Thứ Ba, 13 tháng 12, 2016

CHIẾN LƯỢC “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH” CHỐNG PHÁ VIỆT NAM
TRÊN LĨNH VỰC CHÍNH TRỊ TƯ TƯỞNG
Lĩnh vực chính trị và tư tưởng là những lĩnh vực hết sức quan trọng của một chế độ xã hội, có quan hệ mật thiết với nhau. Nói đến lĩnh vực chính trị là nói đến quan hệ về lợi ích giữa các giai cấp, các nhóm xã hội, các quốc gia dân tộc. Vấn đề quan trọng nhất để giải quyết quan hệ lợi ích trong xã hội có giai cấp là quyền lực chính trị của giai cấp thống trị, đây là vấn đề cơ bản, cốt lõi của chính trị. Vì vậy các thế lực thù địch bao giờ cũng quan tâm phá hại đến lĩnh vực chính trị, đến quyền lực Nhà nước, của giai cấp thống trị, tức là tấn công trước hết vào Đảng cộng sản là lực lượng lãnh đạo, giữ vai trò quyết định sự tồn vong của chế độ  XHCN. Muốn vậy phải làm chuyển biến về mặt tư tưởng, nhất là tư tưởng chính trị, nền tảng cơ sở của các quan điểm, chủ trương, đường lối chính sách của Đảng cộng sản. Có được sự chuển biến về tư tưởng mới có chuyển biến về hành động. Do đó để thực hiện chiến lược "Diễn biến hoà bình", CNĐQ, nhất là Mỹ rất coi trọng phá hoại trên lĩnh vực này. Trong cuốn "1999 chiến thắng không cần chiến tranh"R. Nixon từng nói "chúng ta cạnh tranh với Liên xô trên lĩnh vực quân sự, kinh tế, chính trị. Nhưng mấu chốt cuộc cạnh tranh Mỹ - Xô là tư tưởng. Toàn bộ vũ khí của chúng ta, các hiệp ước mậu dịch, ngoại viện sẽ không đến đâu nếu chúng ta thất bại về tư tưởng". Dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo là 4 đòn đột phá khẩu chọc thủng mặt trận chính trị tư tưởng nóng bỏng tại các nước XHCN, tạo ra "Khoảng trống tư tưởng" cho tư tưởng Tư sản tràn vào. Vì vậy, phá hoại về tư tưởng là khâu đột phá khẩu, mặt trận hàng đầu trong thực hiện DBHB. Hoạt động phá hoại về tư tưởng diễn ra dưới các hình thức sau:
Tuyên truyền phản bác, phủ định hệ tư tưởng cộng sản, trước hết là các nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin như: vấn đề giai cấp và đầu tranh giai cấp; nguyên tắc tập trung dân chủ; vấn đề chuyên chính vô sản; phủ định vai trò lãnh đạo, đả phá cương lĩnh, chiến lược, đường lối, quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam, đặc biệt là mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH; xuyên tạc cuộc đời và sự nghiệp vĩ đại của Hồ Chủ Tịch nhằm mục đích "hạ gục thần tượng Hồ Chí Minh" trong nhân dân Việt Nam và bạn bè quốc tế; phủ định những thành tựu của công cuộc đổi mới, ủng hộ cho các luận điệu đòi bỏ điều 4 trong hiến pháp năm 1992, đổi tên Đảng, tên nước...
Truyền bá các học thuyết chính trị - xã hội, các khuynh hướng tư tưởng - chính trị đối lập với chủ nghĩa Mác - Lênin như: chủ nghĩa đa nguyên, chủ nghĩa dân tộc, CNXH dân chủ, chủ nghĩa hiện sinh, thuyết hội tụ, thuyết văn hoá, tư hữu hoá trên lĩnh vực kinh tế, phi giai cấp; thương mại hoá trên lĩnh vực văn hoá văn nghệ; tự do hoá, chính trị hoá tôn giáo; ly khai các dân tộc thiểu số; phi cộng sản hoá các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp và đặc biệt là lực lượng vũ trang (Quân đội, An ninh, Cảnh sát), "vọng ngoại bài nội" kể cả mặt vật chất lẫn tinh thần, đề cao giá trị "tự do", "dân chủ" kiểu Mỹ, phương Tây... đưa vào các nước XHCN.
Tuyên truyền phủ nhận thành quả cách mạng, con đường đi lên CNXH. Lợi dụng triệt để sự sụp đổ của Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu và các khó khăn, sai lầm, thiếu sót trong lãnh đạo của Đảng để đả kích, bôi nhọ, gây mâu thuẫn nội bộ, chia rẽ Đảng với quần chúng.
Để thực hiện việc tuyên truyền, CNĐQ đứng đầu là đế quốc Mỹ đã nuôi dưỡng các thế lực phản động bên ngoài ra nhiều tờ báo có nội dung phản động, dựng nhiều đài phát thanh chĩa và Việt Nam, phát hành nhiều ấn phẩm văn hoá độc hại kích động, kể cả các hình thức tuyên truyền trên hệ thống truyền hình, Internet.. Tuy nhiên, hoạt động phá hoại tư tưởng không chỉ diễn ra dưới dạng tuyên truyền mà còn diễn ra dưới các dạng khác như:
 Tìm kiếm, móc nối các phần tử phản cách mạng, mua chuộc lôi kéo các phần tử đối lập, bất mãn với chế độ XHCN cũng như cán bộ, Đảng viên, quần chúng có lập trường tư tưởng không vững vàng, thoái hoá, biến chất..., nhất là các phần tử cơ hội chính trị ở trong nước, kích động họ chống đối lại chế độ XHCN. Tạo dựng "ngọn cờ" để tập hợp những phần tử chống CNXH thành lập các tổ chức phản cách mạng ở trong và ngoài nước để tiến hành các hoạt động chống đối, kích động bạo loạn, khi có thời cơ sẽ lật đổ chính quyền bằng cuộc cách mạng "nhung lụa" hoặc gây bạo loạn lật đổ. Lợi dụng kích động các vấn đề dân chủ, nhân quyền, tôn giáo, dân tộc để chọc thủng trận địa chính trị - tư tưởng. Tăng cường các hoạt động điều tra thu thập thông tin tình hình mọi mặt phục vụ cho tuyên truyền phản cách mạng và hoạt động phá hoại khác nhằm tạo


                                                                          ÁNH SÁNG
NHẬN DIỆN THỦ ĐOẠN XUYÊN TẠC, BÓP MÉO LỊCH SỬ TRONG CHIẾN LƯỢC "DIỄN BIẾN HÒA BÌNH" CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH HIỆN NAY
Những năm gần đây, chiến lược "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch tập trung chống phá các nước xã hội chủ nghĩa còn lại, trong đó Việt Nam là một trọng điểm. Chúng tìm mọi cách gây ra "sự hỗn loạn về lý luận", "sự mơ hồ về chính trị", "những khoảng trống về tư tưởng" và tâm lý hoài nghi, dao động về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội tiến tới xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Để thực hiện mục tiêu trên, chúng dùng nhiều thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, trong đó đặc biệt coi trọng thủ đoạn xuyên tạc, bôi nhọ và bóp méo lịch sử; triệt để lợi dụng những khúc quanh, "khoảng trống" của lịch sử, sự thiếu hiểu biết về lịch sử… để xuyên tạc những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Những thủ đoạn trên của các thế lực thù địch là cực kỳ nguy hiểm vì nó tạo ra sự nghi ngờ, gây tâm lý hoang mang và làm cho quần chúng mất niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Với ý nghĩa đó, để nhận diện đúng bản chất và vạch trần âm mưu thâm độc, thủ đoạn xảo quyệt của các thế lực thù địch trong việc xuyên tạc, bóp méo lịch sử là yêu cầu đặc biệt quan trọng trong cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận hiện nay. Thủ đoạn xuyên tạc, bóp méo lịch sử của các thế lực thù địch hiện nay nhằm chống phá cách mạng nước ta thể hiện chủ yếu trên một số vấn đề sau:
Một là, các thế lực thù địch lợi dụng sự khủng hoảng, thoái trào tạm thời của chủ nghĩa xã hội để phủ nhận lịch sử, phủ nhận giá trị của học thuyết Mác - Lênin, phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Thực tiễn đã khẳng định lịch sử diễn ra không phải bằng con đường trơn tru và thẳng tắp; cái mới, cái tiến bộ ra đời là đúng quy luật nhưng khó tránh khỏi những khúc quanh, những bước thăng trầm, thậm chí thất bại cục bộ, tụt lùi tạm thời trên con đường hoàn thiện. Đặc biệt với sự ra đời một hình thái kinh tế - xã hội xã hội chủ nghĩa chưa từng có trong lịch sử thì sự tồn tại những khúc quanh đó là điều dễ hiểu. Chính sự thoái trào tạm thời của chủ nghĩa xã hội ở Đông Âu và Liên Xô từ những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ XX là một trong những khúc quanh đó trong quá trình trưởng thành, phát triển của lịch sử xã hội loài người. Lợi dụng sự thoái trào đó, hiện nay, các thế lực thù địch tiếp tục lớn tiếng rêu rao rằng chủ nghĩa Mác - Lênin đã "lỗi thời", chủ nghĩa xã hội hiện thực là "quái thai" của lịch sử; con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là con đường "phi lịch sử" không có cơ sở hiện thực. Dựa vào sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Đông Âu và Liên Xô chúng cho rằng chủ nghĩa xã hội đã hết sức sống, Đảng Cộng sản đã bất lực không còn nắm được vai trò lãnh đạo xã hội. Từ đó chúng "khuyên" chúng ta nên từ bỏ con đường xã hội chủ nghĩa, từ bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin để đi theo "con đường thứ ba" chẳng phải chủ nghĩa xã hội mà cũng không phải tư bản chủ nghĩa, bởi vì chúng cho rằng thực tế chưa có một nước nào quá độ lên chủ nghĩa xã hội không qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa thành công. Luận điệu xuyên tạc đó của các thế lực thù địch đã làm cho một bộ phận cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân hoang mang, dao động, nghi ngờ về tính cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Và đó chính là "khoảng trống tư tưởng" mà chúng cố tình tạo ra nhằm chuyển hoá dần dần hệ tư tưởng vô sản sang hệ tư tưởng tư sản. Sự nguy hiểm của luận điệu này ở chỗ các thế lực thù địch lợi dụng khúc quanh, sự thoái trào cục bộ để phủ nhận toàn bộ lịch sử, đồng nhất sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Đông Âu và Liên Xô với sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới; đồng nhất sự sụp đổ của một bộ phận chủ nghĩa xã hội hiện thực với sự sụp đổ của cả học thuyết dẫn đường là chủ nghĩa Mác - Lênin, và từ đó phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, phủ nhận sự tồn tại của hình thái kinh tế - xã hội xã hội chủ nghĩa.
Hai là, các thế lực thù địch lợi dụng những "khoảng trống" của lịch sử để xuyên tạc, bóp méo sự thật. Những "khoảng trống" của lịch sử là có thực và sự tái hiện, giải thích nó đúng như nó đã tồn tại là việc làm khá khó khăn. Điều này đặt ra cho các nhà khoa học phải nghiên cứu, tìm tòi, hiểu đúng tiến trình lịch sử trên cơ sở thế giới quan, phương pháp luận khoa học, khách quan, trung thực và sự vững vàng về chính trị. Đồng thời để tái hiện, giải thích đúng những "khoảng trống" này liên quan đến rất nhiều yếu tố trong đó quan trọng nhất là những tư liệu và nhân chứng lịch sử. Trên thực tế, các thế lực thù địch thường lợi dụng chính những "khoảng trống" đó, tuyệt đối hóa và lấy đó làm "căn cứ" để giải thích hay chứng minh cho kết quả của cả tiến trình lịch sử. Đó là cách nhìn nhận, đánh giá phiến diện, cố tình làm sai lệch tiến trình, xuyên tạc, bóp méo lịch sử để chống phá cách mạng Việt Nam.
Ba là, các thế lực thù địch lợi dụng những sai lầm của Đảng Cộng sản trong quá trình vận dụng và phát triển học thuyết Mác - Lênin để bới móc, xuyên tạc, bôi nhọ lịch sử. Trên thực tế, trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện thực, các Đảng Cộng sản cầm quyền luôn luôn vận dụng linh hoạt và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể nước mình. Trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân được kết tinh trong đường lối chính trị của Đảng. Để biến đường lối thành hiện thực phải thông qua quá trình vận động cách mạng và tổ chức thực hiện. Tổng kết thực tiễn quá trình đó khó có thể tránh khỏi những hạn chế hoặc sai lầm ở một khâu, một bước nào đó và các thế lực thù địch thường triệt để bới móc và lợi dụng những thiếu sót đó để tiến công Đảng Cộng sản theo thể thức tuyệt đối hoá sai lầm, thổi phồng khuyết điểm. Chúng cố tình thổi phồng khuyết điểm của một bộ phận cán bộ, đảng viên, một tổ chức đảng thành khuyết điểm của toàn Đảng; sai lầm ở một khâu, một bước nào đó trong quá trình tổ chức thực hiện đường lối thành sai lầm của toàn bộ đường lối của Đảng, thậm chí có kẻ còn lớn tiếng cho rằng đó là sai lầm của cả học thuyết, sai lầm thuộc về bản chất của chủ nghĩa xã hội và của Đảng Cộng sản. Đồng thời, chúng còn lợi dụng lỗ hổng trong việc sửa chữa khuyết điểm, thiếu sót để phủ định sạch trơn quá khứ, phủ định những thành tựu vĩ đại của lịch sử nhằm gây tâm lý hoang mang, gieo rắc hoài nghi trong nhân dân, lôi kéo những cán bộ, đảng viên bất mãn, thoái hoá, biến chất bổ sung vào đội ngũ phản động hòng chống Đảng, chống nhân dân.
Bốn là, các thế lực thù địch luôn lợi dụng sự hiểu biết chưa đầy đủ về lịch sử, xem nhẹ truyền thống và chạy đua theo lối sống thực dụng của một bộ phận nhân dân trong đó chủ yếu là thanh niên để xuyên tạc, bóp méo lịch sử. Trong bối cảnh quốc tế mới, với sự bùng nổ thông tin và sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật và công nghệ, các thế lực thù địch với âm mưu "diễn biến hoà bình", không bỏ lỡ cơ hội ra sức tuyên truyền tác động vào thế hệ trẻ tư tưởng sống gấp, chạy theo đồng tiền, xem thường quá khứ… Sự nguy hiểm của âm mưu thủ đoạn này là ở chỗ chúng gieo rắc tư tưởng hoài nghi, phủ định quá khứ; lịch sử là cái để phê phán, còn hiện tại chỉ đơn thuần là lối sống hưởng thụ, thực dụng theo cơ chế thị trường tự do… Chúng ta nhận thức rằng, đất nước ta có được như ngày nay là sự phát triển liên tục của hàng ngàn năm lịch sử được Đảng ta nâng lên một tầm cao mới. Trách nhiệm của chúng ta là phải giáo dục thế hệ trẻ phát huy truyền thống yêu nước, anh hùng trong chiến đấu và xây dựng, nhân nghĩa, thương yêu đùm bọc lẫn nhau trong cuộc sống; không ngừng chăm lo giáo dục ý thức chính trị, phẩm chất đạo đức cách mạng cho thanh niên, tạo công ăn việc làm, lôi cuốn họ đóng góp sức mình vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đó chính là những biện pháp hữu hiệu nhằm ngăn chặn có hiệu quả ảnh hưởng tiêu cực của các luận điệu tuyên truyền tư sản tới thế hệ trẻ, xây dựng những người kế tục sự nghiệp của ông cha, xứng đáng là chủ nhân tương lai của đất nước.


                                                                Nhân Trần

Thứ Hai, 7 tháng 11, 2016

LÔI KÉO, CHUYỂN HÓA QUÂN ĐỘI VIỆT NAM NHẰM TỪNG BƯỚC LÀM SUY YẾU VÀ PHI CHÍNH TRỊ HÓA LỰC LƯỢNG VŨ TRANG
Mỹ xác định “chống phá, làm suy yếu lực lượng vũ trang nhân dân ta nói chung và Quân đội nhân dân Việt Nam nói riêng là một mũi nhọn trong sơ đồ tấn công Việt Nam”. Theo chúng, ĐCSVN còn đứng vững là do “vẫn nắm được lực lượng vũ trang. Nếu làm cho lực lượng vũ trang biến chất, ĐCSVN sẽ mất chỗ dựa, mất một công cụ đắc lực thực hiện chuyên chính vô sản, khi đó chế độ CSVN sẽ tan rã giống như Đông Âu và Liên Xô trước đây”.
Thực hiện ý đồ trên, Mỹ và phương Tây đã triển khai nhiều “kế hoạch” để tác động “chuyển hóa” Việt Nam nói chung và QĐNDVN nói riêng:
Thúc đẩy hợp tác quân sự Mỹ cho rằng, hợp tác quân sự Mỹ - Việt vốn là lĩnh vực nhạy cảm đối với Việt Nam và đang phát triển chậm, chưa tương xứng với các mối quan hệ hợp tác khác. Do đó, cần phải tìm cách thúc đẩy vấn đề này để nhằm thực hiện hai mục đích: (1) kéo Việt Nam vào cơ chế an ninh khu vực do Mỹ lãnh đạo, thực hiện ý đồ bao vây, cô lập Trung Quốc và mở rộng “cuộc chiến chống khủng bố” để gây ảnh hưởng ở khu vực; (2) Tiếp cận với lực lượng vũ trang Việt Nam để tác động, chuyển hóa nhằm thực hiện DBHB trên lĩnh vực quân sự đối với Việt Nam, làm cho Quân đội mất phương hướng hành động, chức năng bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ bị vô hiệu hóa. Các biện pháp Mỹ đã sử dụng để thúc đẩy hợp tác quân sự với Việt Nam  gồm:
Yêu cầu Việt Nam tham gia liên minh “chống khủng bố” nhằm từng bước tạo chỗ đứng, sự hiện diện quân sự của Mỹ  ở Việt Nam. Trong chủ trương chung tìm kiếm một đối tác an ninh mới tại khu vực Mỹ coi sự hợp tác về mặt quân sự với Việt Nam là một trong những “biện pháp chủ đạo” những lần tiếp xúc với Lãnh đạo ta, các quan chức Mỹ đều nhấn mạnh: “Ưu tiên cao nhất trong chính sách đối ngoại của Mỹ là chống khủng bố. Việt Nam nên hợp tác nhiều hơn với Mỹ và khu vực trong việc trao đổi thông tin về chống khủng bố”.. Việt Nam nên “thể hiện tinh thần hợp tác” bằng cách không phản đối Mỹ mở rộng cuộc chiến, chia sẻ thông tin tình báo, phong tỏa tài sản các nhóm khủng bố, truy lùng và bắt những kẻ khủng bố ở Việt Nam, cung cấp danh sách các tổ chức, cá nhân “khủng bố” ở Việt Nam cho cục Điều tra Liên bang Mỹ (FBI) mở Văn phòng tại Hà Nội, cho nhân viên FBI thường xuyên vào Việt Nam .. Mỹ đã nhiều lần đề nghị cho máy bay quá cảnh không phận Việt Nam “phục vụ chiến dịch chống khủng bố”, cho tàu chiến Mỹ được thăm căn cứ Hải quân Cam Ranh, thậm chí thăm dò thái độ của ta để thuê căn cứ này phục vụ mục đích lâu dài.
  Xâm nhập vào lĩnh vực giáo dục đào tạo trong Quân đội để dễ bề chi phối chuyển hóa. Mỹ tích cực vận động Quân đội ta tham gia chương trình hợp tác giáo dục đào tạo Mỹ - Việt (IMET). Các đoàn quân sự Mỹ đến thăm và làm việc tại Việt Nam đều đưa ra “thông điệp” rằng: “Mỹ hoan nghênh việc Việt Nam gửi học viên sang học tại các trường quân sự của Mỹ từ cấp phân đội cho tới cấp chiến lược, ngược lại Mỹ sẽ thúc đẩy để gửi các học viên của mình tới  học tập tại Việt Nam”.
  Đại sứ Mỹ tại Việt Nam, Mai-cơn Mi-cha-lác triển khai chương trình việc của mình trong nhiệm kỳ 2007-2011, trong đó có các nội dung: Từng bước tiếp cận ký kết các Hiệp định quân sự với Việt Nam về huấn luyện, đào tạo, trang bị vũ khí, tổ chức biên chế; tìm cách đưa Quân đội Việt Nam vào chương trình đối tác Thái Bình Dương của Hải quân Mỹ. Một số chuyên gia quân sự Mỹ cho rằng: Đã đến lúc Việt Nam nên cử một số sĩ quan trẻ, có năng lực đến học tại các trường đào tạo nguồn nhân lực chính trị cho quân đội và chính trường Mỹ (Học viên Lục quân - West Poin, Không quân - Colorado và Học viện Hải quân - Anapolis) để “hiểu hơn về học thuyết quân sự Mỹ và qua đó xây dựng mối quan hệ bạn bè nhằm phục vụ cho lợi ích của Việt Nam  trong tương lai”.
Tìm cách bãi bỏ một phần lệnh cấm bán vũ khí thông thường cho Việt Nam  và đưa ra các khoản viện trợ quân sự kèm theo điều kiện để lôi kéo. Họ xác định: Đây là “điểm khởi đầu” cho lộ trình “lôi kéo Việt Nam hợp tác quân sự” với Mỹ. Họ tuyên bố rằng: “Việc Mỹ xóa bỏ một phần lệnh cấm bán vũ khí đối với Việt Nam là 1 bước tiến quan trọng trong tiến trình bình thường hóa các mối quan hệ quân sự giữa Mỹ và Việt Nam”.
Thông qua các “kênh” khác nhau, Mỹ liên tục gửi các thông điệp cho Việt Nam về việc hợp tác quân sự Mỹ -Việt, như: Mỹ “thực tâm” mong muốn đẩy mạnh việc hợp tác quân sự với Việt Nam; Mỹ đang vận động Quốc Hội bỏ luật cấm vận bán vũ khí cho Việt Nam, nếu Việt Nam mua vũ khí của Mỹ thì Mỹ sẽ tính giá thấp cho Việt Nam ... Thực chất, Mỹ nhằm: thu lợi ích kinh tế, tranh giành thị trường vũ khí với các nước khác; buộc Việt Nam phụ thuộc vào trang bị vũ khí quân sự của Mỹ về lâu dài.
Mỹ còn đưa ra các khoản viện trợ quân sự cho Việt Nam (giành các ngân khoản viện trợ quân sự nước ngoài (FMF cho Việt Nam mua sắm các thiết bị phụ tùng quân sự, cho các hoạt động y tế, huấn luyện gìn giữ hòa bình) kèm theo điều kiện để thúc đây quan hệ giữa Quân đội hai nước, vừa gây mơ hồ ảo tưởng cho một số người để tạo ra mâu thuẫn, phân hoá nội bộ Quân đội ta.
Mỹ cũng chủ động hợp tác, đầu tư vào lĩnh vực điện hạt nhân ở Việt Nam và sẵn sàng giúp Việt Nam nghiên cứu vấn đề nguyên tử phục vụ mục đích hoà bình. Việc làm này của Mỹ là nhằm ngăn chặn khả năng Nga, Trung Quốc, ấn Độ chuyển giao công nghệ về hạt nhân cho Việt Nam mà Mỹ không kiểm soát được thì sẽ gây ra hậu quả khác như bài học nhãn tiền ở, Pakítxtan và gần đây là Iran.
  Lợi dụng vấn đề nhạy cảm liên quan đến Biển đông - Trường Sa để lôi kéo quân đội, tạo sự “nghi ngờ” của Trung Quốc nhằm chống phá quan hệ Việt Nam- Trung Quốc.
  Mỹ cho rằng, nếu Mỹ tăng cường hợp tác quân sự được với Việt Nam thì sẽ làm cho Trung Quốc ngày càng thêm “nóng mặt”, càng sớm đưa quan hệ Việt Nam về phía Mỹ, theo đó tiến trình “đồng minh hóa” càng được trở nên nhanh chóng. Do đó, Mỹ luôn đặt Việt Nam trong bối cảnh “đang lép vế với Trung Quốc tại Biển Đông - Trường Sa” để đưa ra quan điểm Việt Nam cần phải dựa vào Mỹ để bảo vệ lãnh hải của mình. Việt Nam nên chấp nhận một cách tích cực những gì mà Mỹ đang dành cho Việt Nam. Việc hợp tác sẽ khiến Trung Quốc sẽ không dễ “bắt nạt” Việt Nam  như hiện nay. Việt Nam và Mỹ cần phối hợp tổ chức các buổi trao đổi “tình hình an ninh vùng biển Nam Trung Hoa, trong đó có việc Trung Quốc “đe nẹt” các công ty nước ngoài, kể các các công ty Mỹ có hợp đồng làm ăn kinh tế với Việt Nam”.
  Sau khi Trung Quốc có các hành động khẳng định “chủ quyền” theo đường Lưỡi Bò, gia tăng hoạt động quân sự, bắt tàu cá của ngư dân Việt Nam ở Biển Đông - Trường Sa, Mỹ coi đây là cơ hội tốt để lôi kéo Quân đội, chống phá quan hệ Việt - Trung. Mỹ chủ trương sẽ khai thác triệt để những yếu tố có lợi xung quanh hành động xâm lấn của Trung Quốc để lôi kéo Việt Nam về phía Mỹ.Một khi Chính phủ Việt Nam đã nhận rõ các nguy cơ đến từ Trung Quốc thì Mỹ sẽ đẩy nhanh tiến trình “đồng minh hóa” Việt Nam.
Thúc ép các nước đồng minh tăng cường hợp tác với Quân đội Việt Nam trên lĩnh vực y tế để hỗ trợ Mỹ đẩy nhanh tiếp cận lôi kéo “chuyển hoá”.
  Mỹ đã gửi “công hàm” cho chính phủ các nước đồng minh kêu gọi hợp tác với Quân đội Việt Nam trên lĩnh vực y tế nhằm hỗ trợ cho Mỹ đẩy nhanh mối quan hệ Mỹ - Việt trên lĩnh vực quân sự. Mỹ yêu cầu các nước đồng minh cần lên các kế hoạch cụ thể trong hợp tác hoặc viện trợ về mặt y tế cho các cơ sở, trung tâm, viện nghiên cứu quân y của Quân đội Việt Nam. Những nước không có thế mạnh trong quan hệ Việt Nam trên lĩnh vực này có thể đóng góp tài chính để Mỹ đứng ra gây dựng và triển khai chương trình với phía Việt Nam.


                                                                                           BIỂN RỘNG
NHẬN DIỆN ÂM MƯU THỦ ĐOẠN CHỐNG PHÁ CÁCH MẠNG
CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH TRÊN LĨNH VỰC TÔN GIÁO
Trong những năm gần đây cùng với sự phát triển của tình hình đất nước, các tổ chức tôn giáo đã không ngừng phát triển về tổ chức, phát huy được những ảnh hưởng, thu hút được nhiều các tín đồ, tổ chức và hoạt động đúng Pháp luật, theo hướng “tốt đời, đẹp đạo”. Sinh hoạt tôn giáo có phần phát triển, những hoạt động lễ hội gần gũi với tôn giáo nhiều, mang nhiều màu sắc khác nhau, cũng xuất hiện nhiều hiện tượng mê tín dị đoan. Từ khi đổi mới và dân chủ hóa tự do tín ngưỡng càng có điều kiện thể hiện, đáp ứng nguyện vọng của một bộ phận nhân dân. Mặt khác cũng nói lên điều không bình thường đó là còn biểu hiện lợi dụng tín ngưỡng tôn giáo để phục vụ cho mưu đồ chính trị và hoạt động mê tín dị đoan. Cùng với hiện tượng mê muội cuồng tín nên một bộ phận quần chúng tín đồ bị các thế lực thù địch, phản động và phần tử xấu lừa bịp, kích động, lôi kéo vào các hoạt động chống phá cách mạng. Các thế lực thù địch, phản động và phần tử xấu tìm mọi cách để tạo dựng và lợi dụng mọi cơ hội, đẩy mạnh tuyên truyền vu cáo Việt Nam “không có tự do tôn giáo, đàn áp tôn giáo, vi phạm nhân quyền”. Chúng tạo cớ, tạo cơ hội để đưa cái gọi là “vấn đề tôn giáo ở Việt Nam” ra Liên hiệp quốc, đòi Liên hiệp quốc can thiệp với lý do “bảo vệ nhân quyền”; đòi trừng phạt Việt Nam, tạo điều kiện kích thích bọn phản động lợi dụng tôn giáo ở Việt Nam hoạt động phá hoại, gây bạo loạn lật đổ chế độ ta.
Các lực lượng thù địch, phản động cả trong và ngoài nước đang tìm mọi cách lợi dụng chính sách đổi mới, mở rộng dân chủ của ta để củng cố thế lực và phát triển mạnh  các tôn giáo; tìm mọi cách để lũng đoạn, nắm lấy quyền hành các giáo hội, thực hiện kiểu hoạt động “vừa hợp tác vừa kháng cự” đối với Nhà nước ta, tìm mọi cách làm cho tôn giáo trở thành “lực lượng chính trị đối lập, đối trọng” với Nhà nước Việt Nam đòi cái gọi là “tự do tôn giáo” thực chất là bác bỏ và chống lại sự quản lý của Nhà nước; kích động quần chúng gây rối và khi có thời cơ thì gây bạo loạn lật đổ chế độ.
Thủ đoạn của chúng là tìm mọi cách lôi kéo nắm những chức sắc, nhà tu hành mà chúng quan tâm trong các tôn giáo, tạo thành lực lượng bí mật, thông qua các hoạt động của tổ chức phi chính phủ (NGO), hoạt động xã hội từ thiện của tổ chức tôn giáo để cử người trực tiếp nắm bắt tình hình “tự do tôn giáo”; móc nối, tài trợ và chỉ đạo những phần tử phản động, chống đối cực đoan trong các tôn giáo ở Việt Nam tiếp tục lợi dụng các điểm nóng liên quan đến đất đai, hay việc Trung quốc hạ đặt giàn khoan, hay sự kiện cây xanh ở Hà Nội, hay là sự cố môi trường khiến cá chết hàng loạt ở 4 tỉnh miền trung để kích động giáo dân và quần chúng nhân dân tổ chức khiếu kiện tập thể chống phá Đảng, Nhà nước ta. Tạo dựng hành lang pháp lý để gây sức ép, thông qua một số dự luật liên quan đến “tự do tôn giáo” như “Chống đàn áp tôn giáo”, “HR.2431- Quyền tự do tôn giáo quốc tế”. Mặt khác, chúng triệt để lợi dụng các phần tử phản động, chống đối cực đoan ở trong và ngoài nước, thông qua các tổ chức tôn giáo thúc đẩy “tiến trình dân chủ”, xây dựng “xã hội dân sự” tại Việt Nam. Tìm mọi cách để đào tạo tay sai, cho tay sai luồn lách vào các cơ sở đào tạo của tôn giáo đã được Nhà nước cho phép để lũng đoạn và lợi dụng những nơi đó để phục vụ ý đồ của chúng.
Một số vụ việc lợi dụng tôn giáo để thực hiện mưu đồ chính trị điển hình như:
Vụ gây rối tại Giáo xứ Mỹ Yên/Nghi Lộc/Nghệ An: Ngày 22/5/2013, linh mục Đặng Hữu Nam, quản xứ Bình Thuận, xã Nghi Thuận, huyện Nghi Lộc (Nghệ An) tổ chức cho hàng trăm giáo dân ở nhiều địa phương về nhà thờ họ Trại Gáo cầu nguyện cho các bị cáo trong vụ án Hồ Đức Hòa cùng đồng bọn phạm tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền.
Trong vụ việc gây rối vừa qua ở Giáo sứ Cồn Sẻ, người ta đã nhận thấy sự có mặt của Mai Văn Tám là giáo dân xứ Cồn Sẻ, xã Quảng Phong, Quảng Trạch, Quảng Bình, một phần tử Việt Tân thuộc nhóm “Con đường dân chủ” vừa được Việt Tân đưa đi đào tạo ở Thái Lan về. Những đoạn clip vụ cáo Công an đánh dân, chính quyền đàn áp giáo dân đều do tên này quay và tung lên mạng. Trợ thủ đắc lực cho Mai Văn Tám là một giáo dân ở Thanh Hóa có nickname là “Trung Ton” (tên thật là Nguyễn Trung Tôn) và đồ đệ của hắn là Nguyễn Văn Tráng, nguyên là cựu chiến sĩ nghĩa vụ, một sinh viên bị lôi cuốn vào trào lưu “Con đường Việt Nam”, thành viên của cái gọi là “Hội anh em dân chủ”, thành viên “Hội thánh Ngôi sao lạ” và tự phong là Mục sư Tin Lành; từng chịu án quản chế cùng với Nguyễn Văn Đài. Và đương nhiên là không thể thiếu gương mặt của Lê Nguyễn Hương Trà, (tức Blogger “Cô Gái Đồ Long”), từng bị Cơ quan An ninh Việt Nam bắt tạm giam để điều tra về việc viết blog bịa đặt, xuyên tạc nhằm chống chính quyền.
Khi bị Cơ quan An ninh Việt Nam và quần chúng nhân dân vạch trần bộ mặt thật là những kẻ nhân danh “vì môi trường” để âm mưu tạo nên một cuộc “cách mạng cá” với những chiêu bài và mục tiêu tương tự như “cách mạng sắc màu” ở Đông Âu, Kavkaz, Bắc Phi, Ả Rập và một số nước khác, các phần tử Việt Tân thuộc các tổ chức ngoại vi như “Con đường Việt Nam”, “Hội Anh em dân chủ”, “The Voice”, “Hội Blogger Việt Nam”, “Hội Bầu bí tương thân”, lũ lượt từ Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh kéo nhau về Vinh. Tại đây, chúng đã nhân được sự “che chở” và “hợp tác” của giám mục Nguyễn Thái Hợp để tiếp tục lừa bịp giáo dân, tổ chức các hoạt động chống đối, phá rối trật tự trên địa bàn ba tỉnh miền Trung. Những khoản tiền mà tổ chức Việt Tân ở hải ngoại do lừa bịp mà quyên góp được của bà con Việt Kiều nhẹ da, cả tin cũng với những khoản tài trợ của NED và USAID cùng với một số tổ chức của CIA trá hình đội lốt NGO đã được chuyển về miền Trung cho các thành viên cốt cán của Việt Tân, và qua những người này, một phần không nhỏ những khoản đó đã được chuyển đến tay Giám mục Nguyễn Thái Hợp cùng đồng bọn.
Với âm mưu gây mất ổn định xã hội, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc trong những vụ việc tương tự sẽ có thể tiếp tục xảy ra, mỗi người dân cần nêu cao ý thức và cảnh giác trước âm mưu lợi dụng của các thế lực thù địch. Nếu không chính những người bị lợi dụng lại trở thành người vi phạm pháp luật để cho bè lũ phản động thực hiện âm mưu đen tối. Các cơ quan chức năng đã vào cuộc và sẽ nghiêm trị những thành phần xấu xa, những phần tử xúi dục, kích động, cầm đầu cuộc bạo loạn nhân danh bảo vệ môi trường, mượn nhà thờ, mượn Thiên Chúa giáo, núp bóng dưới bàn tay của Juda Nguyễn Thái Hợp. Và một lần nữa, âm mưu lợi dụng Thiên Chúa giáo, núp bóng nhà thờ để phá hoại, gây rối, gây bạo loạn của Việt Tân chắc chắn sẽ chuốc lấy thất bại thảm hại.

                                                                                ÔNG TRẦN
KHÔNG THỂ CHẤP NHẬN
QUAN ĐIỂM “PHI CHÍNH TRỊ HOÁ QUÂN ĐỘI”
Thời gian vừa qua, nhiều người công khai đưa ra quan điểm “phi chính trị hóa quân đội”, yêu cầu “quân đội đứng ngoài chính trị”. Họ cho rằng “Quân đội nhân dân Việt Nam từ Nhân dân mà ra, vì Nhân dân mà chiến đấu, cán bộ chiến sĩ quân đội đều là con em của Nhân dân, là để bảo vệ Nhân dân, bảo vệ Tổ quốc. Vì vậy quân đội ấy không phải bảo vệ bất cứ một đảng phái hay một thể chế chính trị nào. Và quân đội ấy phải là của Nhân dân, của toàn dân, không thể do Đảng cộng sản lãnh đạo, phải mang bản chất của toàn dân chứ không phải mang bản chất giai cấp công nhân của Đảng - một kiểu quân đội phúc lợi xã hội chung”. Thực chất của quan điểm đó là gì và vì sao chúng ta không thể chấp nhận quan điểm đó?
Có thể nói, người đưa ra quan điểm trên chưa nghiên cứu kỹ về lý luận cũng như thực tiễn tổ chức và hoạt động của quân đội; chưa am hiểu sâu sắc về bản chất quân đội kiểu mới - Quân đội nhân dân Việt Nam.
Về bản chất nói chung quân đội bao giờ cũng là công cụ bạo lực của một giai cấp, nhà nước, đảng chính trị nhất định để tiến hành đấu tranh vũ trang bảo vệ lợi ích của chính giai cấp, nhà nước, đảng chính trị đó. Về bản chất chính trị xã hội (bản chất giai cấp) của quân đội bao giờ cũng phụ thuộc vào bản chất giai cấp của giai cấp, nhà nước, đảng chính trị đã tổ chức ra, nuôi dưỡng và sử dụng quân đội ấy. Không có quân đội siêu giai cấp (mang nhiều bản chất giai cấp) hay phi giai cấp (không mang bản chất giai cấp). Quân đội có bổn phận bảo vệ lợi ích của giai cấp, nhà nước, đảng và thể chế chính trị đã tổ chức ra, nuôi dưỡng và sử dụng quân đội ấy. Không bao giờ có quân đội của giai cấp này, nhà nước này lại đi bảo vệ lợi ích của giai cấp khác, nhà nước khác. Khi lợi ích của giai cấp, nhà nước, đảng chính trị thống nhất với lợi ích của nhân dân lao động (như ở Việt Nam) thì quân đội đồng thời bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Nhân dân. Khi quan hệ lợi ích đó mâu thuẫn gay gắt và không thể điều hòa, nhà nước của các giai cấp thống trị sử dụng quân đội để trấn áp sự phản kháng của nhân dân, đàn áp phong trào yêu nước.
Quan điểm “phi chính trị hóa quân đội” thường xuất hiện ở những nền chính trị có cấu trúc đa đảng đối lập, nhất là khi sự tranh giành quyền lực giữa các đảng phái chính trị diễn ra gay gắt. Ban đầu những người đưa ra quan điểm trên muốn quân đội đứng ngoài cuộc đấu tranh của các đảng phái chính trị nhằm giành quyền kiểm soát các cơ quan quyền lực nhà nước, nhưng thực tiễn không có quân đội đứng ngoài chính trị. Trong cuốn “Đảng phái và chính trị ở Hoa Kỳ”, nhà nghiên cứu chính trị Mỹ Clinton Rossiter đã phân tích sâu sắc sự chia rẽ, tranh giành quyền lực dẫn đến những xung đột chính trị giữa Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa, coi đó là một đặc trưng của chính trường Mỹ. Dấu ấn trong nhiệm kỳ đầu của Tổng thống B. Ôbama chính là những đối đầu giữa hai đảng ở quốc hội hơn là những đạo luật và quyết sách được thông qua. Có thời điểm chính quyền gần như tê liệt bởi Đảng Cộng hòa nắm đa số ở Hạ viện đã phủ quyết hầu hết các quyết sách của Tổng thống. Trong bối cảnh đó, nhiều tướng lĩnh và chính khách đã kêu gọi “quân đội đứng ngoài chính trị”, nhưng trong thực tế cả hai đảng đều ra sức tranh giành sự ủng hộ về chính trị của quân đội.
Ở Thái Lan, nhiều chính khách yêu cầu “quân đội đứng ngoài chính trị”, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng từng cam kết “quân đội không can dự vào chính trường”, thậm chí Hiến pháp năm 1997 của Thái Lan tuyên bố loại quân đội khỏi chính trị nhưng trong thực tế không có điều đó. Ngày 19/9/2006, tướng Sonthi cùng một số tướng lĩnh quân đội làm đảo chính lật đổ chính phủ của Thủ tướng Thaksin. Trong 5 năm (2006 - 2011) các cuộc biểu tình, xung đột của các phe “Áo vàng” (PAD) và “Áo đỏ” (UDD) làm cho Thái Lan lâm vào khủng hoảng chính trị, bốn lần thay đổi chính phủ; quân đội đã tham gia trấn áp những người biểu tình ủng hộ Thaksin. Trong bầu cử tháng 7/2011, tướng Prayut Chanocha - Tổng Tham mưu trưởng liên quân tuyên bố quân đội không can thiệp vào chính trị, song lại hậu thuẫn đắc lực cho Đảng Dân chủ của cựu Thủ tướng Abhisit.
Trong chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá các nước xã hội chủ nghĩa, nhiều người ra sức truyền bá quan điểm “phi chính trị hóa quân đội”. Sẽ là sai lầm nghiêm trọng và phải trả giá rất đắt nếu ngộ nhận, mất cảnh giác trước âm mưu, thủ đoạn trên. Lịch sử thế giới đã cho chúng ta bài học xương máu về vấn đề này. Đó là vào những năm thập niên 90 của thế kỷ XX, những người lãnh đạo Đảng, Nhà nước Liên Xô đã rời bỏ nguyên tắc Đảng Cộng sản lãnh đạo Hồng quân trong xây dựng quân đội kiểu mới của chủ nghĩa Mác - Lênin, làm cho Hồng quân bị “phi chính trị hóa”, bị vô hiệu hóa. Đó là nguyên nhân quan trọng dẫn tới sự sụp đổ và tan rã của Liên bang Xô viết vào cuối năm 1991. Mặc dù lúc đó Hồng quân còn 3,9 triệu quân thường trực, được trang bị rất hiện đại, vượt xa các nước cả về lực lượng chiến đấu thông thường và lực lượng hạt nhân chiến lược nhưng “đứng ngoài” chính trị nên mất sức chiến đấu, không thể bảo vệ được Nhà nước Xô viết.
Quân đội nhân dân Việt Nam là một quân đội kiểu mới do Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện, mang bản chất cách mạng của giai cấp công nhân Việt Nam đồng thời có tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc, là lực lượng chính trị - lực lượng chiến đấu trung thành và tin cậy của Đảng, của Nhà nước và Nhân dân. Bản chất của Quân đội ta thể hiện rõ nét ở sự thống nhất hữu cơ tính đảng, tính giai cấp, tính nhân dân và tính dân tộc; được biểu hiện sinh động ở mục tiêu lý tưởng chiến đấu, cơ sở chính trị xã hội, cơ chế lãnh đạo, chỉ huy và chức năng, nhiệm vụ của mình. Lý tưởng chiến đấu của Quân đội ta là vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của Nhân dân. Đó là lý tưởng chính trị, đạo đức mang tính cách mạng, khoa học, thấm đượm tính nhân văn sâu sắc; không chỉ phản ánh sự vận động, phát triển đúng quy luật của xã hội Việt Nam đương đại mà còn phản ánh khát vọng thiêng liêng tự giải phóng, giành quyền độc lập - tự do - hạnh phúc và vươn lên làm chủ của các thế hệ người Việt Nam xuyên suốt hành trình lịch sử dân tộc. Lý tưởng chiến đấu đó thể hiện tình cảm sâu nặng và trách nhiệm chính trị cao cả của Quân đội đối với Đảng, với Tổ quốc và Nhân dân. Quân đội ta được xây dựng trên nền tảng vũ trang toàn dân và làm nòng cốt cùng toàn dân tiến hành đấu tranh vũ trang, thực sự là Quân đội của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân. Các thế hệ Bộ đội Cụ Hồ đều từ nhân dân mà ra, được tuyển chọn từ con em các tầng lớp nhân dân lao động. Quá trình trưởng thành của mỗi cán bộ, chiến sĩ Quân đội có những đặc điểm riêng, song đều có cái chung là sự lãnh đạo và giáo dục của Đảng, sự tôi luyện trong tổ chức quân sự và hoạt động quân sự, được Nhân dân hết lòng nuôi dưỡng, đùm bọc.
Quân đội ta do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt; Nhà nước thống nhất quản lý đối theo quy định của pháp luật. Các tổ chức đảng trong Quân đội hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, phân công cá nhân phụ trách theo chức trách, nhiệm vụ. Trên cơ sở bảo đảm sự lãnh đạo vững chắc, toàn diện, xuyên suốt của các tổ chức đảng thực hiện chế độ một người chỉ huy gắn với thực hiện chế độ chính ủy, chính trị viên trong Quân đội. Chức năng, nhiệm vụ của Quân đội ta có ý nghĩa chính trị, xã hội sâu sắc. Trong chiến đấu, Quân đội ta thực hiện xuất sắc vai trò nòng cốt cùng toàn dân đánh giặc, hỗ trợ tích cực cho đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang của quần chúng, chiến đấu ngoan cường, dũng cảm để giải phóng và bảo vệ Tổ quốc, xả thân hy sinh để bảo vệ Nhân dân. Trong lao động sản xuất, Quân đội ta tích cực tham gia phát triển kinh tế - xã hội gắn với tăng cường củng cố quốc phòng và an ninh, xung kích đến những vùng sâu, vùng xa còn nhiều khó khăn gian khổ để xây dựng những khu kinh tế - quốc phòng, những công trình có ý nghĩa chiến lược của đất nước. Trong thực hiện chức năng đội quân công tác, Quân đội ta luôn đồng cam cộng khổ cùng Nhân dân, tích cực vận động và giúp đỡ Nhân dân xóa đói giảm nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống, góp phần quan trọng xây dựng hệ thống chính trị và đời sống văn hóa ở cơ sở, giữ vững ổn định chính trị - xã hội và cuộc sống bình yên, hạnh phúc của Nhân dân; luôn đi đầu trong phòng, chống cứu hộ, cứu nạn, khắc phục hậu quả thiên tai, hỏa hoạn, xả thân trong hiểm nguy để cứu tính mạng và tài sản của Nhân dân. Có thể nói, tính chính trị và tính nhân văn gắn kết thống nhất trong bản chất và truyền thống của Quân đội ta và điều đó là không thể phủ nhận.
Thực tiễn cho thấy quan điểm “phi chính trị hóa quân đội” nêu trên đưa ra xuất phát từ những mưu đồ, toan tính cơ hội, thực dụng. Thực chất đó là tuyệt đối hóa chức năng xã hội để cố tình phủ nhận chức năng thống trị giai cấp của quân đội; là lôi kéo Quân đội ta xa rời hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa và mục tiêu lý tưởng chiến đấu vì độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; tách Quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng, làm cho Quân đội mất phương hướng chính trị và bị vô hiệu hóa; đồng thời làm cho Đảng, Nhà nước không còn nắm vững công cụ bạo lực trong tay. Chúng ta không thể chấp nhận quan điểm đó, bởi đó sẽ là nguyên nhân làm suy yếu sức mạnh chiến đấu của Quân đội, dẫn đến mất ổn định chính trị - xã hội và đưa đất nước lâm vào khủng hoảng chính trị.


                                                                                   Nhân Trần
CÁCH MẠNG THÁNG MƯỜI TIẾP TỤC SOI SÁNG 
CON ĐƯỜNG CHÚNG TA ĐI

Sau sự kiện Liên Xô tan rã (1991), các thế lực thù địch với chủ nghĩa xã hội (CNXH) càng ra sức xuyên tạc ý nghĩa của Cách mạng Tháng Mười. Họ nói Cách mạng Tháng Mười là một lỗi lầm bi thảm của lịch sử! Có thật như vậy không?
Đương nhiên chúng ta không thể chờ đợi ở họ một thái độ nào khác. Điều đáng quan tâm là, trong số những người yêu mến Cách mạng Tháng Mười đôi khi cũng có một số ý kiến phân vân, thắc mắc: Thực tiễn gần 100 năm qua có chứng minh tính tất yếu lịch sử Cách mạng Tháng Mười không? Có đúng là Cách mạng Tháng Mười đã mở đầu thời đại mới, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản (CNTB) lên CNXH? Do đó, Cách mạng Tháng Mười có tiếp tục soi sáng con đường phát triển cách mạng của loài người hay không?
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng đánh giá: “Giống như mặt trời chói lọi, Cách mạng Tháng Mười chiếu sáng khắp năm châu, thức tỉnh hàng triệu, hàng triệu người bị áp bức, bóc lột trên Trái Đất. Trong lịch sử loài người chưa từng có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa to lớn và sâu xa như thế”.
Ngày 7-11-1917, lần đầu tiên, công nhân, nông dân, quần chúng lao động bị áp bức bóc lột, dưới sự lãnh đạo của chính đảng kiểu mới của giai cấp công nhân, đã đứng lên đập tan ách thống trị của bọn địa chủ và tư bản, tự mình nắm lấy chính quyền, tự mình bắt tay xây dựng xã hội mới, xã hội cộng sản chủ nghĩa mà giai đoạn đầu của nó là CNXH. Khác với các cuộc cách mạng tư sản thay thế ách thống trị phong kiến bằng ách thống trị của giai cấp tư sản, Cách mạng Tháng Mười thực hiện sứ mệnh giải phóng quần chúng lao động khỏi mọi chế độ áp bức bóc lột, đưa họ từ thân phận người nô lệ làm thuê lên địa vị người chủ của xã hội.
Với Cách mạng Tháng Mười, lần đầu tiên trong lịch sử, quyền tự quyết của các dân tộc đã được thực hiện trên một phần hành tinh. Cách mạng Tháng Mười đem lại nhà máy cho công nhân, ruộng đất cho nông dân, hòa bình và hữu nghị cho các dân tộc, bình đẳng, tự do, hạnh phúc cho mọi người.
Cách mạng Tháng Mười không chỉ tuyên bố những lý tưởng cao cả mà nó thực sự hành động vì những lợi ích thiết thân nhất, bức xúc nhất của nhân dân. Cuộc khởi nghĩa ở Xanh Pê-téc-bua vừa thành công, chính quyền Xô-viết lập tức ban bố các sắc lệnh về hòa bình và ruộng đất.
Có kẻ vu khống Cách mạng Tháng Mười là say mê bạo lực. Sự thật thế nào? Các giai cấp tư sản, địa chủ không tự nguyện rời bỏ địa vị thống trị, đã điên cuồng dùng bạo lực chống lại nhân dân. Trong điều kiện đó, không có bạo lực cách mạng của quần chúng thì cách mạng không thể thành công. Để bảo vệ thành quả cách mạng, quần chúng công-nông nước Nga đã đáp lại một cách kiên quyết nhất đối với bạo lực phản cách mạng của bọn địa chủ, tư bản và bọn đế quốc can thiệp. Song, Lê-nin và Đảng Bôn-xê-vích chủ trương hạn chế ở mức thấp nhất sự đổ máu, mà nếu tránh được thì tốt nhất. Như mọi người đều biết, khẩu hiệu “Toàn bộ chính quyền về tay các Xô-viết!” là khẩu hiệu của sự phát triển cách mạng một cách hòa bình, sự phát triển đó có khả năng thực hiện vào tháng 4, tháng 5, tháng 6. Cho đến đầu tháng 7-1917, khi chính quyền đã chuyển sang tay bọn độc tài quân phiệt thì khẩu hiệu ấy không còn đúng nữa và Lê-nin thay bằng khẩu hiệu “Chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang!”. Nhưng đến đầu tháng 9-1917, khi có một động thái mới từ phía Đảng Xã hội cách mạng và bọn men-sê-vích, lại xuất hiện khả năng trở lại với khẩu hiệu “Toàn bộ chính quyền về tay các Xô-viết”, nghĩa là trở lại khả năng hòa bình phát triển cách mạng, cái khả năng mà Lê-nin nói là “cực kỳ hiếm hoi trong lịch sử và cực kỳ quý báu”, “cái khả năng đặc biệt hiếm hoi đó” “nếu còn dù chỉ là một phần trăm hy vọng thôi, thì hy vọng đó cũng rất đáng được níu lấy”.
Vậy là, từ mục tiêu cho đến hành động, Cách mạng Tháng Mười thật sự là nhân đạo, văn hóa và văn minh. Không ai có thể bôi nhọ thanh danh của Cách mạng Tháng Mười!
Là sự nghiệp của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, Cách mạng Tháng Mười đã phát huy cao độ chủ nghĩa anh hùng, tinh thần hy sinh, lòng dũng cảm, nghị lực cách mạng phi thường, tài năng sáng tạo của giai cấp công nhân và quần chúng nhân dân trong cuộc đấu tranh giành chính quyền, bảo vệ chính quyền cũng như trong xây dựng xã hội mới. Lần đầu tiên trong lịch sử, những người lao động bị áp bức đứng lên thực hiện vai trò làm chủ xã hội, làm chủ vận mệnh của mình. Đó là giá trị nhân bản lớn nhất, đích thực của Cách mạng Tháng Mười.
Khi nhân dân Nga làm cách mạng vô sản thành công thì Việt Nam đang chìm trong đêm dài nô lệ. Cả đến cái tên Việt Nam cũng biến mất trên bản đồ thế giới. Tình hình đất nước đen tối như không có đường ra!
Với truyền thống yêu nước bất khuất, nhân dân ta không lúc nào ngừng đấu tranh chống đế quốc và tay sai. Song, các phong trào yêu nước theo đường lối phong kiến hoặc theo khuynh hướng tư sản đều thất bại, vì đường lối ấy không đáp ứng được những yêu cầu cơ bản của công, nông chiếm hơn 90% dân số. Đường lối ấy không phù hợp với tình hình đất nước và xu thế của thời đại. Giữa lúc đó, Nguyễn Ái Quốc, người con ưu tú của dân tộc, sau 10 năm bôn ba tìm đường cứu nước đã đến với ánh sáng Chủ nghĩa Mác – Lê-nin, ánh sáng của Cách mạng Tháng Mười. Trong tác phẩm Đường cách mệnh, Người viết: “Cách mệnh Nga dạy cho chúng ta rằng muốn cách mệnh thành công thì phải dân chúng (công nông) làm gốc, phải có đảng vững bền, phải bền gan, phải hy sinh, phải thống nhất. Nói tóm lại là phải theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư và Lê-nin”. Đọc Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lê-nin, Nguyễn Ái Quốc sớm nắm bắt được cái cốt lõi trong tư tưởng Lê-nin là “Vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức, đoàn kết lại!”. Nguyễn Ái Quốc đã đi đến chân lý về con đường giải phóng của Việt Nam, Người nói: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”.Đó là con đường gắn mục tiêu độc lập dân tộc với mục tiêu chủ nghĩa xã hội, gắn cách mạng Việt Nam với xu thế của thời đại. Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam do Người sáng lập đã vận dụng và phát triển sáng tạo những chân lý phổ biến của Chủ nghĩa Mác – Lê-nin, những bài học kinh nghiệm của Cách mạng Tháng Mười vào điều kiện cụ thể nước ta, đưa cách mạng Việt Nam vượt qua muôn trùng thử thách tiến đến thắng lợi ngày nay.
Sự bắt gặp giữa yêu cầu giải phóng dân tộc, giữa chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam với Chủ nghĩa Mác – Lê-nin, học thuyết cách mạng của thời đại, đỉnh cao của tư tưởng xã hội loài người, là cuộc gặp gỡ tự nhiên, tất yếu, thật điển hình. Đó tựa như một “cuộc hẹn gặp lịch sử tuyệt đẹp” (nói như cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng) giữa dân tộc và thời đại, giữa hai trào lưu cách mạng lớn là cách mạng vô sản và cách mạng giải phóng dân tộc. Chủ nghĩa Mác – Lê-nin và những tư tưởng của Cách mạng Tháng Mười- qua Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh-đến với dân tộc Việt Nam tuyệt nhiên không phải cái “chồi ghép” như ai đó cố tình xuyên tạc.
Mặc dù Cách mạng Tháng Mười đã cách chúng ta gần một thế kỷ, song những tư tưởng vĩ đại của nó vẫn là nguồn sáng soi đường cho nhân dân ta giành những thắng lợi mới trên con đường tiến tới mục tiêu cao cả là xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, nhân dân ấm no hạnh phúc, tự mình làm chủ vận mệnh của mình và của đất nước.
Trên thế giới đã có không ít công trình nghiên cứu sự kiện Liên Xô tan rã. Điều đáng nói là, cả những người cộng sản và các học giả, chính khách tư sản đều cho rằng, Liên Xô sụp đổ là điều bất ngờ, còn sự sụp đổ diễn ra dễ dàng như thế thì thậm chí không một ai nghĩ tới!
Trong lịch sử, một chế độ xã hội mới, đang lên, do nhiều nguyên nhân, vẫn có thể lâm vào khủng hoảng. Nhưng về căn bản đây là khủng hoảng của sự phát triển, khủng hoảng của trưởng thành. Loại khủng hoảng này chẳng những không tất yếu dẫn tới sụp đổ, trái lại, nếu được giải quyết đúng đắn, kịp thời, sẽ đưa xã hội mới tiến lên một giai đoạn phát triển cao hơn về chất. Chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô trong nhiều thập kỷ đã khẳng định và được thực tiễn lịch sử khẳng định là một chế độ xã hội giàu sức sống, có tiềm năng vô tận. Song về sau, phương thức xây dựng CNXH đã phạm những sai lầm chủ quan nghiêm trọng, kéo dài làm suy giảm và triệt tiêu động lực phát triển của CNXH là sức sáng tạo của quần chúng nhân dân.
C.Mác, Ph.Ăng-ghen, V.I.Lê-nin kiên quyết bác bỏ quan điểm cho rằng, CNXH là nhất thành bất biến. Không ngừng đổi mới là bản chất của CNXH, là quy luật tồn tại, phát triển, đồng thời là nguyên lý tự bảo vệ của CNXH. Chỉ qua thường xuyên đổi mới đúng đắn, hợp quy luật, CNXH mới chiến thắng được CNTB, đặc biệt trên lĩnh vực quan trọng nhất là năng suất lao động.
C.Mác và Ph.Ăng-ghen từng chỉ rõ: Chủ nghĩa cộng sản không phải là một trạng thái cần phải sáng tạo ra, không phải là một lý tưởng mà hiện thực phải khuôn theo. Ngay sau Cách mạng Tháng Mười, Lê-nin đã nhấn mạnh rằng: “Tính sáng tạo sinh động của quần chúng, đó là nhân tố cơ bản của xã hội mới”và “CNXH không phải là kết quả của những sắc lệnh từ trên ban xuống. Tính chất máy móc hành chính và quan liêu không dung hợp được với tinh thần của CNXH; CNXH sôi động, sáng tạo là sự nghiệp của bản thân quần chúng nhân dân”. Những người xã hội chủ nghĩa thường chưa quán triệt đầy đủ quan điểm mác-xít nói trên.
Chính Lê-nin đã nêu tấm gương ngời sáng nhất về tinh thần đổi mới, sáng tạo trong hoạt động thực tiễn cũng như trong tư duy lý luận. Phẩm chất hết sức nổi bật ở Người là luôn bám sát cuộc sống, một ly cũng không xa rời thực tiễn.
Sau khi Lê-nin mất, những tư tưởng cách mạng và khoa học của Người tiếp tục được vận dụng trong sự nghiệp xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, đưa đến những thành tựu không thể phủ nhận. Song, những biểu hiện của tư duy giáo điều, xơ cứng, không phù hợp với tinh thần biện chứng của CNXH cũng xuất hiện và ngày càng chi phối đường lối, phương thức xây dựng xã hội chủ nghĩa. Những biện pháp, cơ chế quản lý tập trung cao đã phát huy tác dụng trong điều kiện phải gấp rút công nghiệp hóa, trong chiến tranh giữ nước, trong khôi phục kinh tế sau chiến tranh, nhưng từ những năm 50 của thế kỷ 20, dần dà trở thành cơ chế kìm hãm đối với sự phát triển. CNXH cần cơ chế mới năng động, đáp ứng đòi hỏi bức bách của cuộc cách mạng khoa học-kỹ thuật đang diễn ra trên thế giới. Khi cơ chế cũ ngày càng tỏ ra không phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế, biểu hiện ở sự trì trệ kéo dài thì vấn đề đặt ra là, vì lợi ích của CNXH, nhất thiết phải đổi mới, cải cách, cải tổ. Khủng hoảng đã diễn ra thì đòi hỏi cải tổ càng bức bách.
Nhưng cải tổ thế nào? Nhằm mục tiêu xã hội chủ nghĩa hay tư bản chủ nghĩa? Kiên trì Chủ nghĩa Mác – Lê-nin hay chuyển sang hệ tư tưởng tư sản? Giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản hay xóa bỏ nó? Giữ vững độc lập dân tộc hay lệ thuộc vào phương Tây? Vận mệnh của chủ nghĩa xã hội phụ thuộc vào câu trả lời đối với các câu hỏi ấy. Hay nói cách khác, với câu hỏi khái quát hơn: Có kiên quyết đổi mới hay không và đổi mới như thế nào, theo con đường nào? Đó là vấn đề có ý nghĩa sống còn đối với sự nghiệp cách mạng.
Đảng ta chủ trương kiên quyết đổi mới nhưng đổi mới có nguyên tắc. Đổi mới không có nghĩa là từ bỏ chủ nghĩa xã hội mà cốt để đi tới những mục tiêu của CNXH với những bước đi, hình thức, phương pháp thích hợp, đúng đắn và có hiệu quả hơn. Để cải cách, đổi mới thành công vì lợi ích của nhân dân, của Tổ quốc xã hội chủ nghĩa thì tiền đề và điều kiện tiên quyết là phải giữ vững ổn định chính trị, giữ vững trận địa tư tưởng của CNXH, giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng, củng cố chính quyền nhân dân, phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.
Cách mạng phải luôn luôn biết tự bảo vệ. Nguyên lý này càng đặc biệt quan trọng trong những thời điểm bước ngoặt của lịch sử. Rõ ràng là không tự đổi mới thường xuyên và đúng quy luật thì CNXH không thể tự bảo vệ có hiệu quả. Ngược lại, nếu cách mạng không biết tự bảo vệ, không kiên định trên những nguyên tắc cách mạng, không giữ vững thành quả cách mạng mà nhân dân đã giành được với biết bao mồ hôi và xương máu; nếu từ đội tiên phong đến các cấp chính quyền và tổ chức quần chúng bị rã rời, mất sức chiến đấu, thúc thủ và bất lực trước sức tấn công của kẻ thù thì sẽ chẳng còn gì để đổi mới, cải cách, cải tổ!
Cách mạng tự bảo vệ, trước hết có nghĩa là Đảng phải biết tự bảo vệ về chính trị, tư tưởng và tổ chức, kiên quyết làm thất bại mưu toan “diễn biến hòa bình” của kẻ thù, trước hết là về mặt hệ tư tưởng. Kinh nghiệm Liên Xô cuối những năm 80 của thế kỷ trước cho thấy, một khi hệ tư tưởng đã tan rã thì dẫu còn tồn tại, Đảng cũng chỉ như cái xác không hồn. Để bảo vệ CNXH, bảo vệ Đảng thì vấn đề căn bản nhất, sâu xa nhất, vấn đề của mọi vấn đề là Đảng phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn trên những nguyên tắc thật sự mác-xít – Lê-nin-nít, phải kiên quyết chống tha hóa biến chất, chống quan liêu, tham nhũng dưới mọi hình thức, ở tất cả các cấp. Chỉ một đảng thật sự trong sạch-trong sạch cả về phẩm chất đạo đức, cả về tổ chức và hệ tư tưởng-mới có thể trở thành một đảng vững mạnh, một đảng sáng suốt, không chệch hướng về chính trị, một đảng có khả năng gắn bó máu thịt với nhân dân, được nhân dân tin yêu, một đảng duy nhất có khả năng đưa nhân dân và dân tộc vượt qua mọi nguy cơ thử thách để tiến lên. Đó là bài học xương máu của cách mạng xã hội chủ nghĩa.
Hướng tới Ngày kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười, toàn Đảng, toàn dân ta càng tin tưởng vững chắc vào Chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, vào con đường đổi mới tiến lên CNXH. Để thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, chúng ta phải tiếp tục kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chiến lược: Xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc, trong đó nhiệm vụ trung tâm của cả thời kỳ quá độ là xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của CNXH thông qua công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.


                                                                                                                        CÔNG BẰNG
MỤC TIÊU BẢO VỆ TỔ QUỐC VIỆT NAM XHCN
TRONG TÌNH HÌNH MỚI MÀ ĐẠI HỘI XII CỦA ĐẢNG LÀ ĐÚNG ĐẮN

Mục tiêu bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng thể hiện bước tiến mới trong tư duy lãnh đạo của Đảng ta theo hướng toàn diện, sâu sắc hơn, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta phải quán triệt sâu sắc và cụ thể hoá, triển khai thực hiện có hiệu quả trong giai đoạn hiện nay.
Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN luôn là nhiệm vụ trọng yếu thường xuyên của Đảng, Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và toàn dân. Trong đó, mục tiêu bảo vệ Tổ quốc luôn là vấn đề cơ bản có ý nghĩa quyết định đến sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc và đước Đảng ta nhận thức ngày càng sâu sắc, toàn diện hơn trong quá trình lãnh đạo đất nước. Trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực thay đổi nhanh chóng, diễn biến phức tạp, khó lường; các thế lực thù địch đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hoà bình” chống phá nước ta; “bảo vệ chủ quyền biển, đảo đứng trước nhiều khó khăn, thách thức lớn; tình hình chính trị - xã hội ở một số địa bàn còn tiềm ẩn nguy cơ mất ổn định”[1],... Đảng ta xác định mục tiêu trọng yếu của quốc phòng, an ninh hiện nay là: “Phát huy mạnh mẽ sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, tranh thủ tối đa sự đồng tình ủng hộ của cộng đồng quốc tế, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN; bảo vệ công cuộc đổi mới, sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, bảo vệ lợi ích quốc gia – dân tộc; bảo vệ nền văn hoá dân tộc; giữ vững môi trường hoà bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội”[2].
Sự phát triển nhận thức của Đảng ta về mục tiêu bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN vừa là đòi hỏi khách quan của chính sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc trong bối cảnh lịch sử mới, vừa là kết quả tổng kết về lý luận và thực tiễn bảo vệ Tổ quốc dưới lãnh đạo của Đảng qua các giai đoạn, mà trước hết là trong ba mươi năm đổi mới. Tư duy mới của Đảng về mục tiêu bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN hiện nay được thể hiện trên những vấn đề cơ bản sau:
Thứ nhất, Đảng ta xác định“Tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc”[3]
Đây vừa là quan điểm chỉ đạo, vừa là mục tiêu, là giải pháp quan trọng để bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Phát triển quan điểm của Đảng về sức mạnh bảo vệ Tổ quốc là sức mạnh tổng hợp, trong đó sức mạnh trong nước là quyết định, sức mạnh ngoài nước là quan trọng trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực “trong những năm tới còn nhiều diễn biến phức tạp, nhưng hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn”[4]. Việt Nam tiếp tục tham gia vào quá trình toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, sự hợp tác, cạnh tranh, đấu tranh và tuỳ thuộc lẫn nhau giữa nước ta với các nước khác ngày càng tăng lên,… thì việc Đảng ta xác định lấy xu thế hoà bình, hợp tác, phát triển và điểm tương đồng về lợi ích quốc gia dân tộc làm cơ sở làm khai thác, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế nhằm tạo ra sức mạnh tổng hợp lớn nhất để bảo vệ Tổ quốc thể hiện sự sắc sảo, nhạy bén trong tư duy của Đảng ta phù hợp với thực tiễn đất nước và quốc tế. Thực tiễn cũng đang chứng minh ngày càng rõ nét quan điểm sáng tạo, đúng đắn này. Bằng đường lối đối nội, đối ngoại phù hợp, Việt Nam ngày càng nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ của cộng đồng quốc tế trong giải quyết các vấn đề bất đồng, tranh chấp quốc tế về lợi ích quốc gia, mà trước hết là trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Do đó, đây là quan điểm, mục tiêu, giải pháp quan trọng cần được các cấp, các ngành, địa phương, lực lượng vũ trang quán triệt và triển khai thực hiện linh hoạt, sáng tạo, hiệu quả trong thời gian tới, mà trước hết là trong lĩnh vực đối ngoại. Đồng thời với phát huy cao nhất nội lực, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân cần quán triệt và triển khai thực hiện có hiệu quả quyết tâm chiến lược trước sau như một của Đảng ta đó là “kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc”[5]; thấy rõ được tính chất lâu dài, phức tạp của cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN trong tình hình mới, từ đó xác định rõ trách nhiệm, quyết tâm của mình.
Thứ hai, mục tiêu bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN đã được khái quát hoá cao và theo đó nội hàm bảo vệ Tổ quốc được mở rộng, đầy đủ, toàn diện và thể hiện rõ mối quan hệ chặt chẽ, thống nhất hơn.
Trong các văn kiện của Đảng ta trước đây, nội hàm mục tiêu bảo vệ Tổ quốc được chỉ ra khá chi tiết với nhiều nội dung, dễ dẫn đến sự thiếu hụt, không đầy đủ, khó cập nhật được với sự phát triển nhanh chóng của tình hình, thậm chí có thể dẫn đến sự hiểu nhầm. Mục tiêu bảo vệ Tổ quốc theo Nghị quyết Đại hội XII của Đảng đã khái quát thành bốn nhóm nội dung bao trùm đó là: (1) Kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN; (2) Bảo vệ công cuộc đổi mới, sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, bảo vệ lợi ích quốc gia – dân tộc; (3) Bảo vệ nền văn hoá dân tộc; (4) Giữ vững môi trường hoà bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội. Bốn nhóm mục tiêu bao trùm đó đã thể hiện mục tiêu bảo vệ Tổ quốc một cách chuẩn xác, toàn diện hơn đó là: Bảo vệ Tổ quốc là bảo về tất cả các yếu tố tự nhiên – lịch sử và chính trị - xã hội cấu thành Tổ quốc Việt Nam XHCN.Đồng thời, mục tiêu bảo vệ Tổ quốc cũng đã thể hiện rõ nhận thức của Đảng về mối quan hệ biện chứng, không thể tách rời, tác động qua lại lẫn nhau, tạo tiền đề, điều kiện và là kết quả của nhau giữa các nội dung mục tiêu. Theo đó, bảo vệ nội dung này cũng có nghĩa là bảo vệ nội dung khác và ngược lại. Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN là bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ gắn bó chặt chẽ với bảo vệ Đảng, Nhà nước, chế độ XHCN, quyền làm chủ của nhân dân và các nội dung khác; bảo vệ chế độ XHCN cũng bao hàm bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc và các nội dung khác. Điều đó đã khắc phục được cách diễn đạt trước đây, thường tách bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc và bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN thành hai mục tiêu cụ thể, dễ dẫn đến sự xuyên tạc, hiểu nhầm, tách biệt hoặc đề cao bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ. Nay, vấn đề này được thể hiện một cách biện chứng, có mối quan hệ chặt chẽ, không thể tách rời  trong  một chỉnh thể thống nhất đó là của Tổ quốc Việt Nam XHCN. Trong đó, vấn đề bảo vệ chế độ XHCN, trước hết là bảo vệ sự lãnh đạo của Đảng và quyền làm chủ của nhân dân trong giai đoạn hiện nay đã được coi trọng đặc biệt và nhấn mạnh.
Ba là, Đảng ta xác định, trong các mục tiêu bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN cụ thể hiện nay thì “giũ vững môi trường hoà bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội” là lợi ích cao nhất của Tổ quốc.
Việc xác định giữ vững môi trường hoà bình, ổn định để phát triển đất nước – lấy đó là lợi ích cao nhất của Tổ quốc không chỉ thể hiện nhận thức đúng đắn, sáng tạo của Đảng ta về mục tiêu bảo vệ Tổ quốc, mà còn là vấn đề cực kỳ hệ trọng đối với sự tồn tại và phát triển của quốc gia dân tộc trong bối cảnh đất nước vừa phải đối mặt với những nguy cơ, thách thức, khó khăn, vừa có thời cơ, thuận lợi mới. Để đạt được mục tiêu đó thì vấn đề giữ cho “trong ấm”, “ngoài êm” thực sự là “kế sách” thông minh, phù hợp và có lợi nhất trong một thế giới biến động và phức tạp như hiện nay. Theo tinh thần đó, Đảng ta nhấn mạnh, đồng thời với “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ vững chắc biên giới và chủ quyền biển, đảo, vùng trời của Tổ quốc; đồng thời giữ vững môi trường hoà bình, ổn định để phát triển bền vững đất nước. Giải quyết những bất đồng, tranh chấp bằng giải pháp hoà bình trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế”[6], phải “Chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của cấc thế lực thù địch; ngăn chặn, phản bác những thông tin và luận điệu sai trái, đẩy lùi các loại tội phạm và tệ nạn xã hội; sẵn sàng ứng phó với các mối đe doạ an ninh truyền thống và phi truyền thống; bảo đảm an ninh, an toàn thông tin, an ninh mạng”7. “Có kế sách ngăn ngừa chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa; chủ động phòng ngừa, phát hiện sớm và triệt tiêu các nhân tố bất lợi, nhất là các nhân tố bên trong có thể gây ra đột biến”8; đồng thời, cần tăng cường tuyên truyền, giáo dục thống nhất nhận thức về đối tác, đối tượng của cách mạng Việt Nam,… nhằm giữ vững môi trường hoà bình, ổn định để phát triển đất nước theo định hướng XHCN.
Để thực hiện thắng lợi mục tiêu bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN trong tình hình mới, toàn Đảng , toàn dân, toàn quân ta phải nêu cao trách nhiệm quán triệt sâu sắc,triển khai có hiệu quả các quan điểm, nhiệm vụ, giải pháp đã được Đại hội XII của Đảng xác định. Trong đó, cần tập trung mọi nỗ lực để giữ vững, tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung thống nhất của Nhà nước đối với QĐND, CAND và sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, giáo dục nâng cao ý thức trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của các cấp, các ngành, của mỗi cán bộ, đảng viên và từng người dân đối với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Xây dựng “thế trận lòng dân”, tạo nền tảng vững chắc xây dựng nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân. Phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị do Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, lực lượng vũ trang làm nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách về quốc phòng, an ninh; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh./.

                                                                Hoa Rừng



[1] . 2.3.  ĐCSVN, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb CTQG, H. 2016, tr.74, 75- 147.


[4] . 5. ĐCSVN, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb CTQG, H. 2016, tr.148-149

[6] . 7..8 ĐCSVN, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb CTQG, H. 2016, tr.147-149

Thứ Sáu, 7 tháng 10, 2016

LINH CẨU NGUYỄN THÁI HỢP – KẺ BÁN CHÚA CẦU DANH, KÍCH ĐỘNG GIÁO DÂN BIỂU TÌNH Ở MIỀN TRUNG
Trên mảnh đất miền Trung Việt Nam “mưa úng đất, nắng đỏ trời; mẹ già nước mắt ướt đầm chân chim” lại có những con người băng hoại và độc ác. Tuy khoác trên mình bộ áo tu hành, tặng vật thiêng liêng của Chúa ban cho nhưng họ đã cam tâm tự bán mình cho quỷ dữ Satan, lừa dối, lung lạc con chiên, đưa họ vào vòng lao lý chỉ để phục vụ cho mục tiêu cơ hội chính trị bẩn thỉu của họ. Trong những ngày gần đây, nhân sự có môi trường đặc biệt nghiêm trọng diễn ra tại Vũng Áng, Hà Tĩnh, ảnh hưởng đến nhiều vùng ven biển miền Trung từ Hà Tĩnh đến Thừa Thiên Huế, một số linh mục có thái độ chống đối chính quyền dưới bàn tay điều khiển của Giám mục chánh tòa Giáo phận Vinh Nguyễn Thái Hợp đã kích động giáo dân biểu tình, gây bạo loạn chống chính quyền. Chúng mượn cớ Formosa có những sai phạm nghiêm trọng để từ đó, đưa ra những lời lẽ kích động chống lại chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, đi ngược lại quyền lợi của nhân dân, sự an nguy của đất nước. Con người ấy là ai ?
1.Vài nét về Nguyễn Thái Hợp.
Nguyễn Thái Hợp sinh ngày 02-02-1945 tại Giáo xứ Làng Anh (Nghi Phong, Nghi Lộc, Nghệ An). Ông ta là con út trong một gia đình Công giáo gồm 6 người con (3 trai và 3 gái), nhưng 4 người đã từ trần và người chị duy nhất hiện đang sống ở Mỹ. Sau cuộc cải cách ruộng đất và cái chết của thân phụ ông ta, ông ta theo gia đình di cư vào miền Nam Việt Nam năm 1954. Chế độ Ngô Đình Diệm coi ông ta và gia đình ông ta là “nạn nhân của Cộng sản Bắc Việt”, bị “đấu tố và bức hại” trong cải cách ruộng đất. Nguyễn Thái Hợp được các linh mục “Dòng Chúa cứu thế” để mắt đến và “chăm sóc” kỹ lưỡng. Ngày 15-8-1964, Nguyễn Thái Hợp được đưa vào học giáo lý Công giáo tại Tập viện dòng Đa Minh tại Vũng Tàu.Từ năm 1965 đến năm 1972, ông ta lần lượt tốt nghiệp các khoa triết học và thần học tại các Học viện dòng Đa Minh tại Vũng Tàu và Thủ Đức.Vào cuối những năm ’60, đầu những năm ’70 của thế kỷ trước, Thiên chúa giáo La Mã có chủ trương “thích nghi thời đại” để hoạt động trong thời đại khoa học kỹ thuật và công nghệ phát triển, con người dần đi theo chủ nghĩa hiện thực. Và thế là vừa tốt nghiệp trường dòng, từ năm 1968 đến năm 1972, Nguyễn Thái Hợp lại được “Nhà Chung” đưa đi học Đại học Văn khoa Sài Gòn. Ông ta tốt nghiệp với tấm bằng Cử nhân Triết học Đông Phương. Ngày 8-8-1972, ông ta được thụ phong Linh mục tại Sài Gòn.Từ năm 1972 đến năm 1978, ông ta tiếp tục theo học tại Đại học Fribourg (Thụy Sĩ) và có được tấm bằng tiến sĩ Triết học phương Tây. Từ năm 1978 đến năm 1979, ông ta học khoa Kinh tế chính trị tại Đại học Geneve, Thụy Sĩ. Từ năm 1981 đến năm 1986, ông ta giảng dạy tại Phân khoa Thần học thuộc Học viện Thần học Gioan XXIII tại thành phố Lima, thủ đô Peru. Từ năm 1984 đến năm 1991, ông ta được bổ nhiệm chức vụ Giám đốc Học vụ (như Trưởng phòng Giáo vụ) của Học viện này.
Từ năm 1989 đến năm 1994, ông ta kiêm nhiệm chức vụ Giám đốc Trung tâm nghiên cứu Bartolomé de Las Casas tại Lima, Péru. Trong thời gian này, ông ta còn tham gia giảng dạy và tham dự Hội nghị Thiên chúa giáo tại nhiều nước châu Mỹ Latinh như Brazil, Colombia, Costa Rica, Venezuela, Bolivia, Cộng hòa Dominicana… Năm 1994, ông ta được phong Tiến sĩ danh dự về Thần học luân lý tại Phân khoa Thần học Đức Mẹ Lên Trời ở Sao Paulo, Brazil.
Năm 1995 ghi một dấu ấn quan trọng trong cuộc đời của Nguyễn Thái Hợp. Từ Brazil, ông ta được đưa sang Mỹ qua ngả Canada để dự một khóa học ngắn hạn về “đấu tranh cho dân chủ và nhân quyền” và phương thức tiến hành “cách mạng sắc màu” do Quỹ quốc gia vì dân chủ Mỹ (National Endowment for Democracy- NED) và Quỹ phát triển quốc tế Mỹ (USAID) tài trợ. Quỹ này đảm nhận phần hoạt động hợp pháp bên ngoài của các chiến dịch bí mật của CIA. Bắt đầu từ đây, Nguyễn Thái Hợp được sử dụng như một con bài chính trị trong mưu toan thay đổi chế độ chính trị ở Việt Nam mà CIA thực hiện như một phần tiếp theo của kế hoạch hậu chiến sau khi Mặt trận Quốc gia Thống nhất Giải phóng Việt Nam của Hoàng Cơ Minh thất bại và buộc phải chuyển đổi thành Việt Nam Canh tân cách mạng đảng (tức Việt Tân).
Tuy nhiên, CIA không vội đưa Nguyễn Thái Hợp về Việt Nam. Để che giấu tung tích về thời gian 1 năm được huấn luyện tại Mỹ, trong 8 năm từ 1996 đến 2000, Nguyễn Thái Hợp được bố trí giảng dạy tại Phân khoa Xã hội học thuộc Đại Học Giáo Hoàng Thánh Tôma Aquinô, Roma, một phân khoa bổ trợ bình thường ít được chú ý như các phân khoa triết học và thần học.
Năm 2000, Nguyễn Thái Hợp về Việt Nam nhưng không giữ chức sắc nào trong giới Thiên Chúa giáo Việt Nam. Ông ta giấu mình trong một vỏ bọc khi giữ chức Giám đốc học vụ của Trường dòng Đa Minh Việt Nam và là thành viên của Ủy ban Giáo lý đức tin trực thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam. Nguyễn Thái Hợp đã tham gia nhiều hoạt động xã hội nhằm gây lòng tin trong dư luận người dân theo Thiên chúa giáo. Ông ta thành lập và hướng đạo Nhóm Đức tin và Văn hóa, một tổ chức hoạt động bất hợp pháp. Ông ta cũng mở lớp “Thần học giáo dân” trái phép vào năm 2000. cả hai tổ chức này đều nằm ngoài khuôn khổ hoạt động của Giáo hội Việt Nam, không được Nhà nước cấp phép. Ông ta cũng tổ chức Lễ Hội Giáng Sinh của các trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt; lập Phòng khám từ thiện Mai Khôi để chăm sóc và chữa trị những người có HIV/AIDS; thường xuyên tổ chức các chuyến khám bệnh cho người nghèo ở vùng sâu, vùng xa và vùng cao.
Từ năm 2006, ông ta là thành viên của Ủy ban Từ vựng Công giáo, chủ nhiệm Câu lạc bộ Phaolô Nguyễn Văn Bình. Bề ngoài, câu lạc bộ này được thành lập để gặp gỡ, trao đổi, thảo luận và học hỏi của những người Công giáo dấn thân phục vụ Giáo hội và xã hội Việt Nam hiện tại theo tinh thần Phúc Âm nhưng thực chất là nơi bàn bạc những biện pháp, thủ đoạn chống phá nhà nước, chống phá chế độ, gây rối trật tự xã hội.
Với chức vụ Giám đốc học vụ, Nguyễn Thái Hợp liên tục đi rao giảng tại Trung tâm Học vấn Đa Minh, Gò Vấp, Học viện Liên dòng Phaolô Nguyễn Văn Bình, Học viện La San, Đại chủng viện Cái Răng, Đại chủng viện Sao Biển, Nha Trang, Đại chủng viện Vinh Thanh, Học viện Fransisco .v.v… Trong quá trình rao giảng, ông ta luôn che giấu thái độ chính trị và xuất thân của mình, thực hiện chiến lược “náu mình chờ thời”. Và cái Nguyễn Thái Hợp cho là thời cơ đã đến.
Ngày 13-5-2010, Nguyễn Thái Hợp được Giáo hoàng Benedictus XVI (tên thật là Joseph Aloisius Ratzinger) bổ nhiệm làm Giám mục giáo phận Vinh thuộc Giáo tỉnh Hà Nội thay cho Giám mục Phaolô Maria Cao Đình Thuyên nghỉ hưu. Lễ tấn phong của ông ta được tổ chức linh đình ngày 23-7-2010 với hàng vạn người dân theo Thiên Chúa giáo tham dự. Từ ngày được bổ nhiệm, Nguyễn Thái Hợp nhanh chóng thăng tiến trong Giáo hội Công giáo Việt Nam nhờ sự “năng động” của mình. Tại Đại hội lần thứ XI của Hội đồng Giám mục Việt Nam họp tháng 10 năm 2010, Ủy ban Công lý và Hòa bình thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam do Nguyễn Thái Hợp đề xuất được thành lập. Ông ta được bầu làm chủ tịch của ủy ban này trong nhiệm kỳ đầu tiên 2010-2013 và được tái cử trong nhiệm kỳ 2013-2016. Cũng từ ngày được bổ nhiệm Giám mục Giáo phận Vinh, “cái kim trong bọc” Nguyễn Thái Hợp bắt đầu lòi ra. Ngày mà Nguyễn Thái Hợp được thụ phong chức Giám mục cũng là ngày ông ta tăng cường những hoạt động chống phá quyết liệt đối với Nhà nước Việt Nam và chế độ chính trị hiện hành ở Việt Nam.
2- Giám mục Nguyễn Thái Hợp, kẻ phản quốc cầu vinh, bán Chúa cầu danh.
Sau khi trở về Việt Nam, ẩn giấu đằng sau những lời có cánh về tình yêu quê hương đất nước, về mong muốn làm cho quê hương đất nước phát triển là những vần thơ không thể chấp nhận được đối với một giám mục chủ chăn mà ý tứ của nó chẳng khác gì việc trước đó mấy năm, Tổng giám mục Ngô Quang Kiệt “lấy làm nhục nhã khi cầm tấm hộ chiếu Việt Nam”. Nguyễn Thái Hợp viết những vần thơ tồi tệ nhất của một kẻ có tư tưởng phản quốc:
“Rứa là hết chiều ni em đi mãi.
Chỉ có điên mới quay trở lại Việt Nam.
Vinh cái chó gì cái kiếp mọi An Nam.
Đi đến đâu cũng bị rầy la xua đuổi.
Em mới hiểu thế nào là khổ tủi.
Càng dày thêm uất hận xứ VINA”
Đó mới là bản chất thật sự của một kẻ vong bản cầu vinh mặc dù ông ta thừa biết rằng “Con không chê cha mẹ khó, chó không chê chủ nghèo”. Với những dòng thơ này, Nguyễn Thái Hợp đã tự hạ mình tới mức không bằng một con chó.Trên thực tế, từ khi Giám mục Nguyễn Thái Hợp về làm “chủ chăn” từ năm 2010 đến nay, Giáo phận Vinh đã liên tiếp xảy ra nhiều vụ việc vi phạm pháp luật mang tính hệ thống.
 Điều đó đã ảnh hưởng đến cả giáo hội và chính quyền, gây mất ổn định chính trị, chia rẽ mối đoàn kết lương – giáo. Đó là những vụ việc: Lấn chiếm, chuyển nhượng đất đai, xây dựng công trình trái pháp luật ở Giáo xứ Ngọc Long, xã Công Thành – huyện Yên Thành; Giáo xứ Làng Rào, xã Nghi Hương – huyện Tân Kỳ; Giáo xứ Lập Thạch, xã Nghi Thạch – huyện Nghi Lộc, Giáo họ Yên Trạch, phường Thu Thủy (Thị xã Cửa Lò). Tổ chức hành lễ ngoài cơ sở thờ tự vi phạm Pháp lệnh Tôn giáo của Nhà nước Việt Nam ở xã Yên Khê – huyện Con Cuông; xã Nghĩa Xuân – huyện Quỳ Hợp; xã Châu Bình – huyện Quỳ Châu. Gây rối trật tự công cộng, đánh đập, bắt giữ người trái pháp luật ở xã Yên Khê – huyện Con Cuông; Giáo xứ Mỹ Yên xã Nghi Phương (Nghi Lộc)…
Trong việc tách, lập xứ, họ đạo mặc dù mới trình xin đang được chính quyền các cấp xem xét giải quyết, hoặc chưa trình xin nhưng giáo hội đã tự ý thành lập các xứ, họ đạo. Không những thế, còn tổ chức các hoạt động tôn giáo trái pháp luật, hoặc tổ chức sinh hoạt tôn giáo tại nhà riêng giáo dân, xảy ra ở các huyện Tân Kỳ, Nghĩa Đàn, Con Cuông, Quỳ Hợp, Quỳ Châu…
Trước tình hình trên, ngày 17/9/2011, UBND tỉnh Nghệ An đã có Công văn số 5483/UBND-NC gửi đích danh Giám mục Nguyễn Thái Hợp thông báo về các hoạt động tôn giáo vi phạm pháp luật trong thời gian qua, trong đó nêu rõ: Chỉ tính riêng trong khoảng 01 năm qua, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 23 vụ vi phạm pháp luật và vụ việc liên quan đến giáo dân. Trong đó, hoạt động đòi lại đất, xây dựng công trình trái pháp luật (10 vụ); chống người thi hành công vụ, hủy hoại tài sản (01 vụ); tụ tập đông người khiếu kiện, chặn xe (02 vụ)…
Đồng thời, các cấp ủy, chính quyền, các ngành chức năng đã tập trung giải quyết các sự việc theo đúng quy định của pháp luật, trên cơ sở tôn trọng quyền tự do, tín ngưỡng của người dân; đã gặp gỡ, trao đổi với linh mục quản xứ, các chức việc đề nghị phối hợp với chính quyền trong giải quyết các vấn đề nêu trên nhằm ổn định tình hình. Thế nhưng, một số linh mục quản xứ đã tỏ thái độ bất hợp tác với chính quyền trong giải quyết vụ việc. Họ còn rao giảng những nội dung sai sự thật, làm cho giáo dân nhận thức sai về chủ trương, chính sách của nhà nước; kích động giáo dân gây rối, chống đối chính quyền… Do vậy, đến nay, nhiều vụ việc chưa được giải quyết dứt điểm, thậm chí có những vụ việc mới phát sinh ngày càng phức tạp hơn.
Để củng có bộ máy tay chân, biến những xứ đạo vốn bình yên thành các điểm nóng, Nguyễn Thái Hợp đã tự ý điều động bổ nhiệm một số linh mục thân tín, có đầu óc chống cộng mà không thông qua Hội đồng Giám mục Việt Nam và Giáo tỉnh Hà Nội như Juse Ngô Văn Hậu, Quản xứ Kỳ Tân, Tân Kỳ, Nghệ An; Juan Nguyễn Văn Niên, Quản xứ Tường Sơn, Anh Sơn, Nghệ An; G. B. Lê Bá Phượng, Quản xứ Thạch Tượng, Thạch Hà, Hà Tĩnh. Linh mục Anton Đậu Thanh Minh vốn là người có tư tưởng ôn hòa tại giáo xứ Đông Yên, Kỳ Anh, Hà Tĩnh của bị Nguyễn Thái Hợp đổi đi làm quản xứ Cẩm Nhượng, Cẩm Xuyên, Hà Tình. Thay vào đó là linh mục Phero Trần Đình Lai, một người có tư tưởng cực đoan, chống đối chính quyền quyết liệt. Chưa hết, Nguyễn Thái Hợp còn vô cớ cách chức Giám đốc Đại chủng viện Vinh Thanh Nguyễn Khắc Bá chỉ vì ông này không đồng ý với quan điểm chống chính quyền của Nguyễn Thái Hợp.
Chính những hành động vô lối này của Nguyễn Thái Hợp đã bị công dân theo Thiên chúa giáo ở Đông Yên phản đối quyết liệt. 156 hộ giáo dân Đông Yên đã ký vào đơn (Thỉnh nguyện thư) phản đối Giám mục Nguyễn Thái Hợp và tố cáo ông này ăn chặn tiền đóng góp của giáo dân. Một giáo dân có tên là Juse Khánh Bình đã nói với một giáo hữu: “Phero Quang Vinh, tôi hiểu tâm tư của anh. Không buồn sao được khi những con người tận tâm với Giáo hội lại bị những kẻ xấu bằng quyền lực của mình “xử lý”. Với cách làm việc của Giám mục Hợp thì không thể có các linh mục “Chúa chọn”, mà chỉ có các linh mục “Hợp chọn”. Họ không phục vụ cho Chúa trời mà chỉ là “quân cờ”, là “tay sai” cho ông ta”. Trên thực tế, các “linh mục Hợp chọn” đã không còn là linh mục nữa mà trở thành đám “linh cẩu” bán mình cho quỷ Sa tăng.
Sau hơn 5 năm kể từ ngày về với Giáo phận Vinh, Nguyễn Thái Hợp đã “có công” biến Giáo phận Vinh từ một giáo phận vốn yên bình trở thành một giáo phận “nóng”, phức tạp với nhiều vụ việc vi phạm pháp luật; biến những giáo dân vốn hiền lành, chân quê thành những kẻ chỉ biết nổi loạn, gây rối, chống đối chính quyền.
Đó là lấn chiếm đất đai, xây dựng công trình trái pháp luật ở Giáo xứ Ngọc Long, xã Công Thành – huyện Yên Thành; cướp đất ở Giáo xứ Làng Rào, xã Nghi Hương – huyện Tân Kỳ; ngang nhiên lấn chiếm đất đai tại Giáo xứ Lập Thạch, xã Nghi Thạch – huyện Nghi Lộc, giáo họ Yên Trạch, phường Thu Thủy, thị xã Cửa Lò.
Đó là gây rối trật tự công cộng, đánh đập, bắt giữ người trái pháp luật ở xã Yên Khê – huyện Con Cuông; bắt giữ người trái pháp luật, hủy hoại tài sản công dân ở giáo xứ Mỹ Yên xã Nghi Phương, huyện Nghi Lộc.
Đó là, kích động hàng trăm giáo dân ở giáo xứ Đông Yên (Hà Tĩnh) gây rối, không chịu di rời trả lại mặt bằng cho tỉnh Hà Tĩnh thi công cảng Vũng Áng mặc dù đã nhận tiền đền bù. Trong vụ này, Nguyễn Thái Hợp đã giữ lại 20% số tiền đền bù (không biết nhằm mục đích gì) của các hộ dân xung quanh nhà thờ mà không chịu thanh toán.
Đó là, ngầm ủng hộ để linh mục Lê Công Lượng – quản xứ Giáo họ Yên Lạc thuộc Giáo xứ Xuân Kiều kích động hơn 500 giáo dân mang theo cuốc, xẻng, búa đến đập phá tường rào và cướp đất của Trường mầm non Nghi Kiều, Nghệ An.
Đó là, sinh ra một lứa linh mục mới thiếu trình độ, thiếu đức tin, hoạt động không đúng với vai trò và bổn phận của một giáo sỹ Công giáo, mang màu sắc chính trị tiêu cực, điên cuồng phục tùng Giám mục Hợp mà không biết đúng sai nhằm vụ lợi cá nhân hoặc phục vụ tiến thân. Thậm chí, có linh mục còn có quan hệ bất chính với phụ nữ, như chính ông Hợp giải thích cho giáo dân Đông Yên.
Và cuối cùng, đó là, sự lục đục, mất đoàn kết trong nội bộ hàng giáo sỹ (với khoảng 250 linh mục), cấp dưới không tôn trọng bề trên; là cách dùng người độc đoán, bè phái, làm suy yếu hoạt động điều hành giáo phận.
Giuse Trần Đình Quý, một giáo dân Đông Yên đã viết một lá thư gửi Nguyễn Thái hợp, trong đó giải thích vì sao giáo dân cư xử “vô lễ” với giám mục: “Họ là con chiên mà dám bao vây, giật áo Đức Cha, gọi Đức Cha là thằng, lớn tiếng dạy bảo Ngài về luật của Giáo hội. Vậy Ngài đã làm gì để các con chiên của Ngài phải vô lễ với Ngài đến như vậy ?”.
Có lẽ, một Giám mục chỉ quen với những hành vi chia rẽ tôn giáo, chống phá chính quyền, coi thường giáo dân như vậy là nguồn cơn phản kháng của những giáo dân lương thiện. Một khi chính các chủ chăn chà đạp lên luật pháp và đức tin, coi thường giáo lý, giáo luật cũng như bất chấp đạo lý để làm điều mờ ám thì cũng là lúc mà tiếng nói của công lý được cất lên.
3- Khi Giám mục chủ chăn bắt tay với tổ chức phản động Việt Tân.
Khi “cuộc khủng hoảng cá chết” nổ ra, Tổng giám mục Bùi Văn Đọc từ Thành phố Hồ Chí Minh kêu gọi những công dân Việt Nam theo Thiên chúa giáo cần bình tĩnh trước vấn đề cá chết hàng loạt mà hành xử, không để dẫn đến những hành vi manh động, vi phạm pháp luật. Nhưng Nguyễn Thái Hợp đã bất chấp lời kêu gọi đó mà thảo ra một Thư chung đầy giọng điệu kích động, hằn học, chĩa mũi dùi công kích chính quyền nhà nước và trắng trợn kêu gọi người dân biểu tình, tuần hành. Hưởng ứng thư chung đó, các linh mục Định Hữu Thoại (Giáo xứ Thái Hà, Hà Nội), Nguyễn Văn Toàn (Giáo xứ Thái Hà, Hà Nội), Nguyễn Đình Thục (Quỳnh Lưu, Nghệ An) đã kích động người dân theo Thiên Chúa Giáo tuần hành.
Trong vụ việc gây rối vừa qua ở Giáo sứ Cồn Sẻ, người ta đã nhận thấy sự có mặt của Mai Văn Tám là giáo dân xứ Cồn Sẻ, xã Quảng Phong, Quảng Trạch, Quảng Bình, một phần tử Việt Tân thuộc nhóm “Con đường dân chủ” vừa được Việt Tân đưa đi đào tạo ở Thái Lan về. Những đoạn clip vụ cáo Công an đánh dân, chính quyền đàn áp giáo dân đều do tên này quay và tung lên mạng. Trợ thủ đắc lực cho Mai Văn Tám là một giáo dân ở Thanh Hóa có nickname là “Trung Ton” (tên thật là Nguyễn Trung Tôn) và đồ đệ của hắn là Nguyễn Văn Tráng, nguyên là cựu chiến sĩ nghĩa vụ, một sinh viên bị lôi cuốn vào trào lưu “Con đường Việt Nam”, thành viên của cái gọi là “Hội anh em dân chủ”, thành viên “Hội thánh Ngôi sao lạ” và tự phong là Mục sư Tin Lành; từng chịu án quản chế cùng với Nguyễn Văn Đài. Và đương nhiên là không thể thiếu gương mặt của Lê Nguyễn Hương Trà, (tức Blogger “Cô Gái Đồ Long”), từng bị Cơ quan An ninh Việt Nam bắt tạm giam để điều tra về việc viết blog bịa đặt, xuyên tạc nhằm chống chính quyền.
Khi bị Cơ quan An ninh Việt Nam và quần chúng nhân dân vạch trần bộ mặt thật là những kẻ nhân danh “vì môi trường” để âm mưu tạo nên một cuộc “cách mạng cá” với những chiêu bài và mục tiêu tương tự như “cách mạng sắc màu” ở Đông Âu, Kavkaz, Bắc Phi, Ả Rập và một số nước khác, các phần tử Việt Tân thuộc các tổ chức ngoại vi như “Con đường Việt Nam”, “Hội Anh em dân chủ”, “The Voice”, “Hội Blogger Việt Nam”, “Hội Bầu bí tương thân”(có vẻ hội này là của chị em Việt Tân bị Nguyễn Tường Thụy làm cho mang bầu)… lũ lượt từ Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh kéo nhau về Vinh. Tại đây, chúng đã nhân được sự “che chở” và “hợp tác” của giám mục Nguyễn Thái Hợp để tiếp tục lừa bịp giáo dân, tổ chức các hoạt động chống đối, phá rối trật tự trên địa bàn ba tỉnh miền Trung. Những khoản tiền mà tổ chức Việt Tân ở hải ngoại do lừa bịp mà quyên góp được của bà con Việt Kiều nhẹ da, cả tin cũng với những khoản tài trợ của NED và USAID cùng với một số tổ chức của CIA trá hình đội lốt NGO đã được chuyển về miền Trung cho các thành viên cốt cán của Việt Tân, và qua những người này, một phần không nhỏ những khoản đó đã được chuyển đến tay Giám mục Nguyễn Thái Hợp cùng đồng bọn.
Khi mà các giám mục và linh mục này bắt tay với tổ chức khủng bố Việt Tân thì cũng chính từ khi đó, họ đã trở thành những tên Juda, những kẻ bán đứng Chúa rồi. Họ không xứng đàng là thành viên của Giáo hội Thiên Chúa Giáo nữa. Năm 2009, trong chuyến đi Ad Limina của các Giám mục Việt Nam, Giáo hoàng Benedict XVI đã có bài Huấn từ với Hội đồng Giám mục Việt Nam trong đó Ngài đã có thông điệp: “người Công giáo tốt đồng thời là người công dân tốt”. Điều ấy cũng có nghĩa là, cùng với việc làm tốt vai trò của một giáo dân, với niềm tin đối với Thiên Chúa thì mỗi người Công giáo còn phải thực hiện tốt trách nhiệm và nghĩa vụ của một công dân đối với đất nước. Nghĩa là nghĩa vụ kính Chúa và luôn đi đôi với trách nhiệm yêu nước. Nguyễn Thái Hợp và các đồng đảng của ông ta như Nguyễn Văn Khải, Nguyễn Ngọc Nam Phong, Lê Công Lượng, Hoàng Anh Ngợi, Trần Đình Lai… đã không còn kính Chúa nữa. Họ đã để cho thánh đường phụng thờ Đức Jesus, Đức mẹ Maria và Chúa trời biến thành nơi che chở cho bọn đạo tặc Việt Tân khủng bố, đã làm cho thánh đường bị vấy bẩn, bị làm cho ô uế. Vậy thì cái sự kính chúa mà Nguyễn Thái Hợp vẫn suốt ngày ra ra nói với giáo dân của mình chắc chắn không phải thật lòng mà chỉ là sự giả dối đến đê tiện, là cái vỏ bề ngoài che giấu dã tâm đen tối của ông ta và đồng bọn. Thế nên Nguyễn Thái Hợp đích thực là kẻ bán Chúa cầu danh. Nguyễn Thái Hợp và những đồng đảng của ông ta đều đã trở thành những kẻ bán Chúa, phản quốc. Thiết nghĩ phải đổi tên thánh cho Phao Lồ Nguyễn Thái Hợp là Juda Nguyễn Thái Hợp mới đúng.
4- Có phải giám mục nào, linh mục nào cũng là phản động không?
Xin trả lời ngay là hoàn toàn không ! Một trong những giá trị mà bất cứ tôn giáo nào cũng có, chứ không riêng gì đạo Công giáo, đó là tình liên đới, sự sẽ chia trên tinh thần nhân ái, đồng loại. Để thực hiện điều này, các tôn giáo đã không thiếu gì cách, như cách mà Linh mục Nguyễn Đức Vĩnh và giáo dân xứ Ngọc Long (xã Công Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An chọn cách quyên góp tiền, vật phẩm (chủ yếu là thực phẩm) để đưa vào ủng hộ bà con ngư dân 2 giáo xứ Trung Nghĩa và Cửa Sót (Hà Tĩnh). Nghĩa là họ chọn cái phương cách mà xã hội, nhà chức trách khuyến khích các tôn giáo thực hiện: Tham gia công tác từ thiện và bác ái xã hội. Điều đó minh chứng rõ ràng về tình liên đới mà người đồng đạo hướng về nhau cùng với trách nhiệm xã hội của người tu hành. Điều đó cũng hoàn toàn khác xa với những hành động phá hoại của Nguyễn Thái Hợp, Trần Đình Lai (Đông Yên, Kỳ Anh), Hoàng Anh Ngợi (Cồn Sẻ, Quảng Trạch), Nguyễn Đình Thục (Hợp Thành, Yên Thành)… Có một vị chức sắc đạo Công giáo đã từng nói rằng: “Một tôn giáo đúng nghĩa là phải lấy lòng từ bi để đối diện, giải quyết các vấn đề của cuộc sống”. Và thiết nghĩ, Linh mục Nguyễn Đức Vĩnh và giáo xứ Ngọc Long đã làm rất tốt cái triết lý ngỡ như ai cũng hiểu, ai cũng thuộc lòng ấy !
Thiên Chúa giáo cũng như các tôn giáo lớn khác như Phật giáo, Hồi giáo đều có xuất xứ tốt đẹp. Mục tiêu của các tôn giáo đó đều là cứu rỗi loài người, dù là sự cứu rỗi ấy chỉ có ý nghĩa tinh thần và duy tâm. Tôn giáo đích thực không đáng và không bao giờ bị lên án. Chính những kẻ lợi dụng tôn giáo để thực hiện những mưu đồ chính trị bẩn thỉu, chống phá Nhà nước, gây rồi trật tự xã hội, lừa bịp và đẩy giáo dân đối đầu với chính quyền mới là những kẻ đáng bị vạch mặt, bị lên án. Chính vì vậy mà những hoạt động đầy tội ác của Giám mục Nguyễn Thái Hợp và đồng đảng của ông ta ở Giáo phận Vinh đã không bao giờ nhận được sự ủng hộ của các tòa Giám mục Tổng giáo phận Hà Nội, Tổng giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh cũng như các giáo phận lớn khác ở trong cả nước.
Với âm mưu gây mất ổn định xã hội, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc trong những vụ việc tương tự sẽ có thể tiếp tục xảy ra, mỗi người dân cần nêu cao ý thức và cảnh giác trước âm mưu lợi dụng của các thế lực thù địch. Nếu không chính những người bị lợi dụng lại trở thành người vi phạm pháp luật để cho bè lũ phản động thực hiện âm mưu đen tối. Các cơ quan chức năng đã vào cuộc và sẽ nghiêm trị những thành phần xấu xa, những phần tử xúi dục, kích động, cầm đầu cuộc bạo loạn nhân danh bảo vệ môi trường, mượn nhà thờ, mượn Thiên Chúa giáo, núp bóng dưới bàn tay của Juda Nguyễn Thái Hợp. Và một lần nữa, âm mưu lợi dụng Thiên Chúa giáo, núp bóng nhà thờ để phá hoại, gây rối, gây bạo loạn của Việt Tân chắc chắn sẽ chuốc lấy thất bại thảm hại.

SỰ THẬT