Thứ Tư, 10 tháng 7, 2024

 HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI VIỆT NAM THỜI KỲ ĐỔI MỚI

NVS

Xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại với ba trụ cột là đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân. Triển khai đối ngoại của nước ta trong thời gian qua được tiến hành toàn diện với các chủ thể, đối tượng và các địa bàn, trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, giáo dục, khoa học công nghệ, quốc phòng, an ninh, v.v. đạt tầm khu vực và vươn tầm quốc tế, giúp thúc đẩy hiệu quả lợi ích quốc gia, dân tộc.

Kế thừa truyền thống ngoại giao Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh, vì lợi ích quốc gia - dân tộc, thích ứng linh hoạt trước những chuyển biến của tình hình thế giới, khu vực và trong nước, Đảng Cộng sản Việt Nam không ngừng bổ sung, phát triển, hoàn thiện “đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ đối ngoại. Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”. Triển khai hoạt động ngoại giao Việt Nam thời kỳ đổi mới với ba trụ cột là đối ngoại Đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân cụ thể như sau:

1. Đối ngoại đảng

Công tác đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam (Đảng CSVN) được triển khai toàn diện và đồng bộ và đạt được những kết quả quan trọng, đóng góp tích cực vào thành tựu đối ngoại chung, góp phần nâng cao vị thế quốc tế của đất nước. Quan hệ giữa Đảng CSVN với các chính đảng nước ngoài đã tạo nền tảng chính trị thúc đẩy quan hệ ngoại giao nhà nước và mở rộng quan hệ đối ngoại nhân dân, tạo môi trường hoà bình, ổn định cho xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thông qua kênh diễn đàn đa phương chính đảng, các đoàn đại biểu của Đảng CSVN dự đều tuyên truyền, quảng bá về đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước và tình hình đất nước Việt Nam, qua đó đã vận động các chính đảng và chính giới các nước đồng thuận với lập trường của Việt Nam về các vấn đề khu vực và quốc tế. Đồng thời, góp phần vào sự nghiệp chung vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới.

Thông qua trao đổi lý luận và kinh nghiệm hoạt động thực tiễn với các chính đảng các nước trên thế giới, giúp Đảng CSVN nắm bắt về tình hình thế giới, khu vực và các nước, từ đó rút kinh nghiệm về lãnh đạo, quản lý đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đồng thời, dự báo và chủ động ứng phó với mọi diễn biến của tình hình thế giới và khu vực liên quan đến an ninh và phát triển của đất nước.

Việc mở rộng quan hệ với đảng cầm quyền, đảng tham chính, có vị trí, vai trò trên chính trường các nước, làm cho Đảng CSVN chủ động trong quan hệ; đồng thời, thúc đẩy giải quyết nhiều vấn đề còn tồn tại hoặc nảy sinh trong quan hệ giữa Việt Nam với các nước, giữ vững môi trường hoà bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước.

Đảng Cộng sản Việt Nam tăng cường hợp tác với các đảng cộng sản và công nhân, các đảng cánh tả, các phong trào cách mạng và tiến bộ trên thế giới. Kết quả đối ngoại Đảng ngày càng mở rộng, chủ động, tích cực và đi vào chiều sâu. Trong đó, Đảng CSVN có quan hệ với 247 chính đảng ở 111 quốc gia, bao gồm khoảng 90 đảng cộng sản và công nhân quốc tế, các đảng cầm quyền và tham chính có vai trò quan trọng.

Thông qua quá trình tập hợp lực lượng trong phong trào cộng sản - công nhân quốc tế, Đảng CSVN thúc đẩy quan hệ song phương với đảng cộng sản - công nhân và cánh tả thế giới, tạo nền tảng chính trị thúc đẩy quan hệ về mặt nhà nước và mở rộng quan hệ đối ngoại nhân dân (nhất là với các tổ chức quần chúng chịu ảnh hưởng của các đảng bạn), phát triển sự hợp tác ổn định, bền vững giữa nước ta và các nước, tạo môi trường hoà bình, ổn định, nâng cao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế.

Hoạt động của Đảng CSVN tại các diễn đàn tập hợp lực lượng trong phong trào cộng sản quốc tế đã góp phần củng cố, thắt chặt hơn mối quan hệ trực tiếp giữa lãnh đạo của Đảng và Nhà nước Việt Nam với các đảng cộng sản - công nhân và cánh tả thế giới, tạo sự hiểu biết lẫn nhau, thúc đẩy nhận thức chung và sự đồng thuận về khuôn khổ quan hệ ổn định, lâu dài giữa nước ta và các nước; làm cho chính giới, nhân dân các nước có cách nhìn xác thực hơn, hiểu đúng hơn về Việt Nam, từ đó họ tham gia tác động vào quá trình hoạch định và triển khai các chính sách của các nước đối với Việt Nam.

Từ trao đổi lý luận và kinh nghiệm hoạt động thực tiễn với các diễn đàn, hội nghị, hội thảo quốc tế của các đảng cộng sản - công nhân và cánh tả trên thế giới, Đảng CSVN tích luỹ thêm nhiều kinh nghiệm quốc tế bổ ích về lãnh đạo, quản lý đất nước và giải quyết các vấn đề kinh tế, xã hội, văn hoá…; góp phần bồi đắp tiềm lực tri thức lãnh đạo, cầm quyền, chỉ đạo và quản lý của Đảng và Nhà nước Việt Nam.

Sự tham gia tích cực và chia sẻ kinh nghiệm đổi mới, phát triển đất nước của Đảng CSVN tại các diễn đàn, hội nghị, hội thảo quốc tế của các đảng cộng sản - công nhân và cánh tả trên thế giới là những đóng góp trực tiếp quý báu đối với phong trào cách mạng thế giới, góp phần tích cực vào việc từng bước hồi phục phong trào cộng sản quốc tế và sự nghiệp hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới. Các đảng cộng sản - công nhân, đảng cánh tả và bạn bè quốc tế đánh giá cao những thành tựu đổi mới của Việt Nam, coi đó là đóng góp tích cực của Đảng CSVN cả về lý luận và thực tiễn, trong việc bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin và xây dựng chủ nghĩa xã hội, củng cố niềm tin và cổ vũ bạn bè quốc tế trong cuộc đấu tranh còn nhiều khó khăn gian khổ vì những mục tiêu cao cả của thời đại.

2. Ngoại giao nhà nước

Thứ nhất, thực hiện chủ trương thúc đẩy quan hệ hợp tác với các đối tác lớn, đối tác quan trọng, hoạt động đối ngoại đã tích cực và chủ động đưa các mối quan hệ hợp tác giữa Việt Nam với các đối tác đi vào chiều sâu, thiết thực và hiệu quả.

Một là, “củng cố, phát triển quan hệ hợp tác, hữu nghị truyền thống với các nước láng giềng, có chung biên giới”. Quan hệ hữu nghị, đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào ngày càng được mở rộng, đi vào chiều sâu, thiết thực. Quan hệ Việt Nam - Campuchia thực hiện theo phương châm 16 chữ “láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện, bền vững lâu dài”. Trên cơ sở đó, quan hệ giữa hai nước vừa phát triển theo chiều rộng, diễn ra trên nhiều lĩnh vực từ chính trị - đối ngoại, quốc phòng - an ninh đến kinh tế, văn hoá - xã hội, vừa từng bước đi vào chiều sâu, hướng tới các thoả thuận mang tính chiến lược, lâu dài ở cấp quốc gia. Quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Trung Quốc thực hiện theo phương châm 16 chữ là: “Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” (năm 1999), “Láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt” (tinh thần “4 tốt” năm - 2000) và “Đối tác hợp tác chiến lược toàn diện” (năm 2008).

Mối quan hệ Việt Nam - Trung Quốc tiếp tục được củng cố và phát triển toàn diện trên các lĩnh vực, ổn định, phù hợp với nguyện vọng và lợi ích của nhân dân hai nước. Đối với Triều Tiên, hai đảng, hai nhà nước tăng cường ủng hộ lẫn nhau và mở rộng hợp tác trong nhiều lĩnh vực như chính trị, kinh tế và văn hoá, phù hợp với lợi ích chung. Việt Nam và Triều Tiên phối hợp trong các vấn đề khu vực, quốc tế, góp phần bảo đảm hoà bình, an ninh tại khu vực và trên thế giới.

Việt Nam và Cuba có mối quan hệ hữu nghị, đoàn kết truyền thống, gắn bó thuỷ chung, chia ngọt sẻ bùi giữa hai dân tộc, vừa là đồng chí vừa là anh em, được các nhà lãnh đạo và nhân dân hai nước trân trọng, gìn giữ, vun đắp và không ngừng phát triển. Hơn 60 năm qua, dù tình hình thế giới có nhiều thách thức, thăng trầm, song mối quan hệ đoàn kết, anh em giữa Việt Nam - Cuba ngày càng được củng cố và phát triển gắn bó khăng khít trên nhiều lĩnh vực.

Hai là, đối với các nước lớn: Việt Nam đã xác định rõ vai trò quan trọng của các nước lớn trong quan hệ quốc tế, nhất là trên lĩnh vực kinh tế. Các nước này đang chi phối quá trình toàn cầu hoá, nhưng họ cũng có nhu cầu mở rộng quan hệ hợp tác vì lợi ích của chính họ; đồng thời, họ cũng có mâu thuẫn về lợi ích với nhau. Từ nhận thức này cho thấy, Việt Nam cần phải tranh thủ phát triển quan hệ với mỗi nước lớn thông qua việc thúc đẩy quan hệ đa dạng, bao gồm cả quan hệ chính phủ và phi chính phủ trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học công nghệ... để thu hút các nguồn lực vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý cho sự phát triển đất nước, tạo môi trường hoà bình, ổn định lâu dài.

Thứ nhất, Việt Nam xác định thúc đẩy quan hệ với các nước và trung tâm lớn trên nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi, không can thiệp công việc nội bộ của nhau, tạo thế đan xen lợi ích giữa các nước với Việt Nam; tránh bị rơi vào thế đối đầu, cô lập hay lệ thuộc. Đây là bước phát triển mới trong đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Đối với Mỹ, xác lập quan hệ đối tác toàn diện Việt - Mỹ (2013) và nâng cấp lên quan hệ đối tác toàn diện sâu rộng (2015), thiết lập quan hệ đối tác chiến lược toàn diện vì hòa bình, hợp tác và phát triển bền vững (2023); thiết lập quan hệ đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Liên bang Nga (2012); thiết lập quan hệ đối tác chiến lược sâu rộng vì hoà bình và phồn vinh ở châu Á giữa Việt Nam - Nhật Bản (2014), thiết lập đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Ấn Độ (2016)...

Việt Nam đã tăng cường thúc đẩy sự hợp tác trên tất cả các lĩnh vực, kể cả an ninh - quốc phòng với các nước lớn. Kết quả hoạt động đối ngoại của Việt Nam với các nước lớn là đã mở rộng thêm vòng tay hữu nghị với bầu bạn quốc tế, góp phần tạo sự chuyển biến tích cực trong hợp tác song phương, đồng thời đóng góp vào việc củng cố xu thế hoà bình, ổn định, phát triển hợp tác ở các khu vực và trên thế giới. Kết quả Việt Nam đã mở rộng và nâng tầm quan hệ ngoại giao với 189/193 quốc gia thành viên Liên hợp quốc, trong đó 3 nước có “quan hệ đặc biệt”, 17 nước “đối tác chiến lược” và 13 nước “đối tác toàn diện” bao gồm tất cả các nước lớn.

Thứ hai, hoạt động ngoại giao đa phương của Việt Nam được triển khai tích cực, đa dạng và đạt kết quả quan trọng, nâng cao vị thế quốc tế của đất nước ở khu vực và trên thế giới.

Từ chỗ bị bao vây cô lập, đến nay Việt Nam đã mở rộng quan hệ chưa từng có trong lịch sử theo hướng đa phương hoá, đa dạng hoá, trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi. Cục diện quan hệ rộng lớn này không chỉ góp phần nâng cao vị thế Việt Nam mà còn có ý nghĩa quan trọng, góp phần trực tiếp vào bảo vệ và phát triển đất nước. Đặc biệt, những mối liên kết mới trong quan hệ kinh tế, chính trị, văn hoá được thiết lập trong những chuyến thăm chính thức của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, cũng như thông qua các chuyến thăm chính thức của các lãnh đạo và doanh nhân nước ngoài vào Việt Nam đã mở ra một không gian mới và chất lượng mới cho hợp tác song phương lẫn đa phương. Lần đầu tiên Việt Nam đứng trước một triển vọng chưa từng có trong việc mở rộng các mối quan hệ hữu nghị và hợp tác trên quy mô toàn cầu, đặc biệt, với tất cả các đối tác và thể chế lớn nhất của nền kinh tế thế giới.

Với các diễn đàn khu vực và quốc tế, Việt Nam đã tham gia tích cực và có trách nhiệm vào một số chức vụ và ứng cử vào một số cơ quan của Liên hợp quốc như: Phó Chủ tịch Đại hội đồng Liên hợp quốc năm 1997, năm 2000 và năm 2003; thành viên nhiệm kỳ 1998-2000; thành viên Hội đồng Thống đốc Cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) nhiệm kỳ 1997-1999 và 2003-2005; thành viên Hội đồng Điều hành của UNDP và UNFPA nhiệm kỳ 2000-2002 và Uỷ ban Phát triển xã hội nhiệm kỳ 2001-2005; đặc biệt, Việt Nam được bầu làm Uỷ viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2008-2009 và nhiệm kỳ 2020-2021 với số phiếu 192/193 đánh dấu quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam đã trở nên đầy đủ và sâu rộng.

Với vị thế và trọng trách này, Việt Nam có điều kiện thuận lợi tham gia giải quyết những vấn đề chính trị - xã hội, an ninh quốc tế có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp, đồng thời đóng góp tích cực hơn và nhiều hơn trong nỗ lực duy trì hoà bình, ổn định và phát triển trên thế giới. Việt Nam đã có nhiều đóng góp có giá trị cho các tổ chức khu vực và quốc tế mà Việt Nam là thành viên; Việt Nam tổ chức thành công ASEM 5 (2004), APEC-14 (2006), APEC -25 (2017) được các nước đánh giá cao... Bộ Ngoại giao là đại diện của Việt Nam, tiếp tục phát huy vai trò ở Liên hợp quốc và các tổ chức quốc tế, tích cực vận động và đã được bầu vào Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc (nhiệm kỳ 2014-2016 và nhiệm kỳ 2023- 2025), Chủ trì Hội đồng Thống đốc IAEA ở Viên (Áo), ECOSOC nhiệm kỳ 2016-2018.

Việt Nam cũng tích cực tham gia lực lượng gìn giữ hoà bình của Liên hợp quốc (năm 2014, lần đầu tiên 2 sĩ quan quân đội Việt Nam đã tham gia thể chế này), đồng thời hình thành Trung tâm huấn luyện ở Việt Nam với sự hỗ trợ của Liên hợp quốc và một số nước (bệnh viện dã chiến cấp 3 ở Nam Sudan, Cộng hoà Trung Phi...). Hiện nay, Việt Nam là thành viên chính thức của tất cả các tổ chức quốc tế lớn, các tổ chức và định chế thương mại, tài chính chủ chốt ở khu vực cũng như trên thế giới với vị thế và vai trò ngày càng được nâng cao.

Thứ ba, hoạt động đối ngoại phục vụ phát triển kinh tế được Việt Nam đặc biệt quan tâm thúc đẩy để tranh thủ nguồn lực bên ngoài góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và mở rộng thị trường xuất khẩu, thu hút FDI, tranh thủ vốn ODA và các nguồn tài trợ quốc tế khác.

Hoạt động ngoại giao cấp cao diễn ra sôi động với nội hàm kinh tế ngày càng đậm nét đã góp phần quan trọng củng cố môi trường quốc tế thuận lợi cho Việt Nam phát triển. Trong các chuyến thăm và làm việc song phương cũng như đa phương tại nước ngoài của lãnh đạo cấp cao Việt Nam và các chuyến thăm của nguyên thủ các nước đến Việt Nam, kinh tế luôn là nội dung quan trọng, nổi bật tại các cuộc hội đàm, trao đổi. Không chỉ bàn định phương hướng cho lâu dài, mà hàng loạt văn kiện thoả thuận về kinh tế - thương mại và đầu tư đã được ký kết, nhiều cuộc tiếp xúc, diễn đàn giữa cộng đồng doanh nghiệp hai bên được tổ chức, nhiều công ty, tập đoàn ở các nước lớn đã quyết định đầu tư vào Việt Nam, tạo ra làn sóng đầu tư mới ở nước ta.

Đặc biệt, trong quá trình hoạt động ngoại giao tham mưu, chủ trì xây dựng và tích cực triển khai đề án vận động trên nhiều kênh, diễn đàn đã góp phần hoàn tất việc đàm phán để đến ngày 15.11.2006, Việt Nam được trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới (WTO). Đây cũng là một mốc mới rất quan trọng trên con đường hội nhập kinh tế quốc tế; từ hội nhập ở cấp độ khu vực (ASEAN năm 1995) đến cấp độ liên khu vực (ASEM năm 1996, APEC năm 1998) và đến cấp độ toàn cầu hiện nay. Việt Nam đã ký 15 hiệp định thương mại tự do (FTA), trong đó có 3 FTA thế hệ mới có tiêu chuẩn rất cao. Bên cạnh các thị trường chủ lực là Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, Liên minh châu Âu (EU), Nga, Hoa Kỳ, ASEAN, Ôxtrâylia…, hàng hoá của Việt Nam đã vươn ra củng cố thế đứng trên nhiều thị trường khác như, Trung Đông, Mỹ Latinh và châu Phi, v.v..

Việt Nam là một nước có nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, có mạng lưới liên kết kinh tế sâu rộng với hầu hết các nền kinh tế quan trọng trên thế giới - 230 nước và vùng lãnh thổ; tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đến nay đã đạt khoảng 600 tỷ USD, gấp khoảng 120 lần so với những năm đầu của thời kỳ đổi mới. Hoạt động đối ngoại phục vụ phát triển kinh tế được Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm thúc đẩy, Việt Nam đã thu hút được hơn 400 tỷ USD vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), trong đó đã giải ngân được khoảng 250 tỷ USD...

Thứ tư, giải quyết hoà bình các vấn đề biên giới, lãnh thổ, biển đảo với các nước liên quan, bảo vệ được chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia.

Về biên giới trên bộ, lần đầu tiên ta đã ký hiệp định với các nước láng giềng về đường biên giới trên bộ, đồng thời đẩy mạnh hợp tác với các nước trong khu vực về các vấn đề liên quan đến biển Đông như triển khai Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở biển Đông, Hiệp định về phân định Vịnh Bắc Bộ và Hiệp định về hợp tác nghề cá ở Vịnh Bắc Bộ với Trung Quốc; ký với Campuchia Hiệp ước bổ sung Hiệp ước phân định biên giới năm 1985; đã thoả thuận với Malaixia hợp tác cùng khai thác tài nguyên vùng chồng lấn trong khi chờ đợi phân định (1992); ký Hiệp định phân định vùng chồng lấn với Thái Lan (1997); thoả thuận hợp tác cùng khai thác dầu khí với Thái Lan và Malaixia trên vùng chồng lấn giữa 3 nước; thoả thuận về 9 nguyên tắc ứng xử cơ bản ở biển Đông với Philippin (1995); đàm phán về thềm lục địa với Inđônêxia…; cùng các nước ASEAN và Trung Quốc ra Tuyên bố về cách ứng xử ở biển Đông (DOC) - tháng 11.2002), hợp tác với Philippin hoàn thành chuyến Hợp tác nghiên cứu khoa học Hải dương ở biển Đông (JOMSRE-SCS), tham gia Hội thảo Quản lý xung đột tiềm tàng ở biển Đông do Indonesia chủ trì,v.v..

Thứ năm, công tác đối ngoại đã góp phần tích cực vào việc thực hiện nhiệm vụ phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, đặc biệt gắn kết cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài với quê hương.

Theo số liệu của Báo Nhân Dân năm 2020, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài có trên 5,3 triệu người và phân bố không đồng đều tại hơn 130 nước và vùng lãnh thổ trên khắp thế giới, 98% trong số đó tập trung ở 21 nước tại Bắc Mỹ, châu Âu, Đông Nam Á, Đông Bắc Á và châu Đại Dương... Hằng năm, số lượng kiều bào về nước là trên dưới 1 triệu người. Đầu tư kinh doanh của kiều bào cũng có nhiều khởi sắc. Hiện nay, có khoảng gần 3.000 dự án với tổng số vốn đăng ký gần 4 tỉ USD tập trung vào những lĩnh vực kinh tế mũi nhọn của đất nước, đặc biệt là lĩnh vực công nghệ cao, tạo việc làm và thu nhập cho người dân trong nước. Lượng kiều hối có xu hướng tăng mạnh, trong 12 năm trở lại đây, số lượng kiều hối gửi về nước tăng 10% - 15%/năm; năm 2017 là 13,8 tỉ USD (theo số liệu từ Ngân hàng Thế giới). Năm 2018, số kiều hối gửi về nước đã lên tới gần 16 tỉ USD, tăng gấp hơn 100 lần so với năm 1993. Dù chịu tác động bởi đại dịch Covid-19, lượng kiều hối về Việt Nam năm 2021 vẫn tăng 5,2% so với năm 2020, ước đạt 18,1 tỷ USD.

3. Đối ngoại nhân dân

Cùng với những hoạt động đối ngoại của Đảng và Nhà nước, hoạt động đối ngoại nhân dân (của các tổ chức, đoàn thể nhân dân, các địa phương) cũng diễn ra với nhiều hình thức phong phú, đa dạng. Các tổ chức hữu nghị và các hội nghề nghiệp đã tranh thủ được sự hợp tác ngày càng sâu rộng của các đối tác nước ngoài. Quan hệ đoàn kết giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân các nước trên thế giới ngày càng được tăng cường mạnh mẽ, xây dựng hình ảnh tốt đẹp với bạn bè quốc tế, đấu tranh dư luận về các vấn đề dân chủ, nhân quyền, tôn giáo... tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ của các tổ chức nhân dân các nước, các tổ chức phi chính phủ và quốc tế đối với công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta, cụ thể là:

Mở rộng và đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ đối tác. Cùng với việc củng cố quan hệ với các tổ chức dân chủ và tiến bộ, các tổ chức bạn bè truyền thống, đối ngoại nhân dân đã thiết lập quan hệ đối tác với nhiều tổ chức nhân dân, các tổ chức phi chính phủ nước ngoài, mở rộng địa bàn hoạt động và quan hệ với nhân dân các nước trên thế giới. Một số tổ chức nhân dân đã tham gia và phát huy được vai trò tích cực trong các tổ chức, cơ chế đa phương.

Các hoạt động của các hội hữu nghị nhân dân có nhiều đổi mới về nội dung và phương thức hoạt động, ngoài các lĩnh vực hoà bình, đoàn kết, hữu nghị truyền thống, nhiều mối quan hệ được mở rộng, chú trọng gắn với thúc đẩy hợp tác kinh tế, văn hoá, du lịch, giáo dục, khoa học, công nghệ... Việt Nam có quan hệ với 1.200 tổ chức phi chính phủ, trong đó trên 500 tổ chức có hoạt động thường xuyên tại Việt Nam. Giá trị viện trợ phi chính phủ nước ngoài giải ngân trong giai đoạn 2003-2020 đạt trên 5 tỷ USD (viện trợ không hoàn lại), được triển khai ở tất cả 63 tỉnh thành trong cả nước với hàng chục nghìn chương trình, dự án xoá đói giảm nghèo, khắc phục hậu quả chiến tranh, chăm sóc sức khỏe cộng đồng, phòng trừ dịch bệnh, bảo vệ môi trường, giải quyết các vấn đề xã hội, hạ tầng, y tế, giáo dục và liên quan tới biến đổi khí hậu, phát triển bền vững.

Mở rộng và đa dạng hoá các lực lượng tham gia hoạt động đối ngoại nhân dân. Bên cạnh các tổ chức chính trị - xã hội, nhiều tổ chức xã hội - nghề nghiệp đã ra đời và tích cực tham gia công tác đối ngoại nhân dân. Nhiều cơ quan, trường học, viện nghiên cứu, các trung tâm, các đơn vị sự nghiệp... là đối tác của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài. Riêng hệ thống Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam đến năm 2021 đã có 116 tổ chức thành viên (64 tổ chức hữu nghị song phương và đa phương, 52 Liên hiệp các tổ chức hữu nghị tỉnh, thành phố).

Đạt được kết quả hoạt động đối ngoại qua hơn 35 đổi mới là do Đảng ta rất dày dạn kinh nghiệm, rất sắc sảo, đầy bản lĩnh trong chỉ đạo thực hiện. Những bài học kinh nghiệm đối ngoại là: Một là, kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại; xử lý hài hoà mối quan hệ giữa lợi ích quốc gia - dân tộc và nghĩa vụ, trách nhiệm quốc tế; Hai là, sự kiên định về nguyên tắc và linh hoạt trong sách lược; Ba là, xây dựng sự đoàn kết, đồng thuận trong toàn Đảng, toàn quân và toàn dân như lời căn dặn của Bác Hồ: “Sự nghiệp làm nên bởi chữ Đồng”; Bốn là, công tác xây dựng tổ chức bộ máy và công tác cán bộ mà lâu nay chúng ta vẫn thường nói là “cái gốc của mọi công việc”; Năm là, bao trùm tất cả là bài học về sự lãnh đạo thống nhất, tuyệt đối của Đảng, sự quản lý tập trung của Nhà nước./.

 

 

 QUY ĐỊNH 144 CỦA BỘ CHÍNH TRỊ KHOÁ XIII: NÓI LÀ LÀM

NVS

Ngày 09/5/2024, thay mặt Bộ Chính trị, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Quy định số 144-QĐ/TW quy định về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới.

“Xây dựng các chuẩn mực đạo đức làm cơ sở cho cán bộ, đảng viên tự điều chỉnh hành vi ứng xử trong công việc hằng ngày” là nhiệm vụ được nhất trí cao tại Đại hội XIII của Đảng nhằm tiếp tục đẩy mạnh công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong tình hình mới. Triển khai thực hiện nhiệm vụ này, tại Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII xác định rõ yêu cầu: “Nghiên cứu, bổ sung hoàn thiện chuẩn mực đạo đức cách mạng của đảng viên, đạo đức công vụ, chuẩn mực, giá trị con người Việt Nam phù hợp với truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc làm cơ sở cho cán bộ, đảng viên, đội ngũ công chức, viên chức rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị, ý thức sâu sắc hơn trách nhiệm của mình trước Đảng và nhân dân”.

Quy định số 144 ra đời là sự kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh và là sự tiếp nối quan điểm của Đảng về giáo dục đạo đức cách mạng; là “dấu gạch nối” giữa quyết tâm chính trị và hành động thực tế của Đảng ta; tiếp tục minh chứng cho sự kiên định, kiên quyết, kiên trì thực hiện công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh.

Trong những năm qua, Đảng ta đã ban hành nhiều quy định, chuẩn mực, tiêu chí đạo đức của cán bộ, đảng viên. Nhiều “tấm chắn”, “barie” đã được dựng lên để cảnh báo, ngăn ngừa, bảo vệ cán bộ, đảng viên, tránh không sa lầy vào vũng bùn của suy thoái, tiêu cực, tham nhũng, lãng phí.

Những “liều kháng sinh mạnh” đã được sử dụng, những cuộc “đại phẫu” cũng đã được tiến hành với các vụ việc, vụ án tiêu cực, tham nhũng liên tiếp được mở ra. Quyết liệt, không khoan nhượng, không nương tay, với phương châm “không giới hạn, không vùng cấm, không đặc quyền, bất kể đó là ai”. Nhiều cán bộ, đảng viên cấp cao, giữ vị trí trọng trách, đứng đầu trong bộ máy của Đảng, Nhà nước vẫn vi phạm, thậm chí vi phạm gây hậu quả rất nghiêm trọng, ảnh hưởng xấu tới uy tín của Đảng, Nhà nước đã bị xử lý nghiêm khắc. Lòng tin trong cán bộ, đảng viên và Nhân dân về bản lĩnh và quyết tâm chính trị của Đảng làm trong sạch nội bộ, trong sạch xã hội đang được vãn hồi, bồi tụ trở lại. Nay, Bộ Chính trị ban hành Quy định số 144 là thêm một cơ sở nữa để lòng tin trong Nhân dân tiếp tục được củng cố vững chắc; khẳng định bản lĩnh của Đảng: Đã nói là làm. Và đã làm là làm đến nơi, đến chốn.

Với bố cục gọn, rõ, ngoài Điều 6 (tổ chức thực hiện); Quy định bao gồm 5 điều, tương ứng với 5 nhóm tiêu chí đạo đức được cụ thể hoá thành 19 khoản – cũng là 19 chuẩn mực đạo đức cách mạng mà mỗi cán bộ, đảng viên cần phải phấn đấu, rèn luyện và tuân thủ. Các điều khoản - chuẩn mực đạo đức - cô đọng, súc tích với tầm khái quát cao song cũng hết sức cụ thể, chi tiết, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ thực hiện mà Quy định nêu được đúc rút từ tiêu chuẩn đảng viên quy định tại Điều lệ Đảng; các quy định về những điều đảng viên không được làm, về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy viên BCH Trung ương; quy định về kiểm soát quyền lực và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ; các Chỉ thị, Kết luận của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, gắn với thực hiện các Nghị quyết, Kết luận của Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, XII, XIII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng… Có thể khái quát tinh thần chung của các điều trong Quy định số 144-QĐ/TW của Bộ Chính trị như sau: Điều 1: Trách nhiệm đảng viên với Tổ quốc, với Nhân dân và với Đảng. Điều 2: Bản lĩnh đảng viên trong giai đoạn cách mạng mới. Điều 3: Phẩm giá đảng viên. Điều 4: Hành vi ứng xử của đảng viên trong các mối quan hệ. Điều 5: Vai trò gương mẫu, sự khiêm tốn, tu dưỡng suốt đời.

Đây là 5 chuẩn mực quan trọng để mỗi cán bộ từ cấp chiến lược, đến cấp cơ sở và từng đảng viên thường tự soi, tự sửa, tự rèn, tự điều chỉnh mình để giữ vững phẩm giá, nhân cách trong mọi môi trường công tác cũng như trong cuộc sống còn nhiều thách thức, khó khăn và không ít cám dỗ hiện nay. Đồng thời, 5 chuẩn mực đạo đức trên cũng là căn cứ để Đảng và cấp uỷ các cấp đánh giá phẩm chất, nhân cách, thái độ, hành vi của cán bộ, đảng viên; là cơ sở để Đảng rèn luyện, lựa chọn, bổ sung những đảng viên có đức, có tài, đủ tâm, đủ tầm để thực hiện nhiệm vụ cách mạng trong bối cảnh, tình hình hiện nay. Kế thừa, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng về giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên trong điều kiện mới, bên cạnh những vấn đề mang tính căn bản, rường cột về đạo đức; Quy định số 144-QĐ/TW của Bộ Chính trị nổi bật một số điểm đáng chú ý. Trước hết, đó là sự nhấn mạnh, đề cao bản lĩnh đảng viên thông qua quy định về “6 dám” - “Dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới, sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thách thức, hành động vì lợi ích chung, vì nước, vì dân” (Khoản 3, Điều 2). Sự vận động, phát triển không ngừng của cách mạng Việt Nam trong một thế giới biến động khôn lường đòi hỏi bản lĩnh dám “xé rào”, vượt thoát khỏi những khuôn mẫu, “đường mòn, lối cũ” để sáng tạo, phát triển, giải quyết thấu đáo những vấn đề mới do thực tiễn đặt ra. Mặt khác, quá trình vận động, phát triển nội tại của Đảng cũng đặt ra yêu cầu cán bộ, đảng viên phải phát huy bản lĩnh, dám đấu tranh, dám nghiêm khắc đối diện, đấu tranh chống lại cái sai, cái xấu, cái ác; bảo vệ cái đúng, cái tốt, cái thiện. Thực trạng đáng báo động về tình trạng không ít cán bộ lãnh đạo các cấp có tâm lý sợ sai, đùn đẩy, né tránh, sợ trách nhiệm, tự biến mình thành những “con ốc”, “con rùa”, thu mình để “tự vệ” hiện nay càng cần phải đề cao bản lĩnh, khơi dậy dũng khí dấn thân, tinh thần tiên phong, dám đương đầu, dám đổi mới, sáng tạo, góp phần hoàn thiện chỉnh thể nhân cách của người cán bộ, đảng viên trong giai đoạn hiện nay.

Một điểm mới dễ nhận thấy nữa qua nghiên cứu các điều khoản của Quy định số 144-QĐ/TW của Bộ Chính trị đó là: đặc biệt đề cao sự trung thực, lòng tự trọng, danh dự, giữ gìn phẩm giá của người cán bộ, đảng viên. Điều 4 của Quy định dành riêng 2 khoản cho nội dung này. Cụ thể, Khoản 4 nêu tiêu chí “Trung thực, thẳng thắn, khách quan, công tâm, tích cực đấu tranh tự phê bình và phê bình, không giấu khuyết điểm, không nói sai sự thật; thấy đúng phải bảo vệ, thấy sai phải đấu tranh”. Khoản 5: “Nêu cao lòng tự trọng, danh dự, không cơ hội chính trị, tham vọng quyền lực, giữ gìn phẩm giá của người cán bộ, đảng viên, không để tác động lôi kéo, cám dỗ tiêu cực. Không để gia đình, người thân và người khác lợi dụng chức vụ, vị trí công tác để trục lợi”. Căn cứ vào nội dung nêu tại Quy định này thì lòng tự trọng, phẩm giá của cán bộ, đảng viên được nêu cao là nhằm “để bảo vệ uy tín, danh dự của bản thân và tổ chức đảng”; và biểu hiện cụ thể bằng hành động thực tế của việc bảo vệ danh dự, lòng tự trọng của cá nhân người lãnh đạo và tập thể được xác định tại điều khoản này là: “Thực hiện văn hoá từ chức khi không đủ khả năng, uy tín”. Với yêu cầu này, Quy định số 144-QĐ/TW tiếp tục làm rõ hơn, cụ thể hơn “Văn hóa từ chức” đã được nêu tại Quy định 41-QĐ/TW, ngày 03/11/2021 của Bộ Chính trị về việc miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ. Không chỉ quy định thành khoản riêng về vấn đề nêu cao lòng tự trọng, danh dự mà nhiều nội dung quy định khác sẽ chỉ thực hiện được nếu cán bộ, đảng viên có lòng tự trọng, biết giữ gìn danh tiết, phẩm giá của mình như: “Quản lý, sử dụng tài sản công đúng mục đích, đúng quy định; tiết kiệm và hiệu quả; không xa hoa, lãng phí thời gian, tiền bạc, công sức và các nguồn lực vật chất khác của tập thể và cá nhân”, (Khoản 2, Điều 3), “Trong sạch, không tham ô, tham nhũng, tiêu cực, không gây phiền hà, sách nhiễu” (Khoản 3, Điều 3), “kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện chia rẽ, bè phái, cục bộ, lợi ích nhóm” (Khoản 1, Điều 4); “Kiên quyết đấu tranh, phê phán mọi hành vi né tránh, đùn đẩy, hoặc có tư tưởng trung bình chủ nghĩa, làm việc cầm chừng, sợ trách nhiệm, không dám làm” (Khoản 4, Điều 4)…

Cùng với những “liệu pháp mạnh” để điều trị căn bệnh suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống vẫn đang diễn biến phức tạp hiện nay; để góp phần nâng cao “thể lực”, sức đề kháng cho “cơ thể Đảng”, để đủ sức chống chọi với các loại virus, vi khuẩn độc hại, rất cần có những liều vắc xin hữu hiệu. Quy định 144-QĐ/TW được thực hiện một cách hiệu quả, nghiêm túc chính là liều vắc xin hữu hiệu đó, việc Bộ Chính trị ban hành Quy định 144 trong thời điểm hiện nay là rất cấp thiết, có ý nghĩa quan trọng..

Vậy tại sao trong thời điểm này – thời điểm “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay" như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định - Đảng ta lại ban hành tiếp một quy định mới về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên?

Xây dựng Đảng về đạo đức là một nhiệm vụ được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta quan tâm thường trực ngay từ khi vận động thành lập Đảng và trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam kể từ khi Đảng ra đời cho đến nay. Ngay buổi đầu tiên, trong “giáo trình” huấn luyện cán bộ chuẩn bị cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam – tác phẩm “Đường cách mệnh” - vấn đề đạo đức cách mạng đã là nội dung đầu tiên được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đề cập đến. Cho đến thời điểm hiện tại, dù đã có rất nhiều nỗ lực, cố gắng song vấn đề suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống đạo đức cách mạng của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên trong đó không ít cán bộ lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước vẫn đang là căn bệnh trầm kha; đã, đang và sẽ còn gây nên nhiều hệ luỵ làm xói lở uy tín của Đảng, niềm tin của Nhân dân, làm lung lay chế độ nếu không được chấn chỉnh một cách quyết liệt và hiệu quả.

Như vậy, việc Bộ Chính trị ban hành Quy định 144, xét về quan điểm chỉ đạo và những vấn đề cốt lõi được đề cập đều không mới nhưng lại hết sức cần thiết trong thời điểm hiện nay, toàn Đảng đang chuẩn bị cho Đại hội Đảng các cấp, tiến tới Đại hội XIV của Đảng. Quy định sẽ vừa là tiêu chí, chuẩn mực để cán bộ, đảng viên hướng tới rèn luyện, phấn đấu, tự điều chỉnh hành vi, thái độ ứng xử trong công việc, cuộc sống hằng ngày; đồng thời cũng là tiêu chuẩn để cấp uỷ, tổ chức sàng lọc, xem xét, đánh giá, lựa chọn, bố trí cán bộ; là căn cứ để quần chúng Nhân dân tham gia giám sát, góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền.

Kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng, tổng hợp các nội dung liên quan đến tiêu chuẩn đảng viên, tiêu chí đạo đức đã được quy định tại Điều lệ Đảng và các văn bản đã ban hành; Quy định của Bộ Chính trị lần này có những điểm đáng chú ý khá nổi bật.

Đề cao tinh thần “sáu dám”

Khoản 3, Điều 2 Quy định 144 xác định tiêu chí cán bộ, đảng viên phải “Dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới, sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thách thức, hành động vì lợi ích chung, vì nước, vì dân”. Kiên định nền tảng tư tưởng của Đảng, vững vàng trước khó khăn, thử thách, chủ động nâng cao kiến thức, kỹ năng; năng lực công tác; song trước yêu cầu đổi mới sâu rộng để phát triển nhanh, bền vững đất nước trong bối cảnh tình hình đất nước, thế giới diễn biến mau lẹ, phức tạp, khó lường đặt ra nhiều vấn đề mới, khó, chưa có tiền lệ, cần phải giải quyết; đòi hỏi cán bộ, đảng viên, trước hết là những người đứng đầu đơn vị, tổ chức, địa phương, lĩnh vực... phải có bản lĩnh dám “xé rào”, vượt lên khỏi những khuôn mẫu, “đường mòn, lối cũ” để sáng tạo, phát triển, giải quyết thấu đáo những vấn đề mới do thực tiễn đặt ra. Bên cạnh đó, xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực đang là yêu cầu sống còn của Đảng; đòi hỏi cán bộ, đảng viên phải phát huy bản lĩnh, dám đấu tranh, dám nghiêm khắc đối diện, đấu tranh chống lại cái sai, cái xấu, cái ác; bảo vệ cái đúng, cái tốt đẹp, cái thiện. Hơn thế, trong thời điểm hiện tại, khi công cuộc chống tham nhũng đang đi vào giai đoạn quyết liệt, nhiều cán bộ, trong đó có cán bộ cấp cao mắc sai phạm, bị xử lý nghiêm khắc; không ít cán bộ lãnh đạo các cấp có tâm lý sợ sai, đùn đẩy, né tránh, sợ trách nhiệm đang tự biến mình thành những “con ốc”, “con rùa”, thu mình để “tự vệ”. Việc quy định và thực hiện tiêu chí “6 dám” sẽ khơi dậy dũng khí dấn thân, tinh thần tiên phong và bản lĩnh dám đương đầu, dám đổi mới, sáng tạo, góp phần hoàn thiện chỉnh thể nhân cách của người cán bộ, đảng viên trong giai đoạn hiện nay.

Tại khoản 5, Điều 3 quy định: cán bộ, đảng viên phải “Nêu cao lòng tự trọng, danh dự, không cơ hội chính trị, tham vọng quyền lực, giữ gìn phẩm giá của người cán bộ, đảng viên, không để tác động lôi kéo, cám dỗ tiêu cực. Không để gia đình, người thân và người khác lợi dụng chức vụ, vị trí công tác để trục lợi; bảo vệ uy tín, danh dự của bản thân và tổ chức đảng. Thực hiện văn hoá từ chức khi không đủ khả năng, uy tín đặc biệt, nêu cao lòng tự trọng, danh dự, không cơ hội chính trị, tham vọng quyền lực, giữ gìn phẩm giá của người cán bộ, đảng viên.

Quy định của Bộ Chính trị lần này có nhiều điểm đáng chú ý, trong đó coi trọng tinh thần nói thẳng, nói thật, không ngại hy sinh gian khổ, không ngừng nâng cao trình độ mọi mặt của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Điều này rất phù hợp với yêu cầu từ thực tế trong bối cảnh nước ta đang tập trung cao cho công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế sâu rộng./.

 

CÔNG TÁC TƯ TƯỞNG VỚI NHIỆM VỤ KHƠI DẬY KHÁT VỌNG PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC PHỒN VINH, HẠNH PHÚC

NVS

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII lần đầu tiên xác định mục tiêu khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Theo đó, khát vọng như là một yếu tố tiềm tàng, cần khai phá và gia tăng sức mạnh, làm cho nó trở thành nguồn lực và động lực to lớn thúc đẩy đất nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đi đến mục tiêu cuối cùng. Để khơi dậy khát vọng lớn lao đó, công tác tư tưởng đóng vai trò quyết định trong việc xác lập nội dung, trang bị nhận thức, củng cố niềm tin và cổ vũ hành động cách mạng của toàn dân tộc trong suốt quá trình hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng.

1. Vai trò của công tác tư tưởng trong việc khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc

Khát vọng là niềm mong muốn lớn lao, cháy bỏng, quyết tâm dồn hết công sức, trí tuệ để đạt được mục tiêu đã xác định. Với nghĩa đó, khát vọng trở thành nguồn động lực có sức mạnh to lớn, giúp mỗi người vượt qua mọi khó khăn, thử thách nhằm đạt được ước mơ, hoài bão của mình. Khi con người sống có khát vọng thì luôn tràn đầy niềm tin, sống có lý tưởng, khát khao làm được những công việc hữu ích và lớn lao cho bản thân, cộng đồng và đất nước. Mỗi cá nhân trong quá trình hiện thực hóa ước mơ, khát vọng của mình, nghĩa là đã đồng thời góp phần thúc đẩy xã hội phát triển.

Mỗi quốc gia, dân tộc cũng vậy, muốn tồn tại và phát triển, cần phải có khát vọng vươn tới sự hưng thịnh, trường tồn. Khát vọng đó là sự kết hợp giữa ý chí của giới lãnh đạo với mong ước của đại đa số người dân, trở thành mục tiêu, lý tưởng cao đẹp của cả quốc gia, dân tộc. Khát vọng trở thành nguồn lực và động lực để mọi tầng lớp nhân dân phát huy cao nhất sức mình nhằm hiện thực hóa mục tiêu xây dựng và phát triển đất nước.

Thực tiễn lịch sử thế giới cho thấy, nhiều quốc gia nghèo đói, bị tàn phá trong chiến tranh đã phát triển thịnh vượng bắt nguồn chính từ những khát vọng vươn lên trở thành một dân tộc hùng cường, một nước phát triển, như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Trung Quốc ngày nay… Ở nước ta, trong quá trình dựng nước và giữ nước, khát vọng độc lập, tự do, hạnh phúc đã trở thành động lực to lớn, nguồn lực nội sinh của dân tộc Việt Nam, tạo nên sức mạnh to lớn, đoàn kết mọi tầng lớp nhân dân, đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược, bảo vệ vững chắc nền độc lập của dân tộc, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.

Khát vọng chân chính của dân tộc Việt Nam ngày nay là sự biểu hiện của niềm tin khoa học vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội với mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng văn minh và tinh thần lạc quan cách mạng trong thời đại mới dưới sự lãnh đạo của Đảng. Kế thừa truyền thống dân tộc và cách mạng, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã nhiều lần đề cập đến khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc như trong chủ đề Báo cáo chính trị, quan điểm chỉ đạo, mục tiêu phát triển, định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021 - 2030 và những nhiệm vụ trọng tâm trong nhiệm kỳ Đại hội XIII.

Khát vọng, trước hết thuộc về yếu tố tinh thần, nảy sinh từ đời sống vật chất. Tuy nhiên, những yếu tố tích cực trong nội hàm của khát vọng thuộc về ý thức xã hội, nó có tính vượt trước, có tầm nhìn cao hơn, xa hơn điều kiện cơ sở hạ tầng hiện tại. Vì vậy, khát vọng chỉ có thể được hình thành dựa trên kết quả của công tác lý luận, công tác tuyên truyền và công tác cổ động - ba bộ phận hợp thành công tác tư tưởng.

Công tác lý luận có nhiệm vụ nghiên cứu làm rõ cơ sở khoa học để phác thảo nên một mô hình đất nước phồn vinh, hạnh phúc trong tương lai. Công tác tuyên truyền, giáo dục trang bị cho cán bộ, đảng viên và nhân dân thế giới quan, phương pháp luận khoa học để có tầm nhìn xa, trông rộng, có mơ ước và hoài bão lớn lao, có niềm tin vững chắc vào tương lai tươi sáng của đất nước. Công tác cổ động sử dụng những con người, sự việc, câu chuyện có thật tác động vào tình cảm cách mạng của mọi người, thôi thúc họ vượt qua khó khăn, bền gan vững chí trên con đường hiện thực hóa khát vọng. Vì vậy, khơi dậy khát vọng của dân tộc là vinh dự và trọng trách lớn lao của công tác tư tưởng.

2. Một số giải pháp phát huy vai trò của công tác tư tưởng trong việc khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc

Sau Đại hội XIII của Đảng, chúng ta đã đề cập nhiều đến mục tiêu khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Nhiều bài nói, bài viết của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các nhà báo, nhà khoa học về chủ đề này đã được đăng tải trên các phương tiện truyền thông đại chúng, nhất là trong những chương trình nghệ thuật mừng Xuân, các tờ báo Tết, chương trình truyền hình, mít tinh, kỷ niệm các ngày lễ lớn và sự kiện trọng đại của đất nước. Đặc biệt, trong cuộc thi báo cáo viên giỏi toàn quốc tuyên truyền về Văn kiện Đại hội XIII của Đảng, đã có nhiều thí sinh chọn chủ đề này. Tuy nhiên, các hoạt động tuyên truyền đó còn mang tính rời rạc, chưa thường xuyên, liên tục và chưa thực sự hấp dẫn, lối cuốn đối tượng, nhất là giới trẻ. Để khơi dậy ý chí, khát vọng của mọi cán bộ và các tầng lớp nhân dân một cách thực sự, thực chất, công tác tư tưởng phải tiến hành đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó, cần thực hiện một số giải pháp cơ bản sau đây:

Một là, tiếp tục nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện và cụ thể hóa mục tiêu phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Về vấn đề này, Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã cụ thể hóa mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng văn minh thành những mục tiêu cụ thể, rõ ràng theo từng mốc thời gian cụ thể, trong đó, phấn đấu đến năm 2045, Việt Nam trở thành một nước phát triển với thu nhập cao. Như vậy, khát vọng về một đất nước hùng cường, thịnh vượng đã được định hình cả về định tính và định lượng. Trong thời gian tới, công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận cần tiếp tục đi sâu làm rõ cơ sở khoa học của những mục tiêu đã xác định, đồng thời tiếp tục nghiên cứu bổ sung, hoàn thiện các mục tiêu đó trên cơ sở kế thừa kết quả quá trình nhận thức của Đảng về con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Tiếp tục cụ thể hóa mục tiêu đến năm 2045 thành mục tiêu của từng lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng, đối ngoại… gắn với yêu cầu về hành động, việc làm thiết thực của mỗi địa phương, mỗi cấp, mỗi ngành và mỗi người dân Việt Nam, trong từng giai đoạn 5 năm, 10 năm. Những mục tiêu này không chỉ định tính mà phải đo đếm bằng định lượng. Khắc phục những hạn chế như xây dựng mục tiêu quá sức, không phù hợp với thực tiễn dẫn đến ảo tưởng, bất khả thi. Cụ thể hóa mục tiêu chung không chỉ để làm căn cứ đánh giá kết quả của từng giai đoạn, từng tổ chức, cá nhân mà còn cung cấp luận chứng, luận cứ cho công tác tuyên truyền, giáo dục và đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch về vấn đề này.

Hai là, xây dựng và triển khai đồng bộ các chương trình, đề án, chiến dịch tuyên truyền về khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Các cơ quan tư tưởng, thông tin, truyền thông cần xác định đây là một nhiệm vụ trọng tâm, có tầm nhìn dài hạn. Phải xây dựng được những chiến dịch tuyên truyền rộng khắp, đồng loạt và liên tục, gắn với các phong trào thi đua, cuộc vận động, các sự kiện lớn của đất nước về khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, thịnh vượng. Từ đó, nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân về khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Các bộ, ban, ngành từ trung ương đến địa phương, đơn vị cơ sở cần thường xuyên giáo dục nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân về tính đúng đắn, khoa học về mục tiêu chiến lược mà Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã xác định; đề cao trách nhiệm, tích cực tham gia vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc là thực hiện khát vọng phát triển đất nước giàu mạnh, thịnh vượng, hùng cường trong điều kiện Đảng cầm quyền, xây dựng chế độ chính trị, xã hội mới, phù hợp với xu thế thời đại, mang lại ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân; từng bước hội nhập và vươn lên khẳng định vị thế, tầm vóc của Việt Nam trên trường quốc tế.

Khát vọng đó phải trở thành khẩu hiệu hành động của các địa phương, các cấp, các ngành, các cơ quan, đơn vị và doanh nghiệp, phải trở thành suy nghĩ và lời nói thường trực của mỗi người lãnh đạo và mọi người dân, nhất là giới trẻ. Đồng thời phải làm cho các tầng lớp nhân dân nhận rõ âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động đối với vấn đề quan trọng này.

Ba là, xây dựng đội ngũ cán bộ tư tưởng có niềm tin và khát vọng, có kỹ năng lan tỏa, truyền cảm hứng cho đối tượng.

Mục đích của công tác tư tưởng không chỉ là thông tin mà quan trọng là định hướng thông tin và truyền niềm tin và cảm hứng nên yêu cầu đầu tiên, cốt lõi mà mỗi cán bộ tư tưởng cần đạt tới đó là phải có thế giới quan, phương pháp luận khoa học. Bởi vì, chỉ khi có cách nhìn đúng đắn, cán bộ tư tưởng mới xây dựng cho mình khát vọng lớn lao và niềm tin khoa học vững chắc vào mục tiêu, lý tưởng của Đảng, từ đó mới nhiệt tình, say sưa tâm huyết làm công tác tuyên truyền, giáo dục. Thế giới quan, phương pháp luận còn giúp cho cán bộ tư tưởng có bản lĩnh vững vàng, không hoang mang, lo lắng trước những khó khăn, thử thách, thậm chí thất bại tạm thời trên con đường hiện thực hóa khát vọng. Để có khát vọng chân chính, cán bộ tư tưởng cần được đào tạo chuyên sâu về lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, có phông kiến thức rộng trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.

Mục tiêu cuối cùng của công tác tuyên truyền là để người nghe hiểu, tin và làm theo mục tiêu, lý tưởng của Đảng. Bản thân mỗi cán bộ tư tưởng phải có khát vọng cháy bỏng để truyền niềm tin, nhiệt huyết và khát vọng của mình cho quần chúng. Nắm chắc lý luận và thực tiễn là cơ sở nền tảng cho niềm tin khoa học, đồng thời có đủ luận cứ, luận chứng để thuyết phục quần chúng tin theo và bảo vệ mục tiêu lý tưởng của Đảng. Khát vọng chân chính, lớn lao chỉ được hình thành trong những con người có lòng yêu nước, thương dân, sẵn sàng xả thân vì sự nghiệp chung. Do vậy, cán bộ tư tưởng còn phải có đạo đức, lối sống lành mạnh, là tấm gương để quần chúng học theo, làm theo.

Cán bộ tư tưởng còn phải có kỹ năng “truyền lửa” cho người khác, bằng cách khích lệ động viên, khơi gợi tính thiện và tình cảm tốt đẹp trong mỗi con người. Trong lịch sử cách mạng thế giới, những tấm gương hùng biện về mục tiêu, lý tưởng cách mạng như: V.I.Lênin, Phi-đen Ca-xtơ-rô, Chê-ghê-va-ra có sức truyền cảm lớn lao, thúc giục lòng người, lôi cuốn hàng triệu người đi theo lý tưởng cách mạng. Bản thân mỗi cán bộ tư tưởng cũng phải chứng minh mình có khát vọng và nghị lực vượt lên khó khăn để thực hiện những mục tiêu cụ thể trong cuộc đời mỗi người.

Bốn là, đổi mới nội dung tuyên truyền, giáo dục tạo tiền đề tư tưởng để hình thành khát vọng chân chính của mỗi cán bộ, đảng viên và người dân.

Khát vọng không phải là một câu khẩu hiệu hoa mỹ, được gán ghép hời hợt từ bên ngoài mà phải xuất phát từ nhu cầu, lợi ích thiết yếu bên trong của mỗi người. Do đó, công tác tư tưởng phải nhen nhóm, khơi dậy ngọn lửa khát vọng, hoài bão lớn lao đang tiềm ẩn trong mỗi con người, phải biến mong ước của mỗi cá nhân cộng hưởng thành mong ước của cộng đồng, xã hội. Tinh thần yêu nước, yêu hòa bình, độc lập, tự do vốn dĩ tiềm tàng trong tâm hồn, cốt cách dân tộc Việt Nam, vấn đề là phải khơi dậy và nhân lên một cách mạnh mẽ trong thời đại mới. Vì vậy, công tác tư tưởng phải tập trung giáo dục tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường, tự tôn dân tộc làm nền tảng để hình thành, nuôi dưỡng những khát vọng có tính thực tế, phù hợp với thực tiễn Việt Nam, chứ không phải là những mơ ước viễn vông, ảo tưởng.

Bên cạnh giáo dục lòng yêu nước, tự tôn dân tộc, cần tăng cường giáo dục truyền thống lịch sử của dân tộc, của Đảng, tư tưởng Hồ Chí Minh về khát vọng xây dựng, phát triển đất nước sánh vai với các cường quốc năm châu. Phải biến niềm kiêu hãnh về một quốc gia nhỏ bé nhưng vẫn cùng “Hán, Đường, Tống Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương”, có khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường trong thời đại mới như trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mong muốn: “Còn non, còn nước, còn người, thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay”.

Nội dung tuyên truyền cần tập trung vào những tấm gương của các dân tộc, quốc gia trên thế giới, của con người cụ thể - vì có khát vọng mà họ đã vượt lên số phận, gặt hái thành công. Cần phải phân biệt và làm rõ những khát vọng trong chiến tranh và trong thời bình, trong chiến đấu và trong sản xuất, kinh doanh, trong văn học nghệ thuật và trong thực tiễn đời sống. Công tác tuyên truyền, giáo dục cần ưu tiên những nội dung này cho học sinh, sinh viên, gắn vào từng bài giảng, môn học, lồng ghép vào các hoạt động ngoại khóa, các cuộc thi, trò chơi trực tiếp hoặc gián tiếp trên truyền hình.

Năm là, đa dạng hóa phương thức tuyên truyền, chú trọng phát huy vai trò của văn học, nghệ thuật để khơi dậy niềm tin, khát vọng của mỗi người và toàn dân tộc.

Hiện nay, chủ đề khát vọng đã và đang được tuyên truyền rộng rãi trên các phương tiện truyền thông đại chúng nhất là trên báo Tết, các sự kiện mừng Đảng, mừng Xuân trên các chương trình của đài phát thanh, truyền hình quốc gia và các địa phương. Tuy nhiên, cần tiếp tục tuyên truyền với nhiều hình thức phong phú như: thông qua các buổi nói chuyện chuyên đề của tổ chức thanh niên, phụ nữ, nông dân, công nhân, nghệ sỹ, trí thức, sinh viên các trường đại học, học sinh phổ thông trung học. Tổ chức các “hội nghị Diên Hồng” về khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc ở từng địa phương, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp. Khát vọng cũng cần được thể hiện qua hệ thống panô, áp phích, khẩu hiệu có sức truyền cảm lớn, sinh động hướng vào tuổi trẻ. Đặc biệt, văn học nghệ thuật là phương tiện có tác dụng khơi dậy khát vọng rất mạnh mẽ.

Từ xa xưa, để thỏa mãn niềm khao khát của con người, những câu truyền thần thoại về thiên đường, xứ sở thần tiên, những bộ phim viễn tưởng luôn thu hút được đông đảo người xem. Trong chiến tranh, có rất nhiều tác phẩm điện ảnh kinh điển, tiểu thuyết gối đầu giường, những bài ca đi cùng năm tháng về khát vọng hòa bình, thống nhất, độc lập, tự do. Chúng ta hoàn toàn có thể sáng tạo ra những bài ca, thước phim, video clip về đất nước ở thời điểm năm 2045, mô hình chủ nghĩa cộng sản hoàn chỉnh trong tương lai để mọi người, nhất là trẻ em, thanh thiếu niên và đồng bào dân tộc thiểu số dễ hình dung về mô hình lý tưởng mà đất nước ta hướng tới. Sự phát triển của công nghệ thông tin và mạng xã hội có thể giúp chúng ta thực hiện việc đó một cách dễ dàng.

Sáu là, từng bước hiện thực hóa mục tiêu xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc để nuôi dưỡng niềm tin và khát vọng.

Niềm tin, khát vọng có tính giai đoạn, có thể dâng cao hoặc xuống thấp dưới tác động của tình hình thực tiễn. Mặt khác, nếu khát vọng chung chung, trừu tượng, quá xa vời cũng dễ làm người ta chán nản hoặc từ bỏ. Do vậy, muốn duy trì và củng cố niềm tin, khát vọng thì bản thân khát vọng đó phải được hiện thực hóa từng bước trong thực tiễn đời sống của đất nước. Khát vọng chỉ có thể được khơi dậy khi những mong ước, khát khao phải có tính khả thi và dần dần hình thành trong thực tiễn trên từng lĩnh vực của đời sống xã hội.

Từ những thành tựu cụ thể nhỏ bé nhưng có sức mạnh củng cố niềm tin và tiếp thêm động lực để toàn dân tộc vượt qua khó khăn, thử thách, đi đến kết quả to lớn, vĩ đại hơn. Hàng năm, cả nước và từng địa phương phải đánh giá việc thực hiện các mục tiêu cụ thể trong từng giai đoạn và mục tiêu đến năm 2045 đạt mức độ đến đâu. Địa phương, cơ quan đơn vị nào có khả năng vượt trước, có những mô hình hay, cách làm tốt cần phải được quảng bá, tuyên truyền rộng rãi để khích lệ lòng người. Những địa phương, cơ quan, đơn vị đang gặp khó khăn, vướng mắc cần kịp thời nghiên cứu tìm cách tháo gỡ để tiếp tục tiến lên.

Ngay từ khi ra đời cũng như trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, công tác tư tưởng của Đảng đã khơi dậy, bồi đắp và phát huy truyền thống yêu nước nồng nàn, ý chí quật cường của cả dân tộc, tạo nên sức mạnh tổng hợp to lớn vượt qua mọi gian khổ, hy sinh để hiện thực hóa khát vọng độc lập, tự do và thống nhất Tổ quốc trong thế kỷ XX. Trong bối cảnh mới, công tác tư tưởng cần nhận thức sâu sắc vinh dự, trách nhiệm, đổi mới mạnh mẽ cả nội dung, hình thức tiến hành để tiếp tục góp phần khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc như Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã xác định./.

 GIÁO DỤC GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC  CHO CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN TRẺ

NVS

Giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc cho cán bộ, đảng viên trẻ là nội dung, biện pháp quan trọng góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức trong sáng, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn thử thách, dám hành động vì lợi ích chung.

Cán bộ, đảng viên trẻ là những người sẽ trở thành lực lượng trọng yếu của nước nhà, có vai trò rất quan trọng trong lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý ở các cơ quan, đơn vị, trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội; là lực lượng nòng cốt trong tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước. Vì vậy, giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc cho cán bộ, đảng viên trẻ là nội dung, biện pháp quan trọng góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức trong sáng, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn thử thách, dám hành động vì lợi ích chung.

Dưới sự lãnh đạo của cấp ủy đảng các cấp, những năm qua công tác giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc cho cán bộ, đảng viên trẻ thường xuyên được quan tâm, chú trọng, có nhiều đổi mới về nội dung, hình thức, biện pháp tuyên truyền, phổ biến và tổ chức thực hiện. Cán bộ, đảng viên trẻ đã có sự trưởng thành về nhiều mặt, giữ vững và phát huy các giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc, góp phần “nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sỏ đảng và chất lượng đội ngũ đảng viên” để phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, hùng cường, thịnh vượng. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác giáo dục đạo đức truyền thống dân tộc cho cán bộ, đảng viên trẻ hiện nay còn bộc lộ một số hạn chế: Một số cấp uỷ, tổ chức đảng, cán bộ lãnh đạo chưa làm tốt công tác giáo dục đạo đức truyền thống dân tộc cho cán bộ, đảng viên trẻ; hình thức, biện pháp giáo dục chưa phong phú, đa dạng, hấp dẫn; một bộ phận cán bộ, đảng viên trẻ “phai nhạt lý tưởng cách mạng, thiếu bản lĩnh chính trị, ý chí phấn đấu giảm sút, chưa gương mẫu, sống thực dụng, suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, vi phạm kỷ luật đảng, vi phạm pháp luật”.

Quán triệt quan điểm “Tăng cường giáo dục lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc, ý thức trách nhiệm xã hội cho các tầng lớp nhân dân, nhất là thanh niên”của Đại hội XIII của Đảng,cần tăng cường giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho cán bộ, đảng viên trẻ. Đây cũng là thực hiện đúng theo di huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết” nhằm khơi dậy ý chí, khát vọng cống hiến của cán bộ, đảng viên trẻ, góp phần xây dựng, phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Theo đó, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:

Một là, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các chủ thể, lực lượng về tầm quan trọng giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc cho cán bộ, đảng viên trẻ.

Các chủ thể giáo dục phải luôn luôn nắm vững quan điểm: “Tăng cường giáo dục thế hệ trẻ về lý tưởng cách mạng, đạo đức lối sống văn hoá, nâng cao lòng yêu nước, tự hào dân tộc, đặc biệt là nuôi dưỡng hoài bão, khát vọng xây dựng đất nước”. Với tinh thần này, cấp uỷ, tổ chức đảng các cấp thường xuyên quán triệt, phổ biến, tuyên truyền đến cán bộ, đảng viên trẻ các chủ trương về xây dựng, văn hoá con người Việt Nam thời kỳ mới, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ, hội nhập quốc tế, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở nhận thức và có thái độ đúng đắn, đầy đủ về vị trí, vai trò giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho cán bộ, đảng viên trẻ, cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ chủ trì các cấpcần quan tâm tạo điều kiện thuận lợi để có những biện pháp phù hợp tác động, thúc đẩy hoạt động giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho cán bộ, đảng viên trẻ có hiệu quả.

Cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ chủ trì các cấp cần gắn nội dung phổ biến quán triệt đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các nghị quyết, hướng dẫn của cấp trên với giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc cho cán bộ, đảng viên trẻ ở cơ quan, đơn vị, địa phương mình. Trong nội dung nghị quyết lãnh đạo thường xuyên, cấp ủy đảng các cấp cần dành nội dung thích đáng đối với công tác giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc cho cán bộ, đảng viên trẻ. Khi cần thiết và điều kiện cho phép có thể tổ chức các hội nghị chuyên đề bàn về đạo đức, giá trị đạo đức truyền thống dân tộc để nâng cao nhận thức, phát huy trách nhiệm của các tổ chức, các lực lượng và bản thân từng cán bộ, đảng viên trẻ. Bên cạnh đó cần lồng ghép các nội dung giáo dục giá trị đạo đức truyền thống vào các hoạt động của địa phương, cơ quan, đơn vị; coi trọng công tác tuyên truyền, giáo dục, không chủ quan, lơ là, làm qua loa, hình thức. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh: “Tiếp tục kiên trì, coi trọng công tác tuyên truyền, giáo dục, học tập, nghiên cứu và vận dụng chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng vào thực tiễn”.

Hiện nay, trước yêu cầu, nhiệm vụ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế và yêu cầu nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên trong giai đoạn mới, đòi hỏi các cấp uỷ, tổ chức đảng, cán bộ chủ trì, đội ngũ cán bộ, đảng viên trẻ phải không ngừng nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của giá trị đạo đức truyền thống dân tộc, nhất là trong điều kiện sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, xu thế toàn cầu hóa, sự tác động nhiều chiều đến đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên. Thông qua đó, để các chủ thể, lực lượng và cán bộ, đảng viên trẻ xác định đúng thái độ, trách nhiệm và có hành động tích cực nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc cho cán bộ, đảng viên trẻ.

Hai là, lựa chọn nội dung, đổi mới hình thức, biện pháp giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc cho cán bộ, đảng viên trẻ.

Đảng ta xác định: “Giáo dục tinh thần yêu nước, tự hào, tự tôn dân tộc, truyền thống và lịch sử dân tộc, ý thức trách nhiệm xã hội cho các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ”. Giáo dục tinh thần yêu nước phải gắn với yêu chủ nghĩa xã hội, được biểu hiện ở lòng tự hào, tự tôn dân tộc của mọi người con đất Việt, dù có đi đâu, định cư ở nước nào cũng luôn có tình cảm gắn bó tha thiết với quê hương, đất nước; có tinh thần kiên quyết, sẵn sàng xả thân vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, giá trị đó không phai mờ, không hề mất đi cùng với thời gian và không bị “hòa tan” trong quá trình hội nhập quốc tế. Do vậy, cần phải bồi dưỡng phẩm chất, đạo đức, lối sống, niềm tin, ý chí quyết tâm, tình cảm, thôi thúc họ hành động tự giác, thực hiện mục tiêu, lý tưởng cách mạng, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Điều này đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”.

Khơi dậy lòng tự hào, tự tôn dân tộc, tình yêu quê hương đất nước, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc cho cán bộ, đảng viên trẻ. Đảng ta đã chỉ rõ: “Khơi dậy truyền thống yêu nước, niềm tự hào dân tộc, niềm tin, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”(😎. Theo đó, cần phải tạo môi trường và điều kiện xã hội thuận lợi nhất để khơi dậy truyền thống yêu nước, niềm tự hào dân tộc, ý chí tự cường, niềm tin, tài năng, trí tuệ, phẩm chất của cán bộ, đảng viên trẻ. Thực tiễn đã kiểm nghiệm, chỉ khi nào tạo được môi trường và điều kiện xã hội thuận lợi thì khơi dậy được các giá trị truyền thống, khi đó đất nước ta phát triển mạnh mẽ vượt bậc và ngược lại.

Giáo dục lòng trung thành đối với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân cho cán bộ, đảng viên trẻ. Lòng trung thành đó được biểu hiện ở sự giác ngộ sâu sắc và quyết tâm phấn đấu thực hiện mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng, lấy đó làm mục đích hoạt động của mình, suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân; luôn có ý thức cộng đồng, đặt lợi ích của Đảng, của Tổ quốc, lên trên lợi ích cá nhân; tự nguyện chấp nhận khó khăn, thiệt thòi về mình, kiên cường vượt qua mọi thử thách, gian khổ, sẵn sàng đánh đổi cả tính mạng của mình vì những lợi ích tốt đẹp của quốc gia dân tộc, vì hạnh phúc của nhân dân; kiên quyết chống bệnh quan liêu, gia trưởng, cửa quyền, thói kiêu ngạo, ức hiếp quần chúng và cấp dưới. Thực hiện theo đúng lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh, phải “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”.

Về hình thức, phương pháp giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc cho cán bộ, đảng viên trẻ cần coi trọng hoạt động thực tiễn; phát huy tinh thần dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn thử thách, dám hành động vì lợi ích chung của họ.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh: “Cần coi trọng giáo dục qua thực tiễn phong trào, lựa chọn phương thức giáo dục phù hợp với từng lứa tuổi”. Càng có sự giao lưu, càng tham gia nhiệt tình vào các hoạt động của các tổ chức hội, các hoạt động của xã hội thì mỗi cán bộ, đảng viên trẻ càng tích lũy thêm được vốn sống, càng có dịp áp dụng và chiêm nghiệm những giá trị đạo đức truyền thống. Chú trọng đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên trẻ, nâng cao tính chiến đấu, tinh thần thẳng thắn, dũng cảm trong tự phê bình và phê bình, nhất là đối với những hành vi trái với những giá trị đạo đức truyền thống dân tộc. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong chia sẻ, kết nối và lan toả những tấm gương “người tốt”, “việc tốt” của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ, đảng viên trẻ trong công tác và tham gia hoạt động xã hội.

Ba là, xây dựng môi trường văn hóa, đạo đức lành mạnh góp phần tích cực vào giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc cho cán bộ, đảng viên trẻ.

Đại hội XIII của Đảng đã chỉ rõ: “Xây dựng môi trường, điều kiện học tập, lao động, giải trí, rèn luyện để phát triển lành mạnh, toàn diện, hài hoà cả về trí tuệ, thể chất và giá trị thẩm mỹ”. Xây dựng môi trường văn hóa, đạo đức nhằm điều chỉnh hành vi của cán bộ, đảng viên trẻ theo những chuẩn mực giá trị đạo đức truyền thống dân tộc hiện nay. Đây cũng là cơ sở để kiên quyết đấu tranh với các hành vi vi phạm đạo đức, phản nhân văn, vi phạm các chuẩn mực xã hội, quy định của Đảng, chính sách pháp luật nhà nước. Xây dựng mối quan hệ tốt đẹp đồng chí, đồng đội và với nhân dân tạo ra bầu không khí tích cực, lành mạnh ở mỗi cơ quan, đơn vị, địa phương. Đồng thời, tạo lập phong cách, lối sống, hành vi đạo đức phù hợp với những chuẩn mực đạo đức, hướng tới cái chân, thiện, mỹ, gạt bỏ cái xấu, cái ác, cái lạc hậu ngăn ngừa sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Khơi dậy giá trị khiêm tốn, cần cù, tự giác, dũng cảm, kiên cường, mưu trí, sáng tạo của cán bộ, đảng viên trẻ. Bởi, đây là hệ giá trị trong văn hóa đạo đức truyền thống của con người Việt Nam, nói lên thái độ của mỗi người đối với chính bản thân mình. Giá trị đó luôn được phát huy, họ không chỉ giải quyết mối quan hệ ngay trong nếp sống của chính bản thân mình, mà luôn tâm đến sự nghiệp cách mạng chung, đặt lợi ích của Đảng, của Tổ quốc, của nhân dân, của tập thể lên trên hết, trước hết; luôn sống “vì mọi người”, vì đồng chí, đồng đội; giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa cống hiến và hưởng thụ. Đúng như lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Thời đại của chúng ta là thời đại văn minh, thời đại cách mạng, mọi việc càng phải dựa vào lực lượng của tập thể, của xã hội; cá nhân càng không thể đứng riêng lẻ mà càng phải hòa mình trong tập thể, trong xã hội”.

Bốn là, phát huy tính tích cực, chủ động của cán bộ, đảng viên trẻ trong tự giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc.

Mỗi cán bộ, đảng viên trẻ là chủ thể năng động, tích cực trong các hoạt động của cơ quan, đơn vị, địa phương. Từng cán bộ, đảng viên trẻ luôn phải nỗ lực phấn đấu trong tiếp nhận giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc, thực hiện chức trách, nhiệm vụ, giải quyết các mối quan hệ xã hội hợp tình, hợp lý.

Cán bộ, đảng viên trẻ cần tự giáo đặt mình vào trong tổ chức, trước khi hành động suy nghĩ kỹ, cân nhắc; “tự soi”, “tự sửa” thái độ, hành vi, suy nghĩ phù hợp với chức trách, nhiệm vụ được giao và theo những chuẩn mực giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc.Phát huy tinh thần xung kích, sáng tạo của tuổi trẻ trong đổi mới sáng tạo không ngại khó, ngại khổ, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn thử thách, dám hành động vì lợi ích chung. Đồng thời với đó, từng cán bộ, đảng viên trẻ phải thường xuyên trau dồi đạo đức không nhụt trí trước khó khăn; sẵn sàng đi bất cứ đâu, làm bất kỳ việc gì khi Tổ quốc cần; luôn nuôi dưỡng ước mơ, hoài bão lớn trong cuộc đời./.