Thứ Bảy, 28 tháng 3, 2026

 MINH CHỨNG SINH ĐỘNG PHẢN BÁC CÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC, KÍCH ĐỘNG VỀ CUỘC CHIẾN BẢO VỆ BIÊN GIỚI PHÍA BẮC

Hoằng Tháo

Nhìn lại lịch sử, trong cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc, biên giới Tây Nam và các cuộc chiến bảo vệ chủ quyền biển đảo, Đảng, Nhà nước, quân dân ta luôn thể hiện tinh thần quyết chí, đồng lòng, quyết tâm bảo vệ từng vùng đất, vùng biển, vùng trời của Tổ quốc. Trong những thời điểm mà chủ quyền quốc gia trên Biển Đông bị đe dọa, toàn dân ta luôn thể hiện tinh thần đoàn kết, đồng lòng, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia, biên giới lãnh thổ, đó là điều thiêng liêng, bất khả xâm phạm.

Đảng, Nhà nước và nhân dân ta không bao giờ lãng quên cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc năm 1979 cũng như các sự kiện có liên quan đến chủ quyền biên giới, lãnh thổ. Cuộc chiến đấu chính nghĩa này là một trong những trang sử oanh liệt của dân tộc Việt Nam. Đây cũng là chủ trương nhất quán đã được lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta nhiều lần khẳng định.

Phát huy truyền thống “uống nước nhớ nguồn”, những năm qua, Đảng, Nhà nước và các đoàn thể xã hội luôn quan tâm đến các thương binh, thân nhân gia đình liệt sĩ, gia đình có công với cách mạng, trong đó có các cựu chiến binh, thân nhân liệt sĩ hi sinh trong cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc năm 1979.

Không có sự phân biệt về chế độ, chính sách dành cho các cựu chiến binh, thân nhân liệt sĩ trong cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc với cựu chiến binh, thân nhân liệt sĩ trong các cuộc chiến tranh khác để bảo vệ Tổ quốc.

Đối với các cựu chiến binh tham gia chiến dịch biên giới phía Bắc được hưởng các chế độ, chính sách liên quan, trong đó có Quyết định 62/2011/QĐ-TTg, các cựu chiến binh tham gia chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc, làm nhiệm vụ quốc tế tại Lào, Campuchia từ tháng 2/1979 đến ngày 31/12/1988 được hưởng chế độ trợ cấp một lần hoặc hằng tháng.

Trong những năm qua, lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các cơ quan chức năng đều có các hoạt động đến dâng hương tại các nghĩa trang liệt sĩ và thăm hỏi, động viên cựu chiến binh, thương binh từng tham gia cuộc chiến bảo vệ biên giới phía Bắc 1979.

Về hoạt động đối ngoại, trong năm 2025 và đầu năm 2026, nhiều sự kiện và hoạt động thực tiễn đã chứng minh tính đúng đắn, hiệu quả và uy tín quốc tế ngày càng cao của đường lối đối ngoại Việt Nam, đồng thời là minh chứng sống động phản bác mọi luận điệu xuyên tạc. Việt Nam nâng tầm, nâng cấp quan hệ, mở rộng hợp tác với các đối tác.

Trong năm, các hoạt động đối ngoại diễn ra sôi động, nhất là của lãnh đạo chủ chốt, tạo khuôn khổ và tầm nhìn định hướng cho quan hệ. Đến nay Việt Nam có 15 đối tác chiến lược toàn diện, trải rộng từ châu Á, châu Âu đến châu Mỹ, trong đó mới nhất là Liên minh châu Âu (EU), đưa tổng số đối tác có quan hệ từ đối tác toàn diện trở lên thành 42 nước.

Điểm nhấn là tính thực chất và hiệu quả, thể hiện qua việc ký kết gần 350 thỏa thuận hợp tác, tăng gấp 2,5 lần so với năm 2024. Chúng ta cũng đã củng cố quan hệ, mở rộng hợp tác với các chính đảng, tiếp tục coi trọng và phát triển đối ngoại nhân dân dưới nhiều hình thức.

Điển hình, Việt Nam long trọng tổ chức các hoạt động kỷ niệm 50 năm thống nhất đất nước và 80 năm Quốc khánh, qua đó khẳng định từ một quốc gia nghèo nàn, bị chiến tranh tàn phá, Việt Nam đã vươn lên thành quốc gia có thu nhập trung bình cao, hội nhập sâu vào kinh tế – chính trị toàn cầu và là đối tác tin cậy của bạn bè quốc tế.

Trên bình diện ngoại giao đa phương, Việt Nam đăng cai tổ chức nhiều sự kiện lớn như ASEAN Future Forum, Hội nghị P4G về tăng trưởng xanh và phát triển bền vững, Hội nghị của UNCTAD…, thể hiện vai trò trung tâm, tích cực trong các vấn đề toàn cầu. Những dẫn chứng cụ thể ấy đã trực tiếp bác bỏ luận điệu cho rằng Việt Nam “lệ thuộc” hay “thiếu minh bạch” trong chính sách đối ngoại, đồng thời khẳng định đường lối hiện nay là vừa kiên định nguyên tắc, vừa linh hoạt ứng xử, đảm bảo lợi ích quốc gia - dân tộc.

Lịch sử Việt Nam là lịch sử của một dân tộc nhỏ bé nhưng anh hùng, từng trải qua biết bao đau thương, mất mát trong những cuộc trường chinh giành độc lập và tự do. Chúng ta tri ân máu xương của hàng triệu người con ưu tú đã ngã xuống vì Tổ quốc, tri ân những thế hệ đã cống hiến cả cuộc đời cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất non sông. Quá khứ ấy là nền tảng tinh thần vững chắc, là ngọn lửa truyền thống tiếp sức cho chúng ta bước tiếp.

Như trong bài viết nhân kỷ niệm 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2025) Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh: "Chúng ta không thể viết lại lịch sử nhưng chúng ta có thể hoạch định lại tương lai. Quá khứ là để ghi nhớ, để tri ân và để rút ra bài học. Tương lai là để cùng nhau xây dựng kiến tạo và phát triển”. Đó không chỉ là một lời nhắc nhở, mà còn là một mệnh lệnh từ trái tim, một lời hiệu triệu thiêng liêng đối với toàn dân tộc.

Những bài học đắt giá từ các cuộc chiến tranh, xung đột hiện nay ở nhiều khu vực trên thế giới, trong đó có cả những quốc gia có tiềm lực quân sự giàu mạnh đã và đang đặt ra những thách thức vô cùng to lớn trong việc giữ vững ổn định cũng như bảo vệ chủ quyền Tổ quốc.

Điều đó càng chứng minh rằng quan điểm, chủ trương, đường lối, đối sách của Việt Nam trong bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia và giải quyết các vấn đề liên quan là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với xu thế chung của thế giới.

Do đó, mỗi người dân cần hết sức tỉnh táo, cảnh giác trước các chiêu trò, luận điệu xuyên tạc, kích động để không mắc mưu các thế lực thù địch, phần tử xấu. Phải có trách nhiệm với bản thân, với đất nước, phải trang bị cho bản thân những kiến thức cơ bản để có khả năng nhận biết thông tin, không bị kẻ xấu lợi dụng./.



 CẢNH GIÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CUỘC CHIẾN BẢO VỆ BIÊN GIỚI PHÍA BẮC, KÍCH ĐỘNG CHỐNG PHÁ

Hoằng Tháo

Đồng thời, trước những diễn biến phức tạp của tình hình khu vực và thế giới, các thế lực thù địch gia tăng mũi nhọn tấn công xuyên tạc, chống phá đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa dạng hóa, đa phương hóa của Việt Nam.

Những luận điệu xuyên tạc, chống phá trên không gian mạng

Các thế lực thù địch, các tổ chức phản động lưu vong và phần tử cơ hội chính trị, chống đối đã gia tăng các hoạt động tuyên truyền, xuyên tạc lịch sử dân tộc Việt Nam bằng nhiều hình thức, thủ đoạn tinh vi trên các nền tảng mạng xã hội.

Đây là hoạt động nguy hiểm nhằm bóp méo lịch sử, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, hạ thấp giá trị các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân, làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với con đường cách mạng mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn.

Ngay sau thành công của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV và kỷ niệm 96 năm Ngày thành lập Đảng, các thế lực thù địch, các tổ chức phản động lưu vong và số đối tượng cơ hội chính trị, chống đối đã chĩa mũi nhọn xuyên tạc, phủ nhận sự thật lịch sử cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc ở biên giới phía Bắc năm 1979.

Chúng ta thấy rằng, không chỉ riêng sự kiện cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc (2/1979), mà các sự kiện khác như: Cuộc chiến bảo vệ chủ quyền tại Gạc Ma 14/3/1988, cuộc chiến bảo vệ biên giới Tây Nam và làm nghĩa vụ quốc tế... cũng là những sự kiện bị các thế lực xấu xuyên tạc, “bẻ cong” sự thật lịch sử.

Bên cạnh đó, các tổ chức phản động liên tục tuyên truyền bằng những luận điệu sai trái nhằm quy chụp Đảng, Nhà nước cố tình né tránh, lãng quên những vấn đề này.

Các đối tượng xấu còn lợi dụng những vấn đề nhạy cảm trong quan hệ quốc tế, đặc biệt là vấn đề biển đảo, quan hệ với các nước lớn hay các sự kiện ngoại giao đa phương để tung ra luận điệu xuyên tạc, bôi nhọ đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta.

Chúng xuyên tạc rằng, đằng sau diễn ngôn về ngoại giao “mang đậm bản sắc cây tre Việt Nam” là “gió chiều nào theo chiều ấy”. Chúng rêu rao rằng, Việt Nam lệ thuộc vào một số cường quốc, nhân nhượng về chủ quyền lãnh thổ, hay “mập mờ” trong quan hệ quốc tế. Chúng cố tình gán ghép rằng, Việt Nam “ngả theo nước này, lệ thuộc nước kia”, thỏa hiệp trong các vấn đề chủ quyền hoặc biến chủ trương “đa phương hóa, đa dạng hóa” thành “cơ hội chính trị, đứng giữa không rõ ràng”.

Qua đó, chúng kêu gọi Đảng, Nhà nước ta phải từ bỏ chính sách đối ngoại quốc phòng “4 không”, đòi Đảng ta “thực hiện liên minh quân sự” để bảo vệ chủ quyền biển đảo, bảo vệ lợi ích quốc gia trên biển. Càng nguy hiểm hơn khi nhiều đối tượng lợi dụng vấn đề chủ quyền lãnh thổ, trong đó có chủ quyền biên giới đất liền, chủ quyền biển, đảo, lợi dụng lòng yêu nước, tinh thần dân tộc để kích động người dân tạo nên các phong trào bài trừ, thoát khỏi hay đồng minh với các nước lớn.

Những luận điệu chống phá này gia tăng vào thời điểm Việt Nam đàm phán ký kết các hiệp định thương mại song phương, đa phương, nhất là các mối quan hệ giữa Việt Nam với Trung Quốc hay giữa Việt Nam với Hoa Kỳ hoặc các nước phương Tây nhằm hạ thấp vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.

Từ đây, các thế lực thù địch tạo tiền đề, bàn đạp để kích động, kêu gọi người dân “xuống đường để thể hiện lòng yêu nước” thông qua các tổ chức phản động bình phong mang mác các tổ chức xã hội dân sự. Xây dựng ngọn cờ tiến tới thực hiện cách mạng màu thông qua các hoạt động “bất tuân dân sự”, gây chia rẽ nội bộ, từ đó tạo môi trường thuận lợi cho các hoạt động chống phá gây mất an ninh, trật tự và kiếm cớ để gây bạo loạn, biểu tình, mở đường cho sự can thiệp từ bên ngoài vào công việc nội bộ của Việt Nam./.

 

 

 

 MƯU ĐỒ LỢI DỤNG TÌNH HÌNH CHIẾN SỰ TẠI IRAN ĐỂ KÍCH ĐỘNG CHỐNG PHÁ

Hoằng Tháo

Những diễn biến căng thẳng hiện nay tại Iran thu hút sự chú ý của cộng đồng quốc tế. Các cuộc tấn công quân sự, những tuyên bố cứng rắn giữa các quốc gia liên quan cùng nguy cơ leo thang xung đột đã làm gia tăng lo ngại về an ninh, chính trị khu vực và quốc tế, có những tác động sâu sắc tới kinh tế toàn cầu.

Bên cạnh những thông tin chính thống được cập nhật, trên không gian mạng cũng xuất hiện không ít thông tin, nội dung bị bóp méo, suy diễn, thậm chí bịa đặt nhằm kích động chống phá.

không chỉ dừng lại ở việc bình luận sai lệch về tình hình quốc tế mà còn cố tính hướng lái dư luận, gán ghép đến các vấn đề trong nước nhằm tạo ra bất ổn tâm lý xã hội. Từ biến động giá xăng dầu thế giới, họ suy diễn sang chuyện giá xăng dầu trong nước để quy chụp Chính phủ “vô lo”; từ cuộc xung đột khu vực, họ vội vã vẽ ra những “thảm kịch khủng hoảng” đối với nền kinh tế Việt Nam. Thậm chí không ít bài viết còn công kích thể chế chính trị bằng những luận điệu xuyên tạc như “sụp đổ do độc tài”, “cảnh báo nóng về tự do, dân chủ, nhân quyền”…

Những hình thức này không phải ngẫu nhiên, đây là một phần trong thủ đoạn lợi dụng các sự kiện, vấn đề nóng của quốc tế để “đục nước béo cò”, gây nhiễu loạn thông tin, làm suy giảm niềm tin xã hội, phục vụ mục tiêu chống phá Đảng, Nhà nước ta. Trong lịch sử hiện đại, khu vực Trung Đông luôn được xem là một trong những điểm nóng của địa chính trị quốc tế. Bất kỳ diễn biến căng thẳng nào tại đây cũng có thể kéo theo những hệ lụy sâu sắc đối với thị trường năng lượng toàn cầu.

Đặc biệt Iran là quốc gia có vai trò quan trọng trong cán cân dầu mỏ quốc tế, vì vậy mỗi khi xảy ra xung đột liên quan đến nước này, giá dầu thế giới thường có xu hướng biến động mạnh. Đây là quy luật của thị trường năng lượng toàn cầu và không phải điều mới mẻ. Thế nhưng, trên một số trang phản động và các tài khoản mạng xã hội, diễn biến đó lại bị cố tình bóp méo theo hướng tiêu cực.

Một số bài viết nhanh chóng quy kết rằng, biến động giá xăng dầu thế giới là “cái cớ để nhà nước cố tình tăng giá”, “giá xăng dầu thả nổi để vơ vét, tận thu tiền trong dân”! Những lời lẽ mang tính kích động này được lan truyền rộng rãi trên mạng xã hội, kèm theo các phân tích, bình luận thiếu cơ sở nhằm dẫn dắt dư luận theo hướng tiêu cực. Không dừng lại ở đó, một số đối tượng, phần tử phản động, chống đối hải ngoại lấy đó làm cái cớ để mở rộng vấn đề, suy diễn thành nguy cơ “khủng hoảng kinh tế”, cảnh báo sẽ dẫn đến “sụp đổ hệ thống” nền kinh tế trong nước!

Một thủ đoạn nguy hiểm nữa là họ kết nối tình hình quốc tế với trong nước, chiến sự Iran với Việt Nam, tìm cách liên hệ khập khiễng mô hình nhà nước hồi giáo với thể chế chính trị ở nước ta để xuyên tạc, tung ra những luận điệu chống phá rằng, Việt Nam là chế độ độc tài, không có tự do, dân chủ, nhân quyền nên “tất yếu hệ quả sẽ đến như tình hình như Iran, Venezuela”…

Từ đó, họ đưa ra những ý kiến, lập luận cực đoan, kích động rằng đây là “cơ hội tốt” để thực hiện hoạt động bạo lực nhằm thay đổi chế độ, cổ suý tư tưởng đưa Việt Nam theo “con đường dân chủ” như các quốc gia đang xảy ra bất ổn. Gần đây thông tin lan truyền từ một tài khoản X (Twitter) mạo danh Barron Trump (con trai Tổng thống Mỹ Donald Trump), các đối tượng cố tình lồng ghép câu hỏi “sau Iran là tới Việt Nam”, kèm theo các bình luận, chỉ trích tiêu cực.

Thủ đoạn cũ trong lớp vỏ mới

Đối với vấn đề giá xăng dầu hiện nay, thực tế cho thấy, Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, hội nhập sâu rộng, có độ mở lớn, trong đó thị trường năng lượng có sự tác động trực tiếp từ biến động của giá dầu thế giới. Điều này không chỉ xảy ra ở Việt Nam mà còn ở hầu hết các quốc gia nhập khẩu dầu mỏ. Khi giá dầu trên thị trường quốc tế tăng hoặc giảm, giá xăng dầu trong nước cũng biến động theo quy luật thị trường.

Những đối tượng xuyên tạc, cố tình bỏ qua thực tế đó, họ không đề cập đến cơ chế điều hành giá theo thị trường có sự quản lý của Nhà nước, cũng không nhắc tới các công cụ điều tiết như trích quỹ bình ổn giá hay các chính sách tài khóa nhằm giảm bớt tác động của biến động giá xăng dầu đối với nền kinh tế và người dân, doanh nghiệp. Thay vào đó, họ chọn cách đưa ra những lập luận đơn giản, dễ kích động đến tâm lý như “chính quyền vơ vét người dân”, “điều hành yếu kém”, thả nổi giá xăng dầu, quan lo giữ ghế, để dân “sống chết mặc bay”!

Đương nhiên, qua việc ứng với với biến động giá xăng dầu, Chính phủ cũng nhìn nhận rõ những hạn chế, tồn tại để tìm giải pháp khắc phục chứ không phải “thả nổi”, “vô lo”. Trả lời câu hỏi cử tri, ông Phạm Văn Thanh - Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ Chính phủ, Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex) cho rằng biến động giá xăng dầu hiện nay chịu tác động mạnh từ tình hình thế giới, đặc biệt là những căng thẳng và xung đột tại khu vực Trung Đông giữa Mỹ, Israel và Iran.

Để đảm bảo nguồn cung xăng dầu, thời gian qua Bộ Tài chính và Bộ Công Thương đã kiến nghị Chính phủ sử dụng Quỹ bình ổn giá để ổn định thị trường, đồng thời xem xét điều chỉnh thuế nhập khẩu xăng dầu đối với một số mặt hàng và nguyên liệu đầu vào.

Về giải pháp lâu dài, ông Phạm Văn Thanh cho biết sẽ kiến nghị Chính phủ đa dạng hóa nguồn cung, đồng thời xây dựng các chính sách điều hành linh hoạt để ứng phó với biến động của thị trường năng lượng toàn cầu. Ông cũng cho rằng năng lực dự trữ xăng dầu của Việt Nam hiện còn hạn chế, trong khi nhiều nước duy trì mức dự trữ từ 60 - 90 ngày. Vì vậy cần từng bước nâng cao năng lực dự trữ quốc gia, đồng thời khuyến khích xã hội hóa đầu tư kho dự trữ nhằm bảo đảm an ninh năng lượng trong dài hạn…

Về vấn đề thể chế chính trị, những luận điệu này thường được xây dựng trên cơ sở so sánh phiến diện các quốc gia có điều kiện lịch sử và thể chế hoàn toàn khác nhau. Họ cố tình bỏ qua lịch sử, văn hóa, bối cảnh đặc thù của mỗi quốc gia, dân tộc để suy diễn xuyên tạc, chống phá chủ nghĩa xã hội, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đồng thời họ cũng cố tình phớt lờ những thành tựu mà đất nước đã đạt được trong nhiều thập kỷ qua. Chỉ cần nhìn vào thực tiễn phát triển của Việt Nam trong những năm gần đây, những kết quả to lớn trong đời sống kinh tế - xã hội là minh chứng sinh động phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Việt Nam có môi trường chính trị ổn định, kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao, đời sống người dân không ngừng được cải thiện, hệ thống hạ tầng ngày càng phát triển, đồng bộ, vị thế quốc tế Việt Nam ngày càng cao trên trường quốc tế… Những thành tựu đó không thể có được nếu thiếu sự ổn định chính trị, đảm bảo quốc phòng, an ninh, sự đoàn kết, đồng lòng, đồng thuận xã hội. Thế nhưng, họ cố tình bỏ qua bức tranh sinh động này, chọn cách xuyên tạc, thổi phồng những tồn tại, các vấn đề tiêu cực, sau đó suy diễn thành những kết luận mang tính quy chụp hòng làm suy giảm niềm tin người dân, làm méo mó hình ảnh, đất nước, con người Việt Nam trong mắt bè bạn quốc tế.

Một đặc điểm dễ nhận thấy trong các luận điệu xuyên tạc, chống phá là việc các đối tượng luôn tìm cách gắn kết những vấn đề kinh tế - chính trị với các lập luận công kích thể chế chính trị. Khi chiến sự Trung Đông xảy ra, một số trang mạng lập tức dùng chiêu bài “phân tích, đánh giá” để xuyên tạc, chống phá. Một trong những thủ đoạn phổ biến là lợi dụng khái niệm “tự do ngôn luận” để biện minh cho việc phát tán thông tin sai sự thật. Khi các cơ quan chức năng xử lý những hành vi tung tin giả, xuyên tạc hoặc kích động, các đối tượng này lập tức kêu gọi “bảo vệ quyền tự do”, vu cáo “trấn áp nhà bất đồng chính kiến”.

Trên phương diện này, ở bất kỳ quốc gia nào, quyền tự do ngôn luận là một trong những quyền con người, được thừa nhận, tôn trọng và bảo vệ, tuy nhiên đi cùng với điều đó là trách nhiệm xã hội, chuẩn mực đạo đức. Không có xã hội, quốc gia nào chấp nhận việc lợi dụng tự do để xâm hại lợi ích của cộng đồng hoặc gây phương hại đến an ninh quốc gia, dung dưỡng cho thông tin sai trái, xuyên tạc, thù địch. Vì vậy việc xử lý những hành vi phát tán thông tin xấu độc, sai lệch không phải là hạn chế tự do mà là bảo vệ an ninh, trật tự và môi trường thông tin lành mạnh.

Cần thấy rằng, trong bối cảnh công nghệ số, thông tin phát triển mạnh mẽ, thông tin sai lệch nếu không được nhận diện kịp thời, có thể lan truyền nhanh, tạo ra những tác động tiêu cực. Những nội dung mang tính kích động, giật gân, thiếu nguồn dẫn rõ ràng cần được xem xét cẩn trọng để nhận diện đúng. Đặc biệt, những thông tin sai trái, thù địch càng cần phải nâng cao cảnh giác. Thế giới đang có nhiều biến động phức tạp, khó lường, việc giữ vững ổn định chính trị - xã hội và củng cố niền tin của người dân là yếu tố đặc biệt quan trọng. Điều đó không chỉ phụ thuộc vào vai trò lãnh đạo của Đảng, các chính sách và sự điều hành của Nhà nước mà còn cần sự chung tay của toàn xã hội, của mỗi người dân trong việc xây dựng môi trường thông tin minh bạch, lành mạnh.

Những luận điệu lợi dụng tình hình Iran để xuyên tạc, chống phá có thể xuất hiện dưới nhiều hình thức khác nhau nhưng bản chất không thay đổi, đó là cố tình bóp méo sự thật, suy diễn, xuyên tạc để phục vụ mục tiêu gây nhiễu loạn dư luận, tâm lý xã hội, gây hoang mang, dao động, niềm tin của nhân dân, tạo ngòi nổ chống phá, gây bất ổn từ bên trong. Do đó cần được nhận diện, kiên quyết phản bác bằng thông tin, lập luận chính xác, khách quan và kịp thời./.

 BỔ SUNG, PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG LÝ LUẬN CỦA ĐẢNG ĐỂ LÃNH ĐẠO CÁCH MẠNG VIỆT NAM HIỆN NAY LÀ HOÀN TOÀN ĐÚNG ĐẮN

Trung Lập

Hiện nay, trước bối cảnh hội nhập, toàn cầu hóa và Cách mạng công nghiệp lần thứ tư diễn ra nhanh chóng, sự bùng nổ thông tin, nguy cơ thông tin không được kiểm soát chặt chẽ sẽ gây khó khăn cho việc tiếp nhận, luận giải để hiểu đúng đắn, thấu đáo nền tảng tư tưởng của Đảng. Mặt khác, sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, những khó khăn, thách thức của thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta; sự tác động bởi mặt trái của cơ chế thị trường; tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên; nạn tham nhũng, tiêu cực... gây tác động tiêu cực đến niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với Đảng, Nhà nước. Lợi dụng tình hình đó, thời gian qua, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị tiếp tục gia tăng hoạt động chống phá cách mạng Việt Nam. Chúng phủ nhận những thành tựu đã đạt được từ công cuộc đổi mới, kích động, lôi kéo các tầng lớp nhân dân vào các hoạt động biểu tình, gây chia rẽ đoàn kết nội bộ, gây mất an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, thúc đẩy tự diễn biến, tự chuyển hóa trong nội bộ trên mọi lĩnh vực; hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Những âm mưu, hoạt động đó có tác động tiêu cực đến tình hình tư tưởng, dư luận xã hội, gieo rắc sự hoang mang, dao động, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với đường lối lãnh đạo của Đảng. Tình trạng này đòi hỏi phải tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng mà một trong những yêu cầu là cần tiếp tục bổ sung, phát triển và khẳng định tính đúng đắn của đường lối đổi mới của Đảng, làm cho lý luận về đường lối đổi mới được thấm sâu, lan tỏa, tiếp tục trở thành nền tảng tư tưởng vững chắc, định hướng cho cách mạng Việt Nam trong những giai đoạn tiếp theo, là cơ sở khách quan để đấu tranh, phản bác các quan điểm xuyên tạc, sai trái, thù địch về lý luận đường lối đổi mới của Đảng.

Năm 1986, tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, với tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật”, Đảng ta chỉ ra nguyên nhân sự giảm sút của sản xuất, khó khăn về mọi mặt những năm cuối thập kỷ 70, đầu thập kỷ 80 của thế kỷ XX là do khuyết điểm, hạn chế trong đường lối lãnh đạo đất nước; từ đó, chỉ ra tính tất yếu phải đổi mới, sửa chữa sai lầm là sự lựa chọn đúng đắn và không thể nào khác. Lý luận về đường lối đổi mới của Đảng ra đời trong bối cảnh đó là đòi hỏi bức thiết của thực tiễn, là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và phù hợp với xu thế tất yếu của thời đại.

Thực chất, lý luận về đường lối đổi mới không phải là xa rời mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc mà là phát huy những thành tựu đã đạt được, khắc phục những sai lầm trên tất cả các mặt, đồng thời, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác -Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện, hoàn cảnh mới, bằng “những quan niệm đúng, những hình thức, bước đi và biện pháp thích hợp”. Lý luận về đường lối đổi mới đã bao quát trên tất cả các mặt: lý luận về thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội; về đặc trưng, phương hướng xây dựng chủ nghĩa xã hội; về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; về xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; về xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc; về kết hợp sức mạnh dân tộc và thời đại; phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa; về quốc phòng, an ninh, đối ngoại; về giáo dục, đào tạo, khoa học và công nghệ. Hiện nay, lý luận về đường lối đổi mới tiếp tục hoàn thiện, bổ sung, phát triển phù hợp với điều kiện thực tiễn mới.

Qua quá trình lịch sử, dưới sự dẫn dắt, định hướng và dẫn đường, lý luận đường lối đổi mới có vai trò vô cùng quan trọng, đã tạo sự đồng thuận, thống nhất về tư tưởng trong toàn Đảng, toàn quân và toàn dân, tăng cường lòng tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng và là nền tảng để xây dựng đại đoàn kết dân tộc, nâng cao sức mạnh tổng hợp của quốc gia trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Cho đến nay, bài học từ 40 năm đổi mới đất nước qua các kỳ đại hội vẫn giữ nguyên giá trị và tiếp tục được phát huy; đặc biệt là bài học “đổi mới phải dựa vào nhân dân, vì lợi ích của nhân dân, phù hợp với thực tiễn, luôn luôn sáng tạo” (Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX). Trong xu thế mới hiện nay, bám sát thực tiễn, Đảng tiếp tục đề ra những chủ trương, chính sách cụ thể với hàng loạt các Nghị quyết: Nghị quyết 57, 59, 66, 68, 79, 80. Có thể nói, tất cả các nghị quyết trên đều tiếp tục tinh thần đổi mới mạnh mẽ, hướng tới mục tiêu nâng cao toàn diện chất lượng cuộc sống của toàn thể nhân dân Việt Nam.

Sự đổi mới đường lối thường xuyên, liên tục chứng tỏ rằng, lý luận đó không giáo điều, dập khuôn, không xa rời thực tiễn mà luôn sáng tạo, song cũng không rơi vào chủ nghĩa xét lại. Nhờ đó, cách mạng Việt Nam luôn vững vàng trước thực tiễn đầy biến động, đưa đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình, phát triển hùng cường, thịnh vượng.

Trong bối cảnh hiện nay, để bảo vệ nền tảng tư tưởng, củng cố vai trò lãnh đạo của Đảng, một mặt, cần phải tăng cường đấu tranh trực diện, bác bỏ quan điểm sai trái của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị. Mặt khác, cần làm giàu sức sống của nền tảng tư tưởng đó bằng việc bổ sung lý luận, đường lối lãnh đạo của Đảng đã được thực tiễn kiểm nghiệm và khẳng định tính đúng đắn của nó. Lý luận đó ở mỗi giai đoạn đã tác động tích cực trở lại thực tiễn, mang lại sự thành công to lớn: “đời sống nhân dân được cải thiện một cách căn bản và toàn diện”, văn hóa và xã hội có tiến bộ trên nhiều mặt, quốc phòng, an ninh được đảm bảo, vị thế chính trị đất nước được nâng cao trên trường quốc tế. Tuy nhiên, lý luận đường lối đó không phải “nhất thành bất biến” mà luôn được bổ sung, phát triển phù hợp với từng giai đoạn, trở thành kim chỉ nam tiếp tục soi đường, dẫn dắt cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới.

Điểm nữa, có thể khẳng định rằng, bổ sung nền tảng tư tưởng của Đảng cũng chính là tăng cường xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, góp phần không ngừng nâng cao trình độ lý luận chính trị, làm cho cán bộ, đảng viên nắm vững và tổ chức triển khai đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước một cách hiệu quả trong thực tiễn, đưa tư tưởng thành hiện thực vật chất, làm cho nền tảng tư tưởng, lý luận của Đảng đi vào cuộc sống. Ngoài ra, bổ sung, phát triển lý luận về đường lối đổi mới vào nền tảng tư tưởng của Đảng cũng là thể hiện sự quán triệt sâu sắc tính cách mạng, tính khoa học, tính thực tiễn của chủ nghĩa Mác - Lênin, là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong bối cảnh mới.

Thời gian tới, tình hình thế giới và khu vực có nhiều diễn biến mới, phức tạp, khó lường. Các thế lực thù địch không ngừng gia tăng các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước ta, nhất là trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận vào dịp Đại hội Đảng, bầu cử Quốc hội, các ngày lễ lớn của dân tộc nhằm tấn công, phá bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng, tiến tới phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng. Trước tình hình đó, việc bổ sung lý luận về đường lối đổi mới vào nền tảng tư tưởng của Đảng là tất yếu, khẳng định vai trò lãnh đạo, dẫn đường của Đảng Cộng sản Việt Nam trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, góp phần đưa đất nước ta “sánh vai” với các nước lớn trên thế giới - hiện thực hóa mong ước mà sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhắn nhủ hậu thế.

 THÀNH CÔNG CUỘC BẦU CỬ BÁC BỎ NHỮNG THỦ ĐOẠN BÔI NHỌ TRƠ TRẼN

Hoa Súng

Trước đó, sau khi cuộc bầu cử kết thúc vào ngày 15/3, trên mạng xã hội xuất hiện nhiều thông tin sai lệch, cố tình làm nhiễu dư luận. Các đối tượng chống phá ở hải ngoại chĩa mũi nhọn vào cuộc bầu cử, cho rằng con số cử tri đi bầu được công bố là “con số ảo”, cử tri không quan tâm bầu ai, gạch ai vì “chọn ai cũng như nhau”! Họ còn gây nhiễu bằng cách, dù mới kết thúc cuộc bầu cử một, hai ngày nhưng đã phao tin kiểu “rò rỉ kết quả bầu cử”, từ đó nêu tên một số ứng viên là lãnh đạo Đảng, Nhà nước, lãnh đạo các ban, bộ, ngành Trung ương và địa phương rằng “phiếu rất thấp”, “dân gạch hết”.

Thành công cuộc bầu cử là minh chứng sinh động phản bác các luận điệu sai trái trên mạng xã hội.

Một số đối tượng bất mãn còn viết trên trang cá nhân kiểu “tôi không bầu, tôi đã gạch ông A, bà B…”, rêu rao “chỗ chúng tôi đều gạch”, chỉ bỏ phiếu cho “những ứng viên trẻ, không cần giữ chức vụ”… 

Bài viết “Bầu cử và niềm tin - Khi hình thức lấn át thực chất” được lan truyền trên mạng xã hội, trong đó những nội dung nêu trong bài viết có tính bôi nhọ, đả kích. Bài viết xuyên tạc rằng, khi danh sách ứng viên được sàng lọc trước, kết quả ít có thay đổi thì người dân “đi bầu nhưng không được lựa chọn”. Từ đó quy chụp “điều này dẫn đến một hệ quả nguy hiểm là người dân mất niềm tin vào chính quá trình mà lẽ ra phải đại diện cho họ”! 

Trang “Nhật ký yêu nước” của các hội nhóm chống phá rêu rao “Bầu cử ruồi bu giả tạo mang bản chất bất hảo”, đả kích việc cán bộ đưa hòm phiếu đến giường bệnh nhân, cổ suý muốn dân chủ thì phải đa nguyên, đa đảng, phải tam quyền phân lập… Đây là luận điệu chỉ trích kiểu “mũ ni che tai” bởi việc cán bộ đưa hòm phiếu đến nơi ở của người tàn tật, người già yếu hay giường bệnh nhân là việc làm nhân văn, thể hiện tinh thần trách nhiệm cao trước cử tri, đảm bảo quyền bầu cử với những người có hoàn cảnh khó khăn, đặc biệt, không đến được điểm bầu cử. Ý nghĩa cao đẹp như vậy nhưng dưới con mắt những kẻ chống phá lại bị bôi đen, bị soi thành “hình thức, mị dân”!

Ngày 21/3, sau khi có kết quả bầu cử, một số bài viết tiếp tục chỉ trích khi đưa ra nhóm này, nhóm kia để so sánh. Trang BBC tung hứng “Người ngoài Đảng vẫn lép vế”, đặt vấn đề 5 ứng viên tự ứng cử không trúng cử. Việc đưa ra các con số này tạo cớ cho những đối tượng chống phá vào bình luận “mất dân chủ, bầu cử hình thức”, trong khi những vấn đề có tính cốt lõi họ lại không nắm được hoặc cố tình bỏ qua.

Không thể cân đo giữa đại biểu trong và ngoài Đảng rồi cho rằng “ngoài Đảng lép vế” bởi ngay việc các ứng viên khi tham gia ứng cử, họ đã là những người tiêu biểu ở các cơ quan, tổ chức, được tín nhiệm và đứng trong hàng ngũ của Đảng. Còn với những người ngoài Đảng, nếu đó là các ứng viên xuất sắc, được tín nhiệm thì quá trình bầu cử, cử tri cũng thể hiện niềm tin qua lá phiếu của mình chứ không phải “ngoài Đảng là gạch” như các luận điệu xấu rêu rao.

Trong khi đó, một số đối tượng tiếp tục lặp lại chiêu trò cũ là tìm hiểu nhân thân, lý lịch các ứng viên ứng cử, tự ứng cử rồi so sánh với những người khác, cho rằng còn nhiều người có năng lực chưa vào danh sách ứng cử là “do bị kìm kẹp, tẩy chay, đe doạ”! Đây là thủ đoạn vu cáo, xuyên tạc nhằm kích động chống đối, gây chia rẽ nội bộ bởi việc ứng cử, tự ứng cử là quyền của công dân, khi họ xét thấy đủ năng lực, điều kiện và đảm bảo theo trình tự, quy trình luật định. Có nhiều người khác có thể đủ năng lực, điều kiện nhưng họ không tham gia ứng cử, tự ứng cử vì các lý do khác nhau và phụ thuộc quan điểm, ý chí của họ. Việc cho rằng “bị đe dọa, kìm kẹp” mà không đưa ra dẫn chứng cụ thể nào là sự quy chụp hòng gây nhiễu loạn, phá rối, tác động tiêu cực đến công tác bầu cử.

Với các ứng viên là lãnh đạo Trung ương và địa phương trúng cử, việc cho rằng “chưa bầu đã trúng”, “trúng do cơ cấu”, “bầu hay không bầu vẫn thế”, “gạch hay để, lãnh đạo vẫn trúng”… là những luận điệu vu cáo, xuyên tạc. Không có chuyện bầu hay không vẫn trúng, gạch hay để vẫn trúng vì ứng viên “là lãnh đạo”! Ở đây cần thấy, khi ứng viên là lãnh đạo, nhất là lãnh đạo cấp cao thì cử tri càng quan tâm đến năng lực, uy tín, khả năng lãnh đạo, chỉ đạo của ứng viên đó, mức độ ảnh hưởng trong dân chúng. Ứng viên nào thể hiện nổi bật, chiếm trọn niềm tin trong nhân dân thì hiển nhiên ứng viên đó được tín nhiệm, được lựa chọn và họ trúng với số phiếu cao.

Song không phải cứ ứng viên là lãnh đạo thì mặc nhiên được bầu trúng nếu như ứng viên đó chưa thể hiện được mình, chưa tạo ra dấu ấn. Việc các ứng viên lọt vào danh sách bầu cử là đã được sàng lọc, lựa chọn qua các khâu, có nghĩa những người nào dù lãnh đạo cấp này, cấp kia nhưng hồ sơ “có vấn đề”, bản thân “dính chàm”, bị mất uy tín thì đương nhiên, ứng viên đó đã bị sàng lọc, “rụng” từ vòng ngoài. Điều đó cho thấy quy trình chặt chẽ, nghiêm túc để tìm ra những ứng viên xứng đáng giúp cử tri lựa chọn. Do đó, những người trúng cử thực sự là tiêu biểu nhất trong những người tiêu biểu.

Theo Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Thanh, cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026-2031 đã diễn ra trong không khí phấn khởi, dân chủ, bình đẳng, đúng pháp luật, tuyệt đối an toàn, tiết kiệm và đã thành công tốt đẹp, thực sự là ngày hội non sông, ngày hội lớn của toàn dân. Đây là sự kiện chính trị trọng đại với quá trình chuẩn bị khẩn trương, kỹ lưỡng bằng tinh thần trách nhiệm, sự chung sức đồng lòng của cả hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương. Kết quả cho thấy, tổng số cử tri tham gia bỏ phiếu đạt gần 72 triệu cử tri, tương ứng 99,7%, mức cao nhất từ trước đến nay. Kết quả này thể hiện rõ ý thức chính trị, tinh thần trách nhiệm và sự đồng thuận cao của nhân dân đối với sự kiện chính trị quan trọng của đất nước, hoàn toàn không phải “con số ảo”, “số liệu mị dân” như các kẻ xấu rêu rao.

Về kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội, cả nước đã bầu đủ 500 đại biểu từ 863 người ứng cử. Trong đó, 214 đại biểu do Trung ương giới thiệu trúng cử, đạt tỷ lệ rất cao. Cơ cấu đại biểu tiếp tục có sự chuyển biến tích cực theo hướng giảm đại biểu kiêm nhiệm, tăng đại biểu chuyên trách. Tỉ lệ đại biểu Quốc hội dự kiến hoạt động chuyên trách trúng cử cao nhất từ trước đến nay, đạt 40% (cao hơn 1,4% so với nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV; cao hơn 5,5% so với nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV; cao hơn 7,2% so với nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII và cao hơn 10,6% so với nhiệm kỳ Quốc hội khóa XII).

Đặc biệt, Quốc hội khóa XVI với nhiều điểm mới trong cơ cấu đại biểu: Lần đầu tiên có đại diện của dân tộc Ơ Đu trúng cử; tỷ lệ đại biểu nữ đạt khoảng 30%, tiếp tục duy trì ở mức cao. Đây cũng là lần đầu tiên số đại biểu do Trung ương giới thiệu về địa phương ứng cử đạt tỷ lệ trúng cử gần như tuyệt đối. Hội đồng Bầu cử quốc gia đánh giá, cuộc bầu cử đã thành công rất tốt đẹp, bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch, đúng pháp luật và an toàn tuyệt đối. Toàn bộ quy trình từ hiệp thương, giới thiệu người ứng cử, vận động bầu cử đến tổ chức bỏ phiếu, kiểm phiếu đều được thực hiện nghiêm túc, đúng quy định. Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững; số lượng đơn thư khiếu nại, tố cáo giảm so với các nhiệm kỳ trước.

Sự lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt của Đảng là yếu tố then chốt bảo đảm thành công bầu cử. Công tác phối hợp giữa các cơ quan được triển khai chặt chẽ, đồng bộ từ Trung ương đến cơ sở, cùng với sự đồng thuận, tham gia tích cực của nhân dân và cả hệ thống chính trị. Công tác thông tin, tuyên truyền được đẩy mạnh, bảo đảm công khai, minh bạch, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc. Công tác nhân sự được chuẩn bị liên thông, kế thừa giữa các cấp. Đồng thời, chú trọng tập huấn nghiệp vụ, tăng cường kiểm tra, giám sát, kịp thời xử lý vướng mắc trong quá trình tổ chức thực hiện.

Nhìn nhận về chất lượng, cơ cấu đại biểu trúng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI, bà Tạ Thị Yên, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Công tác đại biểu, Phó Chánh văn phòng Hội đồng bầu cử quốc gia khẳng định, chất lượng đại biểu trúng cử tiếp tục được nâng lên một cách rõ rệt. Cơ cấu đại biểu đã đảm bảo được tính đại diện cũng như cân đối giữa các thành phần; đồng thời có những bước tiến quan trọng, tăng tỉ lệ đại biểu có trình độ chuyên môn cao, kinh nghiệm thực tiễn, bảo đảm tỉ lệ hợp lý đại biểu nữ, đại biểu trẻ, đại biểu người dân tộc thiểu số.

Đó là những con số cụ thể, rõ ràng về thành công của cuộc bầu cử. Kết quả đó phản bác các luận điệu xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch, phản động về cuộc bầu cử, là minh chứng về sự tham gia của nhân dân, cử tri cả nước trong việc lựa chọn đại biểu xứng đáng vào cơ quan quyền lực cao nhất ở Trung ương và địa phương - nền tảng xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN trong bối cảnh mới.

 



 VIỆT NAM SẴN SÀNG CƠ CHẾ TRAO ĐỔI VỚI HOA KỲ

VỀ THỰC THI QUYỀN TỰ DO TÔN GIÁO

Hoa Súng

Vừa qua, Ủy ban tự do tôn giáo quốc tế Hoa Kỳ (USCIRF) đã công bố bản “Báo cáo thường niên về tình trạng tự do tôn giáo trên thế giới năm 2025”. Theo báo cáo, Việt Nam vẫn tiếp tục bị đưa vào “Danh sách các nước cần chú ý theo dõi về tự do tôn giáo - SWL”, đồng thời khuyến nghị Bộ Ngoại giao Mỹ đưa Việt Nam vào cái gọi là “Danh sách các quốc gia cần quan tâm đặc biệt về tự do tôn giáo - CPC”.

Sự kiện này diễn ra khi quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Hoa Kỳ đang ở giai đoạn nồng ấm với việc thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện giữa hai quốc gia.

Đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo giữa Việt Nam và Hoa Kỳ đã có nhiều tiến triển thông qua hợp tác, trao đổi song phương và đa phương. Tuy nhiên, quan điểm giữa hai bên đang còn nhiều vướng mắc, chưa đạt được sự đồng thuận toàn diện dẫn đến cách nhìn nhận về thực thi quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Hoa Kỳ đối với Việt Nam còn nhiều điểm tiêu cực, thiếu khách quan và mang tính áp đặt.

Từ năm 2022 đến nay, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ vẫn đơn phương đưa Việt Nam vào nhóm “Danh sách các nước cần chú ý theo dõi về tự do tôn giáo” với những cáo buộc thiếu căn cứ, đi ngược lại thực tiễn đang diễn ra tại Việt Nam về thực thi quyền tự do tôn giáo.

Nhìn nhận thời gian qua, Việt Nam và Hoa Kỳ có đầy đủ các cơ chế để tiến hành trao đổi, đối thoại liên quan đến nhân quyền, tự do tôn giáo với các mức độ từ thấp đến cao. Điều này phản ánh mức độ quan tâm sâu sắc của chính quyền Việt Nam đối với việc thực hiện quyền tự do tôn giáo của công dân, thể hiện sự ưu tiên trong thực hiện cam kết giữa Việt Nam với phía Hoa Kỳ và các đối tác quốc tế về mở rộng, phát triển quyền tự do cá nhân trong xã hội. Cụ thể:

Thứ nhất, Việt Nam và Hoa Kỳ đã xây dựng cơ chế trao đổi song phương sâu rộng để đảm bảo thực thi quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong xã hội phù hợp với chuẩn mực quốc tế.

Cơ chế trao đổi song phương được tiến hành thời gian qua là việc tổ chức chuỗi hoạt động đối thoại ngoại giao định kỳ. Phía Việt Nam và Hoa Kỳ đã thường xuyên trao đổi qua các cuộc họp báo, hội nghị song phương và các kênh ngoại giao chính thức để bày tỏ quan điểm, bảo vệ giá trị lợi ích cốt lõi về quyền tự do tôn giáo và chia sẻ những kinh nghiệm, mô hình, cách làm sáng tạo.

Bên cạnh đó, cơ chế trao đổi song phương tạo điều kiện cho cả hai phía thu hẹp bớt những khoảng cách, tiến đến tiệm cận cách nhìn nhận, đánh giá về vấn đề tự do tôn giáo tại Việt Nam theo hướng đồng thuận. Thực tiễn cho thấy, từ năm 2022 đến nay, mỗi khi phía Hoa Kỳ có những nhận định, đánh giá thiếu công tâm, cáo buộc thiếu căn cứ, ngay lập tức phía Việt Nam đã tổ chức phản hồi lại báo cáo thường niên để phản bác và khẳng định quan điểm.

Mặt khác, Việt Nam và Hoa Kỳ đang tổ chức kênh hợp tác nhân quyền theo dạng đối thoại nhân quyền thường niên, trong đó vấn đề tự do tôn giáo là một nội dung trọng tâm, xuyên suốt quá trình đối thoại. Thông qua đối thoại nhân quyền thường niên, cả hai phía đều thể hiện bằng cam kết với mức độ, lộ trình cụ thể để có cơ chế kiểm tra, đánh giá trong các năm tiếp theo. Tính đến nay, Việt Nam và Hoa Kỳ đã và đang triển khai được 28 phiên đối thoại nhân quyền thường niên, lần gần đây nhất được diễn ra tại Hà Nội từ ngày 6-7/1/2025.

Thứ hai, cơ chế trao đổi trên diễn đàn quốc tế

Việt Nam và Mỹ đều là thành viên của Hội đồng Liên Hợp Quốc, trong đó các quốc gia đều có tiếng nói thể hiện lập trường tại diễn đàn chung của Liên Hợp Quốc và các diễn đàn quốc tế do tổ chức này thực thi hoặc liên kết.

Thời gian qua, Việt Nam tranh thủ sử dụng các diễn đàn đa nghị sự quốc tế để lên tiếng bác bỏ những cáo buộc phi lý của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ về vấn đề tự do tín ngưỡng, tôn giáo tại Việt Nam. Việt Nam đang là thành viên tích cực và có trách nhiệm của hơn 70 tổ chức và diễn đàn quốc tế quan trọng. Trong đó, trụ cột chiến lược chính là diễn đàn chính trị - ngoại giao và an ninh.

Đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo, Việt Nam có thể bày tỏ quan điểm tại Liên Hợp Quốc (UN) với vai trò là thành viên của Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an (tái đắc cử nhiệm kỳ 2026-2028); diễn đàn Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), diễn đàn nghị viện đa phương với Liên minh Nghị viện thế giới (IPU), phong trào không liên kết (NAM), cộng đồng Pháp ngữ quốc tế (OIF)… Đây đều là những diễn đàn có uy tín, ảnh hưởng lớn đến cộng đồng quốc tế.

Thông qua diễn đàn, phía Việt Nam tìm kiếm được tiếng nói đồng thuận từ cộng đồng quốc tế, bày tỏ quan điểm trong bảo vệ giá trị cốt lõi về thực thi quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Đồng thời sử dụng chính những công cụ trong các cơ chế hoạt động của diễn đàn để phê phán những lập luận thiếu chính xác, đưa ra bằng chứng phản bác những luận điệu xuyên tạc của những thành phần chống đối, thiếu thiện chí với Việt Nam.

Việt Nam đã ba lần tham gia thành viên của Hội đồng Nhân quyền của Liên Hợp Quốc, hiện nay Việt Nam đã tái đắc cử thành viên Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ 2026- 2028 với 180/190 phiếu bầu vào ngày 14/1/2025, cao nhất nhóm Châu Á – Thái Bình Dương. Đây được xem là thành công và điểm sáng về hồ sơ nhân quyền của Việt Nam đã được đại đa số các quốc gia trên thế giới biết đến và thừa nhận.

Những đóng góp, sáng kiến của Việt Nam được ghi nhận và thực thi ở phạm vi toàn cầu là minh chứng không thể chối bỏ cho việc các quyền con người liên quan đến tự do tín ngưỡng, tôn giáo tại Việt Nam được triển khai sâu rộng, gặt hái kết quả thành công.

Thứ ba, thông qua cơ chế trao đổi thông qua ngoại giao nhân dân, giữa các tổ chức tôn giáo trong nước và trên thế giới

Ngoại giao nhân dân là một hình thức triển khai sâu rộng chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đến với người dân ở trong và ngoài nước. Việt Nam là điểm sáng trong chính sách ngoại giao nhân dân trong thời gian qua đã tạo dựng vị thế, uy tín chính trị được cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Việt Nam đã sử dụng kênh ngoại giao nhân dân để làm cho người dân Mỹ, cộng đồng quốc tế hiểu rõ hơn về tình hình hoạt động tự do tôn giáo trong nước, tính chính danh của các tổ chức tôn giáo được công nhận theo quy định pháp luật; đồng thời, lên án những hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo với mục đích chính trị, chống phá chính quyền.

Ngoài ra, đặc trưng của lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo là các tổ chức tôn giáo Việt Nam có mối quan hệ sâu sắc với các tổ chức tôn giáo khu vực, thế giới. Điều này tạo điều kiện thuận lợi để Việt Nam tổ chức các hoạt động ngoại giao nhân dân, đối ngoại giữa tổ chức tôn giáo trong nước với các tổ chức tôn giáo trên thế giới. Thông qua mối quan hệ này, Việt Nam đưa ra những quan điểm về tình hình tự do tín ngưỡng, tôn giáo, việc thực thi chính sách pháp luật quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo.

Thời gian tới, để xây dựng cơ chế trao đổi giữa Việt Nam và Hoa Kỳ về thực thi quyền tự do tôn giáo, cần triển khai một số công việc trọng tâm sau:

Một là, tiếp tục hoàn thiện chính sách về tín ngưỡng, tôn giáo trong nước tạo cơ sở để thực hiện đối thoại giữa Việt Nam và Hoa Kỳ. Việt Nam đang từng bước hoàn thiện chính sách về tín ngưỡng, tôn giáo với việc ban hành quy định Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016; Nghị định 162/2017/NĐ-CP của Chính phủ về quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.

Gần đây, Việt Nam đã ban hành Nghị định số 95/2023/NĐ-CP thay thế cho Nghị định 162/2017/NĐ-CP. Việt Nam đang tích cực trong lộ trình triển khai sửa đổi, bổ sung Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đưa nội dung này vào chương trình hoạt động của Quốc hội năm 2026. Luật Tín ngưỡng, tôn giáo mới sẽ khắc phục những khó khăn, vướng mắc trong thực thi quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khi tham gia hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo chính đáng.

Việc hoàn thiện chính sách về tín ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong đối thoại giữa Việt Nam và Hoa Kỳ liên quan đến lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Trong đó, những nội dung liên quan đến cam kết của Việt Nam với cộng đồng quốc tế đã từng bước được ghi nhận bằng luật định, phản ánh nguyện vọng chính đáng của chức sắc, tín đồ tôn giáo trong nước với cơ chế, tiêu chuẩn chung của cộng đồng, gắn với đặc trưng văn hóa, chế độ tại Việt Nam.

Hai là, xây dựng cơ chế thông tin, kênh liên lạc thường xuyên giữa Việt Nam và Hoa Kỳ, phản bác những thông tin sai trái, vu cáo của đối tượng chống phá từ bên ngoài đối với Việt Nam trên lĩnh vực tôn giáo.

Hiện nay, những lập luận, chứng cứ trong Báo cáo thường niên của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đều dựa trên những thông tin sai lệch, do một số thành phần thiếu thiện chí, bất mãn tại hải ngoại cung cấp cho chính giới Mỹ.

Việc xây dựng cơ chế thông tin, kênh liên lạc thường xuyên liên quan đến lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo giữa Việt Nam và Hoa Kỳ cần được quan tâm đẩy mạnh, tạo hành lang để đưa những thông tin đúng đắn, phù hợp với tình hình thực tiễn đang diễn ra tại Việt Nam.

Đồng thời, qua cơ chế thông tin thường xuyên, Việt Nam đảm bảo đầy đủ điều kiện để các phái đoàn Bộ Ngoại giao Mỹ và cơ quan nhân quyền quốc tế trực tiếp khảo sát tình hình tự do tôn giáo, gặp gỡ chức sắc, tín đồ tôn giáo trong nước để hiểu rõ, hiểu đúng về thực thi quyền tự do tôn giáo tại Việt Nam.

Mặt khác, qua việc xây dựng cơ chế thông tin, Việt Nam chủ động cung cấp những chứng cứ, hoạt động vi phạm pháp luật của các đối tượng chống phá, lợi dụng vấn đề tôn giáo tại Việt Nam hòng thực hiện mục tiêu chính trị, gây cản trở mối quan hệ đối tác giữa Việt Nam và Hoa Kỳ.

Ba là, tạo cơ chế để tổ chức tôn giáo, chức sắc, tín đồ trong nước lên tiếng phản bác những luận điệu xuyên tạc, sai trái về tình hình tự do tín ngưỡng, tôn giáo, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của họ.

Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là lợi ích thiết thân, nhu cầu chính đáng của tổ chức, chức sắc, tín đồ trong nước. Việc đưa tiếng nói của tổ chức, cá nhân trong tôn giáo để phản bác các luận điệu xuyên tạc, sai trái về tự do tôn giáo là minh chứng sống động thực tiễn cho thấy quyền, lợi ích gắn với trách nhiệm, nghĩa vụ của chức sắc, tín đồ chân chính.

Thời gian qua, Việt Nam đã đa dạng cách thức xây dựng cơ chế để đưa tiếng nói của chức sắc, tín đồ đến với cộng đồng quốc tế. Báo chí tại Việt Nam đã tổ chức hàng trăm buổi phỏng vấn, hàng nghìn bài viết trong những năm qua để chức sắc, tín đồ lên tiếng thể hiện quan điểm về tình hình sinh hoạt tôn giáo; thông qua đó, vạch trần những thông tin sai trái liên quan trực tiếp đến lợi ích của họ để cộng đồng quốc tế nhìn nhận đúng đắn vấn đề.

Tóm lại, việc USCIRF công bố bản “Báo cáo thường niên về tình trạng tự do tôn giáo trên thế giới năm 2025” gây ra nhiều tranh luận về tính chính xác trong cộng đồng quốc tế và phản ứng dư luận của chức sắc, tín đồ tại Việt Nam. Đây là vấn đề đòi hỏi cả Việt Nam và Hoa Kỳ cùng phối hợp để thúc đẩy quan hệ hợp tác trao đổi liên quan đến lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo theo xu hướng tiêu chuẩn cộng đồng, phù hợp với cam kết song phương đã được trao đổi thời gian qua./.

 

GIỮ VỮNG TRẬN ĐỊA TƯ TƯỞNG TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG VỀ VẤN ĐỀ QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH

NĐT

Trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực đang có nhiều biến động nhanh chóng, phức tạp và khó dự báo, các thế lực thù địch ngày càng gia tăng hoạt động chống phá Việt Nam, đặc biệt trên không gian mạng. Một trong những thủ đoạn phổ biến của họ là xuyên tạc quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về mối quan hệ giữa quốc phòng và an ninh, từ đó kích động tâm lý hoài nghi, chia rẽ và làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Trước tình hình đó, việc nhận diện rõ bản chất của những luận điệu sai trái và kiên quyết đấu tranh phản bác là nhiệm vụ quan trọng nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, giữ vững ổn định chính trị, xã hội và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Theo tinh thần của Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân. Đại hội nhấn mạnh việc kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế, xã hội với tăng cường quốc phòng, an ninh và đẩy mạnh đối ngoại, coi đây là yêu cầu tất yếu để bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia, dân tộc. Trong đó, quốc phòng và an ninh là hai lĩnh vực có mối quan hệ mật thiết, thống nhất trong chiến lược bảo vệ Tổ quốc.

Quốc phòng nhằm bảo vệ cao nhất lợi ích quốc gia- dân tộc, kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc trước các nguy cơ xâm lược từ bên ngoài; trong khi đó, an ninh bảo đảm sự ổn định của chế độ, Nhà nước, nhân dân và trật tự, an toàn xã hội. Tuy có phạm vi và phương thức hoạt động khác nhau, song cả hai đều hướng tới mục tiêu chung là bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Đảng, bảo vệ nhân dân và bảo vệ thành quả cách mạng. Chính vì vậy, việc xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân là chủ trương nhất quán của Đảng trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng.

Tuy nhiên, các thế lực thù địch thường cố tình xuyên tạc rằng việc kết hợp quốc phòng với an ninh là biểu hiện của “quân sự hóa xã hội” hoặc “tăng cường kiểm soát xã hội”. Đây là luận điệu hoàn toàn sai trái và thiếu cơ sở. Thực tế cho thấy, bất kỳ quốc gia nào trên thế giới cũng đều coi bảo đảm quốc phòng và an ninh là nhiệm vụ sống còn của Nhà nước. Không có môi trường hòa bình và ổn định thì không thể phát triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân hay mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế.

Một luận điệu khác cũng thường được các đối tượng chống phá đưa ra là cho rằng Việt Nam “quá chú trọng quốc phòng, an ninh mà xem nhẹ phát triển kinh tế”. Thực tế hoàn toàn ngược lại. Đường lối của Đảng luôn xác định phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt, phát triển văn hóa, con người là nền tảng, còn quốc phòng, an ninh và đối ngoại là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên. Điều đó cho thấy quốc phòng và an ninh không tách rời mà luôn gắn bó chặt chẽ với sự phát triển của đất nước.

Bên cạnh đó, một số thế lực còn tìm cách chia rẽ mối quan hệ giữa quân đội và công an, cho rằng hai lực lượng này có sự cạnh tranh hoặc chồng chéo về chức năng. Đây là sự xuyên tạc có chủ ý nhằm phá hoại sự đoàn kết trong hệ thống bảo vệ Tổ quốc. Trên thực tế, quân đội nhân dân và công an nhân dân là hai lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ quốc phòng và an ninh, luôn phối hợp chặt chẽ trong nhiều nhiệm vụ quan trọng như bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, đấu tranh phòng chống tội phạm, phòng chống khủng bố, bảo vệ an ninh mạng và giữ gìn trật tự an toàn xã hội. Sự phối hợp này chính là biểu hiện sinh động của sức mạnh tổng hợp trong bảo vệ Tổ quốc.

Trong kỷ nguyên số hiện nay, không gian mạng đã trở thành một mặt trận mới trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Các thế lực thù địch lợi dụng mạng xã hội để lan truyền thông tin sai lệch, bóp méo sự thật, kích động tâm lý chống đối và gây mất ổn định xã hội. Do đó, mỗi cán bộ, đảng viên và người dân cần nâng cao cảnh giác, chủ động nhận diện các thông tin sai trái, đồng thời tích cực tham gia đấu tranh phản bác, góp phần bảo vệ sự thật và lan tỏa những giá trị tích cực của đất nước.

Cùng với đó, cần tiếp tục tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục về quốc phòng và an ninh cho toàn dân, giúp mọi người hiểu rõ vai trò, ý nghĩa của việc kết hợp chặt chẽ hai lĩnh vực này trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Khi nhân dân có nhận thức đúng đắn và niềm tin vững chắc vào đường lối của Đảng, các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch sẽ không còn đất để tồn tại.

Có thể khẳng định rằng, việc xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân theo tinh thần của Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam là chủ trương đúng đắn, phù hợp với điều kiện thực tiễn của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Đây không chỉ là yêu cầu khách quan của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc mà còn là nhân tố quan trọng bảo đảm cho đất nước phát triển nhanh và bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng.

Tóm lại, quốc phòng và an ninh có mối quan hệ gắn bó hữu cơ, bổ sung và hỗ trợ lẫn nhau trong chiến lược bảo vệ Tổ quốc. Những luận điệu phủ nhận hoặc xuyên tạc mối quan hệ này đều nhằm mục đích làm suy yếu sức mạnh của đất nước và gây mất ổn định xã hội. Vì vậy, việc kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái trên không gian mạng là trách nhiệm của toàn xã hội, góp phần bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và môi trường hòa bình để xây dựng và phát triển đất nước.