Ở VIỆT NAM KHÔNG BAO GIỜ CHẤP NHẬN ĐA ĐẢNG
LHS
Gần đây, các thế lực thù địch, phản động đang ráo riết, quyết liệt chống
phá cách mạng Việt Nam, trong đó có phủ nhận, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng
Cộng sản Việt Nam, với luận điểm “ở
Việt Nam không có đa nguyên, đa đảng thì không có dân chủ”. Các thế lực
thù địch, phản động đã và đang kêu gọi Việt Nam cần phải có “đa đảng đối lập”. Có thể khẳng định:
Đây là luận điểm tuyên truyền của các thế lực thù địch nhằm hướng tới mục đích
hàng đầu là làm suy yếu, đi đến phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản
Việt Nam, là mưu đồ hết sức thâm độc, nguy hiểm, trắng trợn của chúng.
Thực tiễn ở Việt Nam, đi lên chủ nghĩa xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng
Cộng sản Việt Nam là nguyện vọng và sự lựa chọn đúng đắn của Nhân dân ta. Và
chắc chắn khẳng định rằng ở Việt
Nam không cần và không chấp nhận chế độ đa đảng vì những lý do sau:
Thứ nhất, dưới góc độ lý luận: Cơ sở lý luận cho việc thực hiện
đa nguyên, đa đảng xuất phát từ chủ nghĩa đa nguyên - một trường phái triết học
xã hội tư sản do nhà triết học Đức Chiristian Woiff (1679 - 1754) đề
xuất vào đầu thế kỷ XVIII. Chủ nghĩa đa nguyên là một học thuyết phi Mác-xít
với luận điểm phủ nhận sự phân chia xã hội thành giai cấp, phủ nhận đấu tranh
giai cấp; chủ trương xây dựng một cơ chế quản lý xã hội theo nguyên tắc đa lực
lượng, đa đảng phái và các tổ chức đảng phái quan hệ với nhau theo nguyên tắc
hiệp thương. Vì vậy, nếu áp dụng luận điểm này vào xây dựng chủ nghĩa xã hội sẽ
làm hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản - đội tiên phong của giai cấp
công nhân (ở Việt Nam còn đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao
động và của dân tộc Việt Nam) và đi ngược lại với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh.
Thứ hai, xuất phát từ thực tiễn cách mạng của Việt Nam: Vào đầu
thế kỷ XX qua sự “sàng lọc” dữ dội của lịch sử, dân tộc Việt Nam, Nhân dân Việt
Nam đã lựa chọn Đảng Cộng sản Việt Nam là tổ chức chính trị duy nhất dẫn dắt
dân tộc ta đi đến độc lập, tự do và hạnh phúc. Trước sự bế tắc của nhiều phong
trào, tư tưởng đấu tranh giải phóng dân tộc ở Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế
kỷ XX, thì dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin (do Nguyễn Ái Quốc nghiên
cứu, tìm tòi và truyền bá vào cách mạng Việt Nam) và được sự chuẩn bị chín muồi
về chính trị, tư tưởng, tổ chức, Đảng Cộng sản Việt Nam đã ra đời (03/02/1930)
để lãnh đạo cách mạng Việt Nam - đây là một tất yếu lịch sử và đã chấm dứt thời
kỳ cách mạng Việt Nam khủng hoảng về đường lối, mở ra một thời kỳ mới cho lịch
sử dân tộc.
Sau khi ra đời, gắn bó máu thịt với nhân dân, được nhân dân đồng tình
ủng hộ và tin tưởng tuyệt đối, chỉ trong vòng 15 năm, Đảng ta đã lãnh đạo cuộc
đấu tranh giải phóng dân tộc, tiến hành ba cao trào cách mạng: Cao trào cách
mạng (1930 - 1931) với đỉnh cao là phong trào Xô Viết - Nghệ Tĩnh; Cao trào
cách mạng đòi dân sinh, dân chủ (1936 - 1939) và Cao trào cách mạng giải phóng
dân tộc (1939 - 1945). Đến năm 1945, khi thời cơ cách mạng chín muồi, Đảng Cộng
sản Việt Nam đã lãnh đạo toàn thể dân tộc Việt Nam làm nên thắng lợi của cuộc
Cách mạng tháng Tám năm 1945 “long trời, lở đất” thành lập nước Việt Nam Dân
chủ Cộng hòa vào ngày 02/9/1945.
Giai đoạn 1945 - 1975, phát huy truyền thống đoàn kết, yêu nước của
toàn dân tộc, Đảng đã lãnh đạo nhân dân lần lượt đánh bại mọi âm mưu, kế hoạch
xâm lược của kẻ thù, đặc biệt là thắng lợi trong Chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954
với đỉnh cao là Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động
địa cầu” chúng ta đã chiến thắng thực dân Pháp xâm lược; tiếp theo đó, trên cơ
sở đường lối đúng đắn, sáng tạo của Đảng, với sức mạnh tổng hợp của toàn dân
tộc, quân và dân ta đã lần lượt đánh bại các chiến lược chiến tranh của đế quốc
Mỹ, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thu giang sơn về một mối vào ngày 30/4/1975.
Với chiến thắng này, lịch sử và nhân dân Việt Nam một lần nữa đã lựa chọn Đảng
Cộng sản Việt Nam là lực lượng chính trị duy nhất có sứ mệnh lãnh đạo cách
mạng Việt Nam. Giai đoạn này, bên cạnh Đảng Cộng sản Việt Nam cũng song song
tồn tại 02 đảng khác là Đảng Dân chủ Việt Nam (ra đời năm 1944) và Đảng Xã
hội Việt Nam (ra đời năm 1946). Tuy nhiên, cả 02 đảng này chưa bao giờ đối lập
với Đảng Cộng sản Việt Nam, mà đều ủng hộ, thừa nhận vai trò lãnh đạo của Đảng
Cộng sản Việt Nam, cho đến năm 1988 đã tuyên bố tự giải tán.
Từ sau năm 1975 đến nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng, cả nước chung tay
khắc phục hậu quả nặng nề của chiến tranh để lại, tập trung khôi phục kinh tế
xã hội; chiến đấu bảo vệ biên giới, bảo vệ độc lập, chủ quyền lãnh thổ
thiêng liêng của Tổ quốc. Đặc biệt, đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
của Đảng (12/1986) đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước, đã đưa nước
ta đến nay vươn lên trở thành nước đang phát triển, có thu nhập trung bình; văn
hoá, xã hội tiếp tục phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân
được cải thiện; công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị có bước đột phá;
chính trị, xã hội ổn định, độc lập, chủ quyền được giữ vững; vị thế và uy tín
của đất nước ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế.
Những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử của cách mạng Việt Nam cho
đến nay chính là cơ sở thực tiễn thuyết phục nhất, là minh chứng hùng hồn nhất
để khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam là
nhân tố quan trọng quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Thực tiễn
đó khẳng định một chân lý ở Việt Nam, không có một lực lượng chính trị nào
khác, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm, uy tín
và khả năng lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đưa sự nghiệp
cách mạng của dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.
Thứ ba, có phải chỉ thực hiện đa đảng mới có dân chủ? Lý luận Mác
- Lênin đã khẳng định: Dân chủ là phạm trù có tính lịch sử và giai cấp. Do đó,
dân chủ xuất hiện khi có nhà nước, mỗi nền dân chủ phải gắn với một nhà nước
nhất định và dân chủ còn phụ thuộc vào trình độ phát triển văn hóa, kinh tế, xã
hội trong từng giai đoạn nhất định, Lênin khẳng định: ... Bất cứ nền dân chủ nào, xét đến cùng,
cũng đều phục vụ sản xuất và xét đến cùng, đều do các quan hệ sản xuất trong
một xã hội nhất định quyết định. Như vậy, thể chế một đảng lãnh đạo
hoàn toàn không đồng nghĩa với mất dân chủ, và cũng không phải dân chủ phát
triển chỉ khi gắn với thể chế đa đảng. Hiện nay, nhiều nước tư bản thực hiện
chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Các đảng có thể thay phiên nhau
cầm quyền ở một quốc gia trong một khoảng thời gian nhất định. Nhưng xét đến
cùng, các đảng đó đều là đảng của giai cấp tư sản, đại diện cho lợi ích của
giai cấp tư sản. Do đó, nền dân chủ đó là nền dân chủ tư sản, nền dân chủ chỉ
dành cho một bộ phận thiểu số, một số ít người trong xã hội. Như vậy, có thể
khẳng định: Không phải chỉ có thực hiện đa đảng mới có dân chủ; không phải có nhiều
đảng thì dân chủ hơn, ít đảng thì ít dân chủ hơn.
Thứ tư, ở Việt Nam hiện nay, nếu thực hiện đa đảng sẽ rất có thể
dẫn đến tình trạng các đảng tranh giành ảnh hưởng lẫn nhau, làm cho đất nước
hỗn loạn, chính trị mất ổn định, khối đại đoàn kết dân tộc sẽ bị phá vỡ. Đó
chính là thời cơ để các thế lực thù địch tấn công, lợi dụng. Như vậy, vì sự ổn
định và phát triển của đất nước, vì sự phát triển của nền dân chủ và hạnh phúc
của nhân dân, thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng xã hội dân giàu, nước mạnh,
dân chủ, công bằng, văn minh. Đất nước
Việt Nam, Nhân dân Việt Nam không cần đa đảng và không chấp nhận đa đảng./.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét