THẮNG LỢI CỦA CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU
NƯỚC - BÀI HỌC VỀ XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN VỮNG MẠNH TRONG KỶ
NGUYÊN MỚI
Hoa Súng
Thắng lợi của
cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu
nước với đỉnh cao là Đại thắng mùa Xuân năm 1975, là một thắng lợi vĩ đại của
lịch sử hàng nghìn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, “mãi mãi
được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một
biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí
tuệ con người, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ
XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc”
[1].
Thắng lợi vĩ đại đó đã mở ra kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc - kỷ
nguyên độc lập, thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là thành
quả của nhiều nhân tố, đó là: Sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng và Chủ
tịch Hồ Chí Minh với đường lối chiến tranh, phương pháp cách mạng đúng đắn; là
tinh thần chiến đấu anh dũng, kiên cường, mưu trí, sáng tạo của quân và dân ta
trong suốt 21 năm kháng chiến trường kỳ, gian khổ, hy sinh; là sức mạnh của
khối đại đoàn kết toàn dân tộc, sự chi viện to lớn của hậu phương miền Bắc và ý
chí quật khởi của tiền tuyến lớn miền Nam; là tình đoàn kết chiến đấu, gắn bó
keo sơn giữa ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia, cùng với sự giúp đỡ to lớn,
quý báu của Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa anh em, sự đồng
tình, ủng hộ, cổ vũ của nhân dân tiến bộ, yêu chuộng hòa bình trên thế giới.
Đóng góp vào thắng lợi vĩ đại đó có những chiến công xuất sắc của lực lượng
vũ trang nhân dân, sự hy sinh của hàng triệu anh hùng, liệt sĩ. Đại hội Đại
biểu Toàn quốc lần thứ IV của Đảng (tháng 12.1976) ghi nhận: “Đại hội tuyên
dương cán bộ, chiến sĩ các lực lượng vũ trang nhân dân anh hùng, suốt mấy chục
năm ròng đã chiến đấu cực kỳ anh dũng, từ gậy tầm vông, súng kíp đã lớn lên
thành những binh đoàn hùng mạnh, đánh thắng những kẻ thù hung ác, lập được
những chiến công oanh liệt từ trận Điện Biên Phủ đến Chiến dịch Hồ Chí Minh, làm rạng rỡ truyền
thống vẻ vang của quân đội ta, cùng với toàn dân viết nên bản anh hùng ca kỳ
diệu của chiến tranh cách mạng Việt Nam!” [2].
Để thực hiện thành công những nhiệm vụ chiến lược trong cuộc kháng chiến
chống Mỹ, Đảng, Nhà nước ta đã đặc biệt quan tâm, chăm lo xây dựng lực lượng vũ
trang nhân dân phát triển lớn mạnh, làm nòng cốt cùng toàn dân chiến đấu và
chiến thắng kẻ thù xâm lược, bảo vệ vững chắc thành quả cách mạng.
Chiến tranh đã lùi xa nửa thế kỷ, nhưng những bài học kinh nghiệm về xây
dựng lực lượng vũ trang nhân dân trong
kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đến nay vẫn vẹn nguyên giá trị cả về lý luận và
thực tiễn, nổi bật:
Một là, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt
của Đảng, sự quản lý, điều hành tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với lực
lượng vũ trang nhân dân.
Đây không chỉ là bài học kinh nghiệm sâu sắc trong cuộc kháng chiến chống
Mỹ, cứu nước, mà còn là nguyên tắc bất di, bất dịch trong xây dựng lực lượng vũ
trang nhân dân của Đảng, Nhà nước ta. Ngay trong giai đoạn đầu của cuộc kháng
chiến, Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 12 mở rộng (tháng 3.1957) đã ra Nghị
quyết về vấn đề xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng.
Nghị quyết xác định phương châm “tích cực xây dựng một quân đội nhân dân
hùng mạnh tiến dần từng bước đến chính quy hóa và hiện đại hóa” [3] và xác định
xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn quân và
toàn dân. Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng quân đội, củng cố quốc
phòng, Nghị quyết chỉ rõ: “yếu tố quyết định là cần tăng cường sự lãnh đạo của
Đảng và Chính phủ” [4].
Thực hiện Nghị quyết Trung ương lần thứ 12, dưới sự lãnh đạo tuyệt đối,
trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý, điều hành tập trung, thống nhất của
Nhà nước, sự đùm bọc, nuôi dưỡng, giúp đỡ của nhân dân, Quân đội ta đã liên tục
phát triển, ngày càng lớn mạnh, có đủ các thành phần, lực lượng Lục quân, Hải
quân, Phòng không - Không quân và các quân đoàn chủ lực; cùng các lực lượng
khác và toàn dân tạo nên sức mạnh tổng hợp lần lượt đánh thắng các chiến lược
chiến tranh của Mỹ - Ngụy.
Cùng với lãnh đạo xây dựng Quân đội nhân dân, Đảng, Nhà nước ta đặc biệt
quan tâm, chăm lo xây dựng, củng cố, phát triển lực lượng Công an nhân dân và
Dân quân tự vệ. Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư có
nhiều Nghị quyết, Chỉ thị quan trọng trong lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng lực lượng
Công an nhân dân thành lực lượng chuyên chính tuyệt đối trung thành với Đảng,
Nhà nước, liên hệ mật thiết với quần chúng, một lực lượng chiến đấu vững mạnh,
có tính chất vũ trang, có tổ chức chặt chẽ, tinh thông về nghiệp vụ và có trình
độ khoa học, kỹ thuật; đặt lực lượng Công an nhân dân dưới sự lãnh đạo “trực
tiếp, toàn diện và thống nhất về mọi mặt” [5] của Đảng.
Đối với lực lượng Dân quân tự vệ, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu
nước, Đảng ta chủ trương “lấy củng cố làm chủ yếu, đồng thời phát triển từng
bước vững chắc ở khắp mọi nơi, trọng tâm là các vùng xung yếu”, “các xí nghiệp,
công, nông trường mới xây dựng đều phải có tổ chức tự vệ, có cán bộ phụ trách
chỉ đạo chặt chẽ” [6]; theo đó, lực lượng Dân quân tự vệ được xây dựng, phát
triển vững chắc, rộng khắp, vừa bảo đảm lao động sản xuất, vừa bảo đảm nhiệm vụ
trị an, tác chiến khi cần thiết.
Dự báo thời gian tới, tình hình thế giới tiếp tục có nhiều biến động, diễn
biến nhanh chóng, phức tạp và khó dự báo. Trong nước, sự nghiệp đổi mới, xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử; cơ
đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế của đất nước được nâng lên, là tiền đề
quan trọng để đất nước vươn mình trong kỷ nguyên phát triển mới.
Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi, đất nước còn phải đối diện với nhiều
khó khăn, thách thức, xuất hiện những vấn đề phức tạp mới, nhất là những hạn
chế, yếu kém, mâu thuẫn, trong xã hội chưa được giải quyết dứt điểm; các thế
lực thù địch tăng cường chống phá, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, “phi
chính trị hóa” lực lượng vũ trang. Tình hình đó đòi hỏi việc giữ vững và tăng cường
sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý, điều hành tập
trung, thống nhất của Nhà nước đối với lực lượng vũ trang nhân dân và sự nghiệp
quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc càng trở nên cấp thiết, có ý nghĩa quyết
định quá trình phát triển, trưởng thành, chiến đấu và chiến thắng của lực lượng
vũ trang nhân dân.
Bối cảnh mới đòi hỏi chúng ta phải tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn
Đảng và hệ thống chính trị bằng những chủ trương, giải pháp quyết liệt, đồng
bộ, không ngừng, không nghỉ, toàn diện cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ
chức và cán bộ. Cùng với nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo các lĩnh vực kinh
tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại, Đảng, Nhà nước tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo xây
dựng, củng cố nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân và nền an
ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân, gắn với xây dựng, củng cố “thế trận
lòng dân” vững chắc; xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân cách mạng, chính quy,
tinh nhuệ, hiện đại; vững mạnh về chính trị, có chất lượng tổng hợp và sức mạnh
chiến đấu cao, làm nòng cốt trong sự nghiệp quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc
trong tình hình mới.
Tiếp tục nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, hoàn thiện cơ chế lãnh đạo
của Đảng, quản lý, điều hành của Nhà nước đối với lực lượng vũ trang nhân dân,
gắn với tăng cường hiệu lực, hiệu quả công tác đảng, công tác chính trị, góp
phần giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của
Đảng, sự quản lý, điều hành tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với lực
lượng vũ trang nhân dân, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới; không để bị bị động,
bất ngờ trước mọi tình huống.
Hai là, đặc biệt coi trọng xây dựng nhân tố chính trị, tinh thần của lực
lượng vũ trang nhân dân.
Quán triệt sâu sắc luận điểm của V.I.Lênin: “Trong mọi cuộc chiến tranh,
rốt cuộc thắng lợi đều tùy thuộc vào tinh thần của quần chúng đang đổ máu trên
chiến trường” [7] và quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Không quân đội nào,
không khí giới nào có thể đánh ngã được tinh thần hy sinh của toàn thể một dân
tộc” [8], Đảng, Nhà nước ta luôn coi trọng công tác xây dựng và phát huy nhân
tố chính trị, tinh thần của lực lượng vũ trang nhân dân và toàn dân, đặc biệt
là trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, khi mà quân và dân ta phải chiến
đấu chống lại kẻ thù hung bạo, có tiềm lực kinh tế và quân sự bậc nhất thế
giới.
Đảng ta chỉ rõ: “Về mặt tư tưởng, phải quán triệt hơn nữa quan điểm trường
kỳ gian khổ, tự lực cánh sinh nhất định thắng lợi; phải bồi dưỡng ý chí kiên
cường, tinh thần anh dũng chiến đấu, vượt mọi khó khăn gian khổ, quyết tâm giết
giặc cứu nước, tiến tới hoàn toàn giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc; phải
đề cao cảnh giác, khéo léo bảo toàn và che giấu lực lượng, chống phiêu lưu mạo
hiểm, nóng vội; phải giáo dục ý thức thắng không kiêu, bại không nản” [9].
Để xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân hùng mạnh, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ
của cuộc kháng chiến lâu dài, gian khổ, ác liệt, Đảng ta chủ trương trước hết
phải tăng cường công tác giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng, tiến hành chỉnh
huấn chính trị trong toàn quân, củng cố lập trường giai cấp công nông, nâng cao
trình độ giác ngộ xã hội chủ nghĩa, tinh thần yêu nước kết hợp chặt chẽ với
tinh thần quốc tế chân chính, nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng và bồi
dưỡng chí khí chiến đấu; khắc phục tư tưởng giảm sút ý chí chiến đấu, công
thần, kiêu ngạo, tự do vô tổ chức, vô kỷ luật.
Do xây dựng được nhân tố chính trị, tinh thần vững chắc, lực lượng vũ trang
nhân dân đã không sợ gian khổ, hy sinh, không chịu khuất phục trước kẻ thù hung
bạo, chiến đấu anh dũng, mưu trí, sáng tạo, lập nên những chiến công hiển hách,
cùng toàn dân giành thắng lợi vĩ đại trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước;
làm rạng danh đất nước, con người Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh.
Sức mạnh của lực lượng vũ trang nhân dân được tạo nên bởi nhiều nhân tố;
trong đó, nhân tố chính trị, tinh thần là cơ bản nhất. Quán triệt quan điểm
“Người trước, súng sau” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong tình hình hiện nay tiếp
tục xác định xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh về chính trị là
nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, là vấn đề có tính nguyên tắc, làm cơ sở để nâng
cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang nhân dân.
Quán triệt nguyên tắc này, trước hết, cần tăng cường tuyên truyền, giáo dục,
quán triệt, nâng cao nhận thức cho cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang nhân dân
về chủ trương, đường lối quân sự, quốc phòng, an ninh của Đảng.
Trên cơ sở thấu triệt quan điểm “bảo đảm quốc phòng, an ninh là trọng yếu,
thường xuyên”, lực lượng vũ trang nhân dân cần nêu cao tinh thần cảnh giác cách
mạng, thường xuyên nắm chắc tình hình, tham mưu và trực tiếp xử lý kịp thời,
hiệu quả các tình huống về quốc phòng, an ninh, đối ngoại, không để bị động bất
ngờ, ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột, mất an ninh, trật tự, thực
hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; giữ nước từ khi nước chưa nguy.
Trước sự xuất hiện các hình thái chiến tranh, loại hình tác chiến, không
gian chiến lược, phương thức tiến hành chiến tranh mới, Quân ủy Trung ương - Bộ
Quốc phòng, Đảng ủy Công an Trung ương - Bộ Công an và cấp ủy, chỉ huy, chính
quyền các cấp cần đặc biệt quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, giáo dục, rèn luyện cán
bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang nhân dân về mọi mặt; không ngừng nâng cao bản
lĩnh chính trị, tinh thần yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng, sẵn sàng
chịu đựng gian khổ, hy sinh, dám đánh, biết đánh và quyết đánh thắng mọi kẻ thù
xâm lược, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong mọi tình
huống.
Ba là, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân đủ về số lượng, có tổ chức, cơ
cấu, thành phần đồng bộ, cân đối, hợp lý, có chất lượng tổng hợp và sức mạnh
chiến đấu cao.
Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Đảng,
Nhà nước ta tiếp tục xây dựng, phát triển lực lượng vũ trang nhân dân gồm ba
thứ quân: bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân tự vệ. Nghị quyết của
Bộ Chính trị (họp từ ngày 6 đến ngày 10.12.1962) về tình hình, phương hướng và
nhiệm vụ công tác trước mắt của cách mạng miền Nam đã đề ra phương châm xây
dựng và phát triển lực lượng vũ trang ở miền Nam, trong đó xác định: “Phát
triển rộng rãi du kích và dân quân, nâng cao chất lượng của bộ đội chủ lực và
bộ đội địa phương” [10]; đồng thời, xác định rõ phương hướng và số lượng cụ thể
của mỗi thứ quân cần tập trung xây dựng ở miền Nam.
Trong cuộc kháng chiến này, Đảng, Nhà nước ta xây dựng, phát triển bộ đội
chủ lực gồm các binh chủng và quân chủng. Trong đó, xây dựng các quân đoàn chủ
lực làm lực lượng nòng cốt trên chiến trường miền Nam. Quân chủng Phòng không -
Không quân, Quân chủng Hải quân được xây dựng và phát triển ngày càng lớn mạnh,
cùng nhân dân và các lực lượng khác đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại bằng
không quân và hải quân của đế quốc Mỹ ra miền Bắc. Cùng với đó là việc tổ chức,
phát triển các mặt trận, các khối chủ lực lớn ở các khu, bộ đội vận tải chiến
lược trên đường Trường Sơn, đã làm cho bộ đội chủ lực thực sự là lực lượng chủ
yếu để thực hiện chiến lược làm chủ và tiến công tiêu diệt địch trên cả nước,
cùng toàn dân chiến đấu giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.
Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, bộ đội địa phương được xây
dựng và phát triển nhanh chóng trên cả nước, có sự phát triển về chất trong
cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Trên miền Bắc, bộ đội địa phương được xây
dựng đáp ứng với nhiệm vụ bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa với nhiều đơn vị bộ
binh, phòng không, công binh, pháo binh được thành lập… Trên chiến trường miền
Nam, tất cả các quận, huyện, thị xã, tỉnh, thành phố đều tổ chức bộ đội địa
phương để phát triển đấu tranh vũ trang và đấu tranh chính trị, phát triển ba
mũi giáp công (quân sự, chính trị và binh vận) trên cả ba vùng chiến lược (rừng
núi, nông thôn đồng bằng và đô thị).
Dân quân tự vệ được phát triển rộng khắp theo nguyên tắc có tổ chức đảng
lãnh đạo, phù hợp với điều kiện của từng địa phương, công trường, nông trường,
nhà máy, xí nghiệp, với quy mô vừa và nhỏ, phù hợp với các loại hình chiến
tranh khác nhau, các tình huống khác nhau.
Việc xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân trong cuộc kháng chiến chống Mỹ,
cứu nước đã bảo đảm sự cân đối giữa các thứ quân, lực lượng, phù hợp với sự
phát triển của đấu tranh vũ trang cách mạng, với vị trí chiến lược của từng thứ
quân, phù hợp với đường lối chiến tranh nhân dân trong từng thời kỳ, trên từng
chiến trường và trên cả nước. Mỗi thứ quân, mỗi lực lượng được huấn luyện, rèn
luyện toàn diện, không ngừng nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến
đấu, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ tác chiến; phối hợp chặt chẽ với các lực lượng
khác, tạo nên sức mạnh tổng hợp của thế trận chiến tranh nhân dân, cùng toàn
dân làm nên Đại thắng mùa Xuân năm 1975.
Ngày nay, trước yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, lực lượng vũ trang
nhân dân cần tiếp tục nghiên cứu, điều chỉnh, sắp xếp, tổ chức lại, bảo đảm
chất lượng, có số lượng, thành phần, tổ chức, cơ cấu phù hợp.
Theo đó, lực lượng vũ trang nhân dân cần quán triệt sâu sắc và thực hiện
nghiêm, hiệu quả chủ trương của Đảng, Nhà nước về sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ
thống thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; về xây dựng Quân
đội nhân dân và Công an nhân dân, nhất là Nghị quyết số 05-NQ/TW ngày
17.01.2022 của Bộ Chính trị về tổ chức Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn
2021 - 2030 và những năm tiếp theo, Nghị quyết số 12-NQ/TW ngày 16.3.2022 của
Bộ Chính trị về đẩy mạnh xây dựng lực lượng Công an nhân dân thật sự trong
sạch, vững mạnh, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ
trong tình hình mới.
Tiếp tục điều chỉnh tổ chức Quân đội nhân dân theo hướng tinh, gọn, mạnh
gắn với bố trí lại lực lượng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, bảo đảm
tính tổng thể, đồng bộ, hợp lý giữa các thành phần, lực lượng, phù hợp với
đường lối quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân và khả năng bảo đảm vũ khí,
trang bị; điều chỉnh tổ chức bộ máy Công an nhân dân theo hướng bộ tinh, tỉnh
toàn diện, xã vững mạnh, bám cơ sở; xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng
hậu, lực lượng Dân quân tự vệ vững mạnh, rộng khắp trên các vùng miền, trên
biển.
Chú trọng đổi mới, nâng cao chất lượng huấn luyện quân sự, trình độ kỹ,
chiến thuật, giáo dục chính trị, rèn luyện toàn diện gắn với bảo đảm tốt hậu
cần, kỹ thuật cho lực lượng vũ trang nhân dân; đẩy mạnh hội nhập quốc tế và đối
ngoại quốc phòng, an ninh, góp phần nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh
chiến đấu cho lực lượng vũ trang, đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ quốc phòng, an
ninh, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Bốn là, bảo đảm tốt vũ khí, trang bị kỹ thuật cho lực lượng vũ trang nhân
dân; tích cực nghiên cứu, vận dụng linh hoạt, nhuần nhuyễn nghệ thuật quân sự
Việt Nam đáp ứng các loại hình chiến tranh và thực tiễn phát triển của đối
tượng tác chiến.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, cùng với quan điểm “Người trước,
súng sau”, Đảng, Nhà nước ta luôn xác định vũ khí, trang bị là nhân tố cơ bản,
tạo nên sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang. Trên cơ sở đó, Đảng, Nhà
nước ta có nhiều biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo công tác cải tiến, bảo đảm vũ khí,
trang bị, phương tiện kỹ thuật cho lực lượng vũ trang theo phương hướng: “kết
hợp vũ khí thô sơ, vũ khí thông thường và vũ khí tương đối hiện đại, tiến lên
ngày càng hiện đại” [11].
Các biện pháp chính để cải tiến, bảo đảm vũ khí, trang bị cho lực lượng vũ
trang nhân dân trong giai đoạn này là: mua sắm, nhận viện trợ, tự sản xuất
trong nước, thu gom của địch; đồng thời, sử dụng thành thạo, sáng tạo các vũ
khí, trang bị hiện có với hiệu suất cao. Nhờ đó, lực lượng vũ trang nhân dân,
nhất là Quân đội nhân dân đã có một hệ thống vũ khí, trang bị tương đối đồng
bộ, tương đối hiện đại, bảo đảm cho chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu
được nâng lên, đủ sức đánh bại kẻ thù xâm lược có ưu thế vượt trội về vũ khí,
trang bị.
Song song với bảo đảm vũ khí, trang bị cho lực lượng vũ trang nhân dân,
Đảng, Nhà nước ta đặc biệt quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo nghiên cứu, phát triển và
vận dụng sáng tạo, linh hoạt, nhuần nhuyễn nghệ thuật quân sự phù hợp trong
điều kiện mới của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Quy luật phát triển của cuộc kháng chiến này ở miền Nam là kết hợp đấu
tranh vũ trang và đấu tranh chính trị, kết hợp chiến tranh cách mạng và khởi
nghĩa vũ trang, tiến công quân sự và nổi dậy của quần chúng, tiêu diệt địch và
giành quyền làm chủ. Trong đó, đấu tranh vũ trang giữ vai trò quyết định và chi
phối trong giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến bằng những chiến dịch quân sự
quy mô lớn.
Các đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân đã vận dụng linh hoạt, mềm dẻo và
không ngừng sáng tạo nghệ thuật tác chiến trong từng trận đánh, từng chiến
dịch, nhất là nghệ thuật tổ chức và sử dụng lực lượng, nghệ thuật cơ động lực
lượng, nghệ thuật tạo lập thế trận, nghệ thuật nghi binh, nghệ thuật chọn
hướng, mũi, mục tiêu tiến công và cách đánh… tạo nên ưu thế vượt trội về sức
mạnh để giành chiến thắng từng bước, tiến đến thắng lợi cuối cùng.
Ngày nay, trước sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ và cuộc Cách
mạng công nghiệp lần thứ tư, việc bảo đảm vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự, an
ninh thế hệ mới, hiện đại cho lực lượng vũ trang trở thành xu thế của nhiều
quốc gia trên thế giới.
Hiện đại hóa lực lượng vũ trang, nhất là Quân đội nhân dân và Công an nhân
dân là chủ trương đúng đắn của Đảng, Nhà nước ta, phù hợp với điều kiện, tình
hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và xu thế phát triển khoa học kỹ
thuật quân sự, an ninh trên thế giới.
Để hiện thực hóa chủ trương đó, cùng với xây dựng con người là nhân tố
trung tâm, có ý nghĩa quyết định, cần quan tâm bảo đảm tốt vũ khí, trang bị kỹ
thuật cho lực lượng vũ trang nhân dân, mà giải pháp có tính bền vững lâu dài là
phát triển nền công nghiệp quốc phòng, công nghiệp an ninh.
Tiếp tục quán triệt và thực hiện có hiệu quả chủ trương, đường lối về phát
triển công nghiệp quốc phòng, công nghiệp an ninh với phương châm chủ động, tự
lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại, gắn kết chặt chẽ và trở thành mũi nhọn của
công nghiệp quốc gia, đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa, bảo đảm tốt vũ khí, trang
bị cho lực lượng vũ trang trong mọi tình huống. Đồng thời, đẩy mạnh nghiên cứu
lý luận, tổng kết thực tiễn, tham khảo kinh nghiệm thế giới để phát triển nghệ
thuật quân sự, nghệ thuật bảo vệ an ninh quốc gia, an ninh xã hội trong tình
hình mới.
Năm là, xây dựng và phát triển mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa lực lượng
vũ trang với nhân dân, cùng toàn dân thực hiện thắng lợi đường lối chiến tranh
nhân dân của Đảng.
Lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam và Bác Hồ tổ
chức, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện, mang bản chất giai cấp công nhân, tính
nhân dân và tính dân tộc sâu sắc, chiến đấu vì mục tiêu, lý tưởng của Đảng, vì
hạnh phúc của nhân dân.
Dựa chắc vào nhân dân, tuyệt đối trung thành, phục vụ nhân dân và đoàn kết,
gắn bó máu thịt với nhân dân vừa là nguyên tắc căn bản trong nâng cao bản chất
cách mạng, tính nhân dân và tính dân tộc của lực lượng vũ trang, vừa là nét đẹp
truyền thống quý báu của Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và Dân quân tự vệ
Việt Nam.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Điểm trọng yếu là bất kỳ bộ đội chủ lực, bộ
đội địa phương, dân quân du kích đều phải bám sát lấy dân, rời dân ra là nhất
định thất bại. Bám lấy dân là làm sao cho được lòng dân, dân tin, dân mến, dân
yêu. Như vậy thì bất kể việc gì khó cũng làm được cả và nhất định thắng lợi”
[12].
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, sự nuôi dưỡng, đùm bọc, chở che,
giúp đỡ của nhân dân, được nhân dân cung cấp nhân lực và vật lực với tinh thần
“thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người” đã giúp lực lượng vũ
trang nhân dân nhanh chóng phát triển lớn mạnh.
Nghị quyết của Bộ Chính trị (tháng 12.1962) xác định: “Quá trình phát triển
của cuộc chiến tranh yêu nước của nhân dân miền Nam là quá trình phát triển của
một cuộc chiến tranh du kích, toàn dân, toàn diện và trường kỳ, chống lại một
kẻ địch mạnh, tàn bạo và thâm độc” [13]. Vì vậy, xây dựng và phát triển bền
vững mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa lực lượng vũ trang với nhân dân, cùng
toàn dân chiến đấu và chiến thắng không chỉ là vấn đề có tính nguyên tắc, mà
còn là sách lược chủ yếu để thực hiện thắng lợi đường lối chiến tranh nhân dân
của Đảng.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, trong những năm 1959 - 1960, lực lượng vũ trang
đã hỗ trợ đắc lực cho nhân dân miền Nam vùng lên, tiến hành phong trào Đồng
khởi, làm chủ nhiều vùng nông thôn rộng lớn.
Trong những năm đế quốc Mỹ thực hiện chiến lược “chiến tranh đặc biệt”
(1961-1965), quân và dân miền Nam đẩy mạnh phương châm đấu tranh “hai chân, ba
mũi”, kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang; đồng thời, vận động
đồng bào trong các ấp chiến lược đấu tranh, kết hợp với các đòn tiến công quân
sự và binh vận, phá vỡ kế hoạch lập ấp chiến lược của Mỹ - ngụy.
Khi đế quốc Mỹ chuyển sang thực hiện chiến lược “chiến tranh cục bộ”
(1965-1968), quân và dân ta tiếp tục thực hiện cuộc kháng chiến toàn dân, chủ
động tiến công địch trên cả ba vùng chiến lược, đồng thời đánh thắng các cuộc
chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ra miền Bắc.
Thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 và cuộc
Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất
đất nước là những biểu tượng sinh động nhất của sức mạnh toàn dân kháng chiến
với lực lượng vũ trang nhân dân là nòng cốt dưới sự lãnh đạo sáng suốt của
Đảng.
Trong giai đoạn hiện nay, Quân đội nhân dân, Công an nhân dân, Dân quân tự
vệ cần không ngừng phát huy truyền thống vẻ vang, đặc biệt là xây dựng mối quan
hệ đoàn kết, gắn bó máu thịt với nhân dân, nêu cao tinh thần trách nhiệm phục
vụ nhân dân, bảo vệ nhân dân.
Phát huy bản chất, truyền thống và thành tựu đã đạt được lực lượng vũ trang
nhân dân cần tiếp tục thực hiện tốt hơn nữa công tác dân vận bằng những việc
làm thiết thực nhằm góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và cuộc sống
bình yên của nhân dân; xung kích đi đầu trong phòng, chống, khắc phục hậu quả
thiên tai, dịch bệnh, tìm kiếm cứu nạn, cứu hộ, sẵn sàng có mặt ở những nơi
xung yếu, hiểm nguy để bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân.
Tích cực tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia xây dựng lực lượng vũ
trang và nền quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân gắn với xây dựng “thế
trận lòng dân” vững mạnh, phát huy vai trò to lớn của nhân dân trong thực hiện
đường lối quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, tạo nên sức mạnh tổng hợp to
lớn để thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là thành quả vĩ đại của
dân tộc ta trong thế kỷ XX. Khẳng định sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng
và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong hoạch định đường lối kháng chiến, xây dựng lực
lượng vũ trang nhân dân, đáp ứng với yêu cầu cao của cuộc kháng chiến chống
quân xâm lược.
Lực lượng vũ trang nhân dân đã làm tròn sứ mệnh cao cả, cùng toàn dân hoàn
thành sự nghiệp đấu tranh giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.
Những bài học kinh nghiệm rút ra từ cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, trong
đó có những bài học về xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân có ý nghĩa đặc biệt
quan trọng, cần tiếp tục được nghiên cứu, vận dụng và phát huy hơn nữa, góp
phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội
chủ nghĩa trong kỷ nguyên mới.
------------
[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 37, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 2004, tr. 471.
[2] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, tập 37, tr. 474.
[3] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd,tập 18, tr. 287.
[4] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, tập 18, tr. 300.
[5] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, tập 22, tr. 257.
[6] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, tập 22, tr. 243.
[7] V.I.Lênin,Toàn tập,tập 41, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005,tr.
147.
[8] Hồ Chí Minh, Toàn tập,Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 4,tr.
89.
[9] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, tập 23, tr. 147.
[10] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, tập 23, tr. 831.
[11] Ban Chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị, Chiến tranh
cách mạng Việt Nam 1945-1975 - Thắng lợi và bài học, Nxb Chính trị quốc gia -
Sự thật, Hà Nội, 2015, tr. 338.
[12] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, tập 4,tr. 448.
[13] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, tập 23, tr. 818.