Chủ Nhật, 31 tháng 5, 2020


Nêu gương là một nguyên tắc thực hành đạo đức theo Tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng việc nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là của người đứng đầu. Người thường xuyên căn dặn: Muốn người ta theo, mình phải làm gương trước, đảng viên đi trước, làng nước theo sau. Theo Người, một tấm gương sống còn giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền.
Cán bộ, đảng viên, người đứng đầu cơ quan, đơn vị phải nêu cao tinh thần trách nhiệm trong thực thi nhiệm vụ, thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng; tự giác, gương mẫu trong việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.
Người đứng đầu phải là người thực hành nêu gương đầu tiên, thể hiện toàn diện trên các mặt về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; trách nhiệm trong công tác; về tự phê bình và phê bình; giữ mối liên hệ mật thiết với quần chúng. Nêu gương không chỉ là khẩu hiệu, không chỉ là lời nói, mà người đứng đầu phải nói đi đôi với làm trong thực hiện nêu gương. Sự gương mẫu trong lời nói và hành động của người đứng đầu là mệnh lệnh không lời để thuyết phục cấp dưới noi theo. Nói đi đôi với làm không chỉ thể hiện bằng kết quả công việc. 
 Thực tế cho thấy, một số ít cơ quan, đơn vị người đứng đầu nói nhiều làm ít, hoặc nói một đằng làm một nẻo, hay nói mà không làm thì không ai tin, sẽ mất uy tín và vai trò với cấp dưới. Cho nên, trong một số đại hội Đảng cấp cơ sở mới đây, người đứng đầu, người chủ trì không có uy tín, không được đảng viên lựa chọn bầu vào cấp ủy, bí thư, phó bí thư. Bởi vậy, người đứng đầu các cơ quan, đơn vị cần phải nhận thức rõ vai trò, trách nhiệm của mình, gương mẫu chấp hành các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ sẽ có tác động tích cực đến các hoạt động của cơ quan, đơn vị. Ý thức trách nhiệm, tinh thần gương mẫu của người đứng đầu có ý nghĩa quyết định với việc thực hiện nêu gương của cả tập thể cơ quan, đơn vị đó. Nơi nào người đứng đầu nêu cao tinh thần trách nhiệm, chủ động và quyết liệt trong lãnh đạo, chỉ đạo và tiên phong gương mẫu, nói đi đôi với làm thì nơi đó việc thực hiện nêu gương đi vào thực chất, hiệu quả. 
Để trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu các cơ quan, đơn vị thực sự trở thành động lực để quần chúng noi theo, thiết nghĩ, người đứng đầu các cơ quan, đơn vị phải tự giác, gương mẫu thực hiện nghiêm quy định của Ban Chấp hành Trung ương về những điều đảng viên không được làm. Có lối sống trong sạch, lành mạnh, thực sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Gương mẫu chấp hành Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, sự phân công, điều động của tổ chức. Đi đầu thực hiện nền nếp, chế độ sinh hoạt đảng, các quy chế, quy định của tổ chức, cơ quan, đơn vị và địa phương nơi cư trú. Kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, lối sống vụ lợi, thực dụng, cơ hội, ích kỷ, lợi ích nhóm. Bản thân không tham nhũng và đi đầu trong phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí. Sẵn sàng nhận, chịu trách nhiệm khi tổ chức, cơ quan, đơn vị do mình phụ trách xảy ra tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, đồng thời kiên quyết sửa chữa.
Người đứng đầu các cơ quan, đơn vị phải tự giác nêu gương về đức khiêm tốn, giản dị, tác phong sâu sát thực tế, gần gũi thấu hiểu tâm tư, giải quyết kịp thời nguyện vọng, lợi ích chính đáng của cấp dưới. Kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện vô cảm, quan liêu, cửa quyền, hách dịch và các hành vi không tôn trọng cấp dưới. Gương mẫu chấp hành nguyên tắc tập trung dân chủ, đề cao ý thức trách nhiệm và tận tụy với công việc theo chức trách, nhiệm vụ được giao. Luôn chủ động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Làm việc có nguyên tắc, kỷ cương, có lý có tình, không lạm dụng chức vụ, quyền hạn để mưu cầu lợi ích cá nhân, cục bộ. Hết lòng chăm lo xây dựng và tăng cường đoàn kết nội bộ, chăm lo sự tiến bộ của đồng chí, đồng đội. Là tấm gương tự phê bình và phê bình, cầu thị, tự giác, trung thực, tránh xa nịnh bợ của cấp dưới. Chủ động tự giác nghiêm túc nhận khuyết điểm và có kế hoạch sửa chữa. Không chạy theo thành tích, tranh công, đổ lỗi, đùn đẩy trách nhiệm, khuyết điểm cho người khác, che giấu khuyết điểm. Trong phê bình không né tránh, “dĩ hòa vi quý”, phải chân thành, công tâm, có lý, có tình trên tinh thần thương yêu đồng chí, đồng đội. Thẳng thắn đấu tranh bảo vệ lẽ phải, kiên quyết chống chia rẽ, bè phái, lợi dụng phê bình gây mất đoàn kết.
Đề cao trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu là việc làm thường xuyên, liên tục ở mọi cấp, mọi ngành, cơ quan, đơn vị. Đây là giải pháp thiết thực mang lại hiệu quả to lớn, bền vững, góp phần xây dựng tổ chức Đảng TSVM, cơ quan, đơn vị VMTD.
                                        Công Bằng


Đừng biến hạn, mặn thành cớ
Những ngày gần đây, khi chính quyền các cấp và người dân phải gồng mình chống dịch bệnh; khi người dân đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) phải đối mặt với hạn hán, xâm nhập mặn nghiêm trọng, ảnh hưởng nặng nề tới cuộc sống và sản xuất khiến 5 tỉnh phải ban bố tình trạng khẩn cấp thiên tai thì các phần tử cơ hội chính trị lại lợi dụng tình hình khó khăn để xuyên tạc, kích động chống phá.
Ngày 8-2-2020, trang RFI đưa tin: “Đồng bằng sông Cửu Long chỉ còn tồn tại 30 năm”?. Trước đó, Fanpage Việt Tân cũng có bài “Năm 2050 đồng bằng sông Cửu Long sẽ biến mất”; trang VOA Tiếng Việt đăng bài: “20 triệu người ở Đồng bằng sông Cửu Long gặp nguy cơ vì nước biển dâng”. Rồi một vài trang mạng khác như Vatican News cũng đăng tải các bài viết về nguy cơ “biến mất” của ĐBSCL trong khoảng 30 năm tới... Tất cả bài viết trên các trang mạng này nói về “sự biến mất” của ĐBSCL đều dựa trên kết quả nghiên cứu khí hậu toàn thế giới của tổ chức Climate Central nào đó.
Từ xưa tới nay, ĐBSCL luôn là trung tâm sản xuất nông nghiệp lớn nhất của Việt Nam, đóng góp 50% sản lượng lúa, 65% sản lượng nuôi trồng thủy sản và 70% sản lượng trái cây của cả nước; lại có vị trí thuận tiện trong giao thương với các nước ASEAN và tiểu vùng sông Mê Kông. Toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế đang tạo cho ĐBSCL nhiều cơ hội phát triển, nhưng cũng đối mặt với nhiều thách thức. Đó là biến đổi khí hậu, nước biển dâng diễn ra nhanh và gay gắt gây ra nhiều hiện tượng thời tiết cực đoan, ảnh hưởng đến sinh kế của người dân. Bên cạnh đó, dọc lưu vực sông Mê Kông, mỗi quốc gia có lợi ích riêng của mình nên việc khai thác tài nguyên nước trên thượng nguồn, đặc biệt là việc xây dựng đập thủy điện đã làm thay đổi dòng chảy, giảm lượng phù sa, suy giảm nguồn lợi thủy sản, xâm nhập mặn sâu vào hạ vùng. Rồi mặt trái từ hoạt động phát triển kinh tế đang gây ra ô nhiễm môi trường, mất cân bằng sinh thái, sụt lún đất, suy giảm mực nước ngầm, xâm thực bờ biển...
Tại Việt Nam, thảm họa thiên nhiên thường là hạn hán, xâm nhập mặn ở ĐBSCL hay bão lụt ở miền Trung, lũ quét ở các tỉnh miền núi phía Bắc. Không ai chối cãi tình trạng sụt lún, hạn hán, xâm nhập mặn đang diễn ra ngày càng nghiêm trọng ở khu vực ĐBSCL. Cũng không thể phủ nhận từ nhiều năm qua, Đảng, Nhà nước ta đã triển khai nhiều giải pháp để giảm thiểu tác động biến đổi khí hậu, ban hành nhiều chủ trương, chính sách để phát huy tiềm năng, lợi thế, tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội ĐBSCL. Cụ thể như đầu tư hệ thống mô hình thủy văn, thủy lực, nâng cao tính chính xác trong dự báo; chuyển đổi sản xuất thích ứng với khí hậu; xây kè gây bồi tạo bãi; trồng hàng trăm héc ta rừng phòng hộ ven biển... và hỗ trợ sinh kế cho người dân bị ảnh hưởng bởi thiên tai. Những ngày vừa qua, Chính phủ đã chi cho 5 tỉnh công bố tình huống khẩn cấp 350 tỷ đồng để có nguồn lực ứng phó. Cả hệ thống chính trị, tuyến đầu là bộ đội, công an đã không quản ngại khó khăn, gian khổ tìm mọi cách để cung cấp đủ nước ngọt sinh hoạt cho người dân. Ai cũng biết, biến đổi khí hậu, nước biển dâng, hạn hán, xâm nhập mặn, động đất, sóng thần là hiện tượng tự nhiên, vượt khỏi khả năng điều chỉnh của mỗi quốc gia đơn lẻ. Thế nên để hạn chế tác động tiêu cực của các hiện tượng thiên nhiên cực đoan nêu trên cần có sự hợp tác, đồng lòng của cả nhân loại chứ không chỉ quốc gia hay đảng phái nào trên thế giới.
Sẽ không có gì phải bàn nếu các trang mạng nêu trên “cảnh báo” bằng những dẫn liệu khoa học, khách quan và trên tinh thần xây dựng, lo lắng cho cuộc sống của người dân ĐBSCL. Nhưng không, lợi dụng hạn hán, xâm nhập mặn đang diễn ra gay gắt, các trang mạng này đồng thanh xuyên tạc, rằng kết quả này là do ĐBSCL bị chính quyền các cấp “bỏ rơi”, “lãng quên” nhiều năm qua. Họ bịa đặt về tình trạng người dân phải rời bỏ đất cha ông để lên Tây Nguyên, tha phương đến miền Trung, miền Bắc; thậm chí sang bên kia bán cầu để mưu sinh. Những người ở lại đang ngửa cổ mong chờ phép màu từ tạo hóa. Cuối cùng, họ quy kết thảm trạng này là do thể chế chính trị, do Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý non kém và việc bưng bít thông tin tạo ra.
Nhìn ra thế giới, bao nhiêu quốc gia khác như Thái Lan, Nhật Bản, Trung Quốc, Indonesia, Philippines... cũng đã mất đi hàng triệu người, nhiều làng mạc, thành phố bị san phẳng bởi động đất, sóng thần. Vậy thì “đổ tội” cho ai? Thế nhưng những kẻ cơ hội chính trị luôn bưng tai bịt mắt trước những nỗ lực của Đảng, chính quyền các cấp trong việc ứng phó với các thảm họa thiên nhiên, trong đó có nạn hạn hán, xâm nhập mặn ở ĐBSCL. Họ quy kết nguyên nhân là do Đảng, Nhà nước không ra lệnh cải tạo vùng trũng là nơi tích nước cho ĐBSCL. Họ mổ xẻ cả việc Đảng ta ban hành các nghị quyết nhằm tăng sản lượng gạo ở ĐBSCL để vươn lên dẫn đầu về xuất khẩu gạo, để nâng kim ngạch xuất khẩu thủy sản, giúp chỉ tiêu tăng trưởng năm sau cao hơn năm trước. Rồi họ đặt câu hỏi hết sức nực cười: Tại sao một miền đất màu mỡ trù phú bậc nhất của Tổ quốc lại bị rơi vào hoàn cảnh bi đát này?
Qua những lập luận loanh quanh và ngớ ngẩn của những kẻ đang thương vay khóc mướn về tình trạng hạn hán, xâm nhập mặn ở ĐBSCL, chẳng cần tinh ý cũng thấy rõ động cơ mượn chuyện để chống phá của những kẻ cơ hội chính trị. Nếu như “miền đất màu mỡ trù phú bậc nhất của Tổ quốc” - như lời họ nói kia không được khai thác tốt, đóng góp 50% sản lượng lúa, 65% sản lượng nuôi trồng thủy sản và 70% sản lượng trái cây của cả nước thì chắc chắn chúng lại quy kết là do công tác lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước yếu kém. Qua đó kích động tâm lý tiêu cực của người dân, chia rẽ vùng miền, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Mục đích cuối cùng của chúng là xóa bỏ thể chế chính trị, vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, thực hiện mục tiêu đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập ở Việt Nam mà thôi.
                                        Công Bằng


Đừng tát nước theo mưa!
Những ngày gần đây, các trang mạng thù địch với Chính phủ, Nhà nước Việt Nam lại đồng loạt đăng tin, bài kêu gọi Nhà nước Việt Nam thả tù nhân, đặc biệt nhấn mạnh nhóm tội phạm được gắn mác “tù nhân lương tâm” để tránh lây lan dịch Covid-19. Thực chất đây chỉ là trò “tát nước theo mưa” của các phần tử cơ hội chính trị lâu nay vẫn khoác áo dân chủ, viết theo đơn đặt hàng của các trang mạng phản động mà thôi.
Cụ thể, ngày 6-4, Đài Á châu tự do đăng bài Kêu gọi Việt Nam trả tự do cho tù nhân lương tâm trong đại dịch Covid-19; ngày 7-4, trang Người Việt có bài Nhiều lời kêu gọi Việt Nam thả tù lương tâm giữa đại dịch Covid-19; ngày 8-4, trang VOA Tiếng Việt đăng bài Các tổ chức kêu gọi Thủ tướng Việt Nam thả tù nhân vì dịch Covid-19. Rồi ngày 14-4, trang Tiếng Dân có bài Thư kêu gọi thả tù nhân lương tâm... Và còn nhiều bài cùng chủ đề đăng trên các trang mạng Facebook, Twitter, YouTube, Instagram... của các cá nhân, tổ chức có thù địch với Nhà nước Việt Nam.
Nội dung các bài viết về chủ đề này na ná nhau, trong đó một số trang còn mượn oai của Ủy ban Luật gia Quốc tế - dù đây cũng chỉ là một tổ chức phi chính phủ, hội nghề nghiệp mà thôi. Các bài viết còn dẫn chứng rằng, nhiều quốc gia đã trả tự do cho tù nhân để giảm nguy cơ lây lan dịch bệnh. Đặc biệt, trên các trang mạng phản động đồng loạt đăng bức thư chung của 28 cộng đồng và tổ chức tôn giáo cùng với 108 cá nhân thuộc các cộng đồng tôn giáo và sắc tộc ở Việt Nam gửi Thủ tướng đề nghị “trả tự do cho những tù nhân không nguy hiểm cho xã hội như những người hoạt động bảo vệ nhân quyền, những người thực thi quyền tự do ngôn luận, hoặc những người lên tiếng bảo vệ môi sinh”. Dù biết đây chỉ là trò hâm nóng một chuyện đã cũ là đòi trả tự do cho những tên tội phạm nguy hiểm đến an ninh quốc gia, nhưng trong lúc Chính phủ, các lực lượng và người dân cả nước đang gồng mình chống dịch Covid-19, việc làm của họ vẫn gây bức xúc cho những người đang lo lắng an nguy của cả cộng đồng trước đại dịch.
Về cái gọi là Thư chung của các tổ chức tôn giáo lần này, nó cũng chẳng khác gì mấy cái thư ngỏ với kiến nghị của các nhóm “dân chủ”, “nhân sĩ yêu nước”, “hội nhà báo độc lập”, hay “dân oan”... vẫn thường “diễn” mỗi khi đất nước có các sự kiện chính trị như sửa đổi Hiến pháp hay đại hội Đảng, bầu cử Quốc hội... Cũng vẫn là giọng điệu đòi hỏi Chính phủ, Nhà nước “phải thế này, phải thế kia” theo những yêu cầu điên rồ và ngạo mạn của họ. Thư chung lần này vẫn là do những kẻ cơ hội chính trị tự sáng tác rồi nhân danh các tổ chức tôn giáo trong nước; phỏng vấn thân nhân của những tên tội phạm chính trị như Nguyễn Văn Hóa, Lưu Văn Vịnh, Trương Minh Đức, Trần Hoàng Phúc... đăng trên các trang chống cộng để đòi thả những kẻ chống phá Nhà nước đang thụ án.
Về lập luận đề nghị phóng thích “những tù nhân không nguy hiểm cho xã hội” thực chất là sự đánh tráo khái niệm để biện bạch cho những kẻ chống phá Nhà nước. Họ chỉ lợi dụng, nhân danh dân chủ, tôn giáo, nhân quyền, bảo vệ môi trường... để thực hiện âm mưu chống phá. Nếu họ thực sự là những người hoạt động bảo vệ nhân quyền, bảo vệ môi sinh hay thực thi quyền tự do tôn giáo, tự do ngôn luận đúng quy định của pháp luật thì không ai bỏ tù được họ. Trong bức Thư chung có đoạn: “Dịch bệnh không chừa một ai. Do đó, công cuộc phòng, chống đại dịch này đòi hỏi sự nhập cuộc của mọi người, mọi thành phần trong xã hội”. Thư chung viết như vậy mà trong lúc cả nước đang nghiêm túc thực hiện Chỉ thị số 16 của Thủ tướng Chính phủ, giãn cách toàn xã hội với khẩu hiệu “ở đâu yên đấy” thì họ lại nằng nặc đòi thả những kẻ quậy phá. Vì thế, bức Thư chung chỉ là trò hề của những kẻ muốn “nhai lại” chuyện bắt giữ, xử lý những kẻ chống phá Nhà nước bên lề đại dịch mà thôi.
Thực tế là việc phóng thích tù nhân đã được một số quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề của dịch Covid-19 thực hiện như một biện pháp giảm bớt sự quá tải trong các nhà tù vì đã có những tù nhân bị nhiễm bệnh, nhà tù sẽ trở thành ổ dịch khổng lồ nếu không phóng thích tù nhân kịp thời. Nhưng đây là những quốc gia chưa làm tốt công tác kiểm soát, ngăn chặn dịch ngay từ đầu, khiến dịch lây lan rộng. Hơn nữa, ở các nước này, tù nhân chính trị cũng không trong diện được phóng thích.
Còn ở Việt Nam, đến nay chưa hề có sự dính dáng nào của dịch Covid-19 đến các nơi giam giữ. Bởi ngay từ đầu và cho đến giờ vẫn vậy, Chính phủ và ngành y tế của Việt Nam đã có những bước đi chủ động để ngăn ngừa dịch bệnh lây lan, chứ không đợi đến lúc nó tràn lan rồi mới có quyết sách. Các nhà tù, trại tạm giam đã nhanh chóng triển khai các biện pháp cách ly, hạn chế tiếp xúc bên ngoài như: tạm ngưng việc gặp trực tiếp thân nhân, gửi đồ tiếp tế qua bưu điện, giãn cách nơi ở, nơi sinh hoạt của tù nhân, khử trùng nơi giam giữ...
Và cho đến nay, dù dịch bệnh đã xuất hiện ở nhiều địa phương, nhiều lứa tuổi, song Việt Nam chưa ghi nhận trường hợp tù nhân nào nhiễm Covid-19. Trong điều kiện giãn cách xã hội được thực thi một cách nghiêm túc, chính nhà tù lại là nơi cách ly an toàn nhất và ở đây rất thuận lợi cho các biện pháp kiểm soát dịch bệnh. Vậy nên không có bất kỳ lý do chính đáng nào để những kẻ nhân danh dân chủ, nhân quyền kia phải lu loa lên việc phóng thích tù nhân để đề phòng dịch lây lan tại Việt Nam!
                                      Công Bằng


Thủ đoạn chống phá trên không gian mạng
 Ngày nay, internet không chỉ đóng vai trò quan trọng trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, mà còn góp phần bảo đảm quốc phòng - an ninh cho tất cả quốc gia trên hành tinh. Với lợi thế mà internet tạo ra đã giúp con người xóa nhòa mọi không gian, địa lý, tháo bỏ mọi rào cản tương tác. Tuy nhiên, bên cạnh việc tạo ra nhiều tiện ích cho con người, mạng xã hội cũng mang lại những thách thức to lớn đối với các quốc gia, dân tộc trên toàn thế giới. Thậm chí không ít nhà khoa học đã đưa ra cảnh báo rằng, mạng xã hội có thể sẽ gây ra “thảm họa” nếu không được kiểm soát chặt chẽ.
Bằng chứng là hiện nay, các cuộc tấn công mạng có chủ đích không chỉ phá hoại các mục tiêu, công trình quan trọng về an ninh quốc gia mà còn chiếm đoạt thông tin, tài liệu bí mật, chiếm đoạt để sử dụng các hệ thống dữ liệu lớn, dữ liệu nhanh phục vụ các ý đồ chính trị và hoạt động phạm tội. Khác với thế giới thực, những thông tin trên “thế giới ảo” - mạng xã hội, rất khó kiểm chứng nên dễ bị kẻ xấu và thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lợi dụng cho mưu đồ đen tối của mình. Phương cách mà chúng thường sử dụng là tạo dựng, phát tán các thông tin, hình ảnh giả tạo, sai lệch, biến có thành không, biến không thành có, thật - giả lẫn lộn để lôi kéo, kích động, hướng dư luận theo quan điểm sai trái, thù địch.
Đồng thời, chúng triệt để lợi dụng các báo điện tử, blog cá nhân để làm “nóng” các vấn đề của đất nước như tệ nạn xã hội, tham nhũng, lãng phí... tạo bức xúc, nghi ngờ, bất bình trong xã hội, kích động tâm lý bất mãn với chính quyền. Và thông qua mạng xã hội, chúng ra sức tuyên truyền phá hoại tư tưởng, tấn công chia rẽ nội bộ, xuyên tạc, bịa đặt, bôi nhọ, hạ uy tín lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, lực lượng vũ trang nhằm phá hoại nội bộ, tác động tiêu cực tới nhận thức, quan điểm, tư tưởng của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Từ đó, gây tâm lý hoang mang, hoài nghi, làm suy giảm lòng tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với xã hội. Trên không gian mạng hiện nay, các thế lực này đã tỏ rõ ý đồ tập hợp lực lượng và thời cơ đến để thực hiện lật đổ chính quyền.
Trong những năm gần đây và đặc biệt là từ năm 2018 đến nay, hoạt động của các thế lực thù địch và tổ chức, cá nhân chống đối có nhiều diễn biến phức tạp, leo thang, nguy hiểm trên không gian mạng. Trước đây, chúng tuyên truyền về nhân quyền, dân chủ nhưng hiện nay trên không gian mạng, các thế lực thù địch đang bày tỏ một ý đồ rất rõ rệt là phải tập hợp được lực lượng và thời cơ đã đến để lật đổ chính quyền bằng “cách mạng màu”, “cách mạng đường phố”. Về phương thức và thủ đoạn, chúng đang thay đổi theo hướng manh động, liều lĩnh kết hợp giữa phá hoại tư tưởng, phá hoại nội bộ kích động xu hướng ly khai Đảng, bỏ Đảng gắn với hoạt động biểu tình, bạo loạn, khủng bố, ám sát cán bộ khi có cơ hội. Và không gian mạng là môi trường chủ yếu để các thế lực thù địch triệt để lợi dụng để chống phá Đảng, Nhà nước, nhân dân ta bằng 3 thủ đoạn chính như sau: 
Đầu tiên là lợi dụng các trang mạng xã hội như Facebook, YouTube kết hợp với các đài phát thanh tiếng Việt ở hải ngoại và các tờ báo phản động ở nước ngoài để ra sức tuyên truyền phá hoại tư tưởng, tấn công chia rẽ nội bộ, xuyên tạc, bịa đặt, bôi nhọ, hạ uy tín lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, lực lượng vũ trang nhằm phá hoại nội bộ. Đồng thời, chúng sử dụng các đối tượng trong nước để thu thập thông tin, trả lời phỏng vấn về các vấn đề nhạy cảm, phức tạp để phát tán tài liệu, video tạo ra các “chiến dịch truyền thông” nhằm tuyên truyền phá hoại tư tưởng, tấn công trực diện vào vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý điều hành của Nhà nước và hệ thống pháp luật Việt Nam. Bên cạnh đó, chúng xuyên tạc, bịa đặt, vu khống, bôi nhọ nhằm hạ uy tín lãnh đạo của Đảng, công khai bày tỏ quan điểm đối lập, khơi gợi hận thù chế độ, ca ngợi chế độ cũ, khai thác tâm lý bức xúc của người dân, gây chia rẽ trong nhân dân... Những hoạt động tuyên truyền của chúng với dã tâm cực kỳ nham hiểm và thâm độc nhằm tác động thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Thực tế đã có nhiều trường hợp cán bộ, đảng viên hưởng ứng tham gia tụ tập biểu tình gây mất an ninh trật tự, phát ngôn, trả lời phỏng vấn báo, đài nước ngoài với nội dung xấu, hưởng ứng phong trào bỏ Đảng...
Thứ hai là từ không gian mạng, các đối tượng phản động, các thế lực thù địch và những phần tử cơ hội chính trị thực hiện việc hướng dẫn cách thức chế tạo chất nổ, vũ khí, cách thức tiến hành khủng bố, phá hoại, gây rối an ninh, biểu tình, livestream các vụ việc nhạy cảm, tụ tập biểu tình, khiếu kiện... Mục đích của chúng là kêu gọi cộng đồng mạng và những người cơ hội chính trị, kẻ bất mãn tham gia bình luận, chia sẻ, tạo “điểm nóng”. Từ đây, chúng nhằm tạo ra trong mắt của nhân dân và cộng đồng quốc tế một xã hội Việt Nam bất ổn, một nhà nước bị chia rẽ, bộ máy công quyền tham nhũng, quan liêu... Cụ thể là tổ chức khủng bố “Việt Tân” đã tán phát lên internet hướng dẫn cách chế tạo bom xăng, mìn hẹn giờ để phục vụ hoạt động khủng bố, phá hoại, ám sát... Các đối tượng gây ra vụ nổ tại Cục Thuế tỉnh Bình Dương ngày 30-9-2019; vụ nổ nhà giữ xe của Công an thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai vào ngày 27-12-2017 và vụ nổ tại trụ sở Công an phường 12, quận Tân Bình, TP. Hồ Chí Minh vào ngày 20-6-2018..., đã khai nhận do tổ chức “Việt Tân” hướng dẫn cách chế tạo bom xăng, mìn, bom hẹn giờ nhằm mục đích phá hoại.
Thứ ba là chúng sử dụng internet để kêu gọi, lôi kéo tập hợp lực lượng thành lập các nhóm phản động. Phương thức hoạt động của các tổ chức phản động trên mạng rất tinh vi và xảo quyệt. Ban đầu, chúng theo dõi phản ứng của những người tham gia mạng xã hội hưởng ứng đồng tình trước những thông tin kích động, xuyên tạc mà chúng đã đăng tải. Sau đó, chúng chủ động kết nối với đối tượng, lúc đầu thăm dò, tiến tới là kích động và đánh giá xu hướng phản kháng để tạo ra sự đồng thuận trong hoạt động như biểu tình hay đòi đa đảng, lật đổ chế độ...
Tiếp đến, chúng kết nạp những thành viên này vào tổ chức của chúng, khi đạt được sự tin tưởng nhất định thì chúng sẽ triển khai một số phần mềm truyền thông như Skype, Viber, Zalo... để hướng dẫn tạo tài khoản mới nhằm tiếp tục trao đổi hoặc giới thiệu tham gia vào nhóm kín để kết nối với các đối tượng khác. Khi đã tin tưởng đến cấp độ nhất định, chúng offline và liên hệ với nhau trên thực tế, hình thành kết nối để chống phá. Đồng thời, chúng sử dụng các fanpage trên mạng, chúng kêu gọi tập hợp lực lượng, hình thành và công khai hóa tổ chức chính trị đối lập trá hình; sử dụng internet và mạng xã hội để bày tỏ quan điểm đối lập, đòi đa nguyên, đa đảng; dụ dỗ các đối tượng bị phạt tù, các nhà báo, nhà văn, cán bộ, đảng viên sai phạm, thoái hóa biến chất viết bài với nội dung xấu tung lên mạng xã hội; phát tán rộng rãi các tài liệu, văn hóa phẩm có nội dung chính trị xấu, độc, phản động.
Để việc đấu tranh phòng, chống quan điểm sai trái và ngăn chặn hiệu quả các âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động trên không gian mạng, chúng ta cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp. Trong đó, giải pháp quan trọng và hữu hiệu nhất là nâng cao nhận thức, trách nhiệm của toàn dân, đồng thời vạch mặt, chỉ tên những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động. Đây là giải pháp quan trọng hàng đầu, là nội dung cốt lõi của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho nhân dân. Vì nhận thức là cơ sở của hành động và định hướng hành động, một khi nhận thức đúng thì mới có trách nhiệm cao và hành động hiệu quả.
                                      Công Bằng


VOA - cái loa bịa đặt
Không phải chỉ riêng ở Việt Nam, mà tại nhiều quốc gia trên thế giới, nhất là những nước theo đường lối xã hội chủ nghĩa trước đây thì những cái tên như BBC, RFA, RFI, VOA, đều không lạ gì, thậm chí còn quá quen thuộc với nhiều người. Thế nhưng chẳng mấy người đặt câu hỏi về sự ra đời của những đài này? Ai đứng đằng sau họ? Nguồn tài chính để những đài này tồn tại từ đâu mà có? Và sứ mệnh của họ nhằm mục đích gì… Trong phạm vi bài viết này chỉ xin đề cập đến VOA và những thông tin sơ lược sau đây có lẽ cũng là quá đủ để khiến nhiều người phải giật mình… “tỉnh ngộ”!
Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, VOA là chữ viết tắt của cụm từ tiếng Anh: Voice of America, tức là Đài tiếng nói Hoa Kỳ, là dịch vụ truyền thông đối ngoại của chính phủ Hoa Kỳ. VOA sản xuất nội dung số bằng hơn 40 ngôn ngữ và phân phối tới các đài liên kết trên toàn cầu. Đối tượng của VOA chủ yếu là khán giả nước ngoài, vì vậy VOA được tập trung vào nội dung có ảnh hưởng đến dư luận nước ngoài có liên quan đến Hoa Kỳ và người dân nước này. VOA được thành lập năm 1942, trụ sở chính đặt tại Washington, D.C. VOA tồn tại chính là nhờ nguồn tiền tài trợ khổng lồ được Quốc hội Hoa Kỳ trích lập hằng năm theo ngân sách dành cho các đại sứ quán và lãnh sự quán, với tổng kinh phí 218,5 triệu USD/năm. Số tiền này được trích từ nguồn thu do người dân Hoa Kỳ đóng thuế.
VOA bắt đầu phát thanh vào ngày 24-2-1942. Đến ngày 17-2-1947, Đài Tiếng nói Hoa Kỳ bắt đầu phủ sóng phát thanh trên lãnh thổ Liên Xô. Trong thời kỳ chiến tranh lạnh, VOA đặt dưới quyền giám sát của Cơ quan Thông tin Hoa Kỳ. Mỗi khi nói đến VOA, không chỉ người dân Việt Nam mà còn nhiều người dân ở các quốc gia trên thế giới nghĩ ngay đến sự thù hận, xuyên tạc, bóp méo sự thật về tình hình kinh tế, chính trị, văn hóa. Thậm chí, những thông tin đài này phát đi không cần biết nguồn gốc cũng như mức độ tin cậy chính xác của nó đến đâu. Nói cách khác, VOA chẳng khác gì “cái loa chuyên bịa đặt, xuyên tạc”. Nói theo kiểu “tự do thả phanh” là thông tin của đài này thiếu đi tính chân thực. Bao nhiêu năm ra đời cũng là bấy nhiêu năm VOA đưa tin sai sự thật, có nhiều tin tức bị bị “bơm” lên để lừa bịp...
Đối với Việt Nam, VOA tiến hành đăng tải các thông tin chống phá chính quyền nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa nhiều hơn là việc phục vụ chính sách ngoại giao Việt Nam - Mỹ. Chưa hết, VOA còn thường xuyên đăng tải những bài viết với nội dung vu khống, xuyên tạc, bịa đặt về các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước ta. Đặc biệt, những thông tin, luận điệu trong các bài viết của VOA đăng tải chứa nội dung kích động, gây mâu thuẫn mất đoàn kết nội bộ nhân dân với chính quyền. Mục đích của họ là gây xáo trộn xã hội để kích động quấy rối an ninh Việt Nam. Ngay cả những bản tin có vẻ như là “khách quan”, nhưng kỳ thực được phát thanh cùng với những bản tin ngụy biện, xuyên tạc khác nhằm cho người nghe thấy Việt Nam đang rất lạc hậu và sự lạc hậu ấy là do chế độ mang lại. Thông điệp mà đài này hướng đến vẫn là muốn thay đổi chế độ. Và VOA trơ trẽn, lố bịch đến mức đòi công khai thay đổi những người cộng sản bằng những “nhà dân chủ”, những kẻ phản động do Mỹ và các nước phương Tây tuyển chọn, hà hơi tiếp sức nuôi dưỡng.
Cụ thể là từ nhiều năm nay, trang tiếng Việt của VOA mở blog dành riêng cho cộng tác viên để thường xuyên đăng bài viết cá nhân. Là blog cá nhân cho nên cộng tác viên blog được thoải mái trình bày “quan điểm cá nhân” về chính trị, kinh tế, xã hội Việt Nam. VOA tiếng Việt có 7 blogger được ký hợp đồng, hưởng lương theo chế độ cộng tác viên. Và những cộng tác viên này được VOA công khai giới thiệu một cách quái chiêu rằng: Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Đài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ! Vậy, bài viết của những người được VOA đồng ý đăng tải nhưng “không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ”, thì VOA đồng ý dựa theo tiêu chí nào? Tất nhiên là những nhà báo bình thường hay những người cầm bút chân chính, có lương tâm nghề nghiệp..., sẽ chẳng bao giờ “có được” những bài viết đăng tải trên VOA tiếng Việt. Mà đó phải là những nhân vật cộm cán trong “làng đấu tranh dân chủ”, “tù nhân lương tâm”, thậm chí kẻ đã từng không ít lần vào tù ra tội, được xem như là “thủ lĩnh của hội nhóm dân chủ trên mạng”. Tức là phải có hoạt động chống đối Đảng và Nhà nước Việt Nam, tôn thờ các giá trị phương Tây,...
Trên diễn đàn của mình, VOA cho rằng, 2 cuộc kháng chiến chính nghĩa của nhân dân Việt Nam trong thế kỷ XX là “sai lầm”, là “miền Bắc xâm lược miền Nam”... Khi Quốc hội thông qua Luật An ninh mạng, VOA tiếng Việt đã đăng hàng loạt bài đầy tính xuyên tạc như: “Xuất hiện phong trào Bất tuân Luật An ninh mạng”..., Luật An ninh mạng “xâm phạm quyền riêng tư”; “xâm phạm quyền tự do ngôn luận, quyền công dân”; “cướp đi quyền sử dụng internet của người dân” và hạn chế các quan hệ quốc tế, kiềm chế sự phát triển của Việt Nam! Thậm chí, VOA còn đổi trắng thay đen rằng trên thế giới “không có quốc gia nào có luật này”! Đây quả là một sự bịa đặt đến lố bịch. Bởi thực tế hiện nay trên thế giới đã có 138 quốc gia và vùng lãnh thổ ban hành luật an ninh mạng bao gồm cả luật chuyên đề và các quy định pháp quy nằm rải rác ở các luật khác và không ít các luật đó còn gắt gao hơn nhiều so với Việt Nam. Bằng chứng là ngày 7-12-2015, các nghị sĩ và quốc gia thành viên Liên minh châu Âu (EU) đã đạt thỏa thuận về Luật An ninh mạng đầu tiên áp dụng cho toàn khối: Theo luật trên, các nhà cung cấp dịch vụ trên mạng như: Google và Amazon sẽ phải báo cáo mọi vi phạm có tính chất nghiêm trọng cho các cơ quan chức năng quốc gia nếu không sẽ bị phạt. Hay như nước Mỹ là một trong những quốc gia đầu tiên trên thế giới thông qua luật này. 
Những ngày gần đây, khi Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao có quyết định giám đốc thẩm: Bác kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao về hủy án sơ thẩm, phúc thẩm để điều tra lại; giữ nguyên án tử hình đối với Hồ Duy Hải, ngay lập tức VOA và các đài phát thanh tiếng Việt khác ở hải ngoại đồng loạt vào hùa với nhau chê bai, phỉ báng nền tư pháp Việt Nam. Ngày 9-5-2020, VOA có đăng bài: “Y án Hồ Duy Hải, nhiều người thất vọng”. Trước đó, ngày 8-5, cũng đài này đã đăng bài: Hồ Duy Hải đã không được xem như một con người. Ngày 10-5, VOA lại đăng bài: Vụ án Hồ Duy Hải tiếp tục gây tranh cãi, phẫn nộ của người dân... và đã giáng một đòn chí mạng lên nền tư pháp Việt Nam... Những bài báo này là sự bịa đặt, hoàn toàn trái với những gì trên thực tế. Bởi, ở góc độ pháp luật, có 3 tài liệu sẽ không thể thay đổi được bản án, đó là: Bản phúc cung của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, thẩm tra vụ án; báo cáo liên ngành tư pháp Trung ương; báo cáo thẩm định độc lập của Bộ Công an.
Nói tóm lại, VOA hay các đài phát thanh tiếng Việt ở hải ngoại như BBC, RFA, RFI..., đều có chung mục đích là gây xáo trộn xã hội để kích động quấy rối an ninh Việt Nam. Cái thông điệp mà các nhà đài này hướng đến vẫn là muốn thay đổi chế độ, xóa bỏ chủ nghĩa xã hội, thực hiện đa nguyên, đa đảng. Vì vậy, những ai đó còn lầm tưởng VOA hay BBC, RFA, RFI đang đấu tranh cho quyền lợi của người Việt là sai lầm lớn. Lịch sử từ khi ra đời đến nay, các đài này chưa bao giờ khách quan, chưa bao giờ có thiện chí với Việt Nam và dân tộc Việt Nam. Do đó, dù là nghe, đọc hay cộng tác với những đài này cũng đồng nghĩa với việc hợp tác với những kẻ chống lại nhân dân Việt Nam.
                                      Công Bằng


 Từ nền tảng truyền thống đến một nền công nghiệp văn hóa
Phát huy nền tảng văn hóa truyền thống để xây dựng ngành công nghiệp văn hóa (CNVH) thích ứng với bước phát triển mới của thời đại mang ý nghĩa đặc biệt. Xây dựng ngành CNVH vừa góp phần vào công cuộc phát triển kinh tế, vừa mang lại sức đề kháng cho mỗi con người, mỗi dân tộc trước sự xâm hại của các luồng văn hóa ngoại lai.
Phát huy các giá trị văn hóa truyền thống
Năm 1943, từ khi cách mạng Việt Nam còn trong trứng nước, Đảng ta đã có Đề cương Văn hóa với những nguyên tắc có sức sống trường tồn. Đề cương Văn hóa năm 1943 lúc đó tập trung vào nhiệm vụ cách mạng trước mắt là đưa văn hóa Việt Nam ra khỏi ảnh hưởng nô dịch của văn hóa thực dân và phát xít, biến văn hóa Việt Nam từ chỗ bị động và tiêu cực trở thành một nhân tố tinh thần lớn mạnh trong sự nghiệp giải phóng đất nước. Đề cương đã gắn liền nhiệm vụ giải phóng kinh tế, chính trị cho xã hội với nhiệm vụ giải phóng cho con người.
Tháng 11-1946, tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ nhất được tổ chức ở Nhà hát Lớn Hà Nội, trong diễn văn khai mạc, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu nhiệm vụ của văn hóa mới là phải lấy hạnh phúc của đồng bào, sự nghiệp đấu tranh của dân tộc làm nội dung phản ánh, đồng thời phải tiếp thu những kinh nghiệm của văn hóa xưa và nay để xây dựng nền văn hóa mới Việt Nam với 3 tính chất: Dân tộc, khoa học, đại chúng. Người nêu rõ vị trí, ảnh hưởng của văn hóa, nghệ thuật trong việc giáo dục thế hệ trẻ, xây dựng con người Việt Nam yêu nước, độc lập, tự cường, tự chủ. Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra luận điểm “Văn hóa soi đường cho quốc dân đi”. Luận điểm này trở thành nguyên tắc chi phối, có ý nghĩa cơ bản, lâu dài, là “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt quá trình phát triển văn hóa Việt Nam trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Từ nhận thức sâu sắc về một trong những đặc điểm ưu việt của chủ nghĩa xã hội là tính nhân văn, trong sự nghiệp của mình, Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh vấn đề xây dựng văn hóa, xây dựng con người. Và đó cũng là cơ sở lý luận-thực tiễn quan trọng để Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội (KT-XH).
Trong giai đoạn mới của sự nghiệp cách mạng, Đảng ta tiếp tục tiếp thu quan điểm về văn hóa, con người của Hồ Chí Minh, đồng thời sáng tạo, bổ sung một số tiêu chí mới phù hợp yêu cầu phát triển. Đó là “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, con người Việt Nam phát triển toàn diện đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa”, “Gắn nhiệm vụ xây dựng văn hóa, con người với nhiệm vụ xây dựng và phát triển đất nước”. Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22-10-2018, của Bộ Chính trị về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” đã khẳng định, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch là một nội dung cơ bản, hệ trọng, sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta.
Trong hơn hai thập kỷ đổi mới chúng ta đã đi qua, văn hóa ngày càng có được sự gắn kết chặt chẽ hơn với các lĩnh vực của đời sống xã hội, góp phần quan trọng vào việc giữ vững ổn định chính trị và tạo nên những thành tựu về KT-XH, an ninh, quốc phòng, đối ngoại… của đất nước. Tuy nhiên, cũng cần thẳng thắn nhìn nhận rằng: So với yêu cầu ngày càng cao của công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, những thành tựu và tiến bộ mà chúng ta đã đạt được trong lĩnh vực phát triển văn hóa chưa thực sự vững chắc; văn hóa chưa khẳng định được sức mạnh tạo dựng một nền tảng tinh thần xã hội có khả năng miễn nhiễm trước những tác động của mặt trái kinh tế thị trường, trước sự xâm nhập của các luồng văn hóa ngoại lai. Những sản phẩm văn hóa “made in Vietnam” còn thiếu sức cạnh tranh, thậm chí bị lấn át ngay tại thị trường nội địa. Những luồng văn hóa-tư tưởng ngoại lai vẫn tác động tiêu cực đến lối sống của một số lượng không nhỏ người dân Việt, đặc biệt là đối tượng thanh thiếu niên. Từ đó, phát sinh ra nhiều hành vi phản văn hóa, ảnh hưởng đáng kể tới công cuộc xây dựng nền tảng tinh thần xã hội.
Vì thế, một hướng phát triển mới đang được mở ra. Đó là xây dựng ngành CNVH.
Một ngành công nghiệp không chỉ mang giá trị kinh tế
Một ngành công nghiệp thường tạo ra các sản phẩm mang giá trị thuần túy về mặt kinh tế. Nhưng CNVH mang tới hai giá trị: Kinh tế và tinh thần. Hai giá trị này có mối quan hệ mật thiết với nhau. Văn hóa là điều kiện, cơ sở để thúc đẩy kinh tế phát triển. Ngược lại, kinh tế tạo ra tiềm lực vật chất để phát triển văn hóa, bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống. Trong ngành CNVH, giá trị kinh tế có thể đong đếm bằng con số, còn giá trị tinh thần là không có giới hạn. Một sản phẩm văn hóa có khả năng tác động mạnh mẽ tới nền tảng tinh thần xã hội. Một biểu tượng văn hóa có thể làm thay đổi cả lối sống, tư duy, tình cảm của cả một thế hệ. Vì thế, xây dựng một ngành CNVH với mục tiêu kép (phát triển kinh tế và bảo vệ nền tảng xã hội lành mạnh) là xu hướng tất yếu trong thời kỳ Việt Nam tăng tốc phát triển bền vững.
Đi sau về xây dựng, phát triển CNVH nhưng Việt Nam vẫn có thể trở thành một trung tâm công nghiệp sáng tạo văn hóa tầm cỡ khu vực. Nhiều chuyên gia cho rằng, tiềm năng và cơ hội phát triển CNVH ở Việt Nam được ví như “mỏ vàng” cần sớm được khai thác. Hiện nay, với quy mô dân số hơn 96 triệu người, trong đó, lực lượng lao động khoảng hơn 50 triệu người; hằng năm, trung bình có khoảng 1,5-1,6 triệu thanh niên bước vào tuổi lao động, đây là nguồn lực chính trong quá trình lao động sáng tạo, tạo ra lượng sản phẩm văn hóa dồi dào ở nhiều lĩnh vực, ngành nghề, nhất là thủ công mỹ nghệ, ngành nghề truyền thống (gốm, lụa, tranh, gỗ), các loại hình nghệ thuật dân gian, văn hóa ẩm thực… ở nước ta. Dân số đông, nhu cầu tiêu thụ sản phẩm văn hóa lớn tạo ra thị trường tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ văn hóa đa dạng, phong phú, kích thích thị trường phát triển sôi động. Cùng đó, dù chưa thực sự mạnh mẽ nhưng hoạt động xuất khẩu văn hóa của Việt Nam cũng có những bước phát triển khá nhanh chóng. Trong đó, đặc biệt là sản phẩm thời trang Việt đã gây được tiếng vang tại những “kinh đô thời trang” thế giới. Hay văn hóa ẩm thực Việt đang tạo ra những “cơn sốt” tại nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ.
Để phát triển ngành CNVH, điều kiện đầu tiên, mang ý nghĩa quyết định là khả năng đầu tư. Hiện nay, ở nước ta, mức chi cho hoạt động văn hóa chiếm khoảng 1,8% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm. Nhà nước hỗ trợ tài chính cho các hoạt động văn hóa, nghệ thuật bằng cách đầu tư từ nguồn ngân sách và xây dựng những thiết chế văn hóa gián tiếp hỗ trợ cho các hoạt động nghệ thuật thông qua chính sách về thuế. Theo đó, những tổ chức xã hội, nghề nghiệp hay những cá nhân đóng góp tài chính cho các hoạt động văn hóa đều được khấu trừ thuế, được hưởng miễn thuế tài sản và miễn thuế thu nhập khi đóng góp cho Nhà nước. Tuy nhiên, để ngành CNVH phát triển thì đầu tư xây dựng đội ngũ văn nghệ sĩ, kịch bản có chất lượng là cần thiết, nhưng cũng cần quan tâm đến việc tạo nên lực lượng công chúng có nhu cầu thưởng thức văn hóa, nghệ thuật đông đảo. Khi sức “cầu” tăng mạnh, tất yếu nguồn “cung” cũng tăng tương xứng.
Một vài năm gần đây, các chính sách về phát triển văn hóa ở ta đã chú ý hơn tới việc đào tạo công chúng nghệ thuật. Tuy nhiên, thực tế hoạt động này còn thiếu tính bài bản và tương đối nhỏ lẻ. Vì thế, trong chiến lược phát triển CNVH rất cần xem trọng hơn hoạt động giáo dục-đào tạo nhằm tạo sự phát triển từ cả hai phía cung-cầu.
Cũng ở lĩnh vực đầu tư, cùng hoạt động đầu tư bằng ngân sách nhà nước, chúng ta cần có thêm những chính sách khuyến khích sự tham gia của các thành phần kinh tế ngoài nhà nước vào phát triển ngành CNVH. Thực tế, tại khu vực tư nhân đang xuất hiện ngày càng nhiều doanh nghiệp văn hóa, tập trung vào các ngành: Điện ảnh, xuất bản, nghệ thuật biểu diễn... Tuy nhiên, các doanh nghiệp văn hóa tư nhân chủ yếu mang quy mô nhỏ, chưa có khả năng tập hợp để tạo thành một trào lưu văn hóa, nghệ thuật nào đó. Bởi vậy, để bảo đảm và khuyến khích sự phát triển của các doanh nghiệp ngoài nhà nước tham gia ngành CNVH, ngoài các chính sách ưu đãi trong đầu tư, điều đặc biệt cần thiết là hoàn thiện hệ thống luật bảo hộ bản quyền. Sự yếu kém trong hệ thống luật bảo hộ hiện tại khiến các sản phẩm văn hóa Việt Nam không được bảo đảm các quyền cơ bản để cạnh tranh lành mạnh trên thị trường, cản trở việc phát huy khả năng sáng tạo văn hóa.
Ở góc độ giao lưu, hợp tác quốc tế, trong giai đoạn hội nhập sâu, rộng như hiện nay, ngành CNVH Việt Nam không thể “một mình một chợ”. Nhà nước, các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực văn hóa cần đẩy mạnh việc xây dựng, triển khai các chương trình quảng bá thương hiệu sản phẩm, dịch vụ văn hóa, thương hiệu doanh nghiệp văn hóa Việt Nam tại các hội chợ quốc tế, liên hoan quốc tế; lồng ghép các chương trình quảng bá phát triển CNVH gắn với các sự kiện ngoại giao. Từ đó, đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm, dịch vụ văn hóa, xây dựng và phát triển thị trường sản phẩm, dịch vụ văn hóa của Việt Nam ở nước ngoài.
Để gìn giữ, phát triển văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần của xã hội, sự gắn kết chặt chẽ chiến lược phát triển kinh tế với chiến lược phát triển văn hóa phải được đặt lên vị trí hàng đầu. Bởi lẽ, văn hóa không đứng ngoài kinh tế, phát triển kinh tế bền vững không thể thiếu nền tảng văn hóa ổn định. Mặt khác, văn hóa không chỉ là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế, mà còn là "hệ điều tiết" cho sự phát triển kinh tế bền vững.
Điểm lại những thành tựu văn hóa có được dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý, điều hành của Nhà nước Việt Nam; đồng thời thẳng thắn chỉ rõ những hạn chế, bất cập trong hoạt động văn hóa, nghệ thuật để từng tổ chức, cá nhân thấy được trách nhiệm trong việc giữ gìn, nuôi dưỡng các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc, thúc đẩy văn hóa dân tộc phát triển và hòa nhập. Xây dựng được một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc chính là tạo ra nền tảng vững chắc để thúc đẩy đất nước phát triển; để đất nước hòa nhập mà không hòa tan. Văn hóa dân tộc, giá trị văn hóa dân tộc là cái bất biến, là cái riêng có của mỗi quốc gia.
                                             Sự Thật


Giữ gìn bản sắc văn hóa-bảo vệ nền tảng tinh thần xã hội
Lợi dụng chủ trương hội nhập ngày càng sâu rộng với thế giới của Đảng, Nhà nước Việt Nam, các thế lực thù địch càng có cơ hội đẩy mạnh âm mưu “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực văn hóa, nhằm phủ nhận những thành quả của cách mạng Việt Nam, thay đổi theo chiều hướng tiêu cực nền tảng tinh thần của xã hội. Từ đó, hướng tới âm mưu tạo ra những cuộc “cách mạng màu”, “cách mạng nhung” nhằm thay đổi thể chế chính trị ở Việt Nam. Hơn lúc nào hết, việc giữ gìn bản sắc văn hóa-nền tảng tinh thần của xã hội-cần được đẩy mạnh, củng cố niềm tin cho nhân dân vào con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) mà dân tộc Việt Nam đã lựa chọn.
Nhận diện nguy cơ “diễn biến hòa bình” về văn hóa                                                                         
Khi nền văn hóa bản địa bị xâm thực, nền tảng tinh thần xã hội bị lung lay, đổ vỡ thể chế chính trị là diễn trình tất yếu…
Bài học lớn từ quá khứ
Năm 1991, Liên bang Xô viết chính thức sụp đổ. Đó là mất mát vô cùng lớn lao đối với phong trào cộng sản trên toàn thế giới. Tuy nhiên, đó cũng là bài học kinh nghiệm rất có giá trị đối với những đất nước tiếp tục vững bước tiến lên theo con đường CNXH như Việt Nam. Một trong những bài học kinh nghiệm rút ra từ việc Liên bang Xô viết sụp đổ là sự xâm thực về văn hóa, dẫn tới thay đổi về nền tảng tinh thần xã hội.
Cuối năm 1958, Liên Xô và Hoa Kỳ thống nhất việc tổ chức hai cuộc triển lãm tại thành phố New York và thủ đô Moscow nhằm thúc đẩy giao lưu văn hóa và sự hiểu biết lẫn nhau. Đây được coi là một sự kiện gây chấn động thế giới, bởi hai quốc gia siêu cường Liên Xô và Hoa Kỳ đối nghịch về nền tảng chính trị và có những khác biệt rất lớn về văn hóa. Sau này, triển lãm của Liên Xô tại thành phố New York không được đề cập nhiều nhưng triển lãm của Hoa Kỳ lại gây tiếng vang đáng kể.
Tại công viên Sokolniki ở thủ đô Moscow, Hoa Kỳ đã quảng bá văn hóa, công nghệ cũng như các sản phẩm tiêu dùng, từ ô tô, đồ uống đến nghệ thuật, thời trang và kiến trúc. Nhiều nhà tài trợ và doanh nghiệp lớn nổi tiếng của xứ cờ hoa, như: Disney, Dixie Cup Inc, IBM, Pepsi… đều có gian hàng trưng bày sản phẩm. Ngày 24-7-1959, trước khi triển lãm Moscow chính thức khai mạc, Phó tổng thống Hoa Kỳ Richard Nixon đã mời nhà lãnh đạo Liên Xô Nikita Khrushchev tham quan các gian hàng. Họ dừng lại trước một căn bếp-nơi trở thành “hiện trường” cho cuộc tranh luận nổi tiếng trong chiến tranh Lạnh. Căn bếp này do các nhà thiết kế Hoa Kỳ dựng lên với đầy đủ tiện nghi, như: Máy rửa bát, lò nướng bánh mì, máy xay sinh tố… dường như là để “khoe” mọi người dân Mỹ đều có thể sở hữu căn bếp như thế. Lãnh đạo Liên Xô tỏ ý không vừa lòng, nói rằng các gia đình Liên Xô cũng có những thứ này. Cuộc tranh luận bắt đầu, chủ đề được mở rộng đến các vấn đề chính trị như chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa tư bản (CNTB), chiến tranh hạt nhân... Ngày hôm sau, "Cuộc tranh luận trong bếp" là tin tức xuất hiện trên trang nhất của các tờ báo ở Hoa Kỳ. Và điều thú vị nhất của “Cuộc tranh luận trong bếp” là sau khi nó kết thúc, Nixon và Khrushchev cùng uống Pepsi. Một nhiếp ảnh gia đã bắt được khoảnh khắc Nixon và Khrushchev đứng cạnh nhau trong khi nhà lãnh đạo Liên Xô thưởng thức nước ngọt có ga của một thương hiệu… phương Tây.
Cùng các cuộc chiến về chính trị, ngoại giao, văn hóa là mũi nhọn được các thế lực thù địch phương Tây sử dụng nhằm tiêu diệt nhà nước Nga Xô viết. Dưới thời nhà lãnh đạo Khrushchev, các thế lực chống cộng và chính quyền phương Tây căn cứ vào tình hình đã tăng cường thực thi “diễn biến hòa bình”, âm mưu phương Tây hóa, phân hóa Liên Xô. Đến thời Tổng thống Hoa Kỳ Ronald Reagan (hai nhiệm kỳ-1981-1989), Chính phủ Hoa Kỳ càng đẩy mạnh chủ trương ngoại giao cân bằng, thẩm thấu tư tưởng, văn hóa với Liên Xô và các nước Đông Âu qua truyền bá quan điểm phương Tây về tự do, nhân quyền với hạt nhân là lợi ích cá nhân. Reagan cho rằng, trong cuộc đấu tranh giữa CNTB và CNXH, nhân tố quyết định cuối cùng không phải là đọ sức đạn hạt nhân và tên lửa mà là cuộc đọ sức của ý chí và tư tưởng.
Ở chiều ngược lại, Tổng bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô khi đó là Mikhail Gorbachev lại ra sức cổ súy cho cái gọi là tư duy mới chính trị quốc tế. Lợi dụng thời cơ đó, các thế lực chống cộng ở phương Tây tài trợ cho một số cơ quan nghiên cứu lập phương án đánh vào những tình cảm nhân dân Liên Xô dành cho Lênin và Stalin. Các tác phẩm chống Lênin, Stalin xuất hiện đầy rẫy trên báo, đài phát thanh, đài truyền hình, phim ảnh... Họ kích động nhân dân Liên Xô đề nghị mai táng thi hài Lênin. Phương Tây còn ca tụng tư duy cải tổ của Gorbachev, nhằm làm suy yếu và hủy bỏ uy tín của Đảng Cộng sản Liên Xô, của chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN), tuyên truyền cho cái gọi là cuộc sống tươi đẹp ở phương Tây và tính ưu việt của chế độ tư bản. Phương Tây rất chú trọng dùng lối sống tiêu dùng để tác động và ảnh hưởng đến đông đảo người dân Liên Xô, đặc biệt là lứa tuổi thanh niên.
Sau này, tổng kết về “thắng lợi” của chiến lược “diễn biến hòa bình” đối với Liên Xô và Đông Âu, năm 1988, cựu Tổng thống Hoa Kỳ Richard Nixon đã xuất bản cuốn sách “1999-Chiến thắng không cần chiến tranh”. Trong đó, R.Nixon xác định: “Mặt trận tư tưởng là mặt trận quyết định nhất, toàn bộ vũ khí của chúng ta, các hoạt động mậu dịch, viện trợ, quan hệ kinh tế sẽ không đi đến đâu, nếu chúng ta thất bại trên mặt trận tư tưởng!".
Nguy cơ hiện hữu
Từ năm 1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra, cùng với âm mưu xâm lăng nước ta bằng quân sự, các nước đế quốc còn thực hiện âm mưu xóa bỏ những giá trị truyền thống, tinh hoa văn hóa tốt đẹp của dân tộc ta. Cuộc đấu tranh này ở nước ta, theo thời gian, theo sự phát triển của xã hội ngày càng diễn ra rất phức tạp, gay go và quyết liệt.
Nguy cơ “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực văn hóa-tư tưởng diễn ra từ hai góc độ: Hoạt động chống phá của các thế lực thù địch và xu hướng “tự chuyển hóa” của những đối tượng yếu kém bản lĩnh chính trị trước sự biến động của xã hội.
Ở góc độ chống phá của các thế lực thù địch, biểu hiện rõ nét nhất là hoạt động xuyên tạc, bôi đen giá trị văn hóa, đạo đức, lối sống XHCN, ra sức du nhập văn hóa, đạo đức, lối sống tư sản thực dụng, trụy lạc, tôn thờ đồng tiền là trên hết, sống ích kỷ, phi đạo đức. Cùng đó, các thế lực thù địch luôn khuyến khích khuynh hướng đòi văn hóa, văn nghệ hoạt động độc lập với chính trị, phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng, phủ nhận sự quản lý của Nhà nước đối với lĩnh vực này.
Trong nhiều năm qua, đã có không ít văn nghệ sĩ lạc đường, từ bỏ lợi ích của quốc gia, dân tộc, chuyển sang sáng tác theo khuynh hướng văn hóa, nghệ thuật phương Tây, hạ thấp, coi rẻ truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc, khuyến khích các giá trị văn hóa cá nhân cực đoan, đề cao giá trị dân chủ, tự do tư sản. Thậm chí, đã xuất hiện những sáng tác miêu tả cuộc chiến tranh chính nghĩa của dân tộc ta mang một màu đen tối, chết chóc, bi kịch, vô nghĩa; phủ định những sáng tạo văn hóa, văn nghệ trong thời kỳ chiến tranh, coi đó là “minh họa”, là tô hồng, là cao hơn, là đứng trên hiện thực. Chúng ta không phủ nhận những hạn chế lịch sử của mảng văn học, nghệ thuật trong chiến tranh nhưng không thể nhân danh đổi mới để bôi nhọ cuộc chiến đấu chính nghĩa của dân tộc bằng việc chỉ miêu tả mặt đen tối, sự chết chóc và tha hóa con người trong chiến tranh. Khuynh hướng này chỉ là phiến diện, chưa trung thực với lịch sử. Với vai trò văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, những sản phẩm đội danh văn hóa này đặc biệt nguy hiểm, có nguy cơ làm tha hóa thế hệ trẻ, tạo ra một thế hệ “mất gốc”, phủ nhận các giá trị truyền thống dân tộc, thích đua đòi, ăn chơi hưởng lạc, kích thích các tệ nạn xã hội phát triển.
Ở góc độ chủ quan những người “tự chuyển hóa”, khi đất nước mở cửa sâu rộng với thế giới, những yếu tố có khả năng tác động tới sự biến đổi về xã hội ùa vào theo là vấn đề tất yếu. Đó bao gồm hai sản phẩm cơ bản: Văn hóa và tiêu dùng. Cả hai sản phẩm này, dù được nhập khẩu chính ngạch nhưng đều mang tính hai mặt, đặc biệt với sản phẩm văn hóa. Những sản phẩm văn hóa được phép lưu hành đều mang những giá trị nhất định về chân-thiện-mỹ, cổ vũ lối sống lành mạnh, tốt đẹp. Tuy nhiên, đi kèm theo đó là việc phổ biến những giá trị văn hóa, hình ảnh xã hội khác biệt, thậm chí đi ngược với những giá trị văn hóa truyền thống của người Việt. Dưới góc độ hội nhập, chúng ta không thể không tiếp thu những tinh hoa của văn hóa thế giới nhằm bổ sung, làm giàu thêm nền văn hóa dân tộc. Tuy nhiên, nếu việc tiếp thu thiếu chủ động, không đủ bản lĩnh, năng lực để chỉ lựa chọn cái tốt, cái có ích cho đời sống văn hóa thì quá trình hội nhập về văn hóa sẽ trở thành nguy cơ làm “biến màu” nền văn hóa bản địa.
Đối với sản phẩm tiêu dùng, là những thứ vô cùng gần gũi trong cuộc sống mỗi người, như: Cái ăn, cái mặc, cái làm đẹp, sự tác động về văn hóa diễn ra âm thầm nhưng không kém phần mạnh mẽ. Bởi lẽ, bất cứ lĩnh vực nào, sản phẩm gì trong xã hội đều ẩn chứa yếu tố văn hóa. Một chiếc quần Jean gắn với hình ảnh chàng Cowboy miền Tây nước Mỹ. Một chiếc ô tô Mercedez gắn với văn hóa Đức. Một sản phẩm tiêu dùng tốt, bền, giá cả phải chăng thường gắn với hình ảnh đất nước Mặt trời mọc… Khi quen thuộc với những sản phẩm tiêu dùng ấy, đồng nghĩa với việc người sử dụng trở nên “thân thiết” với nền văn hóa làm ra chúng. Từ đó, tâm lý sùng bái hàng ngoại có thể tiếp biến thành sùng bái văn hóa ngoại.
Những tác động của văn hóa lên nền tảng tư tưởng xã hội thường không mang tính chất tức thời mà là một quá trình “mưa dầm thấm lâu”. Tuy nhiên, sự chuyển biến chậm rãi đó lại có khả năng thay đổi bền vững tư duy, tình cảm của mỗi người. Vì thế, nếu thiếu cảnh giác, để những tác động tiêu cực của văn hóa ngoại lai du nhập, thẩm thấu sâu vào đời sống xã hội Việt Nam, chúng ta sẽ phải trả cái giá rất đắt. Thậm chí, có thể là cả việc lạc mất con đường tiến lên CNXH mà Đảng, Bác Hồ, nhân dân đã lựa chọn.
                                             Sự Thật



Tỉnh táo để không tiếp tay, không mắc mưu
Thực tế cho thấy nhận thức về PBXH của nhân dân ta còn có những khoảng trống. Do vậy, muốn làm thất bại âm mưu, thủ đoạn lợi dụng PBXH để chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, chúng ta cần đặt lên hàng đầu việc tăng cường giáo dục nâng cao nhận thức của người dân về hoạt động PBXH. Có như vậy mới giúp người dân hiểu đúng mục đích, ý nghĩa của công việc hệ trọng này, phân biệt được đâu là PBXH tích cực, đâu là PBXH tiêu cực, từ đó đề cao cảnh giác, chủ động phát hiện, kịp thời đấu tranh với những hành vi lợi dụng PBXH để chống phá.
Vai trò định hướng để hoạt động PBXH diễn ra đúng mục đích, ý nghĩa và đem lại hiệu quả tích cực của các cấp ủy đảng, chính quyền, cơ quan chức năng là rất quan trọng. Cùng với phát huy tốt vai trò định hướng, cấp ủy đảng, chính quyền các cấp cần quan tâm tạo điều kiện thuận lợi để các tầng lớp nhân dân được tiếp cận thông tin, nghiên cứu, thể hiện quan điểm, chính kiến của mình đối với từng nội dung liên quan tới đường lối, chủ trương, chính sách, thể chế... tác động trực tiếp đến quyền lợi của người dân.
Đối với từng người dân, khi tiếp cận với những thông tin, tài liệu, nhất là những nội dung thuộc quan điểm về các vấn đề hệ trọng, nhạy cảm của đất nước tán phát trên MXH, cần phải tỉnh táo nhận diện đâu là thông tin tốt, đâu là thông tin xấu, đâu là thông tin có cơ sở khách quan, đâu là thông tin xuyên tạc. Nâng cao hiểu biết, tự trang bị cho mình những kiến thức cần thiết là cách tốt nhất để mỗi người nâng cao "sức đề kháng", tránh bị cuốn theo những giọng điệu xuyên tạc, kích động chống phá của các thế lực thù địch.
Đi đôi với mở rộng dân chủ, tổ chức chặt chẽ hoạt động PBXH tích cực, cần làm tốt việc nắm bắt, tổng hợp, tiếp thu ý kiến của nhân dân để trình cấp có thẩm quyền xem xét quyết định. Trong tổng hợp và ghi nhận những ý kiến đóng góp của nhân dân, các cơ quan chức năng cần có sự đánh giá, phân tích kỹ lưỡng, thận trọng, không để kẻ xấu lợi dụng PBXH để thực hiện những mục đích đen tối.
Công tác bảo vệ chính trị nội bộ cần tiến hành chặt chẽ, lấy phòng là chính nhưng cũng phải kiên quyết đấu tranh để vừa bảo vệ, vừa ngăn chặn tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị trong nội bộ, lợi dụng PBXH để thực hiện những động cơ, mục đích không trong sáng. Đặc biệt, cần quan tâm quản lý, giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, nhất là lớp trẻ để bồi dưỡng xây dựng những nhân tố tích cực, kịp thời phát hiện những tư tưởng, hành động sai trái. Đối với những cán bộ, đảng viên, công chức thoái hóa biến chất về chính trị lợi dụng PBXH tiếp tay cho các thế lực thù địch, cần xử lý kịp thời, nghiêm minh. Cần coi trọng công tác phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn có hiệu quả âm m­ưu, thủ đoạn lợi dụng hoạt động PBXH để tuyên truyền, xuyên tạc chống phá Đảng và Nhà nước ta.
Các lực lượng chức năng cần chủ động phát hiện những hội, nhóm, cá nhân lợi dụng PBXH để tuyên truyền, tán phát những quan điểm sai trái trên MXH, từ đó có biện pháp kiên quyết đấu tranh. Đối với những trang mạng lợi dụng PBXH để tuyên truyền theo kiểu xuyên tạc, kích động chống phá Nhà nước Việt Nam, âm mưu làm mất ổn định chính trị ở Việt Nam thì cần tổ chức lực lượng phối hợp với các nhà mạng, kết hợp giữa biện pháp kỹ thuật với biện pháp hành chính để đấu tranh ngăn chặn và xử lý kịp thời theo quy định của pháp luật.
                                             Sự Thật


Cảnh giác với hiện tượng gieo mầm, nuôi dưỡng đối tượng phản biện xã hội tiêu cực
Mở rộng dân chủ, tăng cường phản biện tích cực, lắng nghe những ý kiến đóng góp tâm huyết của nhân dân là chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta. Hưởng ứng tinh thần ấy, các hoạt động phản biện, phản biện xã hội (PBXH) thời gian qua diễn ra khá sôi động và mang lại những kết quả tích cực. Thế nhưng, một thực tế rất đáng quan tâm là cả trong và ngoài nước xuất hiện một số người lợi dụng PBXH để gây nhiễu thông tin, làm rối tình hình, kích động, hòng tạo ra những mâu thuẫn trong xã hội. Lợi dụng tình hình này, các thế lực thù địch, một số tổ chức phản động đã móc nối, gieo mầm, nuôi dưỡng các đối tượng PBXH để sử dụng làm công cụ chống phá Đảng và Nhà nước ta.
Không phủ nhận hiệu quả tích cực từ phản biện xã hội
Theo cách hiểu phổ quát, PBXH là sự tương tác, giao thoa qua lại về quan điểm, tư duy của các lực lượng, thành phần trong xã hội trước những vấn đề thuộc chủ trương, chính sách, thể chế... có liên quan trực tiếp đến quyền lợi của các thành viên trong xã hội. Thông qua việc lắng nghe, tiếp thu những ý kiến phản biện xác đáng, có cơ sở khoa học mà các chủ trương, chính sách, thể chế... của cộng đồng ngày càng phù hợp, đáp ứng tốt hơn với những đòi hỏi của thực tiễn.
Thực tế cho thấy, trước mỗi kỳ đại hội đảng, mỗi lần sửa đổi Hiến pháp, ban hành các đạo luật hay trước các sự kiện lớn, những vấn đề hệ trọng của đất nước... Đảng và Nhà nước ta đều công bố rộng rãi các văn kiện dự thảo, đưa ra quan điểm, chủ trương... để lấy ý kiến thảo luận, đóng góp của toàn dân. Đại đa số nhân dân có ý thức trách nhiệm cao, luôn coi mỗi đợt đóng góp ý kiến xây dựng dự thảo các văn kiện là đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng và hưởng ứng tích cực. Các cơ quan chức năng luôn quan tâm tạo điều kiện thuận lợi nhất để người dân tiếp cận sớm, hướng dẫn người dân nghiên cứu, bày tỏ quan điểm, ý kiến của mình về từng nội dung trong dự thảo các văn kiện và những vấn đề quan trọng. Các bộ, ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị tổ chức hàng trăm hội nghị, hội thảo, tọa đàm... nhằm tạo điều kiện để người dân có cơ hội bày tỏ quan điểm. Hằng ngày, hằng giờ, mọi người dân đều có thể tiếp nhận thông tin và phản ánh quan điểm, ý kiến của mình qua hàng trăm xuất bản phẩm báo chí in, báo điện tử, đài phát thanh, truyền hình từ Trung ương đến địa phương.
Tất cả ý kiến dù đồng thuận hay không đồng thuận đều được cơ quan chức năng tổng hợp báo cáo với Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ để xem xét quyết định. Theo tinh thần ấy, để nâng cao chất lượng xây dựng các dự thảo văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng nhiều lần nhấn mạnh việc phát huy dân chủ, lắng nghe, trân trọng các ý kiến đóng góp của nhân dân, nhất là của các chuyên gia, nhà khoa học có kiến thức chuyên sâu về từng lĩnh vực... chắt lọc để nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện các dự thảo văn kiện. Chính nhờ mở rộng dân chủ, phát huy tinh thần PBXH của toàn dân mà các văn kiện của Đảng, Nhà nước ta đều thể hiện sự kết tinh giữa ý Đảng với lòng dân, được sự đồng thuận trong xã hội và sớm đi vào cuộc sống.
Thực tế chứng minh, để hoạt động PBXH đi đúng hướng, theo đúng ý nghĩa tích cực thì việc bày tỏ các quan điểm, nêu ý kiến đóng góp phải theo đúng quy trình, trên nền tảng khoa học, với thái độ khách quan, đặc biệt là phải đặt lợi ích của cộng đồng, lợi ích quốc gia-dân tộc lên trên hết. Thế nhưng, trên thực tế đã có không ít người lợi dụng hoạt động PBXH để mưu mô cơ hội, phản biện kiểu phủ nhận sạch trơn, với các quan điểm hoàn toàn không vì lợi ích của cộng đồng, lợi ích của đất nước. Những quan điểm này càng trở nên nguy hiểm khi được các thế lực thù địch lợi dụng để chống phá.
Vẫn là những “chiêu bài” cũ
Xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, lật đổ chế độ XHCN mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đang xây dựng là mục tiêu không bao giờ thay đổi của các thế lực thù địch. Dù không mới nhưng âm mưu, thủ đoạn để thực hiện mục tiêu của chúng thì ngày càng tinh vi hơn. Lợi dụng PBXH, xem PBXH là "chiêu bài" để chống phá Đảng, Nhà nước là một trong những thủ đoạn như thế.
Những người mang động cơ xấu, nhằm mục đích chống phá đất nước không bày tỏ quan điểm theo quy trình tổ chức và các kênh chính thống. Các đối tượng triệt để lợi dụng ưu thế của internet, nhất là mạng xã hội (MXH) để tiến hành các hoạt động chống phá núp dưới danh nghĩa PBXH. Dưới sự giật dây của các thế lực thù địch, một số phần tử cơ hội trong nước và cả ở nước ngoài đã soạn ra các văn bản dưới dạng “tâm thư”, “thư ngỏ”, “thư góp ý” (cả chính danh, nặc danh và mạo danh); thậm chí họ còn soạn hẳn một dự thảo văn kiện mới, hoàn toàn khác với dự thảo văn kiện chính thống được công bố... để thể hiện những ý kiến trái ngược với quan điểm của Đảng, Nhà nước rồi gửi đến các đồng chí lãnh đạo. Với kiểu lập luận của họ, thông qua các câu từ bóng bẩy, chau chuốt... thoáng qua người ta dễ lầm tưởng đó là những "ý kiến tâm huyết", "những đóng góp chân thành"... Nhưng thực chất, trước khi những “tâm thư”, “thư ngỏ”, “thư góp ý”... kia được gửi đi thì nó đã được các đối tượng đưa lên MXH. Để minh họa cho những quan điểm sai trái đã nêu, núp dưới chiêu bài PBXH, họ dựng chuyện, tung ra nhiều thông tin thất thiệt, tuyên truyền xuyên tạc, nhằm gây nhiễu loạn thông tin, kích động, gây áp lực, gieo rắc tâm lý hoài nghi, gây bất ổn trong dư luận.
Trên không gian mạng, họ lập ra các hội, nhóm trá hình, sau đó tuyên truyền vận động, lôi kéo những người thiếu bản lĩnh, nhẹ dạ cả tin tham gia. Thông qua đó, họ khơi gợi các thành viên trong từng hội, nhóm theo danh nghĩa PBXH nêu những quan điểm, ý kiến trái chiều, nhưng thực chất là tuyên truyền xuyên tạc quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước; kích động tư tưởng, thái độ chống đối. Đặc biệt, trước những vấn đề nhạy cảm, phức tạp, như: Dân tộc, tôn giáo, môi trường, chủ quyền biển, đảo... họ sử dụng các hội, nhóm và những đối tượng đã được móc nối, nuôi dưỡng đội lốt PBXH đưa lên MXH hàng loạt quan điểm, ý kiến đi ngược lại với quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước ta. Họ mưu toan phát triển đưa các hội, nhóm trên không gian mạng thành tổ chức, hoạt động dưới dạng câu lạc bộ tự do, hòng từ đó biến hoạt động PBXH trở thành một trào lưu làm méo mó thực tiễn.
Ngoài sử dụng những đối tượng PBXH đã được móc nối, để chống phá Việt Nam lâu dài, các thế lực thù địch với cách mạng Việt Nam rất quan tâm đến việc gieo mầm, nuôi dưỡng, phát triển lực lượng phản biện mới. Đối tượng PBXH trong giới trẻ và cán bộ, đảng viên, công chức... được họ đặc biệt để mắt. Cùng với tài trợ về tài chính, họ còn hướng dẫn nội dung, kế hoạch hoạt động liên kết thành mạng lưới. Khi xuất hiện những quan điểm đi ngược chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước trên không gian mạng, thì ngay lập tức họ huy động lực lượng "chân rết" vào bình luận, chia sẻ, tung hô... Họ thường đánh tráo khái niệm giữa ý kiến PBXH chính thống được Đảng, Nhà nước ta tiếp thu, với những giọng điệu tuyên truyền chống phá; hoặc đánh đồng giữa những người có ý kiến khác với những đối tượng cơ hội chính trị, lợi dụng PBXH để gây bất ổn trong dư luận. Vì thế, khi một số đối tượng lợi dụng PBXH để tuyên truyền xuyên tạc, chống phá Nhà nước bị đưa ra xử lý trước pháp luật thì họ cho rằng Việt Nam “đàn áp người bất đồng chính kiến”, “vi phạm quyền tự do ngôn luận”... rồi từ đó kêu gọi các tổ chức quốc tế can thiệp.
                                             Sự Thật