Thứ Hai, 28 tháng 12, 2020

 

      LÊN ÁN HÀNH ĐỘNG XUYÊN TẠC NHÂN SỰ CỦA ĐẢNG

Chống phá, xuyên tạc về vấn đề nhân sự là một thủ đoạn mà các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị tiến hành thường xuyên trước mỗi kỳ Đại hội. Trong quá khứ, tại Đại hội XII, các đối tượng chống đối đã lập, điều hành trang mạng với tên gọi “Chân dung quyền lực” để tung ra các thông tin đồn đoán nhân sự, xuyên tạc vấn đề tổ chức cán bộ. Hiện tại, khi Đại hội XIII của Đảng đang được chuẩn bị, các đối tượng lại tiếp tục lập, điều hành nhiều trang mạng xã hội mang màu sắc chính trị để làm nơi đăng tải, chia sẻ những thông tin, luận điệu lệch lạc, xuyên tạc công tác tổ chức đại hội nói chung, cũng như công tác nhân sự của Đảng ta nói riêng. Hoạt động chống phá của các thế lực thù địch và các đối tượng phản động, cơ hội chính trị diễn ra một cách quyết liệt, thể hiện ý thức chống đối sâu sắc.

Nhận diện hoạt động chống phá công tác nhân sự của Đảng. Công tác nhân sự là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng. Đảng ta luôn xác định công tác cán bộ là khâu "then chốt" của công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Đặc biệt, thời điểm hiện tại được xác định là giai đoạn chuyển giao thế hệ từ lớp cán bộ sinh ra, lớn lên, được rèn luyện, trưởng thành trong chiến tranh, chủ yếu được đào tạo ở trong nước và tại các nước xã hội chủ nghĩa, sang lớp cán bộ sinh ra, lớn lên, trưởng thành trong hoà bình và được đào tạo từ nhiều nguồn, nhiều nước có thể chế chính trị khác nhau. Chính bởi vậy, công tác cán bộ trước thềm Đại hội XIII càng là vấn đề được Đảng ta ưu tiên hàng đầu. Để phục vụ công tác cán bộ cho nhiệm kỳ tới, thời gian qua, Đảng, Nhà nước ta đã điều động một số cán bộ tại địa phương về Trung ương và ngược lại.

Việc luân chuyển, điều động cán bộ là hoàn toàn bình thường, phục vụ công tác cán bộ trong giai đoạn tiếp theo. Tuy nhiên, qua lăng kính của các đối tượng cơ hội chính trị, nó đã bị biến tướng trở thành kết quả của những “đấu đá quyền lực” giữa các “phe cánh” trước thềm Đại hội. Thậm chí, có đối tượng còn cho rằng, việc luân chuyển cán bộ như trên chỉ là hành động “bắt cá leo cây”, không nhằm mục đích rèn luyện cán bộ, mà là “an bài”, thỏa hiệp giữa các “nhóm lợi ích” trong Đảng. Lập luận của các đối tượng đưa ra là hoàn toàn vô căn cứ. Tuy nhiên, dưới sự dẫn dắt, hướng lái thông tin theo kiểu “dây cà ra dây muống”, “lập lờ đánh lận con đen”, những luận điệu này đã tiếp cận, tác động đến không ít người. Không chỉ dừng lại ở việc đồn đoán nhân sự trước thềm Đại hội hay xuyên tạc, quy chụp công tác nhân sự chỉ là kết quả của những màn “đấu đá nội bộ”, “tranh giành quyền lực”, các thế lực thù địch, chống đối còn tấn công công tác nhân sự của Đảng bằng cách quy chụp, cho rằng nhân sự của Đảng ta chỉ là “sự áp đặt từ trên xuống”. Các đối tượng này vu khống một cách trắng trợn rằng, trong thể chế chính trị một Đảng lãnh đạo như tại Việt Nam, việc lựa chọn nhân sự sẽ không bảo đảm dân chủ, không thể lựa chọn được người đủ năng lực và đạo đức để lãnh đạo đất nước. Ngoài ra, những kẻ này còn tung ra luận điệu rằng, cơ chế lựa chọn cán bộ tại Việt Nam thiếu minh bạch nên đã tạo ra chỗ trống cho những “chuyên gia hối lộ” ngồi vào vị trí lãnh đạo.

Công tác nhân sự được thực hiện một cách nghiêm túc, khoa học. Bác Hồ từng dạy: “Một dân tộc, một Đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa…”.Đảng ta nhận thức rất rõ về vị trí, vai trò của bản thân mình. Để giữ vững vị trí là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, Đảng ta không ngừng tự đấu tranh, rèn luyện để ngày càng hoàn thiện hơn. Trong đó, vấn đề nhân sự được đặc biệt chú trọng vì cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng. Chính bởi vậy, việc lựa chọn nhân sự được Đảng đặc biệt quan tâm, chỉ đạo tiến hành một cách cẩn trọng, khách quan, bảo đảm dân chủ để có thể lựa chọn được cán bộ đủ đức, đủ tài tham gia lãnh đạo đất nước. Những luận điệu tiêu cực về công tác cán bộ mà các đối tượng rêu rao ở trên là hoàn toàn sai trái, phi thực tế. Thời gian qua, Đảng, Nhà nước ta đã ban hành nhiều chỉ thị, nghị quyết quan trọng để điều hành, định hướng, chỉ đạo về công tác cán bộ, như: Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19-5-2018 của Ban Chấp hành Trung ương về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực, uy tín và ngang tầm nhiệm vụ; Chỉ thị số 35-CT/TW ngày 30-5-2019 của Bộ Chính trị về Đại hội Đảng bộ các cấp, tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng…Rõ ràng, công tác nhân sự tại Đại hội Đảng các cấp không phải là “sự áp đặt từ trên xuống” hay thiếu dân chủ như những gì các thế lực thù địch, chống đối đang hô hào. Để lựa chọn nhân sự tham gia cấp ủy, chúng ta phải trải qua một quy trình cân nhắc, đánh giá, lựa chọn kỹ lưỡng. Đơn cử như việc lựa chọn nhân sự cấp ủy cấp tỉnh giai đoạn 2020 – 2025 phải trải qua 5 bước theo quy định tại Phụ lục số 4, Chỉ thị số 35-CT/TW ngày 30-5-2019 của Bộ Chính trị về đại hội Đảng bộ các cấp, tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng.

Trong đó, những tiêu chuẩn cơ bản của một cán bộ lãnh đạo cần có là tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân; có ý thức tổ chức kỷ luật nghiêm, sức chiến đấu cao; có năng lực, trình độ, đạo đức. Công tác nhân sự nói chung và công tác nhân sự trong nhiệm kỳ 2020 – 2025 nói riêng đều phải bảo đảm nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, mà trực tiếp là Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, cấp ủy, Ban Thường vụ cấp ủy. Việc Đảng lãnh đạo công tác cán bộ không hề gây ra sự thiếu minh bạch trong công tác cán bộ, hay ngăn trở những người có năng lực lãnh đạo tham gia vào công việc của đất nước như một số đối tượng chống đối đang tung ra. Đảng lãnh đạo công tác cán bộ là một vấn đề tất yếu, khách quan để bảo đảm đất nước phát triển đúng định hướng. Nếu không có sự lãnh đạo thống nhất về công tác cán bộ của Đảng, nếu chung ta lơ là, mất cảnh giác khi lựa chọn cán bộ lãnh đạo, đặc biệt là cán bộ lãnh đạo cấp cao thì cũng đồng nghĩa với việc chúng ta tạo kẽ hở cho những kẻ chống đối có cơ hội chui sâu, leo cao vào tổ chức bộ máy Nhà nước, hình thành lực lượng đối lập về chính trị ngay trong lòng đất nước. Quay ngược lại quá khứ, nhìn vào sự sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa tại Liên Xô (nơi được coi là hệ thống thành trì của chủ nghĩa xã hội trên thế giới), có thể thấy một trong những nguyên nhân dẫn đến hậu quả này là do công tác cán bộ dẫn đến việc quyền lực của Đảng Cộng sản bị giao vào những người “nối giáo cho giặc”.

Vì vậy, trong công tác cán bộ, Đảng, Nhà nước ta luôn luôn tiến hành cẩn trọng, theo một quy trình chặt chẽ, đúng Điều lệ, quy chế, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước và đặt dưới sự lãnh đạo toàn diện của Đảng. Mục tiêu cao nhất trong công tác cán bộ là lựa chọn đúng những người thực sự tiêu biểu về bản lĩnh chính trị, đạo đức và lối sống, năng lực trí tuệ và trình độ tổ chức thực tiễn, được tín nhiệm để đủ sức tiếp nối cha ông lãnh đạo sự nghiệp cách mạng.

    



 

LÊN ÁN HÀNH ĐỘNG CHỐNG PHÁ KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT

 

Trước tình hình thiên tai, bão lụt xảy ra tại các tỉnh miền Trung, Đảng, Nhà nước, Công an, Quân đội, các đoàn thể chính trị - xã hội, các nhà hảo tâm đang tận dụng từng thời khắc để chung tay, giúp đỡ, hướng về miền Trung ruột thịt. Tất cả đang tranh thủ từng giờ, từng phút để cứu trợ đồng bào. Tuy nhiên, lợi dụng tình hình này, nhiều đối tượng chống đối, cơ hội chính trị đã tuyên truyền, chia sẻ bài viết, video bịa đặt, cóp nhặt hoặc tự dựng lên để xuyên tạc tình hình, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Thủ đoạn của các đối tượng chống phá

- Lợi dụng tình hình lũ lụt đang diễn ra đã có hành vi chia sẻ bài viết mang tính cóp nhặt những hình ảnh lấy từ những nguồn thông tin không chính xác trên mạng và đổ lỗi cho đồng bào miền Trung. Họ cho rằng, đồng bào miền Trung đã quay lưng một cách đáng trách với những việc làm từ thiện của nhân dân cả nước (vứt quần áo, bánh chưng cứu trợ...). Bên cạnh đó, các đối tượng còn vu cáo cho người dân vùng lũ khi cho rằng đồng bào nơi đây đã có những hành vi cướp đồ cứu trợ, mất trật tự, tranh giành, cãi cọ nhau. Mục đích của việc này là để tạo nên sự kì thị, vẽ nên bức tranh rất xấu về hình ảnh người dân vùng lũ, nhằm khoét sâu vào tâm lý, tư tưởng, thái độ và cách nhìn nhận của những người đã và đang có ý định làm từ thiện sẽ suy nghĩ lại, thậm chí dừng hành động cứu trợ của mình. Đây thực chất là thủ đoạn chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, gây khó khăn, cản trở cho công tác khắc phục hậu quả thiên tai mà các lực lượng chức năng, những nhà hảo tâm đang hướng về miền Trung ruột thịt. Trong khi chính nhân dân vùng lũ đang gặp rất nhiều khó khăn.

Có một số đối tượng đã xây dựng những tiểu phẩm, đoạn video ngắn bày tỏ quan điểm phản đối, lên án chính quyền, có ý kiến đổ lỗi cho Đảng, Nhà nước khi thiên tai xảy ra. Những video này sau khi chia sẻ, đăng tải đã thu hút khá nhiều sự quan tâm, chú ý của cộng đồng mạng. Đáng chú ý là những video sau khi được sự cổ súy của một số người, hùa vào lên án, đả kích chế độ, miệt thị, hoài nghi các cơ quan chức năng trong việc thực hiện công tác quản lý nhà nước trên lĩnh vực tài nguyên, môi trường, công tác cứu trợ đồng bào. Mục đích của những video này nhằm tác động trực tiếp vào tư tưởng, tâm lý tò mò, đổ lỗi cho chính quyền và một bộ phận người dân. Thông qua việc kích động, phá hoại tư tưởng, gây chia rẽ này, các đối tượng ý đồ tập hợp một bộ phận quần chúng nhân dân thiếu hiểu biết, nhận thức sai lệch để hình thành những lực lượng chống Đảng, Nhà nước sau này.

Các trung tâm tuyên truyền phá hoại tư tưởng, chống đối Việt Nam có lịch sử hình thành từ lâu. Đứng đằng sau những trung tâm này là cả một bộ phận chuyên trách, có "kinh nghiệm" thông qua các cá nhân, những đối tượng chống đối, có “quan điểm chính trị khác biệt” trong nước thu thập tin tức nhằm mục đích bôi nhọ, hạ bệ Việt Nam trên không gian mạng và diễn đàn quốc tế. Đặc biệt những nội dung thông tin tuyên truyền vô căn cứ, cắt gọt, thêu dệt đó sẽ tác động trực tiếp đến những người thiếu thông tin. Một trong những đối tượng mà các trung tâm này hướng đến thấy rõ nhất chính là cộng đồng người Việt Nam tại hải ngoại.

Lợi dụng đợt lũ lụt lịch sử miền Trung vừa mới diễn ra, các trang, trung tâm phá hoại tư tưởng chuyên nghiệp này cũng ngay lập tức không bỏ qua cơ hội để thực hiện hoạt động chống phá của mình. Chúng đã dẫn dắt các phát biểu được cho là của những người có học thức trong nước với các chức danh như phó giáo sư, tiến sĩ, viện sĩ hay một cụm từ mà các trung tâm này hay sử dụng là “chuyên gia trong nước” hay “chuyên gia chuyên nghiên cứu về Việt Nam” để dẫn dắt dư luận, tạo độ tin cậy cho những thông tin mà chúng đưa ra. Mục đích của chúng, ngoài chống phá Đảng, Nhà nước thì còn nhằm cung cấp những thông tin thiếu chính xác, tiêu cực về tình hình trong nước đối với cộng đồng người dân nói chung và cộng đồng người Việt Nam ở hải ngoại nói riêng. Đây là những đối tượng có sự quan tâm nhất định đối với diễn biến tình hình trong nước.

Từ phân tích trên, chúng ta thấy được âm mưu ẩn đằng sau những hoạt động mà các cá nhân, tổ chức chống phá đã thực hiện. Mục tiêu của chúng là nhằm gây khó khăn, kích động chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, muốn hướng đến mục tiêu chính trị nhằm chia rẽ nhân dân với Đảng, Nhà nước, với chính quyền cơ sở. Đặc biệt là người dân vùng lũ, những người thân của họ đang phải chịu những mất mát không gì bù đắp được. Câu hỏi đặt ra là tại sao chúng lại phải làm như vậy? Đây là câu hỏi ít người để ý hoặc có xuất hiện nhưng lại chưa kịp trả lời mà thay vào đó đã bị những luận điệu kích động làm nhiễu thông tin. Bên cạnh ý thức, thái độ với Đảng, Nhà nước thì đằng sau đó là lợi ích, là vật chất, tiền bạc, là những gì lợi lộc mà các đối tượng nhận được từ các tổ chức, đối tượng và thế lực chống đối bên ngoài. Đây như một hình thức "trả công" cho những kẻ tay sai vốn dĩ từ lâu đã làm thuê bằng hoạt động chống phá Việt Nam. Vì lợi ích vật chất, vì động cơ cá nhân mà chúng không từ bất cứ một sự kiện nào diễn ra trong xã hội, kể cả lũ lụt đau thương đang diễn ra tại miền Trung để kích động chống phá. Nói tóm lại, ngoài mục đích, ý đồ chống phá thì đây còn là một cơ hội “kiếm ăn” đối với những kẻ đi ngược lại với lợi ich quốc gia, dân tộc.



 

 \VIỆT NAM TỰ DO, TÔN GIÁO TÍN NGƯỠNG KHÔNG BÀN CÃI


 
Tại Việt Nam, quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo của người dân được đảm bảo. Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách về tôn giáo, trong đó đều khẳng định “Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân”; “Đồng bào các tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc”; “Tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo đúng pháp luật. Các tôn giáo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, bình đẳng trước pháp luật”...Thể chế hóa các quan điểm của Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo như Hiến pháp năm 2013, Luật Tín ngưỡng tôn giáo năm 2016, Nghị định số 162/NĐ-CP ngày 31/12/2017 về biện pháp thi hành Luật tín ngưỡng tôn giáo... Trong các văn bản pháp luật này đều khẳng định Nhà nước tôn trọng và bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân.

Điều 24, Hiến pháp năm 2013 quy định: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật”.

Điều 3, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 quy định: “Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người; bảo đảm để các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật”.

Thực tiễn tại Việt Nam cho thấy, các tôn giáo ở Việt Nam ngày càng đa dạng, được Đảng, Nhà nước bảo đảm hoạt động trong khuôn khổ pháp luật. Cùng với sự mở cửa, phát triển của đất nước, tôn giáo ở Việt Nam có sự phục hồi, phát triển mạnh mẽ, đa dạng hơn. Năm 1990, Việt Nam có 6 tôn giáo, 3 tổ chức tôn giáo được Nhà nước công nhận, cùng với một số loại hình tín ngưỡng dân gian gắn với các dân tộc. Từ năm 2003, thực hiện Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo, Nhà nước đã công nhận tư cách pháp nhân cho 15 tổ chức tôn giáo thuộc 6 tôn giáo với khoảng 19 triệu tín đồ (chiếm 23,5% dân số). Đến năm 2020, đã có 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo được Nhà nước công nhận và cấp đăng ký hoạt động, khoảng 26,5 triệu tín đồ, sinh hoạt tôn giáo ở 29.660 cơ sở thờ tự.

Về chức sắc, năm 1990, nước ta có khoảng 38 nghìn chức sắc, nhà tu hành, đến nay tăng lên 61,2 nghìn chức sắc, 147,1 nghìn chức việc (tổng số chức sắc, chức việc khoảng 208,3 nghìn), trong đó tăng nhanh và nhiều nhất là chức sắc Phật giáo và đạo Tin lành. Trước năm 2003, trung bình hằng năm có khoảng 7 nghìn lượt người tốt nghiệp hoặc hoàn thành các khóa đào tạo chức sắc do các tôn giáo tổ chức, nhưng từ 2003 đến năm 2018, trung bình hằng năm có khoảng 15 nghìn lượt người (tăng 215%). Với 56 cơ sở đào tạo của các tôn giáo hiện có (gấp 3 lần so với năm 1990), cùng với nhiều hình thức đào tạo đa dạng, linh hoạt, tăng cường các hình thức đào tạo ngắn hạn, cả ở trong nước và ở nước ngoài (đối với các tôn giáo ngoại nhập, có quan hệ quốc tế như Công giáo, đạo Tin lành, Phật giáo, Hồi giáo) nên hàng ngũ chức sắc, chức việc tôn giáo ở Việt Nam ngày càng được đào tạo bài bản, nâng cao trình độ và uy tín, vai trò, ảnh hưởng đối với quần chúng tín đồ, không chỉ trong đời sống tinh thần mà cả trong đời sống xã hội. Lợi dụng tôn giáo để chống phá Việt Nam về dân chủ, nhân quyền là hoạt động xuyên suốt của những tổ chức, cá nhân và quốc gia thiếu thiện chí với Việt Nam. Trong khi thực tiễn là Việt Nam luôn tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo của người dân; nỗ lực bảo đảm cho các tôn giáo được hoạt động bình thường trong khuôn khổ pháp luật.



 

 

LÊN ÁN NHỮNG THỦ ĐOẠN XUYÊN TẠC BẦU CỬ TRONG ĐẢNG

Trong thời gian qua, trước thềm Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, đồng thời là thời điểm diễn ra cuộc bầu cử Tổng thống Hoa Kỳ, các phần tử, đối tượng cơ hội chính trị tăng cường hoạt động tuyên truyền chống phá, so sánh khập khễnh, xuyên tạc công tác bầu cử trong Đảng ở Việt Nam.

Nhận diện thủ đoạn  xuyên tạc

Đại hội Đảng các cấp, Đại hội lần thứ XIII của Đảng là đợt sinh hoạt chính trị rộng lớn, sâu sắc; qua đó tổ chức đảng từ cơ sở đến Trung ương đánh giá kết quả lãnh đạo trong nhiệm kỳ, đề ra chủ trương, đường lối, nghị quyết lãnh đạo mọi mặt cho nhiệm kỳ, thời gian tiếp theo...Lợi dụng thời điểm này, các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị, phản động tung ra các luận điệu xuyên tạc, sai trái hòng thực hiện mục tiêu “diễn biến hoà bình” đối với cách mạng Việt Nam.

Các đối tượng tập trung chống phá, hạ thấp vai trò, ý nghĩa của đại hội đảng các cấp, Đại hội XIII của Đảng; tấn công, xuyên tạc công tác cán bộ, công tác bầu cử trong Đảng. Một số trung tâm truyền thông lớn “hà hơi, tiếp sức” tổ chức các chương trình “Hội luận”, “Hội nghị bàn tròn”… tập hợp các phần tử phản động, “trí thức bất mãn”, các nhà “dân chủ cuội” bàn luận, tuyên truyền xuyên tạc công tác bầu cử trong Đảng ở Việt Nam. Các tổ chức phản động cũng thừa cơ tung lên, dẫn lại bài viết, tuyên truyền, tung tin giả, thất thiệt.

Đài BBC tổ chức cái gọi là “Hội nghị bàn tròn” tập hợp nhiều đối tượng vốn có tư tưởng bất mãn, thậm chí có đối tượng thể hiện quan điểm, hành động thù địch với thể chế chính trị ở Việt Nam để xuyên tạc công tác bầu cử trong Đảng. Họ dẫn kết quả bầu cử một vài Bí thư Tỉnh uỷ có số phiếu bầu với mức tín nhiệm 100%, cho rằng: “Tổ chức bầu cử hình thức để làm gì cho tốn thời gian và tiền bạc”, rồi “Nhìn vào dàn nhân sự mà Bộ Chính trị đã duyệt vào các chức vụ Bí thư tỉnh, Chủ tịch tỉnh và các bộ, ban, ngành ở Trung ương, thì không trông chờ gì ở Đại hội XIII”. Hay “Đảng Cộng sản Việt Nam sợ hãi tranh cử trong Đảng. Quản trị quốc gia mà không có tranh cử công khai thì không chọn được người tài. Không có tranh cử công khai là kìm hãm sự phát triển của đất nước”. Liên hệ cuộc bầu cử Tổng thống Hoa Kỳ vừa qua, các đối tượng này cũng xuyên tạc “Bầu cử tổng thống Mỹ giúp bổ túc kiến thức chính trị dân chủ cho Việt Nam” để xuyên tạc công tác bầu cử ở Việt Nam và bầu cử trong Đảng là không dân chủ, công tác nhân sự được áp đặt từ trên xuống dưới. Trên trang mạng của nhiều tổ chức phản động lưu vong ra sức suy diễn, xuyên tạc công tác nhân sự, bầu cử trong Đảng theo kiểu là thủ tục để “hợp lý hoá” hình thức tranh giành quyền lực, phân chia quyền lực trong hệ thống chính trị, trong Đảng. Tổ chức khủng bố Việt Tân xuyên tạc: “Đúng là một màn trình diễn tuyệt vời của vở kịch “mị dân” do Đảng Cộng sản Việt Nam dựng lên mà thôi. Bầu cử kiểu Việt Nam là kiểu bầu cử dân chủ cuội, bịp bợm, dối trá, gian lận. Ai ai cũng biết...”? Có thể thấy, đằng sau “dòng chảy” tuyên truyền này, thực chất là những luận điệu suy diễn, xuyên tạc với mục đích hạ thấp, tầm thường, phủ định công tác cán bộ, công tác lựa chọn cán bộ thông qua ứng cử, đề cử, bầu cử trong Đảng.

Công tác bầu cử trong Đảng là dân chủ, khách quan

Trái ngược với luận điệu suy diễn, xuyên tạc trên, Hội nghị cán bộ toàn quốc Tổng kết công tác tổ chức đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2020 – 2025 đánh giá: Trong bối cảnh tình hình chung trên thế giới, khu vực và của nước ta trong năm 2020 và đặc biệt là ảnh hưởng của đại dịch COVID-19, thiên tai, biến đổi khí hậu, hạn hán, xâm nhập mặn và bão, lũ ở miền Trung, nhưng với quyết tâm chính trị rất cao, nỗ lực rất lớn, hành động quyết liệt, trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, chúng ta đã chuẩn bị và tổ chức thành công đại hội đảng bộ các cấp theo đúng tiến độ, kế hoạch, mục đích, yêu cầu đề ra; bảo đảm tuyệt đối an toàn, tiết kiệm và để lại nhiều dấu ấn, tình cảm sâu sắc, tốt đẹp trong cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Quyết định số 244-QĐ/TW, ngày 9/6/2014 của BCH Trung ương Đảng quy định quy chế bầu cử trong Đảng, chỉ rõ: “Bầu cử trong Đảng thực hiện theo nguyên tắc tập trung dân chủ; bình đẳng, trực tiếp, đa số quá bán. Kết quả bầu cử từ chi bộ đến đảng bộ trực thuộc Trung ương phải được chuẩn y của cấp uỷ có thẩm quyền theo quy định” (Điều 2). Hay Luật số 85/2015/QH13, ngày 25/6/2015 của Quốc hội quy định nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp quy định: “Việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín” (Điều 1). Mặt khác, các đảng viên của Đảng đều có quyền ứng cử, đề cử vào các cơ quan lãnh đạo theo quy định của Đảng, hay công dân có quyền ứng cử, bầu cử vào cơ quan nhà nước theo luật định. Với quy định chặt chẽ dựa trên nguyên tắc cụ thể, rõ ràng như vậy thì bầu cử ở Việt Nam và bầu cử trong Đảng, đảm bảo thể hiện đầy đủ ý chí, nguyện vọng của đa số để lựa chọn đội ngũ cán bộ lãnh đạo các cấp đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đặt ra. Bên cạnh đó, trong đại hội đảng các cấp, đại biểu dân chủ trong thảo luận, giới thiệu nhân sự tại đại hội được quy định rõ tại Điều 12, khoản 3, Điều lệ Đảng: “Đại biểu có quyền nhận xét, chất vấn về người ứng cử và người được đề cử”. Rồi bầu cử có số dư cũng là một trong những nội dung quan trọng để thực hiện dân chủ trong bầu cử. Cung cấp danh sách trích ngang của các ứng cử viên để đại biểu nghiên cứu trước là việc làm thiết thực, để thực hiện bầu cử có hiệu quả chất lượng nhất… Với những quy định như vậy thì không thể suy diễn, xuyên tạc công tác bầu cử trong Đảng là không dân chủ, “xóa bỏ quyền của các đại biểu dự đại hội” như họ rêu rao, suy diễn, xuyên tạc.

Cũng cần nói thêm, không thể lấy bầu cử Tổng thống Hoa Kỳ để liên hệ, làm tiêu chuẩn, từ đó suy diễn, hạ thấp quy trình bầu cử, lựa chọn cán bộ ở Việt Nam. Mọi sự so sánh đều là khập khiễng. Mỗi nước có đặc điểm, hoàn cảnh lịch sử cụ thể khác nhau, có quy trình, quy định riêng. Không có mô hình chung là chìa khoá vạn năng để áp dụng cho mọi quốc gia, dân tộc trong điều kiện thể chế chính trị, mô hình nhà nước khác nhau. Bên cạnh đó, ngay bản thân nhiều chính trị gia, học giả Hoa Kỳ cũng cho rằng mô hình bầu cử Tổng thống ở Hoa Kỳ cũng còn tồn tại nhiều tranh cãi, chưa hẳn là hoàn hảo như người ta tưởng. Những tranh chấp pháp lý, cáo buộc gian lận kết quả bầu cử vừa qua, đến nay vẫn chưa có hồi kết là một minh chứng sinh động cho nhận định trên.

Những thủ đoạn chống phá

Chống phá công tác cán bộ của Đảng nói chung và hoạt động bầu cử trong Đảng nói riêng, mưu đồ của các đối tượng là gây chia rẽ nội bộ, làm cho Đảng ta “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trong. Họ ra sức tuyên truyền, bịa đặt về các phe phái trong Đảng, nhất là lợi dụng việc giới thiệu nhận sự, công tác bầu cử để xuyên tạc là “sắp xếp”, “thanh trừng”, “mất dân chủ”, “bè cánh”, là “chuẩn bị ghế nhân sự” cho Đại hội Đảng...

Không những thế, họ cũng thường xuyên dựng chuyện, thổi phồng những sai lầm, thiếu sót của một số cán bộ, đảng viên, qua đó gây hoang mang, dao động, tạo bức xúc trong dư luận xã hội, kích động người dân gây mất an ninh, trật tự...; hạ bệ niềm tin, uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng, của cán bộ, phá vỡ khối đoàn kết trong Đảng, sự đồng thuận của xã hội, chia rẽ Đảng với nhân dân, nhất là trước thềm Đại hội XIII của Đảng.

Công cụ được họ triệt để lợi dụng là truyền thông hải ngoại, mạng xã hội để lan truyền trên không gian mạng. Họ “giật tít - câu khách” kính thích, đánh vào sự tò mò của nhiều người, từ đó đưa ra phân tích nhận định, thông tin lệch lạc, hòng tạo nhận thức sai trái công tác cán bộ, nhân sự là có sự “an bài”, “sắp xếp”, “thỏa hiệp”; cuối cùng là rêu rao, xuyên tạc bầu cử trong Đảng, chế độ là mất dân chủ, độc đảng, độc đoán, chuyên quyền, toàn trị. Ngoài ra, họ còn xuyên tạc, nói xấu, vu cáo, rêu rao, bôi nhọ các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước. Họ thường phát tán các thông tin, hình ảnh, clip giả tạo, sai lệch, biến không thành có, thật giả lẫn lộn, gây hoài nghi, hoang mang trong dư luận xã hội. Thực tế cho thấy, công tác lựa chọn nhân sự, cán bộ, bầu cử của Đảng được thực hiện trên một quy trình chặt chẽ, công phu, tỉ mỉ, trách nhiệm, được thực hiện trên nguyên tắc vốn là sức mạnh, tiến bộ của chế độ, phát huy được nguyện vọng, ý chí tập thể là nguyên tắc tập trung dân chủ.

Kết quả công tác nhân sự, bầu cử tại đại hội các cấp, tiến tới Đại hội XIII vừa qua của Đảng diễn ra tốt đẹp, đúng như Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Công tác nhân sự đại hội có nhiều đổi mới, đã phát huy dân chủ, công tâm, khách quan, công khai, minh bạch, chặt chẽ, đúng nguyên tắc, quy trình, quy định, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng. Nhân sự được chuẩn bị kỹ lưỡng ở tất cả các khâu, góp phần nâng cao chất lượng nhân sự cấp ủy các cấp và chuẩn bị cho nhân sự Trung ương”. Thực tế đó là minh chứng sinh động phản bác các luận điệu xuyên tạc, sai trái nói trên.



 

Thứ Tư, 23 tháng 12, 2020

 

Hiện thực hóa quyền con người bằng những chính sách thiết thực, việc làm nhân văn

 

Mỗi khi đến dịp Ngày Nhân quyền thế giới (10/12) hằng năm, các thế lực thù địch, phản động và đối tượng cơ hội chính trị lại tung ra những luận điệu cũ rích nhằm xuyên tạc, phủ nhận những nỗ lực, thành tựu của Việt Nam trong việc bảo đảm quyền con người.

Những luận điệu bịa đặt đó hoàn toàn vô căn cứ bởi từ khi lập quốc theo chế độ mới đến nay, Việt Nam luôn thực hiện mục tiêu, chính sách nhất quán là tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm tất cả những giá trị tốt đẹp thuộc về quyền lợi cơ bản của con người.

1. Quyền con người là giá trị phổ quát của nhân loại và được hầu hết các quốc gia trên thế giới thừa nhận, trong đó có Việt Nam. Tuy vậy, khi nhìn nhận vấn đề quyền con người, quyền công dân cần phải có quan điểm khách quan, toàn diện gắn với thể chế chính trị, lịch sử, văn hóa truyền thống và điều kiện kinh tế-xã hội của mỗi quốc gia dân tộc. Không nên xem xét, nhận định quyền con người, quyền công dân theo con mắt “thầy bói xem voi”, chỉ nhìn thấy vài ba hiện tượng bên ngoài rồi đánh giá thành bản chất. Vì cách nhìn nhận hẹp hòi, thiên kiến như vậy có thể tạo ra mâu thuẫn, xung khắc giữa chủ thể nhận định, đánh giá và đối tượng bị nhận định, đánh giá, từ đó gây bất lợi cho việc củng cố mối quan hệ hòa bình, hữu nghị, hợp tác, phát triển giữa các quốc gia trên thế giới.

Là một nước đang phát triển, Việt Nam luôn thiện chí hợp tác với các quốc gia, các tổ chức quốc tế nhằm không ngừng cải thiện, bảo đảm những quyền cơ bản, chính đáng của con người. Nhưng chúng ta không chấp nhận một số tổ chức phi chính phủ ở nước ngoài như: Theo dõi nhân quyền thế giới (HRW), Phóng viên không biên giới (RSF) thường xuyên có cái nhìn sai trái, nhận định rất thiếu khách quan về tình hình dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam. Mặt khác, chúng ta cũng đề cao cảnh giác, kiên quyết vạch trần, lên án những phần tử có tư tưởng thâm thù với chế độ, cũng như các đối tượng đội lốt “đấu tranh vì dân chủ, nhân quyền” nhưng lại có lời lẽ đơm đặt, bôi nhọ những giá trị cơ bản của quyền con người chân chính và rêu rao xuyên tạc Đảng, Nhà nước Việt Nam không tôn trọng, bảo đảm quyền con người nhằm mưu đồ chống phá cách mạng Việt Nam.

2. Khi nói đến một thể chế chính trị tiến bộ, một quốc gia văn minh, thì không thể không nói đến thể chế chính trị, quốc gia đó có quan tâm đến việc bảo đảm những quyền cơ bản của con người hay không. Chế độ chính trị XHCN mà Việt Nam đang nỗ lực xây dựng, thực hiện là một chế độ của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Vì vậy, từ khi lập quốc theo thể chế dân chủ XHCN đến nay, Việt Nam đã kiên trì theo đuổi mục tiêu không ngừng thúc đẩy, bảo vệ và bảo đảm quyền con người cho mọi người dân.

Tuy không phải là quốc gia đầu tiên đề ra các vấn đề về quyền cơ bản của con người, nhưng Việt Nam là một trong số ít quốc gia sớm tiếp cận về quyền con người. Trong bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”. Như vậy, thông qua khẳng định các giá trị của một dân tộc là quyền bình đẳng, quyền sống, quyền sung sướng, quyền tự do, Chủ tịch Hồ Chí Minh muốn nhấn mạnh quyền con người chỉ thực sự được bảo đảm khi gắn liền với quyền độc lập, tự do của dân tộc.

Quốc hiệu Việt Nam từ khi thành lập chính quyền cách mạng đến nay cũng nhất quán một khẩu hiệu: “Độc lập-Tự do-Hạnh phúc”. Điều đó có nghĩa là, mục tiêu trước sau như một mà cả dân tộc Việt Nam kiên trì thực hiện là bảo đảm dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc.

Nếu bản “Tuyên ngôn thế giới về quyền con người” mà Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 10/12/1948, trong đó vấn đề hàng đầu mà tuyên ngôn này khuyến nghị cộng đồng quốc tế và các quốc gia dân tộc phải thực hiện là bảo đảm “Tự do, công lý và hòa bình”; thì vấn đề quyền tự do trong bản Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được nêu ra trước 3 năm so với bản “Tuyên ngôn thế giới về quyền con người”. Nhắc lại điều đó để thấy, với tầm nhìn vượt thời đại của mình, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã thay mặt nhân dân và dân tộc Việt Nam khẳng định Việt Nam luôn tôn trọng các giá trị quyền con người và cam kết thực hiện quyền con người trước cộng đồng quốc tế ngay từ khi thành lập chính quyền cách mạng công nông đầu tiên ở Đông Nam Á.

Qua nhiều lần xây dựng, sửa đổi Hiến pháp, từ các bản Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992 đến Hiến pháp năm 2013 luôn giữ một vấn đề căn cốt là hiến định các quyền con người và quyền công dân. Trong đó, Hiến pháp năm 2013 đã thiết kế một chương về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Ngay sau Điều 1 hiến định về chủ quyền địa lý, Điều 2 Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định nguyên tắc chủ quyền tối cao thuộc về nhân dân, đó là: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân”. Cũng lần đầu tiên, chữ “Nhân Dân” được viết hoa trong bản Hiến pháp để nhấn mạnh đến vị trí, vai trò quyết định của nhân dân trong tiến trình lịch sử và sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Trong giai đoạn 2014-2019, Nhà nước Việt Nam đã ban hành hơn 100 văn bản luật và pháp lệnh liên quan đến việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân.

3. Do trải qua hai cuộc chiến tranh chống thực dân đế quốc kéo dài suốt ba thập niên (1945-1975) và chịu ảnh hưởng, tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội khoảng chục năm sau khi đất nước thống nhất, dù rất quan tâm, song Việt Nam chưa có nhiều điều kiện thuận lợi để bảo đảm thực sự đầy đủ các quyền con người.

Từ khi tiến hành công cuộc đổi mới đến nay, Việt Nam ngày càng nhận thức sâu sắc và bảo đảm tốt hơn quyền con người trên tất cả các lĩnh vực chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội.

Thành tựu về quyền con người ở Việt Nam trong hơn 70 năm qua thể hiện trên mọi lĩnh vực, nhất là những bước tiến vượt bậc về phát triển kinh tế trong gần 35 năm đổi mới (1986 - 2020). Từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, quy mô nền kinh tế năm 1985 mới có 14 tỷ USD, thì đến năm 2019 đạt 262 tỷ USD, tăng gấp hơn 18,7 lần. Mới đây, Tạp chí The Economist tháng 8-2020 đã xếp Việt Nam trong tốp 16 nền kinh tế mới nổi thành công nhất thế giới. Mặc dù chịu ảnh hưởng nghiêm trọng của đại dịch Covid-19 trên toàn cầu, trong khi phần lớn các nền kinh tế trên thế giới rơi vào suy thoái, nhưng nhờ sự chỉ đạo đồng bộ, quyết liệt thực hiện “mục tiêu kép” của Chính phủ, năm 2020, Việt Nam vẫn duy trì được tăng trưởng dương ở mức khá. Nhìn theo tiêu chuẩn của Ngân hàng Thế giới (WB) so sánh mức sống với các nước trên thế giới, thu nhập của người dân Việt Nam năm 2020 tương đương gần 9.000USD (tính theo ngang bằng sức mua).

Sự tăng trưởng kinh tế là cơ sở, tiền đề để Nhà nước chăm lo thực hiện tốt các chính sách an sinh, văn hóa xã hội. Điều đó được thể hiện ở “Chỉ số phát triển con người” (HDI). Theo Báo cáo “Phát triển con người năm 2019” được Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) công bố ngày 9/12/2019, với chỉ số HDI là 0,63, Việt Nam xếp thứ 118 trong tổng số 189 nước. Tuổi thọ trung bình của người Việt Nam tăng 4,8 năm, số năm đi học trung bình tăng 4,3 năm, thu nhập bình quân đầu người tăng khoảng trên 354%. Điều này giúp Việt Nam nằm trong nhóm các nước có tốc độ tăng trưởng chỉ số HDI cao nhất trên thế giới. Theo nhận định của bà Caitlin Wiesen, Trưởng đại diện thường trú UNDP ở Việt Nam: “Việt Nam đã đạt được tăng trưởng đáng kể trong phát triển con người kể từ năm 1990 đến nay. Điều đó chứng tỏ Việt Nam đã có những bước tiến bộ trong thực hiện chính sách chăm lo phát triển con người toàn diện”.

Một trong những thành tựu về nhân quyền đáng kể là Việt Nam đã quan tâm thúc đẩy, bảo vệ, bảo đảm các quyền cơ bản cho nhóm người dễ bị tổn thương trong xã hội. Đến nay, Đảng, Nhà nước Việt Nam đã ban hành 118 chính sách liên quan đến việc xóa đói, giảm nghèo, phát triển kinh tế-xã hội, cải thiện đời sống và bảo đảm an sinh cho đồng bào các dân tộc thiểu số. Nhờ thực hiện đồng bộ các chính sách đó, tỷ lệ nghèo đa chiều ở Việt Nam giảm từ 9,88% (năm 2015) xuống còn 3,73% (năm 2019). Cả nước hiện có gần 3 triệu người nghèo, người yếu thế được cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí. Đặc biệt, Phong trào “Cả nước chung tay vì người nghèo-Không để ai bị bỏ lại phía sau” trong những năm qua đã nhận được sự hưởng ứng sâu rộng, hiệu quả của toàn xã hội. Chỉ tính trong dịp “Ngày vì người nghèo” 17-10-2020 vừa qua, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã kêu gọi, huy động được gần 2.400 tỷ đồng ủng hộ Quỹ Vì người nghèo và an sinh xã hội.

Từ một nước lạc hậu, không có tên trên bản đồ thế giới, sau hơn 70 năm huy động sức dân, đồng lòng thực hiện sự nghiệp kháng chiến, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Việt Nam đã trở thành một quốc gia hòa bình, độc lập, được cộng đồng quốc tế ghi nhận là một trong những nước tiên phong và là điểm sáng về thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ về xóa đói, giảm nghèo, thực hiện công bằng và tiến bộ xã hội. Đặc biệt, năm 2020, Việt Nam được Tổ chức Y tế thế giới (WHO) và nhiều cơ quan truyền thông uy tín của quốc tế đánh giá là một trong số ít quốc gia đã kiểm soát, khống chế thành công đại dịch Covid-19, do vậy, Việt Nam nằm trong nhóm nước có tỷ lệ người bị lây nhiễm và tử vong vì dịch Covid-19 thấp nhất trên thế giới. Kết quả này thêm một lần chứng tỏ Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn ưu tiên cao nhất để bảo đảm quyền được sống an toàn, khỏe mạnh cho mọi người dân-một trong những giá trị cao cả của quyền con người.

Là một quốc gia đang phát triển, bên cạnh những thời cơ, thuận lợi, hiện nay Việt Nam cũng phải đối mặt với không ít khó khăn, thử thách. Nhưng với bản chất của một chế độ xã hội ưu việt mà cả dân tộc đã tự nguyện lựa chọn và kiên trì thực hiện, thông qua chủ trương, đường lối phát triển kinh tế-xã hội đúng đắn và hợp xu hướng thời đại, Việt Nam ngày càng có điều kiện tạo ra những tiền đề cơ sở vật chất, văn hóa để bảo đảm tốt hơn các quyền cơ bản của con người.

Việc Đảng Cộng sản Việt Nam xác định mục tiêu xây dựng đất nước theo định hướng XHCN “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” với hàm ý nhấn mạnh Việt Nam luôn kiên trì, nỗ lực bảo đảm “quyền sung sướng” (dân giàu) và “quyền tự do” (dân chủ) mà Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nêu ra trong bản Tuyên ngôn Độc lập. Khi quốc gia giàu có về vật chất, văn hóa, tinh thần và bảo đảm tự do, dân chủ về mọi mặt, đó chính là cam kết chính trị của Việt Nam cùng các quốc gia và cộng đồng quốc tế thực hiện hiệu quả những giá trị phổ quát về nhân quyền đã được xác định trong “Tuyên ngôn thế giới về quyền con người”./.

                                        Công Bằng

 

Đảng luôn lắng nghe dân để có “văn bia muôn đời sau”

Việc lấy ý kiến góp ý của Nhân dân vào các dự thảo văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng được tiến hành thời gian qua là nhằm tập hợp, phát huy trí tuệ, quyền làm chủ của người dân trong tham gia hoạch định đường lối, chủ trương lãnh đạo, quyết sách quan trọng của Đảng đối với đất nước và sự nghiệp cách mạng; góp phần nâng cao chất lượng dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng.

Thế nhưng, với tâm địa xấu xa, các thế lực thù địch đã trắng trợn xuyên tạc, bóp méo vai trò, ý nghĩa của phần việc này; đồng thời tung ra nhiều chiêu trò, đặt điều hoài nghi rằng: Liệu người dân Việt Nam có dám nói thẳng, nói thật góp ý với Đảng? Và rằng liệu Đảng có trân quý, thực tâm lắng nghe dân?

1. Trên trang của RFA vừa đăng một bài với tiêu đề: “Liệu dân có “dám” đóng góp ý kiến với Đảng?”. Bài viết này cho rằng, việc Đảng Cộng sản Việt Nam khai trương trang web kêu gọi nhân dân tham gia góp ý vào dự thảo văn kiện đại hội (VKĐH); các cơ quan báo chí chính thống đồng loạt mở chuyên mục góp ý vào dự thảo VKĐH XIII của Đảng, thực chất chỉ là một hình thức mị dân, bởi chắc chắn người dân Việt Nam sẽ không dám ý kiến, không có điều kiện nói thẳng, nói thật với Đảng; thậm chí sẽ “cố tình im lặng” để bảo đảm an toàn tính mạng và lợi ích chính trị... Hoặc nếu có thì đó cũng chỉ là những màn kịch đã được dựng sẵn theo chủ ý của giới lãnh đạo Việt Nam.

Thực chất, đây là những chiêu trò hòng bôi nhọ bản chất và truyền thống trọng dân, lắng nghe dân của Đảng ta. Đây cũng là cách thức mà lực lượng chống phá cố tình gây nhiễu loạn thông tin về hoạt động lấy ý kiến nhân dân vào dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng. Nguy hiểm hơn, những thủ đoạn này ít nhiều sẽ gây hoang mang dư luận, giảm bầu nhiệt huyết và tinh thần trách nhiệm của một bộ phận quần chúng; lôi kéo những người thiếu bản lĩnh, nhẹ dạ, cả tin hùa theo ý đồ chính trị đen tối, chống phá Đại hội XIII của Đảng; sâu xa hơn là phủ nhận, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với toàn xã hội.

Chúng ta biết rằng, suốt chiều dài lịch sử của Đảng Cộng sản Việt Nam, trải qua các kỳ đại hội, Đảng ta luôn cầu thị, lắng nghe góp ý của quần chúng nhân dân. Trong hoạt động lãnh đạo phong phú, sôi động và hào hùng kể từ khi ra đời đến nay, Đảng luôn thấm nhuần bài học sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Toàn bộ hoạt động của Đảng đều xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Sức mạnh của Đảng là ở sự gắn bó mật thiết với nhân dân!

Bởi thế, việc Trung ương tổ chức lấy ý kiến góp ý rộng rãi của quần chúng nhân dân vào dự thảo các VKĐH Đảng lần thứ XIII là thể hiện sự tiếp nối bản chất, truyền thống cách mạng tốt đẹp của Đảng; cũng đồng thời cho thấy sự cầu thị, nghiêm túc lắng nghe dân của Đảng cầm quyền chân chính; khẳng định vị trí, ý nghĩa của một phần việc quan trọng đã thành nền nếp qua các kỳ đại hội của Đảng. Hoạt động này càng cho thấy sự quan trọng đặc biệt và yêu cầu rất cao về chất lượng VKĐH XIII của Đảng, đúng như khẳng định của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng, rằng: VKĐH là một văn kiện rất quan trọng, vừa mang tính lý luận cao, tính thực tiễn sâu sắc và tính chính trị chỉ đạo lâu dài, là một văn kiện tồn tại mãi mãi trong lịch sử của Đảng, của đất nước. Do đó phải chuẩn bị thật công phu, khoa học, phát huy hết trí tuệ, trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân.

2. Thực chất, việc lấy ý kiến rộng rãi của các tầng lớp nhân dân vào dự thảo VKĐH XIII của Đảng là tập hợp và phát huy trí tuệ, tâm huyết, quyền làm chủ của nhân dân, tham gia đóng góp với Đảng trong quá trình hoạch định đường lối, chủ trương, quyết sách quan trọng, phát triển đất nước đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030 và 2045. Điều này thể hiện bản chất ưu việt của chế độ, phát huy tinh thần dân chủ, tạo sự thống nhất về nhận thức, hành động; giúp tăng cường đoàn kết thống nhất trong Đảng, đại đoàn kết toàn dân tộc; củng cố, bồi đắp niềm tin của nhân dân đối với Đảng; làm sâu sắc hơn nữa mối quan hệ máu thịt giữa Đảng và nhân dân.

Để phát huy cao nhất trí tuệ, trách nhiệm của nhân dân, Ban Tuyên giáo Trung ương đã sớm ban hành nhiều văn bản hướng dẫn, yêu cầu việc đóng góp vào dự thảo VKĐH XIII phải được tiến hành khoa học, thiết thực, đúng tiến độ, chất lượng, hiệu quả, tránh hình thức, lãng phí; bảo đảm khơi dậy và phát huy tinh thần trách nhiệm, tình cảm và tâm huyết của nhân dân đối với Đảng và đất nước. Hướng dẫn số 151-HD/BTGTW của Ban Tuyên giáo Trung ương chỉ rõ hình thức góp ý của nhân dân được tiến hành trực tiếp tại hội nghị lấy ý kiến nhân dân, sinh hoạt thường kỳ của các tổ chức chính trị-xã hội (CTXH), các hội thảo, tọa đàm khoa học; gửi thư góp ý kiến đến cấp ủy đảng các cấp và tới các cơ quan báo chí của Trung ương, của đảng bộ các địa phương, các ban, bộ, ngành, tổ chức CTXH.

Thực hiện chủ trương và các hướng dẫn của Trung ương, tuy thời gian lấy ý kiến các tầng lớp nhân dân chỉ diễn ra trong 20 ngày (từ ngày 20-10 đến hết ngày 10-11-2020), nhưng trong toàn xã hội đã diễn ra một đợt sinh hoạt chính trị rộng khắp; nhất là ở các ban, ngành, tổ chức CTXH, địa phương, cơ quan báo chí... Trên cơ sở định hướng và sự thật tâm cầu thị của Trung ương, quần chúng nhân dân trên mọi miền Tổ quốc đã chủ động nghiên cứu, tự giác nêu chính kiến, quan điểm, chia sẻ kinh nghiệm, đề xuất giải pháp, đóng góp cho Đảng thông qua các kênh tiếp nhận khác nhau. Người dân làm việc đó một cách tự giác, chứ không gò ép, hay bị bắt buộc. Đặc biệt, phần lớn quần chúng đều nhận thức rõ trách nhiệm công dân và gửi đi hy vọng, rằng ý kiến bản thân sẽ được Trung ương và các ban, ngành chức năng tiếp thu, bổ sung vào dự thảo VKĐH, góp phần hoạch định đường lối cách mạng, đẩy mạnh công cuộc đổi mới đất nước trong thời gian tới.

Tính tích cực của quần chúng được thể hiện rất rõ ở việc quan tâm theo dõi, chủ động tìm hiểu, nghiên cứu các tài liệu về Đại hội XIII của Đảng. Theo đó, ngay sau khi Trung ương công bố các dự thảo văn kiện, nhiều cơ quan báo chí đã tiếp nhận và đăng tải được ngay các ý kiến góp ý của người dân vào các dự thảo VKĐH XIII (thông qua việc chủ động nghiên cứu các dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng được gửi đến các đảng bộ cơ sở (bản tóm tắt) và đảng bộ cấp huyện, tỉnh và tương đương (bản toàn văn) để đóng góp ý kiến trước đó...

Và như vậy, không hề như sự rêu rao của những đối tượng ác ý, chống phá cách mạng, rằng việc góp ý kiến vào dự thảo VKĐH XIII của Đảng sẽ có thể bị chính quyền “sờ gáy”, bị bỏ tù nếu dám nói thẳng, nói thật, hay phát biểu xúc phạm đến chính quyền và đội ngũ cán bộ. Trên thực tế, người dân đã thật tâm, thật lòng, không ngần ngại dốc bầu nhiệt huyết, góp ý thẳng thắn, nêu cao tính chiến đấu, mạnh mẽ phê bình và đề cao dân chủ trong quá trình đóng góp ý kiến. Có thể nói, chưa bao giờ cơ chế và điều kiện xã hội được khơi thông, khuyến khích, cổ vũ người dân góp ý cho Đảng một cách thuận lợi, rộng rãi như thời gian qua. Bởi thế, người dân mạnh dạn đề xuất nhiều vấn đề bức xúc, vướng mắc, kể cả những nội dung nhạy cảm, như: Hạn chế của công tác phòng, chống tham nhũng; yếu kém trong công tác cán bộ; trực tiếp phê bình tổ chức đảng, người đứng đầu ở các cấp... Có một nguyên tắc bất biến, được người dân tự giác thực hiện, đó là việc đóng góp ý kiến phải trên tinh thần xây dựng, không vượt quá giới hạn của dân chủ XHCN và phải được tiến hành bằng các phương pháp, hình thức chính thống.

Sự tích cực đóng góp vào dự thảo VKĐH XIII còn được thể hiện rất rõ từ tinh thần, trách nhiệm của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Dù làm ăn, sinh sống nơi xứ người, nhưng với tình yêu Tổ quốc, với trách nhiệm công dân, đông đảo người Việt Nam ở nhiều nước trên thế giới đã tích cực đóng góp trí tuệ, trách nhiệm, kinh nghiệm vào dự thảo VKĐH XIII của Đảng thông qua các hội nghị do đại sứ quán các nước tổ chức. Nhiều người dân, các nhà khoa học, nhà nghiên cứu Việt Nam ở nước ngoài đã dành nhiều thời gian, công sức nghiên cứu dự thảo VKĐH XIII của Đảng, chủ động viết bài, góp ý cho Đảng thông qua hệ thống cơ quan báo chí Trung ương và cơ quan chức năng có thẩm quyền. Đây thật sự là một trong những kênh tri thức quý báu để Trung ương xem xét, tiếp thu, hoàn chỉnh các dự thảo VKĐH.

3. Cùng với việc rêu rao, cho rằng người dân Việt Nam sẽ không dám tham gia góp ý với Đảng, lực lượng thù địch còn cố tình đặt ra nghi vấn, rằng liệu Đảng Cộng sản Việt Nam có chân thành lắng nghe góp ý của nhân dân?

Thực chất, luận điệu này là hòng tạo ra sự hoài nghi trong dư luận và tâm lý cộng đồng khiến quần chúng giảm bớt tâm huyết, trách nhiệm trong quá trình tham gia nghiên cứu, đóng góp ý kiến với Đảng...

Xin thưa rằng, tâm huyết, trí tuệ của quần chúng nhân dân là tài sản vô cùng quý báu-nguồn sức mạnh tri thức dồi dào và “tươi màu thực tiễn” mà Đảng ta luôn trân quý, cầu thị lắng nghe, thực tâm đón nhận. Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã chứng minh sinh động cho điều đó và trong quá trình chuẩn bị Đại hội XIII của Đảng, thực tế đó một lần nữa được kiểm định, củng cố chắc chắn.

Như đã biết, ngay từ tháng 1-2020, Văn phòng Trung ương Đảng đã ban hành Hướng dẫn số 60-HD/VPTW, hướng dẫn tổng hợp ý kiến góp ý vào các dự thảo VKĐH đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Văn bản này chỉ rõ mục đích, yêu cầu, nội dung, phương pháp tổng hợp ý kiến đóng góp của các đối tượng vào dự thảo VKĐH XIII của Đảng. Điều đó cho thấy, Đảng ta nhận thức rất rõ vai trò, vị trí của công tác tổng hợp; cũng đồng thời minh chứng cho sự trọng thị, lắng nghe ý kiến quần chúng nhân dân của Trung ương.

Bám sát hướng dẫn đó, việc tiến hành công tác tổng hợp ý kiến đóng góp của nhân dân thời gian qua được thực hiện chặt chẽ, khoa học, nghiêm túc ở mọi cấp, mọi ngành. Trong đó, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể CTXH tổ chức lấy ý kiến theo hệ thống dọc và mỗi đoàn thể đều có trách nhiệm tổng hợp gửi về Ban Dân vận Trung ương. Trung ương cũng phân công rõ trách nhiệm của các ban đảng trong việc tham gia tổng hợp ý kiến góp ý của nhân dân. Trong đó, Ban Tuyên giáo Trung ương tổng hợp ý kiến góp ý của nhân dân qua báo chí, thư gửi trực tiếp về Trung ương. Đảng đoàn Quốc hội tổng hợp ý kiến thảo luận góp ý của các đại biểu Quốc hội, gửi Bộ Chính trị qua Văn phòng Trung ương Đảng...

Chính sự phân công bài bản cho các ban, ngành, tổ chức đảng; đặt ra yêu cầu chặt chẽ về chất lượng và tiến độ, càng cho thấy sự trân trọng, nghiêm túc lĩnh hội, đón nhận ý kiến góp ý của nhân dân vào VKĐH XIII của Đảng. Theo GS, TS Phùng Hữu Phú, Phó chủ tịch Thường trực Hội đồng Lý luận Trung ương, sau khi các đầu mối có trách nhiệm tổng hợp ý kiến góp ý của nhân dân theo phân công của Trung ương, những văn bản tổng hợp sẽ được chuyển về các tiểu ban và các tổ biên tập để nghiên cứu, tiếp thu đến mức cao nhất những nội dung hợp lý.

Đặc biệt, sau khi các tiểu ban tiếp thu, hoàn thiện, Bộ Chính trị sẽ trực tiếp lắng nghe tổng hợp ý kiến góp ý của nhân dân; tiếp đó, Trung ương một lần nữa lắng nghe ý kiến nhân dân để tiếp thu triệt để, rồi mới trình Đại hội XIII của Đảng. Quá trình Bộ Chính trị và Trung ương lắng nghe ý kiến góp ý của nhân dân sẽ yêu cầu các tiểu ban phải giải trình rõ các vấn đề, như: Ý nào tiếp thu và tiếp thu thế nào, thể hiện trong văn bản thế nào so với trước; chỗ nào tiếp thu, chỗ nào chưa tiếp thu, vì sao. Tức là phải giải trình rất cặn kẽ lý do tiếp thu và những chỗ chưa tiếp thu. Cách làm đó cho thấy, Đảng ta luôn cầu thị, tiếp thu cao nhất trách nhiệm, trí tuệ của nhân dân, quyết tâm xây dựng các văn kiện của Đảng trở thành "văn bia để lại muôn đời sau". Đây cũng chính là cơ sở vững chắc, căn cứ xác đáng giúp vạch trần những luận điệu xuyên tạc, cố tình quy chụp bản chất của một Đảng cầm quyền chân chính luôn trọng dân, lắng nghe dân!

Công Bằng

 

Nhân quyền trên lĩnh vực tôn giáo nhìn từ góc độ pháp luật quốc tế và Việt Nam

Thời gian qua, một số tổ chức và cá nhân luôn tìm cách sử dụng vấn đề tôn giáo để chống phá Việt Nam về dân chủ, nhân quyền. Luận điệu mà họ đưa ra là vu cáo Việt Nam đàn áp tôn giáo, vi phạm quyền “tự do tôn giáo” của người dân; đòi tách tôn giáo khỏi sự quản lý của Nhà nước, yêu cầu chính quyền không kiểm soát, kiểm duyệt các tôn giáo, cho phép tôn giáo được tự do hoạt động.

Họ nêu ra các vấn đề rằng, “nhiều văn bản pháp luật Việt Nam về tôn giáo, dân tộc không tương đồng với Công ước quốc tế về quyền con người, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo”. Thậm chí, họ còn trắng trợn phê phán, xuyên tạc “Luật tín ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam là tạo ra cơ sở pháp lý để đàn áp, bóp nghẹt tôn giáo”; “là bước thụt lùi về tự do tôn giáo”.

Đồng thời họ còn cho rằng, Việt Nam đề ra chính sách pháp luật nhưng không thực hiện. Trong các Báo cáo về tự do tôn giáo quốc tế hàng năm do Cục Dân chủ, nhân quyền và lao động, Bộ Ngoại giao Mỹ công bố đều nêu nội dung: “Hiến pháp Việt Nam quy định quyền tự do tôn giáo, tuy nhiên Chính phủ vẫn tiếp tục hạn chế các hoạt động có tổ chức của nhiều tôn giáo”. Trong các báo cáo này còn nêu ra “các biện pháp hạn chế tự do tôn giáo”, “các trường hợp lạm dụng tự do tôn giáo…, một số tín đồ tôn giáo tiếp tục bị đàn áp hoặc sách nhiễu…”.

Các đối tượng còn tuyên truyền, chỉ trích, vu cáo “chính quyền Việt Nam cấm đoán nhiều tổ chức, hệ phái tôn giáo hoạt động” và “kiểm soát chặt chẽ” hoạt động của các tổ chức tôn giáo đã được Chính phủ công nhận, “cấm mục sư Tin lành đi lại truyền đạo, cấm con em những người theo đạo đến trường”, yêu cầu chính quyền “chấm dứt sự phủ quyết đối với việc bổ nhiệm các giám mục Công giáo” (thực tế, Vatican đã thỏa thuận với Chính phủ Việt Nam về việc bổ nhiệm giám mục ở Việt Nam phải được Nhà nước Việt Nam chấp thuận).

Trong vấn đề đào tạo chức sắc tôn giáo, các đối tượng vu cáo “chính quyền hạn chế một cách “độc đoán” về số lượng sinh viên được phép đào tạo thành linh mục”.

Một số tổ chức, cá nhân trên các danh nghĩa khác nhau đã gặp gỡ, tiếp xúc số chức sắc, tín đồ có tư tưởng cực đoan, quá khích trong các tôn giáo như: Thích Không Tánh (Phật giáo), Nguyễn Văn Lý (Công giáo), Nguyễn Hồng Quang (Tin lành), Hứa Phi (Cao Đài),... để hậu thuẫn, kích động, hỗ trợ cho số này tiến hành hoạt động vi phạm pháp luật.

Khi những đối tượng này có hành vi vi phạm pháp luật và bị xử lý (bắt, giam giữ, truy tố, tù giam), họ thường có phản ứng quyết liệt để bênh vực, bảo vệ họ như: Phản đối, lên án ta đàn áp tôn giáo, yêu cầu ta phải trả tự do cho những người mà họ gọi là “tù nhân tôn giáo”, “tù nhân lương tâm”.

Quản lý Nhà nước về tôn giáo là yêu cầu khách quan

Thực tế cho thấy, không thể có quyền tự do tôn giáo tuyệt đối. Xét về bản chất, tôn giáo là một tổ chức tập hợp những người tin theo một đối tượng tôn thờ, được sắp xếp theo cơ cấu nhất định. Mọi tổ chức tồn tại, hoạt động trong xã hội đều phải chịu sự quản lý, giám sát của Nhà nước, tuân thủ quy định của pháp luật. Do vậy, các tôn giáo phải chịu sự quản lý của Nhà nước, phải chấp hành quy định của pháp luật. Việc ban hành các văn bản pháp luật để tiến hành quản lý nhà nước đối với các tôn giáo là nhu cầu tất yếu, khách quan của mọi quốc gia trên thế giới

Điều 18 Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị quy định: “Quyền tự do bày tỏ tôn giáo hoặc tín ngưỡng chỉ có thể bị giới hạn bởi pháp luật và khi sự giới hạn đó là cần thiết để bảo vệ an ninh, trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức xã hội hoặc để bảo vệ quyền và tự do cơ bản của người khác”.

Ở nhiều nước trên thế giới, hoạt động tôn giáo cũng phải tuân thủ luật pháp như: Điều 26, Luật của Cộng hòa Pháp về tách Giáo hội khỏi Nhà nước quy định: “Việc tụ tập để thực hiện các nghi lễ tôn giáo phải báo cáo và chịu sự kiểm soát của các cơ quan chính quyền có chức năng gìn giữ trật tự công cộng. Ở những nơi chuyên vào việc thờ tự và thực hành nghi lễ tôn giáo cấm việc hội họp có tính chất chính trị”. Điều 27 quy định: “Các nghi lễ, các cuộc rước tôn giáo tiến hành bên ngoài khu vực nhà thờ và việc kéo chuông phải tuân theo những quy định của chính quyền tỉnh, thành phố”.

Luật pháp Cộng hòa Bỉ quy định trách nhiệm hình sự đối với những giáo sĩ có hành vi và lời nói xúc phạm tới Chính phủ, luật pháp, sắc lệnh của nhà vua cũng như đối với các hoạt động của chính quyền.

Ở Cộng hòa Liên bang Đức, giáo sĩ cũng bị truy cứu trách nhiệm hình sự như công dân khác trong trường hợp vi phạm hiến pháp, pháp luật. Cũng ở Đức, các giám mục Thiên chúa giáo khi nhậm chức phải tuyên thệ: “Tôi xin thề và hứa sẽ tôn trọng Chính phủ hợp hiến. Chiểu theo nghĩa vụ phải quan tâm tới lợi ích của Nhà nước Đức trước bất kỳ sự gì khả dĩ tác hại tới lợi ích đó”.

Ở Mỹ, hoạt động của các tổ chức tôn giáo được quản lý theo luật pháp của các bang. Luật của các bang quy định về hoạt động tôn giáo có những điểm khác nhau về chi tiết, song nhìn chung đều dựa trên yêu cầu thống nhất trong toàn liên bang như: Việc đăng ký thủ tục bắt buộc đối với các tổ chức tôn giáo trong toàn liên bang, lệ phí phải nộp cho chính quyền về việc đăng ký là 15 đô la; các cơ quan chính quyền của bang trực tiếp thi hành việc giám sát các hoạt động của các tổ chức tôn giáo trên địa bàn hành chính của bang. Chỉ sau khi được chính quyền xem xét, đồng ý cho phép thành lập thì các tổ chức tôn giáo mới được phép hoạt động và có tư cách pháp nhân.

Ở Nhật Bản, Luật về các tổ chức tôn giáo có tư cách pháp nhân quy định rõ: Các cấp chính quyền quản lý các tổ chức tôn giáo là Bộ Văn hóa, tỉnh, huyện. Các tổ chức tôn giáo đều phải đăng ký ở Bộ Văn hóa và chỉ sau khi đã được đăng ký mới được hoạt động tại nơi đặt văn phòng của tổ chức đó.

Tôn trọng tôn giáo, tín ngưỡng và bảo đảm trên thực tế

Tại Việt Nam, quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo của người dân được đảm bảo. Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách về tôn giáo, trong đó đều khẳng định “Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân”; “Đồng bào các tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc”; “Tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo đúng pháp luật. Các tôn giáo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, bình đẳng trước pháp luật”...

Thể chế hóa các quan điểm của Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo như Hiến pháp năm 2013, Luật Tín ngưỡng tôn giáo năm 2016, Nghị định số 162/NĐ-CP ngày 31/12/2017 về biện pháp thi hành Luật tín ngưỡng tôn giáo... Trong các văn bản pháp luật này đều khẳng định Nhà nước tôn trọng và bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân.

Điều 24, Hiến pháp năm 2013 quy định: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật”.

Điều 3, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 quy định: “Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người; bảo đảm để các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật”.

Thực tiễn tại Việt Nam cho thấy, các tôn giáo ở Việt Nam ngày càng đa dạng, được Đảng, Nhà nước bảo đảm hoạt động trong khuôn khổ pháp luật.

Cùng với sự mở cửa, phát triển của đất nước, tôn giáo ở Việt Nam có sự phục hồi, phát triển mạnh mẽ, đa dạng hơn. Năm 1990, Việt Nam có 6 tôn giáo, 3 tổ chức tôn giáo được Nhà nước công nhận, cùng với một số loại hình tín ngưỡng dân gian gắn với các dân tộc.

Từ năm 2003, thực hiện Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo, Nhà nước đã công nhận tư cách pháp nhân cho 15 tổ chức tôn giáo thuộc 6 tôn giáo với khoảng 19 triệu tín đồ (chiếm 23,5% dân số). Đến năm 2020, đã có 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo được Nhà nước công nhận và cấp đăng ký hoạt động, khoảng 26,5 triệu tín đồ, sinh hoạt tôn giáo ở 29.660 cơ sở thờ tự.

Về chức sắc, năm 1990, nước ta có khoảng 38 nghìn chức sắc, nhà tu hành, đến nay tăng lên 61,2 nghìn chức sắc, 147,1 nghìn chức việc (tổng số chức sắc, chức việc khoảng 208,3 nghìn), trong đó tăng nhanh và nhiều nhất là chức sắc Phật giáo và đạo Tin lành.

Trước năm 2003, trung bình hằng năm có khoảng 7 nghìn lượt người tốt nghiệp hoặc hoàn thành các khóa đào tạo chức sắc do các tôn giáo tổ chức, nhưng từ 2003 đến năm 2018, trung bình hằng năm có khoảng 15 nghìn lượt người (tăng 215%).

Với 56 cơ sở đào tạo của các tôn giáo hiện có (gấp 3 lần so với năm 1990), cùng với nhiều hình thức đào tạo đa dạng, linh hoạt, tăng cường các hình thức đào tạo ngắn hạn, cả ở trong nước và ở nước ngoài (đối với các tôn giáo ngoại nhập, có quan hệ quốc tế như Công giáo, đạo Tin lành, Phật giáo, Hồi giáo) nên hàng ngũ chức sắc, chức việc tôn giáo ở Việt Nam ngày càng được đào tạo bài bản, nâng cao trình độ và uy tín, vai trò, ảnh hưởng đối với quần chúng tín đồ, không chỉ trong đời sống tinh thần mà cả trong đời sống xã hội.

Lợi dụng tôn giáo để chống phá Việt Nam về dân chủ, nhân quyền là hoạt động xuyên suốt của những tổ chức, cá nhân và quốc gia thiếu thiện chí với Việt Nam. Trong khi thực tiễn là Việt Nam luôn tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo của người dân; nỗ lực bảo đảm cho các tôn giáo được hoạt động bình thường trong khuôn khổ pháp luật./.

Công Bằng