HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI VIỆT NAM THỜI KỲ ĐỔI MỚI
NVS
Xây dựng nền ngoại giao
toàn diện, hiện đại với ba trụ cột là đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và
đối ngoại nhân dân. Triển khai đối ngoại của nước ta trong thời gian qua được
tiến hành toàn diện với các chủ thể, đối tượng và các địa bàn, trên các lĩnh
vực chính trị, kinh tế, văn hoá, giáo dục, khoa học công nghệ, quốc phòng, an
ninh, v.v. đạt tầm khu vực và vươn tầm quốc tế, giúp thúc đẩy hiệu quả lợi ích
quốc gia, dân tộc.
Kế thừa truyền thống
ngoại giao Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh, vì lợi ích quốc gia - dân tộc, thích
ứng linh hoạt trước những chuyển biến của tình hình thế giới, khu vực và trong
nước, Đảng Cộng sản Việt Nam không ngừng bổ sung, phát triển, hoàn thiện “đường
lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa
dạng hoá, đa phương hoá quan hệ đối ngoại. Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia -
dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật
pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức
mạnh thời đại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; Việt
Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong
cộng đồng quốc tế”. Triển khai hoạt động ngoại giao Việt Nam thời kỳ đổi mới
với ba trụ cột là đối ngoại Đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân cụ
thể như sau:
1.
Đối ngoại đảng
Công tác đối ngoại của
Đảng Cộng sản Việt Nam (Đảng CSVN) được triển khai toàn diện và đồng bộ và đạt
được những kết quả quan trọng, đóng góp tích cực vào thành tựu đối ngoại chung,
góp phần nâng cao vị thế quốc tế của đất nước. Quan hệ giữa Đảng CSVN với các
chính đảng nước ngoài đã tạo nền tảng chính trị thúc đẩy quan hệ ngoại giao nhà
nước và mở rộng quan hệ đối ngoại nhân dân, tạo môi trường hoà bình, ổn định
cho xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thông qua kênh diễn đàn đa phương chính đảng,
các đoàn đại biểu của Đảng CSVN dự đều tuyên truyền, quảng bá về đường lối,
chính sách của Đảng và Nhà nước và tình hình đất nước Việt Nam, qua đó đã vận
động các chính đảng và chính giới các nước đồng thuận với lập trường của Việt
Nam về các vấn đề khu vực và quốc tế. Đồng thời, góp phần vào sự nghiệp chung
vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới.
Thông qua trao đổi lý
luận và kinh nghiệm hoạt động thực tiễn với các chính đảng các nước trên thế
giới, giúp Đảng CSVN nắm bắt về tình hình thế giới, khu vực và các nước, từ đó
rút kinh nghiệm về lãnh đạo, quản lý đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đồng
thời, dự báo và chủ động ứng phó với mọi diễn biến của tình hình thế giới và
khu vực liên quan đến an ninh và phát triển của đất nước.
Việc mở rộng quan hệ với
đảng cầm quyền, đảng tham chính, có vị trí, vai trò trên chính trường các nước,
làm cho Đảng CSVN chủ động trong quan hệ; đồng thời, thúc đẩy giải quyết nhiều
vấn đề còn tồn tại hoặc nảy sinh trong quan hệ giữa Việt Nam với các nước, giữ
vững môi trường hoà bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước.
Đảng Cộng sản Việt Nam
tăng cường hợp tác với các đảng cộng sản và công nhân, các đảng cánh tả, các
phong trào cách mạng và tiến bộ trên thế giới. Kết quả đối ngoại Đảng ngày càng
mở rộng, chủ động, tích cực và đi vào chiều sâu. Trong đó, Đảng CSVN có quan hệ
với 247 chính đảng ở 111 quốc gia, bao gồm khoảng 90 đảng cộng sản và công nhân
quốc tế, các đảng cầm quyền và tham chính có vai trò quan trọng.
Thông qua quá trình tập
hợp lực lượng trong phong trào cộng sản - công nhân quốc tế, Đảng CSVN thúc đẩy
quan hệ song phương với đảng cộng sản - công nhân và cánh tả thế giới, tạo nền
tảng chính trị thúc đẩy quan hệ về mặt nhà nước và mở rộng quan hệ đối ngoại
nhân dân (nhất là với các tổ chức quần chúng chịu ảnh hưởng của các đảng bạn),
phát triển sự hợp tác ổn định, bền vững giữa nước ta và các nước, tạo môi
trường hoà bình, ổn định, nâng cao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế.
Hoạt động của Đảng CSVN
tại các diễn đàn tập hợp lực lượng trong phong trào cộng sản quốc tế đã góp
phần củng cố, thắt chặt hơn mối quan hệ trực tiếp giữa lãnh đạo của Đảng và Nhà
nước Việt Nam với các đảng cộng sản - công nhân và cánh tả thế giới, tạo sự
hiểu biết lẫn nhau, thúc đẩy nhận thức chung và sự đồng thuận về khuôn khổ quan
hệ ổn định, lâu dài giữa nước ta và các nước; làm cho chính giới, nhân dân các
nước có cách nhìn xác thực hơn, hiểu đúng hơn về Việt Nam, từ đó họ tham gia
tác động vào quá trình hoạch định và triển khai các chính sách của các nước đối
với Việt Nam.
Từ trao đổi lý luận và kinh
nghiệm hoạt động thực tiễn với các diễn đàn, hội nghị, hội thảo quốc tế của các
đảng cộng sản - công nhân và cánh tả trên thế giới, Đảng CSVN tích luỹ thêm
nhiều kinh nghiệm quốc tế bổ ích về lãnh đạo, quản lý đất nước và giải quyết
các vấn đề kinh tế, xã hội, văn hoá…; góp phần bồi đắp tiềm lực tri thức lãnh
đạo, cầm quyền, chỉ đạo và quản lý của Đảng và Nhà nước Việt Nam.
Sự tham gia tích cực và
chia sẻ kinh nghiệm đổi mới, phát triển đất nước của Đảng CSVN tại các diễn
đàn, hội nghị, hội thảo quốc tế của các đảng cộng sản - công nhân và cánh tả
trên thế giới là những đóng góp trực tiếp quý báu đối với phong trào cách mạng
thế giới, góp phần tích cực vào việc từng bước hồi phục phong trào cộng sản
quốc tế và sự nghiệp hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên
thế giới. Các đảng cộng sản - công nhân, đảng cánh tả và bạn bè quốc tế đánh
giá cao những thành tựu đổi mới của Việt Nam, coi đó là đóng góp tích cực của
Đảng CSVN cả về lý luận và thực tiễn, trong việc bảo vệ và phát triển chủ nghĩa
Mác - Lênin và xây dựng chủ nghĩa xã hội, củng cố niềm tin và cổ vũ bạn bè quốc
tế trong cuộc đấu tranh còn nhiều khó khăn gian khổ vì những mục tiêu cao cả
của thời đại.
2.
Ngoại giao nhà nước
Thứ nhất, thực hiện chủ
trương thúc đẩy quan hệ hợp tác với các đối tác lớn, đối tác quan trọng, hoạt
động đối ngoại đã tích cực và chủ động đưa các mối quan hệ hợp tác giữa Việt
Nam với các đối tác đi vào chiều sâu, thiết thực và hiệu quả.
Một
là,
“củng cố, phát triển quan hệ hợp tác, hữu nghị truyền thống với các nước láng
giềng, có chung biên giới”. Quan hệ hữu nghị, đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn
diện Việt Nam - Lào ngày càng được mở rộng, đi vào chiều sâu, thiết thực. Quan
hệ Việt Nam - Campuchia thực hiện theo phương châm 16 chữ “láng giềng tốt đẹp,
hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện, bền vững lâu dài”. Trên cơ sở đó,
quan hệ giữa hai nước vừa phát triển theo chiều rộng, diễn ra trên nhiều lĩnh
vực từ chính trị - đối ngoại, quốc phòng - an ninh đến kinh tế, văn hoá - xã
hội, vừa từng bước đi vào chiều sâu, hướng tới các thoả thuận mang tính chiến
lược, lâu dài ở cấp quốc gia. Quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt
Nam - Trung Quốc thực hiện theo phương châm 16 chữ là: “Láng giềng hữu nghị,
hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” (năm 1999), “Láng
giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt” (tinh thần “4 tốt” năm -
2000) và “Đối tác hợp tác chiến lược toàn diện” (năm 2008).
Mối quan hệ Việt Nam -
Trung Quốc tiếp tục được củng cố và phát triển toàn diện trên các lĩnh vực, ổn
định, phù hợp với nguyện vọng và lợi ích của nhân dân hai nước. Đối với Triều
Tiên, hai đảng, hai nhà nước tăng cường ủng hộ lẫn nhau và mở rộng hợp tác
trong nhiều lĩnh vực như chính trị, kinh tế và văn hoá, phù hợp với lợi ích
chung. Việt Nam và Triều Tiên phối hợp trong các vấn đề khu vực, quốc tế, góp
phần bảo đảm hoà bình, an ninh tại khu vực và trên thế giới.
Việt Nam và Cuba có mối
quan hệ hữu nghị, đoàn kết truyền thống, gắn bó thuỷ chung, chia ngọt sẻ bùi
giữa hai dân tộc, vừa là đồng chí vừa là anh em, được các nhà lãnh đạo và nhân
dân hai nước trân trọng, gìn giữ, vun đắp và không ngừng phát triển. Hơn 60 năm
qua, dù tình hình thế giới có nhiều thách thức, thăng trầm, song mối quan hệ
đoàn kết, anh em giữa Việt Nam - Cuba ngày càng được củng cố và phát triển gắn
bó khăng khít trên nhiều lĩnh vực.
Hai
là, đối với các nước lớn:
Việt Nam đã xác định rõ vai trò quan trọng của các nước lớn trong quan hệ quốc
tế, nhất là trên lĩnh vực kinh tế. Các nước này đang chi phối quá trình toàn
cầu hoá, nhưng họ cũng có nhu cầu mở rộng quan hệ hợp tác vì lợi ích của chính
họ; đồng thời, họ cũng có mâu thuẫn về lợi ích với nhau. Từ nhận thức này cho
thấy, Việt Nam cần phải tranh thủ phát triển quan hệ với mỗi nước lớn thông qua
việc thúc đẩy quan hệ đa dạng, bao gồm cả quan hệ chính phủ và phi chính phủ
trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học công nghệ... để thu hút
các nguồn lực vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý cho sự phát triển đất nước,
tạo môi trường hoà bình, ổn định lâu dài.
Thứ nhất, Việt
Nam xác định thúc đẩy quan hệ với các nước và trung tâm lớn trên nguyên tắc
bình đẳng, cùng có lợi, không can thiệp công việc nội bộ của nhau, tạo thế đan
xen lợi ích giữa các nước với Việt Nam; tránh bị rơi vào thế đối đầu, cô lập
hay lệ thuộc. Đây là bước phát triển mới trong đường lối đối ngoại của Đảng và
Nhà nước Việt Nam. Đối với Mỹ, xác lập quan hệ đối tác toàn diện Việt - Mỹ
(2013) và nâng cấp lên quan hệ đối tác toàn diện sâu rộng (2015), thiết lập
quan hệ đối tác chiến lược toàn diện vì
hòa bình, hợp tác và phát triển bền vững (2023); thiết lập quan hệ đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam
- Liên bang Nga (2012); thiết lập quan hệ đối tác chiến lược sâu rộng vì hoà
bình và phồn vinh ở châu Á giữa Việt Nam - Nhật Bản (2014), thiết lập đối tác
chiến lược toàn diện Việt Nam - Ấn Độ (2016)...
Việt Nam đã tăng cường
thúc đẩy sự hợp tác trên tất cả các lĩnh vực, kể cả an ninh - quốc phòng với
các nước lớn. Kết quả hoạt động đối ngoại của Việt Nam với các nước lớn là đã
mở rộng thêm vòng tay hữu nghị với bầu bạn quốc tế, góp phần tạo sự chuyển biến
tích cực trong hợp tác song phương, đồng thời đóng góp vào việc củng cố xu thế
hoà bình, ổn định, phát triển hợp tác ở các khu vực và trên thế giới. Kết quả
Việt Nam đã mở rộng và nâng tầm quan hệ ngoại giao với 189/193 quốc gia thành
viên Liên hợp quốc, trong đó 3 nước có “quan hệ đặc biệt”, 17 nước “đối tác
chiến lược” và 13 nước “đối tác toàn diện” bao gồm tất cả các nước lớn.
Thứ hai,
hoạt động ngoại giao đa phương của Việt Nam được triển khai tích cực, đa dạng
và đạt kết quả quan trọng, nâng cao vị thế quốc tế của đất nước ở khu vực và
trên thế giới.
Từ chỗ bị bao vây cô lập,
đến nay Việt Nam đã mở rộng quan hệ chưa từng có trong lịch sử theo hướng đa
phương hoá, đa dạng hoá, trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn
vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có
lợi. Cục diện quan hệ rộng lớn này không chỉ góp phần nâng cao vị thế Việt Nam
mà còn có ý nghĩa quan trọng, góp phần trực tiếp vào bảo vệ và phát triển đất
nước. Đặc biệt, những mối liên kết mới trong quan hệ kinh tế, chính trị, văn
hoá được thiết lập trong những chuyến thăm chính thức của lãnh đạo Đảng, Nhà
nước, cũng như thông qua các chuyến thăm chính thức của các lãnh đạo và doanh
nhân nước ngoài vào Việt Nam đã mở ra một không gian mới và chất lượng mới cho
hợp tác song phương lẫn đa phương. Lần đầu tiên Việt Nam đứng trước một triển
vọng chưa từng có trong việc mở rộng các mối quan hệ hữu nghị và hợp tác trên
quy mô toàn cầu, đặc biệt, với tất cả các đối tác và thể chế lớn nhất của nền
kinh tế thế giới.
Với các diễn đàn khu vực
và quốc tế, Việt Nam đã tham gia tích cực và có trách nhiệm vào một số chức vụ
và ứng cử vào một số cơ quan của Liên hợp quốc như: Phó Chủ tịch Đại hội đồng
Liên hợp quốc năm 1997, năm 2000 và năm 2003; thành viên nhiệm kỳ 1998-2000; thành
viên Hội đồng Thống đốc Cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) nhiệm kỳ
1997-1999 và 2003-2005; thành viên Hội đồng Điều hành của UNDP và UNFPA nhiệm
kỳ 2000-2002 và Uỷ ban Phát triển xã hội nhiệm kỳ 2001-2005; đặc biệt, Việt Nam
được bầu làm Uỷ viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ
2008-2009 và nhiệm kỳ 2020-2021 với số phiếu 192/193 đánh dấu quá trình hội
nhập quốc tế của Việt Nam đã trở nên đầy đủ và sâu rộng.
Với vị thế và trọng trách
này, Việt Nam có điều kiện thuận lợi tham gia giải quyết những vấn đề chính trị
- xã hội, an ninh quốc tế có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp, đồng thời đóng
góp tích cực hơn và nhiều hơn trong nỗ lực duy trì hoà bình, ổn định và phát
triển trên thế giới. Việt Nam đã có nhiều đóng góp có giá trị cho các tổ chức
khu vực và quốc tế mà Việt Nam là thành viên; Việt Nam tổ chức thành công ASEM
5 (2004), APEC-14 (2006), APEC -25 (2017) được các nước đánh giá cao... Bộ
Ngoại giao là đại diện của Việt Nam, tiếp tục phát huy vai trò ở Liên hợp quốc và
các tổ chức quốc tế, tích cực vận động và đã được bầu vào Hội đồng Nhân quyền
Liên hợp quốc (nhiệm kỳ 2014-2016 và nhiệm kỳ 2023- 2025), Chủ trì Hội đồng
Thống đốc IAEA ở Viên (Áo), ECOSOC nhiệm kỳ 2016-2018.
Việt Nam cũng tích cực tham gia lực lượng
gìn giữ hoà bình của Liên hợp quốc (năm 2014, lần đầu tiên 2 sĩ quan quân đội
Việt Nam đã tham gia thể chế này), đồng thời hình thành Trung tâm huấn luyện ở
Việt Nam với sự hỗ trợ của Liên hợp quốc và một số nước (bệnh viện dã chiến cấp
3 ở Nam Sudan, Cộng hoà Trung Phi...). Hiện nay, Việt Nam là thành viên chính
thức của tất cả các tổ chức quốc tế lớn, các tổ chức và định chế thương mại,
tài chính chủ chốt ở khu vực cũng như trên thế giới với vị thế và vai trò ngày
càng được nâng cao.
Thứ ba,
hoạt động đối ngoại phục vụ phát triển kinh tế được Việt Nam đặc biệt quan tâm
thúc đẩy để tranh thủ nguồn lực bên ngoài góp phần quan trọng vào sự phát triển
kinh tế - xã hội của đất nước và mở rộng thị trường xuất khẩu, thu hút FDI,
tranh thủ vốn ODA và các nguồn tài trợ quốc tế khác.
Hoạt động ngoại giao cấp
cao diễn ra sôi động với nội hàm kinh tế ngày càng đậm nét đã góp phần quan
trọng củng cố môi trường quốc tế thuận lợi cho Việt Nam phát triển. Trong các
chuyến thăm và làm việc song phương cũng như đa phương tại nước ngoài của lãnh
đạo cấp cao Việt Nam và các chuyến thăm của nguyên thủ các nước đến Việt Nam,
kinh tế luôn là nội dung quan trọng, nổi bật tại các cuộc hội đàm, trao đổi.
Không chỉ bàn định phương hướng cho lâu dài, mà hàng loạt văn kiện thoả thuận
về kinh tế - thương mại và đầu tư đã được ký kết, nhiều cuộc tiếp xúc, diễn đàn
giữa cộng đồng doanh nghiệp hai bên được tổ chức, nhiều công ty, tập đoàn ở các
nước lớn đã quyết định đầu tư vào Việt Nam, tạo ra làn sóng đầu tư mới ở nước
ta.
Đặc biệt, trong quá trình
hoạt động ngoại giao tham mưu, chủ trì xây dựng và tích cực triển khai đề án
vận động trên nhiều kênh, diễn đàn đã góp phần hoàn tất việc đàm phán để đến
ngày 15.11.2006, Việt Nam được trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế
giới (WTO). Đây cũng là một mốc mới rất quan trọng trên con đường hội nhập kinh
tế quốc tế; từ hội nhập ở cấp độ khu vực (ASEAN năm 1995) đến cấp độ liên khu
vực (ASEM năm 1996, APEC năm 1998) và đến cấp độ toàn cầu hiện nay. Việt Nam đã
ký 15 hiệp định thương mại tự do (FTA), trong đó có 3 FTA thế hệ mới có tiêu
chuẩn rất cao. Bên cạnh các thị trường chủ lực là Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn
Quốc, Liên minh châu Âu (EU), Nga, Hoa Kỳ, ASEAN, Ôxtrâylia…, hàng hoá của Việt
Nam đã vươn ra củng cố thế đứng trên nhiều thị trường khác như, Trung Đông, Mỹ
Latinh và châu Phi, v.v..
Việt Nam là một nước có
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, có mạng lưới liên kết kinh
tế sâu rộng với hầu hết các nền kinh tế quan trọng trên thế giới - 230 nước và
vùng lãnh thổ; tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đến nay đã đạt khoảng 600 tỷ USD,
gấp khoảng 120 lần so với những năm đầu của thời kỳ đổi mới. Hoạt động đối
ngoại phục vụ phát triển kinh tế được Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm thúc
đẩy, Việt Nam đã thu hút được hơn 400 tỷ USD vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
(FDI), trong đó đã giải ngân được khoảng 250 tỷ USD...
Thứ tư,
giải quyết hoà bình các vấn đề biên giới, lãnh thổ, biển đảo với các nước liên
quan, bảo vệ được chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia.
Về biên giới trên bộ, lần
đầu tiên ta đã ký hiệp định với các nước láng giềng về đường biên giới trên bộ,
đồng thời đẩy mạnh hợp tác với các nước trong khu vực về các vấn đề liên quan
đến biển Đông như triển khai Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở biển Đông,
Hiệp định về phân định Vịnh Bắc Bộ và Hiệp định về hợp tác nghề cá ở Vịnh Bắc
Bộ với Trung Quốc; ký với Campuchia Hiệp ước bổ sung Hiệp ước phân định biên
giới năm 1985; đã thoả thuận với Malaixia hợp tác cùng khai thác tài nguyên
vùng chồng lấn trong khi chờ đợi phân định (1992); ký Hiệp định phân định vùng
chồng lấn với Thái Lan (1997); thoả thuận hợp tác cùng khai thác dầu khí với
Thái Lan và Malaixia trên vùng chồng lấn giữa 3 nước; thoả thuận về 9 nguyên
tắc ứng xử cơ bản ở biển Đông với Philippin (1995); đàm phán về thềm lục địa
với Inđônêxia…; cùng các nước ASEAN và Trung Quốc ra Tuyên bố về cách ứng xử ở
biển Đông (DOC) - tháng 11.2002), hợp tác với Philippin hoàn thành chuyến Hợp
tác nghiên cứu khoa học Hải dương ở biển Đông (JOMSRE-SCS), tham gia Hội thảo
Quản lý xung đột tiềm tàng ở biển Đông do Indonesia chủ trì,v.v..
Thứ năm, công tác đối ngoại đã góp phần
tích cực vào việc thực hiện nhiệm vụ phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc,
đặc biệt gắn kết cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài với quê hương.
Theo số liệu của Báo Nhân
Dân năm 2020, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài có trên 5,3 triệu người và
phân bố không đồng đều tại hơn 130 nước và vùng lãnh thổ trên khắp thế giới,
98% trong số đó tập trung ở 21 nước tại Bắc Mỹ, châu Âu, Đông Nam Á, Đông Bắc Á
và châu Đại Dương... Hằng năm, số lượng kiều bào về nước là trên dưới 1 triệu
người. Đầu tư kinh doanh của kiều bào cũng có nhiều khởi sắc. Hiện nay, có
khoảng gần 3.000 dự án với tổng số vốn đăng ký gần 4 tỉ USD tập trung vào những
lĩnh vực kinh tế mũi nhọn của đất nước, đặc biệt là lĩnh vực công nghệ cao, tạo
việc làm và thu nhập cho người dân trong nước. Lượng kiều hối có xu hướng tăng
mạnh, trong 12 năm trở lại đây, số lượng kiều hối gửi về nước tăng 10% -
15%/năm; năm 2017 là 13,8 tỉ USD (theo số liệu từ Ngân hàng Thế giới). Năm
2018, số kiều hối gửi về nước đã lên tới gần 16 tỉ USD, tăng gấp hơn 100 lần so
với năm 1993. Dù chịu tác động bởi đại dịch Covid-19, lượng kiều hối về Việt
Nam năm 2021 vẫn tăng 5,2% so với năm 2020, ước đạt 18,1 tỷ USD.
3.
Đối ngoại nhân dân
Cùng với những hoạt động
đối ngoại của Đảng và Nhà nước, hoạt động đối ngoại nhân dân (của các tổ chức,
đoàn thể nhân dân, các địa phương) cũng diễn ra với nhiều hình thức phong phú,
đa dạng. Các tổ chức hữu nghị và các hội nghề nghiệp đã tranh thủ được sự hợp
tác ngày càng sâu rộng của các đối tác nước ngoài. Quan hệ đoàn kết giữa nhân
dân Việt Nam với nhân dân các nước trên thế giới ngày càng được tăng cường mạnh
mẽ, xây dựng hình ảnh tốt đẹp với bạn bè quốc tế, đấu tranh dư luận về các vấn
đề dân chủ, nhân quyền, tôn giáo... tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ của các tổ
chức nhân dân các nước, các tổ chức phi chính phủ và quốc tế đối với công cuộc
đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta, cụ thể là:
Mở rộng và đa phương hoá,
đa dạng hoá quan hệ đối tác. Cùng với việc củng cố quan hệ với các tổ chức dân
chủ và tiến bộ, các tổ chức bạn bè truyền thống, đối ngoại nhân dân đã thiết
lập quan hệ đối tác với nhiều tổ chức nhân dân, các tổ chức phi chính phủ nước
ngoài, mở rộng địa bàn hoạt động và quan hệ với nhân dân các nước trên thế
giới. Một số tổ chức nhân dân đã tham gia và phát huy được vai trò tích cực
trong các tổ chức, cơ chế đa phương.
Các hoạt động của các hội
hữu nghị nhân dân có nhiều đổi mới về nội dung và phương thức hoạt động, ngoài
các lĩnh vực hoà bình, đoàn kết, hữu nghị truyền thống, nhiều mối quan hệ được
mở rộng, chú trọng gắn với thúc đẩy hợp tác kinh tế, văn hoá, du lịch, giáo
dục, khoa học, công nghệ... Việt Nam có quan hệ với 1.200 tổ chức phi chính
phủ, trong đó trên 500 tổ chức có hoạt động thường xuyên tại Việt Nam. Giá trị
viện trợ phi chính phủ nước ngoài giải ngân trong giai đoạn 2003-2020 đạt trên
5 tỷ USD (viện trợ không hoàn lại), được triển khai ở tất cả 63 tỉnh thành
trong cả nước với hàng chục nghìn chương trình, dự án xoá đói giảm nghèo, khắc
phục hậu quả chiến tranh, chăm sóc sức khỏe cộng đồng, phòng trừ dịch bệnh, bảo
vệ môi trường, giải quyết các vấn đề xã hội, hạ tầng, y tế, giáo dục và liên
quan tới biến đổi khí hậu, phát triển bền vững.
Mở rộng và đa dạng hoá
các lực lượng tham gia hoạt động đối ngoại nhân dân. Bên cạnh các tổ chức chính
trị - xã hội, nhiều tổ chức xã hội - nghề nghiệp đã ra đời và tích cực tham gia
công tác đối ngoại nhân dân. Nhiều cơ quan, trường học, viện nghiên cứu, các
trung tâm, các đơn vị sự nghiệp... là đối tác của các tổ chức phi chính phủ
nước ngoài. Riêng hệ thống Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam đến năm 2021
đã có 116 tổ chức thành viên (64 tổ chức hữu nghị song phương và đa phương, 52
Liên hiệp các tổ chức hữu nghị tỉnh, thành phố).
Đạt được kết quả hoạt
động đối ngoại qua hơn 35 đổi mới là do Đảng ta rất dày dạn kinh nghiệm, rất
sắc sảo, đầy bản lĩnh trong chỉ đạo thực hiện. Những bài học kinh nghiệm đối
ngoại là: Một là, kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại; xử lý
hài hoà mối quan hệ giữa lợi ích quốc gia - dân tộc và nghĩa vụ, trách nhiệm
quốc tế; Hai là, sự kiên định về nguyên tắc và linh hoạt trong sách lược; Ba
là, xây dựng sự đoàn kết, đồng thuận trong toàn Đảng, toàn quân và toàn dân như
lời căn dặn của Bác Hồ: “Sự nghiệp làm nên bởi chữ Đồng”; Bốn là, công tác xây
dựng tổ chức bộ máy và công tác cán bộ mà lâu nay chúng ta vẫn thường nói là
“cái gốc của mọi công việc”; Năm là, bao trùm tất cả là bài học về sự lãnh đạo
thống nhất, tuyệt đối của Đảng, sự quản lý tập trung của Nhà nước./.