Thứ Ba, 25 tháng 9, 2018


BÀI HỌC QUÝ GIÁ CHO CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI CỦA VIỆT NAM
NHÌN TỪ CÁCH MẠNG THÁNG MƯỜI

Trải qua hơn một thế kỷ với rất nhiều biến động lớn, song những tinh hoa, giá trị thời đại của cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga vẫn tỏa sáng, là nguồn động lực lớn thôi thúc và khơi dậy tinh thần cách mạng của nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới, trong đó có nhân dân Việt Nam và Đảng Cộng sản Việt Nam trên con đường đổi mới đất nước, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế. 
Đánh giá về vai trò, ý nghĩa của Cách mạng Tháng Mười Nga, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Giống như mặt trời chói lọi, Cách mạng Tháng Mười chiếu sáng khắp năm châu, thức tỉnh hàng triệu người bị áp bức, bóc lột trên trái đất. Trong lịch sử loài người chưa từng có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa to lớn và sâu xa như thế”; “Thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Mười Nga đã dạy cho giai cấp công nhân, nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới nhiều bài học hết sức quý báu, bảo đảm cho sự nghiệp giải phóng triệt để của giai cấp công nhân và của cả loài người”.
Tiếp bước những thành tựu của Cách mạng Tháng Mười Nga, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, cách mạng Việt Nam đã đi theo quỹ đạo của chủ nghĩa xã hội. Trước đòi hỏi của thực tiễn những năm cuối thập kỷ 80 của thế kỷ XX, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, năm 1986 Việt Nam đã tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện và phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Sự nghiệp đổi mới của Việt Nam hơn 30 năm qua, có sự soi sáng, cổ vũ của thắng lợi Cách mạng Tháng Mười, cách mạng Việt Nam soi vào từ đó đổi mới trên cơ sở nhìn lại thiết kế của một xã hội mới mà Đảng Bolshevik, Nga đứng đầu là Lênin cũng như những thiết kế, những tư tưởng của Cách mạng Tháng Mười để lại.
          Phó Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương GS.TS Tạ Ngọc Tấn nhấn mạnh, cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại thực sự mở ra một kỷ nguyên mới cho nhân loại. Một kỷ nguyên không chỉ đi lên chủ nghĩa xã hội mà kỷ nguyên thay đổi cả cuộc sống, lối sống của cả thế giới, trong đó bao gồm cả các nước tư bản. Chính thành tựu to lớn của Cách mạng Tháng Mười Nga ở các nước Xô Viết, trong cả hệ thống xã hội chủ nghĩa trên thế giới nhưng mà nó lại dẫn tới sự sụp đổ vào năm 1991, trở thành bài học xương máu cho chúng ta, nhất là đất nước như Việt Nam đang đi theo và xây dựng chủ nghĩa xã hội.
          Từ những nguyên nhân và bài học kinh nghiệm sau các sự kiện chính trị xảy ra ở Liên Xô và các nước Đông Âu, Đảng ta đã kiên quyết khắc phục những sai lầm, thiếu sót trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Nguyên tắc chỉ đạo sự nghiệp đổi mới được Đảng ta luôn quán triệt là: Đổi mới trên nền tảng Chủ nghĩa Marx - Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vì độc lập dân tộc, vì chủ nghĩa xã hội. Trong bất kỳ điều kiện, hoàn cảnh nào cũng không dao động, bi quan, đổi hướng, thay đổi mục tiêu đã chọn, đó là từng bước hiện thực hóa con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn - con đường Cách mạng Tháng Mười Nga. 
GS.TS Mạch Quang Thắng, Viện Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh “Con đường đi lên chủ nghĩa cộng sản vẫn là mục tiêu phấn đấu của Việt Nam và một số nước khác. Mục tiêu này phản ánh sự tất yếu của các nước, sớm hay muộn cũng đi lên chủ nghĩa cộng sản, tất nhiên bằng con đường khác nhau và lâu dài” – GS.TS Mạch Quang Thắng chia sẻ. Đồng thời ông cũng phân tích: những nước đang xây dựng chủ nghĩa xã hội, trong đó có Việt Nam gặp nhiều khó khăn, từ lý luận đến thực tiễn. Từ lý luận, vì Marx-Engels và ngay bản thân Lenin từ hình mẫu của chính quyền Xô Viết sau Cách mạng Tháng Mười là không thể áp dụng một cách máy móc, giáo điều được mà cần phải sáng tạo, phù hợp với điều kiện lịch sử của mình. Mỗi nước có điều kiện lịch sử khác nhau và khó khăn, từ đó vận dụng vào xác minh đường lối cũng như chủ trương của Đảng trong tiến hành sự nghiệp cách mạng. 
Cũng theo GS.TS Mạch Quang Thắng, Việt Nam đang đi đúng con đường và theo mục tiêu này. Cùng với việc kiên định đi theo mục tiêu đã chọn, Cách mạng Tháng Mười Nga còn để lại những bài học kinh nghiệm quý giá đối với thực tiễn cách mạng và công cuộc đổi mới của Việt Nam như: Cần có tư duy linh hoạt phù hợp qua từng giai đoạn, luôn lấy lợi ích nhân dân làm gốc, đảm bảo dân chủ thực sự, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, xác định công tác xây dựng Đảng và cán bộ có ý nghĩa then chốt, đạt được sự công bằng thực sự về lợi ích trong quan hệ quốc tế...
          Nguyên Phó Thủ tướng Vũ Khoan cũng cho rằng, trong quá trình tiến hành đổi mới, Đảng ta luôn chú ý tới việc lấy lợi ích nhân dân làm gốc, đảm bảo dân chủ thực sự. “Mọi thắng lợi của bất kỳ cuộc cách mạng nào, xuất phát từ chỗ có được lòng dân hay không. Và chính cuộc Cách mạng Tháng Mười đáp ứng đúng nguyện vọng của người dân lao động, nên đã được sự ủng hộ của tất cả các tầng lớp nhân dân lao động. Nếu giữ vững được lòng tin đối với nhân dân lao động, đối với Đảng cầm quyền thì Đảng đó có vị trí rất vững chãi trong lòng dân và nhờ vậy có vị trí vững chãi trên chính trường.
          Trong tình hình hiện nay khi các thế lực thù địch ráo riết lợi dụng mọi điều kiện để thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” và các hoạt động chống phá, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, kích động chia rẽ nhằm lật đổ vai trò lãnh đạo của các Đảng Cộng sản, xóa bỏ hoàn toàn chế độ xã hội chủ nghĩa trên phạm vi toàn thế giới, thì bài học về bảo vệ chính quyền, bảo vệ thành quả cách mạng của Cách mạng Tháng Mười Nga có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc.
          Như Lenin từng nói: “Giành chính quyền đã khó, giữ chính quyền khó hơn”. Trong mọi hoàn cảnh, yếu tố “tự bảo vệ” luôn giữ vai trò quyết định sự tồn vong, phát triển vững mạnh của Đảng, Nhà nước và chế độ. 
Bảo vệ Tổ quốc là toàn dân, trong đó nòng cốt là lực lượng vũ trang nhân dân; tăng cường củng cố quốc phòng đủ mạnh theo quan điểm của Đảng là nền quốc phòng hòa bình, độc lập tự chủ, tự lực, tự cường. Và một yếu tố cuối cùng, không thể thiếu được là kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, phát huy tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội của toàn dân, đặc biệt là thế hệ trẻ.
Theo dòng chảy của lịch sử, một thế kỷ đã trôi qua nhưng một điều chắc chắn là các bài học của Cách mạng Tháng Mười vẫn còn nguyên giá trị và ý nghĩa thời đại. Những bài học đó vẫn luôn tỏa sáng soi đường, dẫn lối cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta quyết tâm vượt qua mọi khó khăn, thách thức, đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, phấn đấu thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng, vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, vững bước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, con đường mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta kiên định lựa chọn.
TV


Thứ Năm, 20 tháng 9, 2018


HÃY CÓ CÁI NHÌN ĐẦY ĐỦ VỀ GIÁO DỤC VIỆT NAM

Như vậy là hàng triệu học sinh, sinh viên Việt Nam đã bước vào năm học mới, năm học 2018-2019. Những ngày này, có nhiều ý kiến trên các trang mạng xã hội, do nhận thức chưa đầy đủ hay vì một lý do, mục đích nào khác có những cái nhìn thật sự lệch lạc về giáo dục Việt Nam.
Lợi dụng câu chuyện giảng dạy đánh vần theo cuốn Tiếng Việt 1 - Công nghệ giáo dục của một nhà giáo gần đây, đặc biệt trước đó là những sai phạm xảy ra ở hội đồng thi tốt nghiệp trung học phổ thông tại Hà Giang, Sơn La và Hòa Bình, một số người vốn có cái nhìn thiếu thiện chí đã cố tình phức tạp hóa vấn đề. Một số đối tượng thù địch triệt để lợi dụng cơ hội để gắn đề giáo dục với vấn đề chính trị với những mục đích xấu.
Về những sai phạm trong kỳ thi trung học phổ thông quốc gia kể trên, ngay sau khi xảy ra vụ việc, những người gây ra sai phạm đã bị cơ quan chức năng khởi tố, bắt tạm giam vì đã phạm tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong thi hành công vụ. Sự vào cuộc kịp thời, khẩn trương, quyết liệt của các cơ quan chức năng góp phần nhanh chóng làm sáng tỏ vụ việc, rút kinh nghiệm trong việc tổ chức kỳ thi trung học phổ thông quốc gia ngày càng được bảo đảm nghiêm túc, chặt chẽ hơn.
Còn về câu chuyện giảng dạy đánh vần theo cuốn Tiếng Việt 1 - Công nghệ giáo dục, đại diện lãnh đạo Bộ Giáo dục và đào tạo đã khẳng định, cuốn tài liệu về cơ bản bảo đảm các yêu cầu về mục tiêu, chuẩn kiến thức kỹ năng của môn Tiếng Việt lớp 1 trong Chương trình giáo dục phổ thông cấp tiểu học. Tài liệu này là một trong những phương án để các địa phương lựa chọn nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Việt lớp 1, nhất là với học sinh vùng khó khăn, vùng dân tộc thiểu số. Tuy nhiên, sẽ không mở rộng triển khai chương trình để giữ ổn định cho đến khi thực hiện Chương trình giáo dục phổ thông mới được triển khai từ năm học 2019-2020.
Cần phải khẳng định rằng, nền giáo dục Việt Nam luôn vận động theo sự phát triển của xã hội, cho phù hợp với từng thời kỳ lịch sử và đáp ứng với yêu cầu của từng giai đoạn cách mạng. Hiện nay, chúng ta đang sơ kết thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT. Kể từ khi thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW của Đảng từ năm 2013 đến nay, nhiều đổi mới trong ngành giáo dục có tín hiệu khả quan. Một trong những thành tựu của ngành giáo dục thời gian qua là chất lượng giáo dục mũi nhọn tiếp tục được giữ vững, nổi bật là các đoàn học sinh Việt Nam tham dự Olympic quốc tế hằng năm đều đoạt giải cao. Theo báo cáo được Ngân hàng Thế giới (WB) công bố ngày 15-3-2018, 7 trong số 10 hệ thống giáo dục hàng đầu thế giới đang nằm ở khu vực Đông Á-Thái Bình Dương, trong đó sự phát triển thực sự ấn tượng thuộc về hệ thống giáo dục của Việt Nam và Trung Quốc. Đầu tháng 6-2018, QS (Quacquarelli Symonds) của Anh quốc-một trong những bảng xếp hạng có uy tín hàng đầu thế giới-đã công bố bảng xếp hạng tốp 1.000 trường đại học thế giới, trong đó lần đầu tiên Việt Nam có hai đại diện là Đại học Quốc gia Hà Nội và Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh. Những kết quả này thêm một lần khẳng định quá trình đổi mới của giáo dục Việt Nam đang đi đúng hướng, được nhiều tổ chức quốc tế có uy tín ghi nhận. 
Bên cạnh đó, giáo dục Việt Nam cũng phải đang phải vượt qua những thách thức không nhỏ. Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam, nhất là đội ngũ cán bộ quản lý, nhà giáo đã nhận thấy những bất cập, hạn chế của ngành giáo dục cần phải khắc phục và quyết tâm vượt qua.
Dẫu sao khi nhìn nhận, đánh giá về giáo dục rất cần phải được xem xét toàn diện, thấu đáo, không nên lấy sự vật, hiện tượng để quy về bản chất vấn đề, lấy những nội dung đang còn tranh luận để phủ nhận những nỗ lực đổi mới giáo dục cũng như những thành quả giáo dục của Việt Nam trong những năm qua. Nhận thức như thế là chưa đầy đủ.
HƯỚNG DƯƠNG

Thứ Tư, 19 tháng 9, 2018


KẺ XẤU TÌM CÁCH XUYÊN TẠC VỀ GIÁO DỤC VIỆT NAM
Chuyện bé xé ra to, gắn vấn đề giáo dục với mưu đồ chính trị
Nguyên cớ khởi đầu từ một clip đăng trên trang mạng xã hội quay cảnh một người được cho là giáo viên tiểu học đang hướng dẫn phụ huynh cách dạy con lớp 1 đánh vần theo cuốn Tiếng Việt 1-Công nghệ giáo dục (TV1-CNGD) của một giáo sư. Một câu chuyện giảng dạy theo phương pháp mới tưởng như bình thường, nhưng nó bị đẩy lên quá mức làm “nóng” dư luận. Nhân cơ hội này, một số người vốn có cái nhìn định kiến, cực đoan và những kẻ có tư tưởng cơ hội chính trị, bất mãn, thù hằn với chế độ Việt Nam đã cố tình làm to chuyện, phức tạp hóa vấn đề, thậm chí gắn vấn đề giáo dục với vấn đề chính trị với những toan tính xấu.
Không chỉ đưa ra các nhận định đầy miệt thị, ác ý như: “Cải cách giáo dục của Việt Nam mấy chục năm nay thất bại vì tư duy tiểu nông, vì bóc ngắn cắn dài”, “Giáo dục Việt Nam trong 30 năm qua không chỉ rối loạn bởi các đề án hoang tưởng tiêu tốn hàng ngàn tỷ đồng mà còn đối diện với cuộc khủng hoảng suy đồi đạo đức nghiêm trọng khiến niềm tin vào những gì được gọi là “cải cách” sụp đổ”; có người còn đưa ra cái gọi là “kiến nghị” rằng: “Nếu không làm được một bộ sách giáo khoa cho ra hồn, giải pháp khả thi là mua một bộ sách giáo khoa của Anh, Mỹ về cho các cháu học, cháu nào học được thì học mà không học được thì dịch ra tiếng Việt mà học”(!). Rồi một số người lại đề xuất cái gọi là “khuyến cáo”: “Những thiên thần vô tội không nên và không thể tiếp tục bị đem ra làm vật hy sinh cho các tranh cãi liên miên về cải cách giáo dục và chương trình-sách giáo khoa hay các thử nghiệm cải cách thi cử”. Họ còn lên tiếng lu loa: “Ý thức hệ giáo điều trong quá trình chuyển đổi sang kinh tế thị trường vẫn gây nên sự ngộ nhận chủ nghĩa xã hội là mục tiêu cải cách khiến cho mục đích giáo dục thiếu tính thực tế, sai với lẽ tự nhiên”(!)...
Trước đó, lợi dụng những sai phạm xảy ra ở Hội đồng thi Sở Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) ba tỉnh: Hà Giang, Sơn La và Hòa Bình, một số ý kiến cũng tỏ thái độ hằn học khi cho rằng “gian lận thi cử ở Hà Giang là bi kịch từ lỗi hệ thống”; “sự thối nát của nền giáo dục Việt có căn gốc từ thể chế chính trị”(!).
Những lời lẽ trên cần phải phê phán, bác bỏ vì nó đã được nhìn nhận qua “lăng kính màu đen”, đánh đồng hiện tượng với bản chất, lợi dụng vấn đề giáo dục để đan cài mục đích chính trị thiếu lành mạnh.
Về những sai phạm trong kỳ thi THPT quốc gia ở ba tỉnh nêu trên, ngay sau khi xảy ra vụ việc, những người gây ra sai phạm đã bị cơ quan chức năng khởi tố, bắt tạm giam vì đã phạm tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong thi hành công vụ. Những bài thi, thí sinh được nâng điểm thi qua quá trình thẩm định chặt chẽ đã bị hạ điểm thi theo đúng quy chế. Có thể nói rằng, sự vào cuộc kịp thời, khẩn trương, quyết liệt của các cơ quan chức năng góp phần nhanh chóng làm sáng tỏ vụ việc để dư luận xã hội hiểu đúng tình hình; tin tưởng vào việc tổ chức kỳ thi THPT quốc gia ngày càng được bảo đảm nghiêm túc, chặt chẽ hơn.
Không thể phủ nhận những thành tựu và nỗ lực đổi mới của giáo dục Việt Nam
Có thể nói rằng, việc nhiều người dân cũng như dư luận xã hội quan tâm đến những đổi mới của lĩnh vực giáo dục nói chung, chương trình cải cách giáo dục và sách giáo khoa nói riêng, là điều bình thường, vì sự nghiệp giáo dục là sự nghiệp của toàn dân. Người dân lo toan đến giáo dục là lo toan đến vận mệnh đất nước. Thế nhưng, cần tỉnh táo nhận diện, phân biệt đâu là những ý kiến thẳng thắn, tâm huyết, trách nhiệm, vì lợi ích chung; đâu là ý kiến đội danh “phản biện” mà “biện” thì ít, còn “phản” thì nhiều! Mặt khác, khi nhìn nhận, đánh giá về vấn đề giáo dục rất cần có thái độ thận trọng, khách quan và cái nhìn biện chứng, khoa học.
Ví như khi nhận định về tài liệu TV1-CNGD, không nên và cũng không thể chỉ lấy một phương pháp đánh vần mới, không giống cách đánh vần truyền thống, rồi đưa ra hai thái cực, hoặc là phủ nhận hoàn toàn, hoặc là ủng hộ tuyệt đối. Về vấn đề này, đại diện lãnh đạo Bộ GD&ĐT đã khẳng định, tài liệu TV1-CNGD về cơ bản bảo đảm các yêu cầu về mục tiêu, chuẩn kiến thức kỹ năng của môn Tiếng Việt lớp 1 trong Chương trình giáo dục phổ thông (GDPT) cấp tiểu học. Tài liệu này là một trong những phương án để các địa phương lựa chọn nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Việt lớp 1 trong Chương trình GDPT hiện hành, nhất là với học sinh vùng khó khăn, vùng dân tộc thiểu số. Tuy nhiên, sẽ không mở rộng triển khai chương trình để giữ ổn định cho đến khi thực hiện Chương trình GDPT mới được triển khai từ năm học 2019-2020.
Mặc dù cơ quan chức năng đã thông tin chính thức như vậy, nhưng một số người coi việc đánh vần “lạ” theo tài liệu TV1-CNGD như là cái cớ để “xới tung” một vấn đề không mới, nhưng lại ẩn chứa những dụng ý chính trị cũ rích khi cho rằng, giáo dục Việt Nam “rối rắm vì thiếu triết lý”, lại “không cải tiến được vì không có làn gió mới, máu mới vào nền giáo dục”, rồi từ đó phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp giáo dục, xuyên tạc bản chất của nền giáo dục cách mạng Việt Nam đã được bao thế hệ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục bền bỉ vun trồng, bồi đắp suốt 73 năm qua.
Thực tế, nền giáo dục Việt Nam luôn vận động theo sự phát triển của xã hội. Việt Nam đã tiến hành ba lần cải cách giáo dục (các năm 1950, 1956, 1981) cho phù hợp với từng thời kỳ lịch sử và đáp ứng với yêu cầu của từng giai đoạn cách mạng. Hiện nay, sự nghiệp đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT theo tinh thần Nghị quyết số 29-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI, đang được triển khai tích cực với những bước đi, giải pháp phù hợp.
Theo đánh giá của nhiều chuyên gia giáo dục, kể từ khi thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW của Đảng từ năm 2013 đến nay, nhiều đổi mới trong ngành giáo dục có tín hiệu khả quan. Việc triển khai chương trình GDPT mới đang đi đúng lộ trình. Theo kế hoạch đề ra đến năm học 2019-2020, chương trình GDPT mới sẽ được triển khai ở bậc tiểu học, bắt đầu từ lớp 1. Đến nay, đã có 24 trường đại học thí điểm tự chủ. Một trong những thành tựu của ngành giáo dục thời gian qua là chất lượng giáo dục mũi nhọn tiếp tục được giữ vững, nổi bật là các đoàn học sinh Việt Nam tham dự Olympic quốc tế hằng năm đều đoạt giải cao. Trong tháng 7-2018 vừa qua, 100% thí sinh Việt Nam dự thi Olympic quốc tế các môn: Vật lý, Toán học, Hóa học, Sinh học đều đoạt huy chương (gồm 7 huy chương vàng, 6 huy chương bạc, 5 huy chương đồng), trong đó, Việt Nam là một trong 10 nước đoạt từ hai huy chương vàng trở lên và xếp thứ hạng cao tại cuộc thi Olympic Vật lý quốc tế; đặc biệt thí sinh Nguyễn Phương Thảo đạt tổng điểm cao nhất cuộc thi trên tổng số 261 thí sinh tại Olympic Sinh học quốc tế tổ chức ở Iran.
Theo báo cáo được Ngân hàng Thế giới (WB) công bố ngày 15-3-2018, 7 trong số 10 hệ thống giáo dục hàng đầu thế giới đang nằm ở khu vực Đông Á-Thái Bình Dương, trong đó sự phát triển thực sự ấn tượng thuộc về hệ thống giáo dục của Việt Nam và Trung Quốc. WB gọi Việt Nam và Trung Quốc là hai quốc gia tiên phong trong đổi mới giáo dục. Đầu tháng 6-2018, QS (Quacquarelli Symonds) của Anh quốc-một trong những bảng xếp hạng có uy tín hàng đầu thế giới-đã công bố bảng xếp hạng tốp 1.000 trường đại học thế giới, trong đó lần đầu tiên Việt Nam có hai đại diện là Đại học Quốc gia Hà Nội và Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh. Những kết quả này thêm một lần khẳng định quá trình đổi mới của giáo dục Việt Nam đang đi đúng hướng, được nhiều tổ chức quốc tế có uy tín ghi nhận.    
Vượt qua thách thức, tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng toàn diện giáo dục
Tất nhiên, nói thế không có nghĩa là giáo dục Việt Nam chỉ có những thành tựu, mà cũng đang phải vượt qua những thách thức không nhỏ. Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam, nhất là đội ngũ cán bộ quản lý, nhà giáo đã nhận thấy những bất cập, hạn chế của ngành giáo dục cần phải khắc phục, đó là: Chương trình học có môn còn quá tải; phương pháp dạy học còn thiên về truyền thụ kiến thức nên chưa phát huy được tính tích cực của người học; việc kiểm tra, thi cử còn nặng về điểm số dẫn tới áp lực cho học sinh; giáo dục đại học chưa đáp ứng đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước…
Nhận thức sâu sắc vấn đề đó, những năm qua, Đảng, Nhà nước Việt Nam đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách nhằm từng bước khắc phục những tồn tại trong lĩnh vực giáo dục, tiếp tục đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục theo hướng chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học; đổi mới hệ thống giáo dục theo hướng mở, linh hoạt, liên thông giữa các bậc học, trình độ và giữa các phương thức GD&ĐT; xây dựng nền giáo dục mở, thực học, thực nghiệp; bảo đảm các điều kiện nâng cao chất lượng; chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế hệ thống GD&ĐT. Từ đầu năm 2018 đến nay, nhiều phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và kỳ họp của Quốc hội đã góp ý, thảo luận sôi nổi về việc sửa đổi Luật Giáo dục và Luật Giáo dục Đại học hiện hành để sớm thông qua vào kỳ họp gần nhất. Động thái này của Quốc hội cũng không ngoài mục đích tạo ra “cú hích” mới, động lực mới thúc đẩy sự phát triển giáo dục nước nhà trong thời gian tới.
Giáo dục liên quan đến mọi người, mọi nhà và ảnh hưởng mật thiết đến sự ổn định, phát triển của quốc gia. Do vậy, khi nhìn nhận, đánh giá về giáo dục rất cần phải được xem xét toàn diện, thấu đáo ở mọi khía cạnh, đặt trong mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng, giữa những thành quả đổi mới đã đạt được và những sức ỳ, lực cản trong lộ trình đổi mới cần phải khắc phục. Không nên lấy một vài cái sai đơn lẻ trong hoạt động giáo dục hay những vấn đề đang còn tranh luận để phủ nhận những nỗ lực đổi mới giáo dục cũng như những thành quả giáo dục của Việt Nam trong những năm qua. Vì điều đó làm tổn thương đến tình cảm, niềm tin, tinh thần nhiệt huyết, trách nhiệm cao cả của hơn 1,2 triệu giáo viên, giảng viên và hàng vạn cán bộ quản lý giáo dục đang lặng thầm cống hiến cho sự nghiệp “trồng người”.
TRUNG LẬP


ĐAN XEN LỢI ÍCH VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG ĐẾN

QUỐC PHÒNG, AN NINH, BẢO VỆ TỔ QUỐC HIỆN NAY

          1. Nhận thức chung về đan xen lợi ích
Khi nhận định, đánh giá về tình hình thế giới những năm tới, văn kiện đại hội XII của Đảng khẳng định “Cục diện thế giới theo xu hướng đa cực, đa trung tâm diễn ra nhanh hơn. Các nước lớn điều chỉnh chiến lược, vừa hợp tác, vừa thỏa hiệp, vừa cạnh tranh, đấu tranh, kiềm chế lẫn nhau, tác động mạnh đến cục diện thế giới và các khu vực. Những biểu hiện của chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa cường quyền áp đặt, chủ nghĩa thực dụng ngày càng nổi lên trong quan hệ quốc tế; các thể chế đa phương đứng trước những thách thức lớn. Các nước đang phát triển, nhất là những nước vừa và nhỏ đang đứng trước những cơ hội và khó khăn, thách thức lớn trên con đường hội nhập, phát triển. Trong bối cảnh đó, tập hợp lực lượng, liên kết, cạnh tranh, đấu tranh giữa các nước trên thế giới và khu vực vì lợi ích của từng quốc gia tiếp tục diễn ra rất phức tạp1. Cục diện và những diễn biến đó hoàn toàn là khách quan mà nguyên nhân chính của việc hình thành cục diện đó là vấn đề đan xen lợi ích. Trong quan hệ quốc tế hiện nay, đan xen lợi ích là tất yếu, là trạng thái phổ biến. Thực chất của vấn đề này là việc giữa các quốc gia có sự trùng hợp về lợi ích, trong lợi ích của quốc gia này có lợi ích của quốc gia khác và ngược lại. Đó là đan xen lợi ích song phương, nhưng trên thực tế, đan xen lợi ích rất đa dạng, phức tạp bởi không chỉ đan xen lợi ích giữa các quốc gia với nhau mà còn đan xen lợi ích giữa các quốc gia dân tộc với các trung tâm, các cực của thế giới đa cực, đan xen lợi ích cả với các tổ chức, các diễn đàn quốc tế và khu vực. Đây là kết quả của sự vận động, phát triển tất yếu của xu thế toàn cầu hóa, khu vực hóa; sự chia sẻ các giá trị địa lý, lịch sử, văn hóa giữa các quốc gia, các khu vực trên thế giới và sự điều chỉnh chiến lược, chính sách của các quốc gia phù hợp với xu thế phát triển chung. Quá trình hình thành trạng thái đan xen lợi ích có nhiều biểu hiện khác nhau trên tất cả các lĩnh vực của đời sống quốc tế, cụ thể:
Đan xen lợi ích trên lĩnh vực kinh tế: Đây là lĩnh vực đan xen lớn nhất và sâu nhất, là nền tảng của các sự đan xen khác. Xuất phát ban đầu của trạng thái đan xen lợi ích về kinh tế là khi các quốc gia đẩy mạnh hoạt động thương mại, đầu tư, liên doanh, liên kết với nhau. Việc mở rộng thị trường chung là nhân tố cơ bản thúc đẩy gia tăng quá trình này. Cùng với đó, xu thế toàn cầu hóa ngày càng phát triển làm cho đan xen lợi ích về kinh tế càng phổ biến và sâu sắc hơn. Trong xu thế này, các quốc gia chủ động thúc đẩy quan hệ hợp tác kinh tế với nhau và với các tổ chức, các diễn đàn kinh tế quốc tế và khu vực đã đẩy nhanh mức độ gắn kết về lợi ích kinh tế, tạo ra tình trạng tùy thuộc lẫn nhau ngày càng lớn. Sự tùy thuộc lẫn nhau đó làm cho mức độ đan xen lợi ích cũng ngày càng lâu dài và bền chặt.
  Đan xen lợi ích trên lĩnh vực chính trị: Ban đầu, đan xen lợi ích về chính trị xảy ra khi các quốc gia dân tộc có cùng chế độ chính trị - xã hội. Song, hiện nay, chỉ cần các quốc gia có chung quan điểm, tầm nhìn về các vấn đề quốc tế; có một số mục tiêu, chính sách chung; có lòng tin và các cơ chế hợp tác chung từ chia sẻ thông tin đến phối hợp hành động và xử lý các vấn đề tranh chấp. Trên cơ sở đó, các quốc gia triển khai hợp tác, tăng cường mức độ đan xen lợi ích thông qua các cơ chế hợp tác.
  Đan xen lợi ích trên lĩnh vực văn hóa - xã hội: Đan xen lợi ích về văn hóa xã hội biểu hiện qua mối quan hệ giao lưu nhân dân ở nhiều lĩnh vực khác nhau. Các yếu tố tương đồng về lịch sử, văn hóa, ngôn ngữ, tôn giáo... sẽ tạo ra những điều kiện khách quan cho tiến trình đan xen lợi ích về văn hóa xã hội. Việc các quốc gia ban hành các cơ chế, chính sách thông thoáng cho người dân và doanh nghiệp giao lưu, học tập, du lịch, tìm kiếm cơ hội việc làm, định cư... làm gia tăng đan xen lợi ích về văn hóa - xã hội.
  Đan xen lợi ích trên lĩnh vực quốc phòng - an ninh: Đan xen lợi ích về quốc phòng - an ninh hình thành khi các quốc gia có chung nhận thức về các thách thức và mối de dọa an ninh truyền thống và phi truyền thống. Vấn đề nền tảng để đan xen lợi ích trên lĩnh vực quốc phòng - an ninh là nguyên tắc, quan điểm xác định bạn, thù có thể thay đổi; chỉ có lợi ích quốc gia dân tộc là vĩnh viễn. Và các cơ chế hợp tác trên lĩnh vực này là chia sẻ thông tin tình báo, huấn luyện chung, tập trận chung, phối hợp hành động chung... để tiến tới hình thành các hiệp ước phòng thủ chung, liên minh quân sự và các dàn xếp an ninh tập thể.
Hiện nay, trong quan hệ quốc tế nổi lên đan xen lợi ích giữa Mỹ - Trung Quốc trên tất cả các lĩnh vực. Đây không những là đan xen lợi ích lớn nhất thể hiện xu thế vừa hợp tác, vừa thỏa hiệp, vừa cạnh tranh, đấu tranh, kiềm chế lẫn nhau của cục diện thế giới hiện hành mà còn là trục quan hệ quốc tế giữa quốc gia đứng đầu và tiệm tại đứng đầu thế giới; là đỉnh cao trong quan hệ quốc tế đồng thời là mối quan hệ trung tâm, có sự chi phối, ảnh hưởng đến các quan hệ quốc tế khác và tham gia xác lập trật tự thế giới trong thế kỷ XXI.
          2. Những tác động của đan xen lợi ích đến quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay
          *Tác động tích cực
          Đan xen lợi ích buộc các nước phải kiềm chế các hành động quá khích, cực đoan trong quan hệ quốc tế. Đan xen lợi ích là hạt nhân cốt lõi của các mối quan hệ quốc tế. Bởi vì, sự hiểu biết lẫn nhau, lòng tin về nhau và đặc biệt vấn đề lợi ích chung luôn là nền tảng của quá trình hợp tác giữa các nước. Mức độ đan xen lợi ích càng sâu rộng thì sự hợp tác với nhau càng bền vững, lâu dài và càng có nhiều cơ chế phối hợp hành động, có nhiều kênh đối thoại, hợp tác để bảo vệ sự ổn định của quan hệ; ở mức độ cao nhất đan xen lợi ích có thể dẫn đến hòa hợp lợi ích. Cho nên, trạng thái đan xen lợi ích sẽ ràng buộc, điều chỉnh và buộc các nước, các chủ thể quan hệ quốc tế phải thay đổi quan điểm, nhận thức, hành động trong xử lý và giải quyết các vấn đề quốc tế, khu vực. Khi đã có sự đan xen lợi ích với nhau, các bên sẽ phải kiềm chế các hành động quá khích, cực đoan, nhất là hành động xâm phạm lẫn nhau vì bất kể bên nào bị xâm phạm lợi ích thì mối quan hệ sẽ xấu đi. Khi mối quan hệ xấu đi sẽ trực tiếp tác động, ảnh hưởng xấu đến lợi ích của các bên có liên quan. Sự tác động đó buộc các bên phải tìm ra phương thức ứng xử với nhau trên tất cả các phương diện một cách linh hoạt nhất, êm thấm nhất theo nguyên tắc cùng có lợi. Điều này đồng nghĩa với đan xen lợi ích tạo ra hành lang thông thoáng cho các bên liên quan nhanh chóng giải quyết những những tranh chấp, bất đồng, mâu thuẫn về lợi ích. Đây là thời cơ và điều kiện thuận lợi để Việt Nam tranh thủ sự hợp tác, mặt đồng thuận để hạn chế, khắc phục mặt bất đồng, những mâu thuẫn trong quan hệ quốc tế. Đồng thời, đây là chìa khóa để giải quyết những tranh chấp về chủ quyền, quyền chủ quyền trên khu vực biển Đông trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc hiện nay.
          Đan xen lợi ích còn làm giảm khả năng xảy ra xung đột quân sự trực tiếp, hạn chế nguy cơ chiến tranh, nhất là cuộc chiến tranh bằng vũ khí hủy diệt lớn. Bởi vì, đan xen lợi ích buộc các bên phải kiềm chế các hành động gây hấn, xâm phạm lợi ích của nhau - nguyên nhân cơ bản của xung đột quân sự và chiến tranh. Ngoài ra, dưới tác động của cục diện thế giới hiện hành làm cho giữa các nước mà từ trước đến nay vẫn luôn coi nhau là đối thủ, là kẻ thù thì vẫn có sự hợp tác và đan xen lợi ích trên các lĩnh vực. Có nghĩa là trong một số đối tượng của cách mạng nước ta nhưng vẫn có thể có mặt cần tranh thủ hợp tác. Ngược lại, trong một số đối tác vẫn có thể có mặt khác biệt, mâu thuẫn với lợi ích của ta cần phải đấu tranh. Trong tình trạng đan xen lợi ích như hiện nay không có đối tượng, đối tác một cách thuần túy. Bất kỳ một bên nào đó cũng phải xem xét, đánh giá, cân nhắc toàn diện các mối quan hệ đan xen lợi ích đa dạng, phức tạp, chồng chéo, nhiều tầng nấc, với nhiều bên, nhiều nước (hiện tại) thay vì chỉ cần tính toán cái được - mất giữa quốc gia mình và đối phương (trước kia) trước khi quyết định hành động xung đột quân sự hay cao hơn là phát động chiến tranh. Như vậy, đan xen lợi ích thúc đẩy xu thế hòa bình, hợp tác, phát triển và nhất là sự tùy thuộc, lệ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia - dân tộc. Trong xu thế này, Việt Nam và nước mở rộng quan hệ đối ngoại, tranh thủ các nhân tố có lợi từ bên ngoài để củng cố quốc phòng, an ninh, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
          * Tác động tiêu cực
          Đan xen lợi ích không trực tiếp giải quyết các mâu thuẫn về lợi ích giữa các nước. Trong quá trình đan xen, tuy lợi ích của các bên có sự trùng hợp song vẫn bao hàm cả sự mâu thuẫn, khác biệt và sự đan xen ấy không làm triệt tiêu các mâu thuẫn về lợi ích. Nếu lợi ích chiến lược của Việt Nam có sự khác biệt với các nước khác; nhất là lại có sự khác nhau về hệ giá trị; chế độ chính trị - xã hội; quan điểm giải quyết các vấn đề quốc tế theo hướng không chấp nhận nhau, thậm chí loại trừ nhau; không có lòng tin chính trị với nhau... thì cho dù có đan xen lợi ích trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội, quốc phòng, an ninh cũng không điều hòa được các mâu thuẫn cơ bản. Trong trường hợp này, quan hệ giữa các nước rất dễ xảy ra cạnh tranh chiến lược; tranh giành vùng ảnh hưởng; tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ, tài nguyên; đấu tranh thiết lập trật tự thế giới cũng như xác lập vị thế, vai trò, tiếng nói của quốc gia - dân tộc mình.
          Đan xen lợi ích làm xuất hiện loại hình chiến tranh ủy nhiệm. Hiện nay, các nước lớn điều chỉnh chiến lược, chính sách, đẩy mạnh hoạt động kiềm chế, khuất phục, làm cho nước nhỏ không những bị bất ngờ trong đường lối, chính sách mà rất dễ bị lệ thuộc, phụ thuộc vào nước lớn, dần trở thành vệ tinh, như là khu vực sân sau, vùng đệm của nước lớn. Khi nước lớn chấp nhận bỏ qua một vài lợi ích không quan trọng của mình hoặc các nước lớn ngầm bắt tay nhau, thỏa hiệp, mặc cả với nhau về những vấn đề tuy không thuộc lợi ích cốt lõi của họ nhưng lại là lợi ích căn bản của nước nhỏ sẽ đẩy nước nhỏ vào tình thế bị hy sinh lợi ích căn bản. Điều này đồng nghĩa với việc nước nhỏ đã bị bán đứng, bị rơi vào thế mắc kẹt trong ván cờ chính trị của nước lớn; không tự quyết định được lợi ích cao nhất là vận mệnh quốc gia - dân tộc. Trong tình huống cao nhất, để thực hiện mục đích của mình, nước lớn sẽ thả lợi ích để nhử mồi và lôi kéo nước nhỏ vào vòng xoáy tiến hành cuộc chiến tranh chống lại một bên thứ ba (là lực lượng đối nghịch của nước lớn). Bản chất vấn đề là gây chiến tranh qua tay người khác - chiến tranh ủy nhiệm. Đây là tình huống chiến lược mới, rất phức tạp, nhạy cảm về quốc phòng, an ninh mà Hội nghị Trung ương 8 (khóa XI) Đảng ta đã dự báo. Theo đó, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay sẽ khó khăn và phức tạp hơn; bên cạnh việc sẵn sàng đánh bại các đối tượng truyền thống, các loại hình chiến tranh cũ chúng ta còn phải đối phó với các đối tượng mới và kiểu loại chiến tranh ủy nhiệm.
          3. Đối sách của Việt Nam
          Trong trạng thái phổ biến, tất yếu của đan xen lợi ích, chúng ta tranh thủ những tác động tích cực, hạn chế các tác động tiêu cực của nó; kiên định về nguyên tắc chiến lược; linh hoạt, sáng tạo về sách lược; đề ra đối sách trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, cụ thể là:
          Thứ nhất, thực hiện chính sách ngoại giao cân bằng, xử lý đúng đắn mối quan hệ với các nước lớn, tránh làm ảnh hưởng đến lợi ích của nước khác trong tình hình mới. Công tác đối ngoại phải “bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế2. Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa dạng hóa, đa phương hóa các quan hệ đối ngoại; tích cực, chủ động hội nhập quốc tế trên tinh thần Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy, là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế. Đặc biệt, phải “đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn quan hệ với các đối tác, nhất là các đối tác chiến lược và các nước lớn có vai trò quan trọng đối với sự phát triển và an ninh của đất nước, đưa khuôn khổ quan hệ đã xác lập vào thực chất[1]. Thực hiện điều này, hiện nay, chúng ta đã có quan hệ ngoại giao chính thức với 186 trong tổng số 193 quốc gia thành viên của Liên hợp quốc; quan hệ kinh tế thương mại với 230 quốc gia và vùng lãnh thổ; là thành viên tích cực của trên 70 tổ chức, diễn đàn quốc tế và khu vực theo đúng quan điểm thêm bạn, bớt thù, gia tăng hợp tác, tránh xung đột đối đầu, tránh bị cô lập lệ thuộc, tránh để đối tác chuyển hóa thành đối tượng... để tập hợp lực lượng, huy động và kết hợp chặt chẽ sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
          Thứ hai, giữ vững tính độc lập, tự chủ; chủ động đan xen lợi ích, nhất là về quốc phòng, an ninh với các nước đối tác mà chúng ta có quan hệ. Đây là vấn đề then chốt, là nguyên tắc định hướng đúng đắn để đối phó và thích ứng với cục diện thế giới vừa hợp tác, vừa thỏa hiệp, vừa cạnh tranh, đấu tranh, kiềm chế lẫn nhau giữa các nước lớn như hiện nay. Nếu không có đường lối độc lập, tự chủ, chúng ta sẽ không xác định được lợi ích căn bản của quốc gia - dân tộc mình ở đâu trong tổng thể sự đan xen cả sự trùng hợp và khác biệt về lợi ích phức tạp giữa các nước. Ngược lại, nếu không đan xen lợi ích với các nước chúng ta sẽ không bảo vệ được lợi ích của mình, thậm chí rơi vào thế bị lệ thuộc vào nước lớn. Quá trình này đòi hỏi Việt Nam phải có đường lối độc lập, chính sách khôn khéo, linh hoạt, một mặt thoát khỏi sự ràng buộc, không bị lệ thuộc vào bất kỳ nước nào; mặt khác tận dụng cả lực kéo và lực đẩy từ các nước để nâng cao giá trị chiến lược của mình. Qua đó, tranh thủ được nguồn lực và sức mạnh tổng hợp từ bên ngoài; vừa nâng cao thực lực của đất nước đồng thời đan xen lợi ích với nhiều nước khác nhau; thực hiện bảo vệ Tổ quốc ngay từ trong hòa bình; chủ động bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Đẩy mạnh đan xen lợi ích về quốc phòng, an ninh; tích cực tham gia cơ chế đa phương về quốc phòng, an ninh trong đó có việc tham gia các hoạt động hợp tác ở mức cao hơn như hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, diễn tập về an ninh phi truyền thống và các hoạt động khác[2].
          Thứ ba, không ngừng củng cố và tăng cường tiềm lực, thực lực của đất nước. Sau hơn 30 năm tiến hành công cuộc đổi mới, nội lực, vị thế, uy tín, tiềm lực của đất nước ngày càng lớn mạnh; chính trị - xã hội ổn định; kinh tế phát triển; quốc phòng, an ninh được củng cố; đời sống của cán bộ đảng viên và nhân dân được nâng cao. Tuy nhiên thách thức đối với đất nước mà trực tiếp là đối với sự nghiệp quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc cũng lớn hơn rất nhiều. Do đó, yêu cầu khách quan và cấp bách hơn bao giờ hết là phải khẩn trương nâng cao sức mạnh tổng hợp quốc gia. Với tiềm lực, thực lực ngày càng tăng và kết hợp thành công sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại chúng ta sẽ tránh được nguy cơ bị thỏa hiệp; không bị rơi vào thế bị động, bất ngờ khi các nước lớn điều chỉnh chiến lược, chính sách.
          Thứ tư, tăng cường củng cố vững chắc khối đại đoàn kết dân tộc. Đây là động lực cơ bản để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Lợi ích quốc gia dân tộc chỉ có thể được bảo vệ bằng đoàn kết dân tộc trên cơ sở giữ vững ổn định chính trị - xã hội, phát triển kinh tế, củng cố đồng thuận, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, đoàn kết, thống nhất từ trong Đảng đến trong dân và toàn xã hội. Điều này làm triệt tiêu khả năng nước lớn can thiệp vào công việc nội bộ, thậm chí gây ra tình trạng chia phe, tách nhóm, làm xuất hiện chiến tranh ủy nhiệm như ở một số nơi trên thế giới. Đây chính là bản chất của xây dựng thế trận lòng dân vững chắc dựa trên sự tương đồng về lợi ích quốc gia - dân tộc tối cao.
HOA SÚNG


1Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr.71.
2Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb CTQG, Hà Nội, 2016, tr.153.
[1]Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb CTQG, Hà Nội, 2016, tr.155.
[2]Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb CTQG, Hà Nội, 2016, tr.155.


“TỰ DIỄN BIẾN”, “TỰ CHUYỂN HÓA”
TRÊN LĨNH VỰC QUỐC PHÒNG, AN NINH
Trước hết là sự thiếu tin tưởng vào khả năng, sức mạnh quốc phòng, an ninh bảo vệ Tổ quốc. Hiện nay trong xã hội có một số người cho rằng: sức mạnh quốc phòng, an ninh của đất nước có nhiều hạn chế, yếu kém, khó có khả năng bảo vệ độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, nhất là việc bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Trước sự chống phá của các thế lực thù địch, hành động vi phạm chủ quyền quốc gia trên biển thì trong tư tưởng và hành vi của những người này thể hiện sự bi quan, thiếu tin tưởng càng rõ rệt, thậm chí còn hoang mang, lo sợ. Những biểu hiện ấy dẫn đến sự lệch lạc trong nhìn nhận, xem xét, xử lý các vấn đề về quốc phòng, an ninh, làm ảnh hưởng tới sức chiến đấu của lực lượng vũ trang và đối sách của Đảng, Nhà nước.
Biểu hiện thứ hai là đòi đổi mới quốc phòng, an ninh theo hướng dựa vào bên ngoài, xa rời nguyên tắc độc lập, tự chủ. “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” mức độ này thể hiện bằng việc hướng mạnh ra nước ngoài, muốn học tập và đi theo các nước lớn, để mong chờ sự giúp đỡ từ nước ngoài về quốc phòng, an ninh. Họ mong muốn nước ngoài giúp đỡ về vũ khí trang bị, đổi mới quân đội theo hướng quân đội nhà nghề. Trong họ luôn tồn tại luồng tư tưởng “phải dựa vào một nước lớn nào đó thì mới giữ được độc lập chủ quyền, bảo vệ Tổ quốc”. “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” mức độ này nghĩa là đã ngả sang thế lực thù địch, đến giai đoạn tiếp tay cho các thế lực thù địch phá hoại chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về quốc phòng, an ninh.
Thứ ba là xuyên tạc, công kích, chống đối đường lối chính sách quốc phòng, an ninh của Đảng và Nhà nước. Đây là biểu hiện phản ánh rõ ràng tính trầm trọng và nguy hiểm của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về lĩnh vực quốc phòng, an ninh. Những người và tổ chức “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở mức độ này thường ra mặt công kích, chống đối dưới chiêu bài “phản biện” mọi chủ trương, đường lối của Đảng nói chung và về quốc phòng, an ninh nói riêng. Các chỉ thị, nghị quyết, văn bản pháp luật, mọi hoạt động của LLVT... họ đều tìm cách để xuyên tạc, công kích. Mục đích cuối cùng của chiêu trò xuyên tạc là nhằm hạ thấp vai trò, uy tín của Đảng, Nhà nước và LLVT, đi đến phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với quốc phòng, an ninh và LLVT. Biểu hiện ở mức độ này có nghĩa họ đã đứng hẳn về phía thế lực thù địch, đi ngược lại quyền lợi của dân tộc và nhân dân Việt Nam.
Hiện nay ở nước ta đã xuất hiện một bộ phận người này, họ thường lợi dụng lòng yêu nước của nhân dân để ra sức công kích vào quan điểm, đường lối lãnh đạo, đối sách của Đảng về quốc phòng, an ninh. Thi thoảng họ lại tổ chức tụ tập, diễu hành, hòng kích động nhân dân, nhất là vào những dịp lễ Tết, các dịp đất nước có sự kiện lớn, hoặc mỗi khi trên Biển Đông có những biến động phức tạp. Vì vậy chúng ta cần phải nhận rõ các biểu hiện, âm mưu, thủ đoạn của họ, để kiên quyết đấu tranh, phê phán.
                                                                                Công Bằng



NHỮNG CÁI NHÌN SAI TRÁI VỀ NỀN GIÁO DỤC VIỆT NAM
Cùng với sự phát triển về kinh tế, văn hóa, xã hội, những năm qua, giáo dục Việt Nam có những chuyển động tích cực và chuyển biến tiến bộ về nhiều mặt. Chính những thành tựu to lớn về giáo dục không chỉ là một trong những động lực thúc đẩy đất nước đi lên, mà góp phần làm cho diện mạo đời sống xã hội ngày càng khởi sắc.
Tuy nhiên, thời gian gần đây, lợi dụng một số vụ việc đơn lẻ xảy ra trong ngành giáo dục, một số người có cái nhìn chưa khách quan, toàn diện, thậm chí phủ nhận những thành tựu của nền giáo dục Việt Nam.
Những liên tưởng sai trái và sự xuyên tạc trơ trẽn
Những ngày gần đây, xã hội nói chung, những người tâm huyết với sự nghiệp “trồng người” nói riêng không khỏi băn khoăn, chạnh lòng khi nghe thông tin về trường hợp một nữ giáo viên bậc tiểu học ở tỉnh Long An bị phụ huynh tạo áp lực phải quỳ gối trước học sinh trong vòng 40 phút. Đây là một vụ việc hi hữu, rất đáng lên án vì nó làm tổn thương nghiêm trọng đến danh dự, uy tín, phẩm giá của các thầy, cô giáo. Sau khi vụ việc xảy ra, các cơ quan chức năng sớm vào cuộc làm rõ tính chất, mức độ, hậu quả vụ việc để có hướng xử lý phù hợp. Người gây áp lực bắt nữ giáo viên phải quỳ đã bị khai trừ ra khỏi Đảng.
Trong khi nhiều cơ quan báo chí, nhiều luật sư, nhiều nhà giáo lên tiếng kịp thời, phân tích thấu đáo, bình luận có lý, có tình nhằm giúp công luận có một cái nhìn đúng đắn, khách quan về vụ việc, thì đáng tiếc vẫn có những ý kiến nhìn nhận vấn đề mang nặng tính áp đặt chủ quan, thiếu thiện chí, thiếu nhân văn, thậm chí đánh đồng hiện tượng với bản chất theo kiểu “vơ đũa cả nắm”, từ đó có những liên tưởng, suy diễn không đúng mực về nhà giáo, về ngành giáo dục Việt Nam. Cá biệt có trường hợp lợi dụng vài ba vụ việc đơn lẻ xảy ra trong hoạt động giáo dục để xuyên tạc mục tiêu, bản chất tốt đẹp của nền giáo dục cách mạng Việt Nam. Ví như họ coi ngành giáo dục là “ngành ăn mày xã hội”, viễn cảnh giáo dục Việt Nam như một bức màn “màu đen xám xịt”, đó là “nền giáo dục ngu dân do độc đảng cai trị” (!).
Viết về giáo dục mà bằng những lời lẽ vô văn hóa, phản giáo dục như vậy đã bộc lộ rõ “tim đen” của những người bình luận. Mặt khác, cách nhìn nhận, đánh giá về giáo dục Việt Nam kiểu đó chẳng khác nào cách liên tưởng bằng con mắt “mù màu”, bằng những lời xuyên tạc trơ trẽn. Vì thế, không những không được hầu hết người dân Việt Nam chấp thuận, mà cũng khó có thể làm lung lay nền tảng vững chắc của nền giáo dục cách mạng Việt Nam đã được vun trồng, bồi đắp bền bỉ hơn 7 thập niên qua dưới chế độ giáo dục XHCN đầy tính nhân văn, ưu việt. 
Những gam màu tươi sáng của giáo dục Việt Nam
Thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”, suốt 73 năm qua kể từ khi nước Việt Nam giành được độc lập, Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam ngày càng quan tâm đến lĩnh vực giáo dục, vì giáo dục liên quan đến sức mạnh, sự trường tồn, hưng thịnh của quốc gia. Đảng ta nhiều lần khẳng định, giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục và đào tạo là đầu tư cho phát triển. Vì vậy, trong từng thời kỳ cách mạng, giáo dục Việt Nam luôn có sự cải cách, đổi mới để theo kịp sự phát triển của thời đại và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Từ giữa thế kỷ 20 đến nay, Việt Nam đã tiến hành nhiều cuộc cải cách giáo dục. Năm 1950, trong hoàn cảnh nước nhà còn muôn vàn khó khăn, nhưng cuộc cải cách giáo dục lần đầu tiên đã nhằm mục tiêu xây dựng một nền giáo dục của dân, do dân và vì dân; đến năm 1956, cải cách giáo dục lần thứ hai hướng tới đào tạo, bồi dưỡng thế hệ trẻ thành những công dân tốt, có đức có tài; đến lần thứ ba năm 1981, cuộc cải cách giáo dục toàn diện hơn, đồng bộ hơn nhằm tạo bước chuyển biến mới về hệ thống giáo dục, nội dung và phương pháp dạy học. Hiện nay, chúng ta đang khẩn trương tiến hành một “cuộc cách mạng” về giáo dục với việc đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục theo tinh thần Nghị quyết 29-NQ/TW khóa XI của Đảng, bảo đảm cho giáo dục Việt Nam phát triển theo định hướng XHCN, hội nhập quốc tế, thích ứng với cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0. Theo lộ trình, còn khoảng một năm rưỡi nữa, tức là bắt đầu từ năm học mới 2019-2020, chính thức triển khai áp dụng chương trình giáo dục phổ thông mới ở bậc tiểu học.
Một trong những thành tựu lớn nhất trong hơn 30 năm đổi mới được cộng đồng quốc tế ghi nhận là nền giáo dục Việt Nam có sự phát triển cả về lượng và chất. Chúng ta không chỉ hoàn thành mục tiêu đưa hầu hết trẻ em đúng độ tuổi được đến trường học tập và đến nay cơ bản hoàn thành phổ cập THCS ở khắp các địa phương trong cả nước, mà chất lượng giáo dục cũng ngày càng có nhiều chuyển biến tích cực ở tất cả đối tượng học sinh và các cấp học, bậc học. Điều này được bà Irina Bokova, Tổng giám đốc Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) nhìn nhận trong chuyến thăm Việt Nam vào dịp tháng 8-2017: “Trong lần thứ ba đến Việt Nam, tôi thấy Việt Nam có nhiều thay đổi, nhất là sự phát triển tích cực về kinh tế cũng như chất lượng giáo dục, trong đó có thành tựu về đào tạo giáo viên và thúc đẩy sự công bằng, bình đẳng về giáo dục”.
Không ngẫu nhiên mà người đứng đầu UNESCO ghi nhận về thành tựu giáo dục Việt Nam như vậy. Vài dẫn chứng sau đây phần nào minh chứng điều đó. Đến nay, các trường đại học ở Việt Nam đã có hơn 500 chương trình đào tạo quốc tế với các trường đại học ở nhiều nước trên thế giới; chưa kể hàng chục chương trình đào tạo kỹ sư chất lượng cao, cử nhân tài năng, chương trình tiên tiến theo chuẩn quốc tế, chương trình đào tạo theo định hướng nghề nghiệp ứng dụng (POHE)… Những năm gần đây, Việt Nam cũng trở thành một trong những điểm sáng trên bản đồ giáo dục thế giới khi đăng cai và tổ chức thành công nhiều kỳ thi quốc tế, như: Olympic Vật lý châu Á 2004, Olympic Toán học quốc tế 2007, Olympic Vật lý quốc tế 2008, Olympic Hóa học quốc tế 2012, Olympic Sinh học quốc tế 2016. Đặc biệt, thành tích của các đội tuyển học sinh Việt Nam tham dự các kỳ thi Olympic quốc tế cũng rất nổi bật, được bạn bè quốc tế ngưỡng mộ. Năm 2017, đội tuyển Olympic quốc tế các môn Toán, Vật lý, Hóa học của Việt Nam được đánh giá là giành thành tích cao nhất trong lịch sử tham dự Olympic bởi cả số lượng, chất lượng huy chương mang về cho Tổ quốc. 4/4 thí sinh dự thi Olympic Hóa học đều giành huy chương (gồm 3 Huy chương Vàng, 1 Huy chương Bạc). Đội tuyển Olympic Vật lý Việt Nam đoạt 4 Huy chương Vàng, 1 Huy chương Bạc, đứng thứ 5/86 quốc gia và vùng lãnh thổ tham dự, sau Trung Quốc, Hàn Quốc, Nga và Singapore. 6/6 thí sinh Việt Nam đều giành huy chương (4 Huy chương Vàng, 1 Huy chương Bạc, 1 Huy chương Đồng) cuộc thi Olympic Toán học quốc tế, xếp thứ 3/112 quốc gia và vùng lãnh thổ tham dự, chỉ sau Hàn Quốc và Trung Quốc. Đó là minh chứng sinh động thể hiện giáo dục Việt Nam đang chủ động hội nhập thế giới, không ngừng tiếp cận chuẩn mực giáo dục quốc tế để làm mới, làm giàu cho nền giáo dục của quốc gia mình. Đó cũng là gam màu tươi sáng thể hiện bức tranh giáo dục Việt Nam đang trên đà khởi sắc.
Đối với nhà giáo, từ lâu dân tộc Việt Nam đã có truyền thống tôn sư trọng đạo, mọi người, mọi nhà luôn trân trọng những người làm nghề dạy học. Đảng, Nhà nước Việt Nam đã có nhiều chính sách hợp lý để bảo đảm cho đội ngũ nhà giáo yên tâm gắn bó với nghiệp “trồng người”, góp phần thúc đẩy sự nghiệp giáo dục nước nhà phát triển. Hầu hết các thầy, cô giáo đều yêu nghề, yêu người, không ngừng rèn luyện, phấn đấu hoàn thành tốt sứ mệnh cao cả của mình, xứng đáng với lòng tin của toàn xã hội. Những thành tựu của giáo dục Việt Nam thời gian qua có một phần đóng góp quyết định của đội ngũ nhà giáo trên khắp mọi miền đất nước.
Tất nhiên, nói như thế không có nghĩa nền giáo dục Việt Nam chỉ toàn “màu hồng”, mà Việt Nam cũng đang gặp những khó khăn, thách thức phải vượt qua. Điều này đã được Đảng Cộng sản Việt Nam nhận định sâu sắc tại Nghị quyết 29-NQ/TW khóa XI, từ đó đưa ra những giải pháp căn cơ, đồng bộ để đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục nước nhà trong thời gian tới.
                                                                 Sự Thật