khả thi nhằm thúc đẩy và bảo vệ các QCN ở Việt Nam. UPR là qui trình duy nhất của LHQ về QCN, được sự ủng hộ của tất cả các thành viên LHQ và bao gồm tất cả các QCN. Vì vậy, UPR thực sự là một qui trình phổ quát, bao gồm việc rà soát tình hình nhân quyền ở tất cả các nước, nhằm có một cuộc thảo luận hiệu quả giữa các quốc gia và giúp các nước rà soát quá trình bảo vệ QCN của mình.
MT


Thứ Hai, 24 tháng 12, 2018

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
ĐẤU TRANH PHÒNG, CHỐNG QUAN ĐIỂM SAI TRÁI
CỦA KẺ ĐỊCH TRONG TÌNH HÌNH HIỆN NAY
Một là, tăng cường giáo dục, nâng cao nhận thức, nhận diện quan điểm sai trái cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân.
Giáo dục, nâng cao nhận thức và nhận diện được quan điểm sai trái của kẻ địch cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân là vấn đề hết sức quan trọng. Chống quan điểm sai trái là trận chiến không phân rõ ranh giới, kẻ thù lại sử dụng mọi thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt nên một bộ phận cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân còn mơ hồ, chưa nhân diện được nó. Có người còn cho rằng, các quan điểm của các thế lực thù địch đã phản ánh đúng tình hình hiện tại của đất nước, là kẻ thù đã nói thay ta để ta nhìn nhận chính xác, khách quan và sửa chữa kịp thời. Hơn thế nữa, có tổ chức, tập thể và cá nhân còn thờ ơ, bàng quan cho rằng, cuộc chiến phòng chống quan điểm sai trái là trách nhiệm của tổ chức đảng cấp trên, là công việc của các cơ quan, bộ phận chuyên trách và các nhà khoa học, nhà chính trị, nhà lý luận,...
Tình trạng nhận thức không đúng, nhận diện không chính xác các quan điểm sai trái có nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân quan trọng xuyên suốt là do chúng ta chưa làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng, chưa tuyên truyền sâu rộng trong xã hội.. Để công tác này đạt hiệu quả thiết thực, thiết nghĩ mỗi tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên, nhất là cấp ủy, bí thư cấp ủy phải là tấm gương trong học tập, nghiên cứu lý luận, phải nhận diện được và có quan điểm rõ ràng trước các quan điểm sai trái, từ đó tuyên truyền, giáo dục, vận động quần chúng nhân dân tham gia phòng, chống các quan điểm sai trái. 
Hai là, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng.
Trong âm mưu xuyên suốt của kẻ địch, chúng không bao giờ từ bỏ chống phá ta trên lĩnh vực tư tưởng chính trị, coi đây là lĩnh vực trọng tâm nhằm làm băng hoại nền tảng tư tưởng của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh đối với cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân. Thực tiễn cách mạng Việt Nam cũng cho thấy, hiện nay vẫn còn nhiều vấn đề liên quan đến chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh chưa được làm rõ. Do vậy, để tránh bị kẻ thù lợi dụng, xuyên tạc, một mặt chúng ta phải nghiên cứu, phát triển và hoàn thiện chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh một cách đúng đắn, sáng tạo vào tình hình cách mạng Việt Nam. Mặt khác, phải không ngừng bảo vệ và giữ vững nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên quyết, kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đồng thời không ngừng củng cố, làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trở thành nền tảng tư tưởng của toàn xã hội, là định hướng chính trị vững chắc trong toàn bộ hoạt động lãnh đạo cách mạng của Đảng ta.
Ba là, xây dựng các tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, có năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu.
Đấu tranh với các quan điểm sai trái là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Muốn vậy, Đảng phải không ngừng củng cố tổ chức, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng các cấp, coi đây là vấn đề sống còn của Đảng, là biện pháp “tự đề kháng” cho đội ngũ cán bộ, đảng viên trước âm mưu, thủ đoạn chống phá và các quan điểm sai trái của kẻ thù. Xây dựng các tổ chức đảng trong sạch vững mạnh, có đủ năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, thực sự là hạt nhân chính trị ở cơ quan, đơn vị, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có đủ năng lực, uy tín và trình độ để giáo dục, thuyết phục và định hướng cho quần chúng trong đấu tranh phòng, chống các quan điểm sai trái, thù địch. Thường xuyên tiến hành tự phê bình và phê bình, triển khai có hiệu quả sinh hoạt tự phê bình và phê bình. Mỗi cán bộ, đảng viên phải nâng cao nhận thức, trách nhiệm, khắc phục thái độ thờ ơ, bàng quan, mất cảnh giác trước các quan điểm sai trái. Phấn đấu mỗi tổ chức đảng, mỗi chi bộ là một pháo đài vững chắc trên trận địa đấu tranh phòng, chống quan điểm sai trái, bảo vệ tính đúng đắn, khoa học của đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trên hiện thực.
Bốn là, đầu tư nguồn lực, xây dựng và phát triển lực lượng đấu tranh các quan điểm sai trái.
Cuộc đấu tranh phòng, chống các quan điểm sai trái, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là cuộc đấu tranh khó khăn, phức tạp và lâu dài. Do vậy, cần phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và sức mạnh của toàn dân trong huy động nguồn lực, vật chất, kinh phí, xây dựng và phát triển lực lượng tham gia đấu tranh với các quan điểm sai trái. Trước hết, Đảng cần quan tâm đào tạo, bồi dưỡng được đội ngũ các nhà khoa học vừa có tính kế thừa, vừa có tính chuyên sâu về lý luận Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, về chuyên ngành xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam trong tình hình mới. Từ đó, lựa chọn những cán bộ có đủ điều kiện để đào tạo, bồi dưỡng thành những nhà lý luận, chuyên gia đầu ngành trên các lĩnh vực của đời sống chính trị - xã hội, có phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng và tư duy nhạy bén, tỉnh táo, sắc sảo trong đấu tranh phòng, chống các quan điểm sai trái của kẻ địch.  Nhanh chóng rà soát, chấn chỉnh hoạt động, xây dựng và nâng cao bản lĩnh chính trị cho đội ngũ phóng viên báo chí, phát thanh, truyền hình và báo điện tử. Định hướng hoạt động báo chí, truyền hình theo đúng quan điểm của Đảng về phòng, chống các quan điểm sai trái, thù địch. Đội ngũ nhà báo phải dũng cảm, đi đầu trong cuộc chiến phòng, chống các quan điểm sai trái. Để công tác phòng, chống các quan điểm sai trái có hiệu quả, Đảng, Nhà nước cần quan tâm xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật. Tăng cường đầu tư ngân sách tương xứng để xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật theo hướng đồng bộ, hiện đại và có trọng tâm, trọng điểm.
Năm là, tăng cường đấu tranh trực diện với các quan điểm sai trái của kẻ địch.  Đấu tranh phòng, chống các quan điểm sai trái của kẻ thù đòi hỏi phải được tổ chức chặt chẽ, khoa học và có quyết tâm cao. Quan trọng hơn là chúng ta phải tổ chức được lực lượng hùng hậu, nhận diện được và dám đấu tranh trực diện với kẻ thù. Do vậy, phải phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân, nhất là các trung tâm nghiên cứu, các nhà khoa học, nhà lý luận, nhà chính trị, các cơ quan báo chí, phát thanh, truyền hình phải đoàn kết và nhảy vào cuộc. Cấp ủy, chính quyền, người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp phải là người lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức triệt để, thường xuyên nhiệm vụ này. Trong đó, cần huy động tối đa đội ngũ chuyên gia giỏi, những bút chiến sắc bén tham gia đấu tranh phòng, chống các quan điểm sai trái của kẻ thù trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhất là lĩnh vực tư tưởng văn hóa. Trong đấu tranh cần quán triệt sâu sắc phương châm “thêm bạn bớt thù”, phải có sách lược mềm dẻo, biết cách xem xét, đánh giá và phân loại đối tượng cụ thể để có phương thức đấu tranh phù hợp, đem lại hiệu quả cao. 
                                                                                         BIỂN RỘNG


MỘT SỐ YÊU CẦU PHÒNG, CHỐNG “DIỄN BIẾN HOÀ BÌNH”
   TRÊN LĨNH VỰC VĂN HÓA, TƯ TƯỞNG
Một là: Các cấp, các ngành mà đặc biệt là những người làm công tác tư tưởng văn hóa là người nắm vững nhất về chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước trên lĩnh vực văn hóa bởi chính những tổ chức và cá nhân ấy là người trực tiếp đưa văn hóa “thấm” sâu vào đời sống nhân dân; làm cho văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần của chế độ, của mọi người dân Việt Nam và tạo cho văn hóa Việt Nam có một “sức đề kháng” tốt trước sự “xâm lăng” độc hại của văn hóa ngoại lai, góp phần tích cực vào việc giữ gìn, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và Nhà nước ta trong tiến trình đổi mới, hội  nhập và phát triển.
Hai là: Mỗi cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị phải là những người tích cực nhất trong việc giữ gìn, bảo vệ và phát huy nền văn hóa truyền thống của đất nước, đồng thời là người tuyên truyền viên tích cực nhất đối với quần chúng nhân dân trong việc phát huy bản sắc tốt đẹp của văn hóa Việt Nam.
Ba là: Các cơ quan ngôn luận, báo chí là công cụ hữu hiệu của Nhà nước phải có trách nhiệm lớn hơn nữa trong việc quảng bá, gìn giữ bản sắc văn hóa Việt Nam, tích cực phản bác lại các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch nhằm vào nền tảng tinh thần của xã hội.
Bốn là: Công tác giáo dục truyền thống, văn hóa, giáo dục chính trị tư tưởng cho thế hệ trẻ ở các học viện, nhà trường, các cơ sở giáo dục phải được tăng cường để đáp ứng yêu cầu của cách mạng trong tình hình mới.
Năm là: Phải tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa. Nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên ở các cấp trong việc bảo tồn, phát huy nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
                                                                                         BIỂN RỘNG
NHỮNG NỖ LỰC THỰC HIỆN QUYỀN
CON NGƯỜI CỦA VIỆT NAM
Ngày 6-12, tại họp báo thường kỳ của Bộ Ngoại giao, trả lời câu hỏi của phóng viên đề nghị cho biết những nội dung chính trong Báo cáo quốc gia về bảo vệ và thúc đẩy quyền con người theo cơ chế rà soát định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ III, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng cho biết: Vừa qua, Việt Nam đã chính thức nộp Báo cáo quốc gia về bảo vệ và thúc đẩy quyền con người theo cơ chế rà soát định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ III cho Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc. Dự kiến ngày 22-1-2019 Việt Nam sẽ tham gia đối thoại về Báo cáo quốc gia UPR tại Hội đồng Nhân quyền. Cơ chế UPR là cơ chế liên chính phủ của Hội đồng Nhân quyền có nhiệm vụ rà soát tổng thể tình hình nhân quyền tại tất cả các quốc gia thành viên Liên hợp quốc, được tiến hành định kỳ từ bốn đến 5 năm một lần theo nguyên tắc đối thoại, hợp tác, bình đẳng, khách quan, minh bạch, xây dựng. Việt Nam ủng hộ cơ chế UPR của Hội đồng Nhân quyền và luôn nghiêm túc trong xây dựng các báo cáo quốc gia cũng như trong triển khai các khuyến nghị Việt Nam chấp nhận ở chu kỳ I (2009) và chu kỳ II (2014). Báo cáo quốc gia UPR chu kỳ III đề cập một cách tổng thể việc bảo đảm quyền con người ở Việt Nam kể từ lần rà soát trước, cập nhật luật pháp và chính sách liên quan quyền con người, thông tin về những kết quả bảo đảm quyền con người trên các lĩnh vực và rà soát việc thực hiện những khuyến nghị mà Việt Nam đã chấp nhận ở chu kỳ II. Báo cáo cũng xác định những ưu tiên cam kết của Việt Nam trong thời gian tới.
Tính đến tháng 10-2018, Việt Nam đã thực hiện được 175 trong số 182 khuyến nghị mà Việt Nam chấp thuận ở chu kỳ II (chiếm 96,2%). Bảy khuyến nghị còn lại đang được thực hiện hoặc xem xét thực hiện vào thời điểm phù hợp. Báo cáo đề cập một số thành tựu nổi bật của Việt Nam trong bảo đảm quyền con người, trong đó có việc thông qua Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi ban hành mới hơn 90 văn bản luật có liên quan việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân. Thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam liên tục tăng, trong đó thu nhập của hộ nghèo tăng từ 15 đến 20%; tỷ lệ nghèo đa chiều giảm từ 9,88% năm 2015 xuống 7,69% năm 2017. 38% số người dân tộc ít người dịch chuyển lên nhóm có điều kiện kinh tế cao hơn (mức chung cả nước là 28%). 63 tỉnh, thành phố đạt phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi và phổ cập giáo dục tiểu học. Về bình đẳng giới, tỷ lệ phụ nữ làm chủ doanh nghiệp, chủ cơ sở kinh doanh đạt hơn 27,8%, tỷ lệ phụ nữ tham gia vào Quốc hội nhiệm kỳ 2016 - 2021 đạt 26,71%. Việc bảo đảm các quyền dân sự, chính trị cũng đạt nhiều thành tựu, trong đó có bảo đảm quyền bình đẳng trước pháp luật, quyền tự do báo chí, tự do in-tơ-nét… Ðời sống tín ngưỡng, tôn giáo ngày càng phát triển phong phú với hơn 95% dân số có đời sống tín ngưỡng, tôn giáo.
MT

Thứ Năm, 20 tháng 12, 2018

VẠCH TRẦN LUẬN ĐIỆU PHỦ NHẬN LỢI THẾ VỀ ỔN ĐỊNH
CHÍNH TRỊ CỦA NƯỚC TA ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ

Ngày nay, trên trường quốc tê luôn đánh giá cao và khắng định sự ổn định chính trị với phát triển kinh tê ở Việt Nam. Thế nhưng có luận điểm cho rằng, mặt trái của ổn định là trì trệ, thực trạng ở Việt Nam hiện nay là ổn định trong trì trệ. Đồng thời họ “hiến kế”:“Hãy chọn những vấn đề trì trệ nhất cản bước phát triên nhất để đột phá.Hãy coi và phải coi đổi mới chính trị, cải cách thể chế là động lực cho giai đoạn phát triên hiện nay”. Với luận điểm nêu trên, dã tâm cua họ là phủ nhặn sư lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, coi thượng tầng chính trị và thể chế của ta là những yếu tố đang trì trệ và hàng giờ, hàng ngày cản bước phát triển.Mục đích sâu xa của luận điểm này cho rằng, nước ta “ổn định trong trì trệ” để tìm mọi cách làm nản chí các nhà đầu tư, hòng có thể chặn đứng dòng vốn tài chính và kỹ thuật từ nước ngoài đổ vào và hạ thấp giá trị đích thực của những chủ trương, chính sách được Đảng và Nhà nước từng bước cập nhật phù hợp với nền kinh tê thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Biện pháp của chúng ta là tiêp tục giữ vững sự ổn định chính trị với phát triển kinh tế phồn thịnh dựa vào huy động các nguồn lực trong và ngoài nước một cách chủ động, tích cực, đặc biệt là khai thác nguồn lực to lớn trong nhân dân.

ĐỨC BÁCH
LỜI KÊU GỌI TOÀN QUỐC KHÁNG CHIẾN 19/12/1946
-GIÁ TRỊ LỊCH SỬ VÀ HIỆN THỰC

1. Giá trị lịch sử
Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến khẳng định khát vọng hòa bình, ý chí và quyết tâm sắt đá bảo vệ nền độc lập, tự do của dân tộc. Trong dòng chảy liên tục của lịch sử dựng nước và giữ nước, mong muốn hòa bình để dựng xây đất nước là khát vọng cháy bỏng của cả dân tộc Việt Nam. Mở đầu Lời kêu gọi, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa”1. Khát vọng hòa bình của nhân dân ta sẽ không bao giờ có được khi kẻ thù có dã tâm xâm lược nước ta. Cho nên, Người khẳng định rõ ý chí, quyết tâm sắt đá của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta trong bảo vệ nền độc lập, tự do - thành quả của Cách mạng Tháng Tám vừa giành được: “Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”2. Lời khẳng định đó là sự kết tinh của truyền thống hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam; là sự tiếp nối ý chí và quyết tâm “Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập”3 đã được Người khẳng định trong Tuyên ngôn độc lập.
           Đây là lời hịch cứu nước, có tác dụng cổ vũ, thôi thúc và động viên toàn dân nhất tề đứng lên đánh giặc. Để huy động sức mạnh, tiến hành cuộc kháng chiến toàn dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi “Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc”4. Lời hiệu triệu của Người là tiếng gọi thiêng liêng của non sông, đất nước, thôi thúc cả dân tộc bước vào cuộc chiến đấu mới.
Đáp lại Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, toàn thể dân tộc đã nhất tề đứng lên kháng chiến với ý chí “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”. Tại Hà Nội, sau hiệu lệnh nổ súng, Vệ quốc đoàn và Tự vệ đồng loạt tiến công các mục tiêu trong trung tâm Thành phố. Phối hợp với bộ đội, các tầng lớp nhân dân tích cực tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu, tạo ra thế trận chiến tranh nhân dân rộng khắp chặn địch. Cùng với quân, dân Thủ đô, quân và dân các đô thị từ Bắc vĩ tuyến 16 trở ra, như: Đà Nẵng, Huế, Vinh, Nam Định, Hải Dương, Bắc Ninh, Bắc Giang,... cũng nổ súng tiến công giam chân địch trong các thành phố, thị xã, giành được thắng lợi bước đầu. Ở Nam Bộ, Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, lực lượng vũ trang và nhân dân đẩy mạnh chiến tranh du kích, đánh phá kế hoạch bình định, kiềm chế không cho địch đưa lực lượng chi viện cho Trung Bộ và Bắc Bộ. Cuộc chiến đấu quyết liệt, anh dũng của quân và dân ta trong những ngày đầu toàn quốc kháng chiến đã giành được những thắng lợi quan trọng, làm thất bại chiến lược “đánh nhanh, thắng nhanh” của thực dân Pháp. Như vậy, Lời kêu gọi đã hiệu triệu, động viên và khơi dậy tinh thần yêu nước, ý chí kiên cường, bất khuất của toàn dân tộc để chúng ta làm nên những thắng lợi bước đầu, tạo nền tảng cho những chiến công oanh liệt về sau, đi đến kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của dân tộc.
Lời kêu gọi đã phác họa những nét cơ bản về đường lối chống thực dân Pháp, góp phần chỉ đạo, định hướng cho cuộc kháng chiến giành thắng lợi. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược bùng nổ trong tương quan lực lượng có lợi cho địch. Để giành thắng lợi, chúng ta phải lấy nhỏ đánh lớn, lấy ít địch nhiều. Nắm chắc vấn đề đó, với tầm nhìn thấu suốt, nên trong Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vạch rõ những nét cơ bản của đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp: toàn dân, toàn diện, lâu dài và tự lực cánh sinh. Người chỉ rõ lực lượng tham gia kháng chiến là toàn dân tộc, bao gồm mọi tầng lớp, mọi lứa tuổi, không phân biệt tôn giáo, đảng phái; đánh Pháp bằng bất cứ thứ vũ khí gì có thể; đồng thời, Người cũng chỉ rõ cuộc chiến sẽ rất gian lao, lâu dài, phải trải qua gian khổ, hy sinh, nhưng thắng lợi cuối cùng “nhất định về dân tộc ta”.
Như vậy, trong khuôn khổ ngắn gọn, nhưng Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến là văn kiện quan trọng, mang tính chỉ đạo không chỉ trong những ngày đầu, mà còn có tác dụng định hướng cho sự phát triển của cả cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp cũng như về sau. Trên cơ sở tư tưởng đó, kết hợp với hoạt động thực tiễn, Đảng ta từng bước hoàn chỉnh thành đường lối, chỉ đạo nhân dân tiến hành cuộc kháng chiến đi tới thắng lợi.
2. Giá trị hiện thực
Bảy mươi năm đã trôi qua, lời hịch thiêng liêng kêu gọi toàn dân tộc đoàn kết, đứng lên chiến đấu, giành chiến thắng trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trường kỳ đã để lại những bài bài học sâu sắc cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đã xác định: “… tập hợp, đoàn kết mọi người Việt Nam ở trong và ngoài nước, tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa nhân dân và Đảng, Nhà nước tạo sinh lực mới của khối đại đoàn kết toàn dân tộc”5. Theo đó, để thực hiện thành công mục tiêu trên, tạo sức mạnh to lớn cho công cuộc đổi mới, chúng ta cần quán triệt và từng bước hiện thực hóa mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, coi đó là điểm tương đồng để thống nhất về chính trị, tư tưởng trong toàn xã hội. Đồng thời, thực hiện đoàn kết mọi tầng lớp, lực lượng trong xã hội, trên nền tảng khối liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức; giải quyết hài hòa các lợi ích làm cơ sở cho sự ổn định, đoàn kết và thống nhất. Bên cạnh đó, một trong những yếu tố quan trọng là phải xây dựng bộ máy Nhà nước trong sạch, kiên quyết đấu tranh có hiệu quả bệnh quan liêu, tham nhũng, tạo lòng tin trong nhân dân.
Cùng với đó, cần nêu cao tinh thần chủ động, cảnh giác cách mạng, kiên quyết giữ vững hòa bình, ổn định, tạo điều kiện thuận lợi cho sự nghiệp đổi mới, phát triển đất nước. Sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay chịu tác động sâu sắc từ những biến động mạnh mẽ và phức tạp của tình hình khu vực và quốc tế, nhất là sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch trên nhiều lĩnh vực, lại được che dấu trong các quan hệ kinh tế, thương mại, văn hóa, v.v. Do đó, yêu cầu đặt ra đối với chúng ta là phải luôn chủ động, tỉnh táo, cảnh giác, kết hợp chặt chẽ, linh hoạt giữa hợp tác với đấu tranh vì lợi ích cao nhất của đất nước. Phải phát huy sức mạnh tổng hợp, thế và lực để ngăn ngừa, đẩy lùi nguy cơ xung đột chiến tranh, kịp thời đối phó với những tình huống gây “đột biến”, cần có kế sách bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; chủ động phòng ngừa, phát hiện sớm và triệt tiêu các nhân tố bất lợi. Có như vậy mới giữ vững được môi trường hòa bình, ổn định, góp phần tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong bối cảnh hội nhập vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Đồng thời, Lời kêu gọi còn là bài học sâu sắc đối với việc xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Nền quốc phòng toàn dân trước hết được xây dựng vì mục đích hòa bình, giữ gìn sự ổn định để phát triển đất nước. Tư tưởng đó được kế thừa trong lịch sử dân tộc và được nâng lên tầm cao mới trong thời đại Hồ Chí Minh. Để có được hòa bình, “chúng ta phải nhân nhượng” và quyết “hy sinh tất cả” để bảo vệ độc lập khi Tổ quốc lâm nguy. Trong giai đoạn hiện nay, tinh thần đó tiếp tục gợi mở về những biện pháp linh hoạt, mềm dẻo trong quan hệ đối ngoại, hội nhập quốc tế. Đặc biệt, cần phải biết giữ vững nguyên tắc chiến lược, đồng thời linh hoạt về sách lược nhằm “thêm bạn, bớt thù”, tránh được các xung đột và chiến tranh, thực hiện hòa nhập nhưng không “hòa tan” trong quan hệ quốc tế. Vì vậy, xây dựng nền quốc phòng toàn dân trong điều kiện mới, đòi hỏi phải xây dựng toàn diện cả về tiềm lực, lực lượng và thế trận; trong đó, chú trọng xây dựng tiềm lực về chính trị, tinh thần, phát huy nhân tố con người là yếu tố quyết định.
          Tiếp nối hào khí của bài thơ thần “Nam quốc sơn hà” thời Lý, “Hịch tướng sĩ” thời Trần, “Bình Ngô đại cáo” thời Lê Sơ,... Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến là một áng hùng văn bất hủ, chứa đựng những giá trị và tư tưởng mang tính thời đại, là lời hịch động viên cả nước đứng lên chiến đấu bằng thái độ kiên định và dứt khoát. Lời kêu gọi còn là bản cương lĩnh kháng chiến có tính khái quát cao, chứa đựng những quan điểm về đường lối chiến tranh nhân dân, toàn dân đánh giặc và khẳng định niềm tin tuyệt đối vào thắng lợi cuối cùng của cuộc kháng chiến. Những tư tưởng cơ bản đó cần tiếp tục nghiên cứu, vận dụng sáng tạo trong giai đoạn mới của cách mạng.
______________
1 - ĐCSVN - Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 8, Nxb CTQG, H. 2000, tr. 160.
2 - Sđd, tr. 160.
3 - Hồ Chí Minh - Toàn tập, Tập 4, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 3.
4 - ĐCSVN - Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 8, Nxb CTQG, H. 2000, tr. 160.
5 - ĐCSVN - Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb CTQG, H. 2016, tr. 159.
TAG TRUNG LẬP


LỜI KÊU GỌI TOÀN QUỐC KHÁNG CHIẾN
- LỢI HIỆU TRIỆU NON SÔNG

Đã 72 năm kể từ ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra “Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến”, nhưng âm hưởng hào hùng của lời kêu gọi bất hủ ấy vẫn mãi trường tồn cùng lịch sử dân tộc Việt Nam, mãi là lời hịch của non sông, một văn kiện mang tính cương lĩnh quân sự có giá trị lịch sử trong mọi thời đại, thể hiện ý thức sâu sắc giá trị của độc lập dân tộc và niềm tin vững bền về con đường cách mạng mà Đảng, Bác Hồ và Nhân dân ta đã lựa chọn: Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - nhà nước công nông đầu tiên ở khu vực Đông Nam Á ra đời, đánh dấu bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Lần đầu tiên, chính quyền thuộc về nhân dân; gần 80 năm chịu sự gông xiềng của ngoại bang phương Tây, người dân Việt Nam đã trở thành người chủ vận mệnh dân tộc mình. Song, kẻ thù nào chịu để yên và chính quyền cách mạng non trẻ của nhân dân đang đứng trước muôn vàn khó khăn thử thách, tình thế cách mạng lúc này mong manh như “trứng để đầu gậy” phải đối mặt với nhiều kẻ thù cùng lúc: Giặc đói, giặc dốt và đặc biệt là giặc ngoại xâm.
Ngày 23/9/1945, thực dân Pháp núp bóng quân Anh vào giải giáp quân Nhật đầu hàng, đã nổ súng đánh ta ở Sài Gòn rồi cả Nam Bộ. Chủ tịch Hồ Chí Minh, một mặt kêu gọi nhân dân Nam Bộ và Nam Trung Bộ đứng lên kháng chiến, mặt khác ra sức đàm phán với Chính phủ Pháp để cứu vãn hòa bình. Người đã ký với đại diện Chính phủ Pháp tại Hà Nội “Hiệp định Sơ bộ” ngày 6/3/1946. Tiếp đó, Người đích thân qua Pháp chỉ đạo phái đoàn Chính phủ ta đàm phán với Chính phủ Pháp ở Fontainebleau. Cuộc đàm phán thất bại do lập trường phía Pháp vẫn theo đuổi chính sách thống trị Việt Nam. “Còn nước còn tát”, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng làm việc cả ngày lẫn đêm, để kéo dài thời gian Người ký với Chính phủ Pháp Tạm ước ngày 14/9/1946. Ngày 16/9/1946, Người rời cảng Toulon (Pháp) trở về nước.
Ngày 16/10, Người tiếp tục gặp tướng Pháp Đắc-giăng-li-ơ ở vịnh Cam Ranh. Thỏa thuận ngừng bắn theo Tạm ước 14/9 không được thực hiện ở Nam Bộ. Cuối tháng 11/1946, quân Pháp đánh chiếm Hải Phòng, Lạng Sơn và đổ bộ lên Đà Nẵng. Tại Hà Nội, quân Pháp liên tiếp nổ súng, ném lựu đạn vào nhiều nơi trong các ngày 15, 16/12/1946 như: Đốt nhà thông tin ở phố Tràng Tiền, chiếm cơ quan Bộ Tài chính và Bộ Giao thông công chính. Ngày 17/12/1946, quân Pháp cho xe phá các công sự của ta ở phố Lò Đúc, đặc biệt, chúng đã gây ra vụ tàn sát nhiều đồng bào ta ở phố Hàng Bún và Yên Ninh, gây xung đột đổ máu ở cầu Long Biên, khu Cửa Đông. Bội ước Hiệp định Sơ bộ 6/3 và Thỏa ước 19/4/1945, thực dân Pháp ráo riết tăng cường lực lượng và đến tháng 11/1946, số quân của chúng tại nước ta đã lên tới 10 vạn. Ngày 18/12/1946, tướng Moóc-li-e gửi cho ta hai tối hậu thư đòi chiếm đóng Sở Tài chính, đòi ta phải phá bỏ mọi công sự chướng ngại trên các đường phố, giải tán lực lượng tự vệ chiến đấu và giao quyền kiểm soát an ninh trật tự ở Thủ đô Hà Nội cho chúng. Pháp tuyên bố nếu các yêu cầu trên không được Chính phủ Việt Nam chấp nhận thì chậm nhất vào sáng 20/12/1946 quân Pháp sẽ hành động. Trước tình hình đó, vào 2 ngày (18 và 19/12/1946), tại làng Vạn Phúc (Hà Đông), Thường vụ Trung ương Đảng họp mở rộng do Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì, quyết định phát động cuộc kháng chiến trên phạm vi toàn quốc. Giờ hành động cứu quốc đã điểm, đúng 20 giờ ngày 19/12/1946, quân dân Thủ đô Hà Nội đã nổ súng mở đầu cuộc kháng chiến trong toàn quốc. Ngày 20/12/1946, tại Hang Trầm (Chương Mỹ, Hà Đông), Đài Tiếng nói Việt Nam phát đi Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh
“Hỡi đồng bào toàn quốc!
Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng muốn cướp nước ta lần nữa!
Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ.
Hỡi đồng bào,
Chúng ta phải đứng lên!
Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không phân biệt đảng phái, tôn giáo, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc, ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước.
Hỡi anh em binh sĩ, tự vệ, dân quân! Giờ cứu nước đã đến. Ta phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng để giữ gìn đất nước.
Dù phải gian lao kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết hy sinh, thắng lợi nhất định về dân tộc ta! Việt Nam độc lập và thống nhất muôn năm! Kháng chiến thắng lợi muôn năm.
Hà Nội ngày 19/12/1946
Hồ Chí Minh”
Toàn văn “Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh tuy ngắn gọn nhưng súc tích, giản dị, đanh thép, có sức cổ vũ, động viên và tổ chức lực lượng kháng chiến vô cùng mạnh mẽ. Trong giờ phút Tổ quốc lâm nguy, tình thế hết sức hiểm nghèo “ngàn cân treo sợi tóc”, từng câu từng chữ trong lời kêu gọi kháng chiến thiêng liêng của Bác nhanh chóng thấm nhuần sâu sắc vào tâm khảm nhân dân ta, khơi dậy mạnh mẽ lòng tự hào, tự tôn dân tộc, truyền thống yêu nước, anh hùng bất khuất, kiên cường của nhân dân Việt Nam; là hiệu lệnh làm sục sôi khí thế đấu tranh bằng sức mạnh của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ của người Việt Nam với mọi thứ vũ khí có sẵn, với một ý chí “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, một thái độ dứt khoát và kiên định: “Thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. 
Trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù xâm lược, không còn con đường nào khác ngoài việc dùng bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng. Khi đã buộc phải kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh kiên quyết động viên toàn dân chiến đấu:
“Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”.
Kết thúc lời kêu gọi, Hồ Chí Minh khẳng định niềm tin tất thắng:
“Dù phải gian lao kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết hy sinh, thắng lợi nhất định về dân tộc ta.
Việt Nam độc lập và thống nhất muôn năm!
Kháng chiến thắng lợi muôn năm!”
Có thể nói, Lời kêu gọi và ngày Toàn quốc kháng chiến 19/12/1946 đã thể hiện sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta, bám sát tình hình thực tiễn, nắm vững thời cơ, chọn đúng mặt trận chính, tính toán thời điểm nổ súng chính xác, biến bị động thành chủ động, tạo nên thế trận mới cho mặt trận Hà Nội có điều kiện cầm chân quân địch mạnh đông để cả nước chuyển vào căn cứ kháng chiến trường kỳ. Việc nổ súng phát động toàn quốc kháng chiến ngày 19/12 giữa thủ đô là một trường hợp hiếm thấy trong lịch sử, thể hiện một nghệ thuật khởi đầu cuộc chiến tranh cách mạng thật đúng đắn, quả cảm và sáng tạo. 72 năm đã trôi qua nhưng khí thế hào hùng của những ngày đầu toàn quốc kháng chiến đã trở thành ngày lịch sử, là dấu son chói lọi trong cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Trải qua bao biến cố thăng trầm của thời gian, nhưng giá trị lịch sử của “Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến” luôn là kim chỉ nam cho mọi hành động cách mạng của toàn thể nhân dân Việt Nam, cổ vũ, hiệu triệu quốc dân đồng bào kề vai sát cánh, chung sức đồng lòng, đoàn kết nhất trí đánh giặc, giữ nước, giành lại độc lập, tự do, thống nhất cho Tổ quốc.
Ngày nay, Lời kêu gọi thiêng liêng của Bác vẫn mãi giữ nguyên tính thời sự, đó là giá trị của niềm tin vào chân lý, là ý thức sâu sắc giá trị độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội vì dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ còn nhiều khó khăn, thách thức nhưng nhất định chúng ta sẽ thành công, nước Việt Nam ngày càng hội nhập và khẳng định vị thế trên trường quốc tế. 72 năm đã trôi qua kể từ ngày Hồ Chủ tịch viết lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến nhưng những câu nói đó vẫn vang vọng trong tiềm thức của bao người dân Việt Nam.
BÀN LUẬN