LÔI KÉO, CHUYỂN HÓA QUÂN
ĐỘI VIỆT NAM NHẰM TỪNG BƯỚC LÀM SUY YẾU VÀ PHI CHÍNH TRỊ HÓA LỰC LƯỢNG VŨ TRANG
Mỹ xác định “chống phá, làm suy yếu lực lượng vũ trang
nhân dân ta nói chung và Quân đội nhân dân Việt Nam nói riêng là một mũi nhọn
trong sơ đồ tấn công Việt Nam”. Theo chúng, ĐCSVN còn đứng vững là do “vẫn nắm
được lực lượng vũ trang. Nếu làm cho lực lượng vũ trang biến chất, ĐCSVN sẽ mất
chỗ dựa, mất một công cụ đắc lực thực hiện chuyên chính vô sản, khi đó chế độ
CSVN sẽ tan rã giống như Đông Âu và Liên Xô trước đây”.
Thực hiện ý đồ trên, Mỹ và phương Tây đã triển khai nhiều
“kế hoạch” để tác động “chuyển hóa” Việt Nam nói chung và QĐNDVN nói riêng:
Thúc đẩy hợp tác quân sự Mỹ cho rằng, hợp tác quân sự Mỹ
- Việt vốn là lĩnh vực nhạy cảm đối với Việt Nam và đang phát triển chậm, chưa
tương xứng với các mối quan hệ hợp tác khác. Do đó, cần phải tìm cách thúc đẩy
vấn đề này để nhằm thực hiện hai mục đích: (1) kéo Việt Nam vào cơ chế an ninh
khu vực do Mỹ lãnh đạo, thực hiện ý đồ bao vây, cô lập Trung Quốc và mở rộng
“cuộc chiến chống khủng bố” để gây ảnh hưởng ở khu vực; (2) Tiếp cận với lực
lượng vũ trang Việt Nam để tác động, chuyển hóa nhằm thực hiện DBHB trên lĩnh
vực quân sự đối với Việt Nam, làm cho Quân đội mất phương hướng hành động, chức
năng bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ bị vô hiệu hóa. Các biện pháp Mỹ đã sử dụng để
thúc đẩy hợp tác quân sự với Việt Nam
gồm:
Yêu cầu Việt Nam tham gia liên minh “chống khủng bố” nhằm
từng bước tạo chỗ đứng, sự hiện diện quân sự của Mỹ ở Việt Nam. Trong chủ trương chung tìm kiếm một đối tác an ninh
mới tại khu vực Mỹ coi sự hợp tác về mặt quân sự với Việt Nam là một trong
những “biện pháp chủ đạo” những lần tiếp xúc với Lãnh đạo ta, các quan chức Mỹ
đều nhấn mạnh: “Ưu tiên cao nhất trong chính sách đối ngoại của Mỹ là chống
khủng bố. Việt Nam nên hợp tác nhiều hơn với Mỹ và khu vực trong việc trao đổi
thông tin về chống khủng bố”.. Việt Nam nên “thể hiện tinh thần hợp tác” bằng
cách không phản đối Mỹ mở rộng cuộc chiến, chia sẻ thông tin tình báo, phong
tỏa tài sản các nhóm khủng bố, truy lùng và bắt những kẻ khủng bố ở Việt Nam,
cung cấp danh sách các tổ chức, cá nhân “khủng bố” ở Việt Nam cho cục Điều tra
Liên bang Mỹ (FBI) mở Văn phòng tại Hà Nội, cho nhân viên FBI thường xuyên vào
Việt Nam .. Mỹ đã nhiều lần đề nghị cho máy bay quá cảnh không phận Việt Nam
“phục vụ chiến dịch chống khủng bố”, cho tàu chiến Mỹ được thăm căn cứ Hải quân
Cam Ranh, thậm chí thăm dò thái độ của ta để thuê căn cứ này phục vụ mục đích
lâu dài.
Xâm nhập vào lĩnh
vực giáo dục đào tạo trong Quân đội để dễ bề chi phối chuyển hóa. Mỹ tích cực
vận động Quân đội ta tham gia chương trình hợp tác giáo dục đào tạo Mỹ - Việt
(IMET). Các đoàn quân sự Mỹ đến thăm và làm việc tại Việt Nam đều đưa ra “thông
điệp” rằng: “Mỹ hoan nghênh việc Việt Nam gửi học viên sang học tại các trường
quân sự của Mỹ từ cấp phân đội cho tới cấp chiến lược, ngược lại Mỹ sẽ thúc đẩy
để gửi các học viên của mình tới học tập
tại Việt Nam”.
Đại sứ Mỹ tại Việt Nam, Mai-cơn Mi-cha-lác triển
khai chương trình việc của mình trong nhiệm kỳ 2007-2011, trong đó có các nội
dung: Từng bước tiếp cận ký kết các Hiệp định quân sự với Việt Nam về huấn
luyện, đào tạo, trang bị vũ khí, tổ chức biên chế; tìm cách đưa Quân đội Việt
Nam vào chương trình đối tác Thái Bình Dương của Hải quân Mỹ. Một số chuyên gia
quân sự Mỹ cho rằng: Đã đến lúc Việt Nam nên cử một số sĩ quan trẻ, có năng lực
đến học tại các trường đào tạo nguồn nhân lực chính trị cho quân đội và chính
trường Mỹ (Học viên Lục quân - West Poin, Không quân - Colorado và Học viện Hải
quân - Anapolis) để “hiểu hơn về học thuyết quân sự Mỹ và qua đó xây dựng mối
quan hệ bạn bè nhằm phục vụ cho lợi ích của Việt Nam trong tương lai”.
Tìm cách bãi bỏ một phần lệnh cấm bán vũ khí thông thường
cho Việt Nam và đưa ra các khoản viện
trợ quân sự kèm theo điều kiện để lôi kéo. Họ xác định: Đây là “điểm khởi đầu”
cho lộ trình “lôi kéo Việt Nam hợp tác quân sự” với Mỹ. Họ tuyên bố rằng: “Việc
Mỹ xóa bỏ một phần lệnh cấm bán vũ khí đối với Việt Nam là 1 bước tiến quan
trọng trong tiến trình bình thường hóa các mối quan hệ quân sự giữa Mỹ và Việt
Nam”.
Thông qua các “kênh” khác nhau, Mỹ liên tục gửi các thông
điệp cho Việt Nam về việc hợp tác quân sự Mỹ -Việt, như: Mỹ “thực tâm” mong
muốn đẩy mạnh việc hợp tác quân sự với Việt Nam; Mỹ đang vận động Quốc Hội bỏ luật cấm vận
bán vũ khí cho Việt Nam, nếu Việt Nam mua vũ khí của Mỹ thì Mỹ sẽ tính giá thấp
cho Việt Nam ... Thực chất, Mỹ nhằm: thu lợi ích kinh tế, tranh giành thị trường
vũ khí với các nước khác; buộc Việt Nam phụ thuộc vào trang bị vũ khí quân sự
của Mỹ về lâu dài.
Mỹ còn đưa ra các khoản viện trợ quân sự cho Việt Nam
(giành các ngân khoản viện trợ quân sự nước ngoài (FMF cho Việt Nam mua sắm các thiết bị phụ tùng
quân sự, cho các hoạt động y tế, huấn luyện gìn giữ hòa bình) kèm theo điều kiện để thúc đây
quan hệ giữa Quân đội hai nước, vừa gây mơ hồ ảo tưởng cho một số người để tạo
ra mâu thuẫn, phân hoá nội bộ Quân đội ta.
Mỹ cũng chủ động hợp tác, đầu tư vào lĩnh vực điện hạt
nhân ở Việt Nam và sẵn sàng giúp Việt Nam nghiên cứu vấn đề nguyên tử phục vụ mục đích hoà bình.
Việc làm này của Mỹ là nhằm ngăn chặn khả năng Nga, Trung Quốc, ấn Độ chuyển
giao công nghệ về
hạt nhân cho Việt Nam mà Mỹ không kiểm soát được thì sẽ gây ra hậu quả khác như
bài học nhãn tiền ở, Pakítxtan và gần đây là Iran.
Lợi dụng vấn đề nhạy cảm liên quan đến Biển đông -
Trường Sa để lôi kéo quân đội, tạo sự “nghi ngờ” của Trung Quốc nhằm chống phá
quan hệ Việt Nam- Trung Quốc.
Mỹ cho rằng, nếu
Mỹ tăng cường hợp tác quân sự được với Việt Nam thì sẽ làm cho Trung Quốc ngày
càng thêm “nóng mặt”, càng sớm đưa quan hệ Việt Nam về phía Mỹ, theo đó tiến
trình “đồng minh hóa” càng được trở nên nhanh chóng. Do đó, Mỹ luôn đặt Việt
Nam trong bối cảnh “đang lép vế với Trung Quốc tại Biển Đông - Trường Sa” để
đưa ra quan điểm Việt Nam cần phải dựa vào Mỹ để bảo vệ lãnh hải của mình. Việt
Nam nên chấp nhận một cách tích cực những gì mà Mỹ đang dành cho Việt Nam. Việc
hợp tác sẽ khiến Trung Quốc sẽ không dễ “bắt nạt” Việt Nam như hiện nay. Việt Nam và Mỹ cần phối hợp tổ
chức các buổi trao đổi “tình hình an ninh vùng biển Nam Trung Hoa, trong đó có
việc Trung Quốc “đe nẹt” các công ty nước ngoài, kể các các công ty Mỹ có hợp
đồng làm ăn kinh tế với Việt Nam”.
Sau khi Trung Quốc có các hành động khẳng định “chủ
quyền” theo đường Lưỡi Bò, gia tăng hoạt động quân sự, bắt tàu cá của ngư dân
Việt Nam ở Biển
Đông - Trường Sa, Mỹ coi đây là cơ hội tốt để lôi kéo Quân đội, chống phá quan
hệ Việt - Trung. Mỹ chủ trương sẽ khai thác triệt để những yếu tố có lợi xung
quanh hành động xâm lấn của Trung Quốc để lôi kéo Việt Nam về phía Mỹ.Một khi
Chính phủ Việt Nam đã nhận rõ các nguy cơ đến từ Trung Quốc thì Mỹ sẽ đẩy nhanh
tiến trình “đồng minh hóa” Việt Nam.
Thúc ép các nước đồng minh tăng cường hợp tác với Quân
đội Việt Nam trên lĩnh
vực y tế để hỗ trợ Mỹ đẩy nhanh tiếp cận lôi kéo “chuyển hoá”.
Mỹ đã gửi “công
hàm” cho chính phủ các nước đồng minh kêu gọi hợp tác với Quân đội Việt Nam
trên lĩnh vực y tế nhằm hỗ trợ cho Mỹ đẩy nhanh mối quan hệ Mỹ - Việt trên lĩnh
vực quân sự. Mỹ yêu cầu các nước đồng minh cần lên các kế hoạch cụ thể trong
hợp tác hoặc viện trợ về mặt y tế cho các cơ sở, trung tâm, viện nghiên cứu
quân y của Quân đội Việt Nam. Những nước không có thế mạnh trong quan hệ Việt
Nam trên lĩnh vực này có thể đóng góp tài chính để Mỹ đứng ra gây dựng và triển
khai chương trình với phía Việt Nam.
BIỂN RỘNG
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét