Chủ Nhật, 17 tháng 11, 2024

 

NHỮNG ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN XUYÊN TẠC, CHỐNG PHÁ TRÊN MẶT TRẬN NGOẠI GIAO VIỆT NAM CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

                                                                                                   Hoa Súng

 Trong những năm qua, đường lối đối ngoại của Việt Nam tiếp tục được đẩy mạnh, tạo ra những bước tiến quan trọng, từ việc tăng cường hợp tác với các nước lớn như Mỹ, Trung Quốc, Nga, Australia, Pháp… đến việc tích cực hoạt động trong các tổ chức quốc tế và khu vực như Liên hợp quốc, ASEAN...

Đặc biệt thời gian qua, lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta đã có các chuyến thăm đến một số quốc gia và theo chiều ngược lại, một số nguyên thủ quốc gia, chính khách quốc tế có chuyến thăm Việt Nam nhằm thúc đẩy quan hệ hợp tác giữa nước ta với nước bạn ngày càng đi vào chiều sâu, thực chất. Thế nhưng, bất chấp thực tế đó, các thế lực thù địch, phản động lại hướng lái, đánh tráo bản chất các chuyến thăm, hướng lái theo chiều hướng tiêu cực. 

Có thể thấy, những luận điệu sai trái, xuyên tạc được biến tấu, lặp đi lặp lại nhiều lần để xuyên tạc như: đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam hiện nay là “đu dây” hoặc “tự sát”; các hoạt động ngoại giao “không có ý nghĩa gì”, có lợi chỉ cho cá nhân, không mang lại lợi ích gì cho đất nước; cho rằng Việt Nam đang bị các cường quốc “chi phối và lệ thuộc”...

Bằng những cái nhìn phiến diện, cực đoan, thiếu thiện chí, một số tổ chức và cá nhân chống đối vẫn tiếp tục phát tán những thông tin sai lệch, bôi nhọ về đường lối đối ngoại của Việt Nam. Họ kêu gọi Liên hợp quốc và các quốc gia sử dụng các công cụ ngoại giao để gây sức ép lên Việt Nam theo ý muốn của họ. Mặt khác, các tổ chức, đối tượng tự xưng đại diện cho cái gọi là “dân chủ”, “nhân quyền” luôn tìm cách khoét sâu những điểm còn khác biệt về quan điểm nhân quyền giữa Việt Nam với Hoa Kỳ và một số quốc gia trong Liên minh châu Âu nhằm hướng các nước có cái nhìn tiêu cực, méo mó về Việt Nam.

Để thực hiện âm mưu của mình, các thế lực thù địch sử dụng nhiều thủ đoạn tinh vi. Có thể thấy, ngay khi biết được thông tin, lịch trình dự kiến về các chuyến thăm của lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta tới nước bạn, một số tổ chức, đối tượng phản động lưu vong ở nước ngoại, những kẻ đội lốt “dân chủ”, “nhân quyền” đã sử dụng mạng xã hội lan truyền thông tin sai trái, thông tin thật - giả lẫn lộn. Họ còn sử dụng hệ thống truyền thông, báo chí và các diễn đàn trực tuyến để phát tán những thông tin sai lệch về đường lối đối ngoại, hoạt động ngoại giao của nước ta, từ cáo buộc Việt Nam vi phạm nhân quyền đến việc xuyên tạc mối quan hệ Việt Nam với các quốc gia khác.

Không những vậy, các đối tượng thù địch, phản động cắt ghép hình ảnh, video và các phát ngôn của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, sau đó thêm thắt bình luận để làm méo mó, sai lệch nội dung và bản chất vấn đề. Những đối tượng cực đoan còn kêu gọi đồng bào ta ở nước ngoài tụ tập, biểu tình với các trò lố như giăng biểu ngữ, hô hoán phản đối hay gửi thư lên chính phủ, cơ quan ngoại giao ở nước sở tại để đả phá chuyến thăm; sử dụng chiêu bài “quốc tế hóa các vụ án hình sự” để đòi thả tự do, công lý một cách trắng trợn, lố bịch cho các đối tượng đang chấp hành án hình sự trong nước; vu cáo Việt Nam đàn áp dân chủ, nhân quyền; phê phán, đòi lật đổ chế độ XHCN ở nước ta…

Những âm mưu, thủ đoạn chống phá đường lối đối ngoại và hoạt động ngoại giao của Việt Nam tuy không mới nhưng việc lặp đi lặp lại sẽ tạo ra những hệ lụy xấu, không chỉ ảnh hưởng đến hình ảnh và uy tín của đất nước trên trường quốc tế mà còn có thể xâm hại đến an ninh quốc gia, công tác chính trị nội bộ. Các thế lực xấu không ngừng bôi nhọ, mỉa mai nhằm làm giảm niềm tin từ cộng đồng quốc tế đối với Việt Nam, từ đó có thể dẫn đến khó khăn của Việt Nam trong việc thu hút đầu tư, hợp tác song phương, đa phương và tham gia vào các tổ chức toàn cầu./.

 

 QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VỀ XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Mặt Trời

Xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một trong những chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta hiện nay; là xu thế tất yếu của xã hội hiện đại, tùy thuộc vào điều kiện của mỗi quốc gia, dân tộc sẽ có một mô hình nhà nước pháp quyền cụ thể. Ở Việt Nam, xây dựng Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa. Tổng kết 35 năm đổi mới toàn diện đất nước, Đảng ta xác định: “Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, vì nhân dân phục vụ và vì sự phát triển của đất nước. Tăng cường công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình, kiểm soát quyền lực gắn với siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong hoạt động của Nhà nước và của cán bộ, công chức, viên chức. Tiếp tục đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãnh phí, quan liêu, tội phạm và tệ nạn xã hội”. Đây là một trong mười hai định hướng lớn nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 được khẳng định rõ trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng. Sự khẳng định đó cho thấy, Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm đến nhiệm vụ xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong tiến trình đổi mới toàn diện đất nước, hội nhập quốc tế sâu rộng, hiệu quả và phát triển kinh tế - xã hội bền vững. Đây được xem là một trong những “mắt xích” quan trọng để hiện thực hóa các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội đến kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (năm 2030) và tầm nhìn đến kỷ niệm 100 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (năm 2045).
Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay, nhận thức về nhà nước pháp quyền nói chung và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam nói riêng chưa thống nhất. Các cơ quan nghiên cứu pháp luật và các chuyên gia pháp lý đầu ngành còn có những quan điểm khác nhau và khá đa dạng về nhà nước pháp quyền,nhưng nhìn chung đều thống nhất ở điểm chung của nhà nước pháp quyền, đó là: nhà nước pháp quyền không phải là một kiểu nhà nước mà là một phương thức tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước. Lý thuyết và thực tiễn cho thấy, trong nhà nước pháp quyền, nhân dân là chủ thể đích thực của quyền lực nhà nước, nhân dân trao quyền lực cho nhà nước bằng cơ chế dân chủ và giám sát việc thực thi quyền lực nhà nước theo nguyên tắc dân chủ. Vì thế, nhà nước pháp quyền là “biểu hiện tập trung của chế độ dân chủ”, là trung tâm của hệ thống chính trị dân chủ. Các thành viên trong xã hội có quyền tham gia vào các công việc của nhà nước, cho nên, nhà nước pháp quyền phải gắn liền với một chế độ hợp hiến, một hệ thống pháp luật dân chủ, tiến bộ, vì con người, nhằm bảo đảm toàn bộ tổ chức và hoạt động của nhà nước vận hành trong khuôn khổ của Hiến pháp, pháp luật và theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Trong xã hội hiện đại, muốn thực hành dân chủ, phát huy vai trò chủ thể nhân dân và xây dựng hệ thống chính trị dân chủ thì phải xây dựng nhà nước pháp quyền. Đó là phương thức chung mà thông qua đó công dân đạt tới xã hội dân chủ và khẳng định quyền làm chủ của mình một cách thực chất. Vì thế, nhà nước pháp quyền được nhìn nhận như “một phương thức thực hiện quyền lực, một cách thức tổ chức nền dân chủ, cách thức tổ chức nhà nước và xã hội trên nền tảng dân chủ. Điều đó có nghĩa là nhà nước pháp quyền gắn liền với một nền dân chủ, tuy không phải là một kiểu nhà nước được xác định theo lý luận về hình thái kinh tế - xã hội, nhưng không thể xuất hiện trong một xã hội không có dân chủ”   .
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam với các đặc trưng cơ bản: Là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Quyền lực Nhà nước là thống nhất; có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Nhà nước ban hành pháp luật; tổ chức, quản lý xã hội bằng pháp luật và không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa”. Điều này đã và đang được thể chế hóa trong Hiến pháp và pháp luật Việt Nam. Với những nhận thức chung đó về nhà nước pháp quyền đương đại, rõ ràng nhà nước pháp quyền hiện thực là thành tựu của văn minh nhân loại, là biểu hiện về trình độ phát triển cao của dân chủ, pháp luật và quản trị nhà nước, là phương thức tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước tối ưu, hiệu quả, mà ở đó có sự ngự trị cao nhất của Hiến pháp, pháp luật, với nội dung thực hiện quyền lực nhân dân và vì sự văn minh, tiến bộ, phát triển con người và nhân loại. Như thế, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đang xây dựng phục vụ cho yêu cầu bảo đảm tính tối cao của Hiến pháp, pháp luật, hạn chế sự tùy tiện của nhà nước, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, phát huy chủ quyền nhân dân và kiến tạo phát triển xã hội. Theo đó, trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải luôn bảo đảm các đặc trưng: trước hết, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải do Đảng Cộng sảnViệt Nam lãnh đạo, thực sự là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; thứ hai, quyền lực nhà nước phải thuộc về nhân dân, luôn thống nhất, được tổ chức khoa học, có sự phân công rành mạch, phối hợp chặt chẽ và kiểm soát hiệu quả giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp; thứ ba, Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật; bảo đảm, bảo vệ tốt quyền con người, quyền công dân; thứ tư, cơ quan lập pháp hoạt động chuyên nghiệp và hiệu quả; hoạt động của cơ quan hành pháp phải công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình, hành động, kiến tạo phát triển, phục vụ tốt; cơ quan tư pháp liêm chính, độc lập trong xét xử; bảo đảm quyền tiếp cận công lý; thứ năm, hệ thống pháp luật dân chủ, văn minh, tiến bộ, đồng bộ, thống nhất, kịp thời, khả thi, công khai, minh bạch, ổn định, dễ tiếp cận, được thực hiện nghiêm minh và nhất quán; thứ sáu, văn hóa pháp lý, văn hóa pháp quyền luôn được coi trọng và phát huy sâu rộng; thứ bảy, Nhà nước thực hiện tốt các cam kết trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã gia nhập trên cơ sở bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc, tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc, pháp luật quốc tế./.

Thứ Sáu, 15 tháng 11, 2024

 SỰ PHÁT TRIỂN NHẬN THỨC CỦA ĐẢNG VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA QUỐC PHÒNG, AN NINH VÀ ĐỐI NGOẠI

Trung Lập

Kế thừa kế sách “tạo lực, lập thế, tranh thời, dùng mưu” của tổ tiên ta trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước; phát huy kết quả đường lối lãnh đạo trong cách mạng giải phóng dân tộc, với tinh thần cách mạng tiến công, để phù hợp với tình hình thế giới, khu vực và trong nước, từ năm 1991 đến nay, Đảng ta đã không ngừng đổi mới tư duy lãnh đạo, trong đó có đổi mới tư duy về việc giải quyết mối quan hệ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991) đã đề cập đến mối quan hệ giữa quốc phòng và an ninh với việc xác định: “Kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng, an ninh, quốc phòng, an ninh với kinh tế trong các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội”. Cương lĩnh cũng chỉ rõ mục tiêu, nhiệm vụ của quốc phòng, an ninh là giữ vững môi trường hòa bình cho sự nghiệp phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa; xây dựng và phát huy tiềm năng, lực lượng mọi mặt của đất nước, cả về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội... vào củng cố quốc phòng, bảo vệ an ninh quốc gia; việc củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia là nhiệm vụ trọng yếu thường xuyên của toàn dân và của Nhà nước. Do đó, cần phải “phối hợp lực lượng quốc phòng và an ninh trong cuộc đấu tranh bảo vệ an ninh, trật tự”. Tuy nhiên, lúc này Đảng ta chưa đặt vấn đề kết hợp giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại trong các chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển của đất nước.

Đại hội VIII của Đảng (năm 1996), nhận thức của Đảng về mối quan hệ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại mới rõ ràng, cụ thể hơn, nổi bật là nhận thức rõ vai trò của đối ngoại trong các hoạt động quốc phòng, an ninh, đặc biệt là các hoạt động đấu tranh trên mặt trận ngoại giao. Đảng chủ trương: “Kết hợp quốc phòng, an ninh với kinh tế. Gắn chặt nhiệm vụ quốc phòng với nhiệm vụ an ninh, hai mặt có mối quan hệ khăng khít trong nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chế độ trong tình hình mới. Phối hợp chặt chẽ hoạt động quốc phòng, an ninh với hoạt động đối ngoại”. Từ đây, mối quan hệ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại luôn được Đảng khẳng định và đề cập trong các văn kiện, nghị quyết, chỉ thị về quốc phòng, an ninh và đối ngoại.

Trên cơ sở tổng kết thực tiễn, Đại hội IX của Đảng (năm 2001) tiếp tục bổ sung những quan điểm mới về quốc phòng, an ninh, đối ngoại và mối quan hệ giữa các hoạt động này. Văn kiện Đại hội khẳng định: “Kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng và an ninh, quốc phòng và an ninh với kinh tế trong các chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Phối hợp hoạt động quốc phòng và an ninh với hoạt động đối ngoại”. Điểm mới trong nhận thức của Đảng về mối quan hệ giữa quốc phòng và an ninh lúc này là đã cụ thể hóa mối quan hệ đó vào trong các chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, đưa vào hoạt động thực tiễn của các cấp, các ngành, trong đó nhấn mạnh cần phải tăng cường hoạt động quản lý nhà nước về quốc phòng, an ninh trên phạm vi cả nước và ở từng địa phương, cơ sở. Tuy nhiên, việc cụ thể hóa quan điểm, nhận thức của Đảng vẫn chỉ tập trung ở lĩnh vực quốc phòng, an ninh, chưa cụ thể hóa mối quan hệ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại thành chiến lược, chính sách, kế hoạch cụ thể.

Hội nghị Trung ương 8 khóa IX, với việc đề ra “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”, nhận thức của Đảng về mối quan hệ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại đã trở nên đầy đủ, toàn diện, cụ thể và có bước phát triển hơn so với các kỳ đại hội trước, không chỉ trong trong hoạt động nhận thức mà còn cả trong hoạt động thực tiễn với sự cụ thể hóa các quan điểm, chủ trương, chính sách thành quy hoạch, kế hoạch, quy chế quản lý và phối hợp hoạt động giữa các lĩnh vực quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Đến năm 2005, mối quan hệ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại được Nhà nước đưa vào Luật Quốc phòng. Điều 5 Luật Quốc phòng đã chỉ rõ nguyên tắc của hoạt động quốc phòng là “kết hợp với hoạt động an ninh và hoạt động đối ngoại”.

Tại Đại hội X (năm 2006), nhận thức của Đảng về mối quan hệ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại đã có bước phát triển tương đối toàn diện; không dừng lại ở việc xây dựng quy chế phối hợp, kết hợp các hoạt động đó, Đảng còn chủ trương: “Bổ sung quy chế phối hợp hoạt động giữa quốc phòng, an ninh, đối ngoại và các bộ, ngành có liên quan trong phân tích, dự báo tình hình và làm tham mưu đề xuất các giải pháp thực hiện”; đồng thời nhấn mạnh việc tiếp tục thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; xây dựng chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế. Cùng với việc chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, cần phải mở rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực khác, trong đó có lĩnh vực quốc phòng, an ninh. Sách trắng Quốc phòng Việt Nam năm 2009 đã nhấn mạnh việc cần phải phối hợp chặt chẽ giữa hoạt động quốc phòng, an ninh với hoạt động đối ngoại thành một thể thống nhất nhằm phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, trong đó “Quốc phòng Việt Nam luôn gắn bó mật thiết với đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế của Đảng và Nhà nước Việt Nam”.

Đại hội XI của Đảng (năm 2011) tiếp tục khẳng định việc “phối hợp chặt chẽ hoạt động đối ngoại của Đảng, ngoại giao Nhà nước và ngoại giao nhân dân; giữa ngoại giao chính trị với ngoại giao kinh tế và ngoại giao văn hóa; giữa đối ngoại với quốc phòng, an ninh” là quan điểm nhất quán đối với công tác quản lý, phối hợp các hoạt động quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Đặc biệt, Đảng nhấn mạnh việc tiếp tục chủ động, tăng cường mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh. Điều này cho thấy, Đảng đã đề cập trực tiếp và đánh giá cao tầm quan trọng của hoạt động đối ngoại quốc phòng, an ninh đối với nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Đại hội XII, Đảng tiếp tục nhấn mạnh việc “kết hợp chặt chẽ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại; tăng cường hợp tác quốc tế về quốc phòng, an ninh”, trong đó xác định quan điểm chủ động giữ nước trong thời bình: “Có kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa; chủ động phòng ngừa, phát hiện sớm và triệt tiêu các nhân tố bất lợi, nhất là các nhân tố bên trong có thể gây ra đột biến”, và chỉ rõ quá trình hội nhập quốc tế là quá trình vừa hợp tác, vừa đấu tranh, cho nên cần phải chủ động trong việc dự báo, xử lý linh hoạt, kịp thời mọi tình huống, không để rơi vào thế bị động, đối đầu, bất lợi. Việc xác định quan điểm nêu trên là rất cần thiết để tạo sự thống nhất về nhận thức và hành động với việc chủ động giữ nước trong thời bình.

Đại hội XIII chỉ rõ: Tiếp tục phát triển nhanh và bền vững đất nước; gắn kết chặt chẽ và triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, trong đó phát triển kinh tế - xã hội là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần; bảo đảm quốc phòng, an ninh là trọng yếu, thường xuyên. Hội nghị Trung ương 8 (Khóa XIII) ban hành nghị quyết về chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới xác dịnh: Phát triển đất nước nhanh, bền vững, gắn kết chặt chẽ và triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, trong đó phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường là trung tâm; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị là then chốt; phát triển văn hoá, con người là nền tảng tinh thần; bảo đảm quốc phòng, an ninh và đối ngoại là trọng yếu, thường xuyên.

Từ sau Đại hội XIII của Đảng, các quan điểm nêu trên trở thành kim chỉ nam cho mọi hoạt động của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân. Trong quá trình triển khai thực hiện, các cấp, các ngành, nhất là các cơ quan thuộc lĩnh vực quốc phòng, an ninh và đối ngoại đã chủ động kết hợp chặt chẽ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại phục vụ nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Việc kết hợp quốc phòng, an ninh và đối ngoại được xác định là một trong những nội dung quan trọng của nền quốc phòng toàn dân./.

 HOẠT ĐỘNG NỀN NGOẠI GIAO ĐÃ KHẲNG ĐỊNH BẢN SẮC, VAI TRÒ CỦA VIỆT NAM

Trước hết cần khẳng định, Việt Nam luôn thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại; bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng. Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Điều này thể hiện rõ trong các nghị quyết, văn kiện đại hội Đảng và thực tiễn sinh động của đất nước. 

Trong xu thế hội nhập quốc tế và quá trình toàn cầu hoá phát triển mạnh mẽ thì hoạt động đối ngoại càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Trong gần 40 năm đổi mới, đường lối độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa của Đảng và Nhà nước ta đã tăng cường thế và lực mới cho đất nước, góp phần quan trọng tạo môi trường hòa bình, ổn định, điều kiện thuận lợi và tranh thủ được sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, tăng cường quốc phòng - an ninh, nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Vì vậy, việc nhất quán thực hiện đường lối đối ngoại của Việt Nam đều nhằm mục đích giữ vững độc lập, tự chủ, tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động đối ngoại, hội nhập quốc tế; kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Hoạt động đối ngoại quán triệt quan điểm “lấy dân làm gốc”, lấy con người là mục tiêu, động lực của sự phát triển, vì cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân, hoàn toàn phù hợp với xu thế thời đại là hòa bình, độc lập, phát triển và hội nhập quốc tế. Chính đường lối đối ngoại mang bản sắc “cây tre Việt Nam” đã góp phần quan trọng trong việc đưa nước ta từ tình thế bị bao vây, cấm vận đến việc thiết lập quan hệ ngoại giao với 194 quốc gia.

Trong số các nước đã thiết lập quan hệ ngoại giao, Việt Nam đã tuyên bố thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện với 8 quốc gia, quan hệ Đối tác chiến lược với 10 quốc gia và quan hệ Đối tác toàn diện với 14 quốc gia. Trong đi tác toàn diện với 31 nước, bao gồm tất cả các cường quốc và 5 Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Việt Nam cũng là thành viên tích cực của ASEAN và hơn 70 tổ chức khu vực và quốc tế, có mối quan hệ với khoảng 230 thị trường trên toàn cầu./.

 

 NHỮNG ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN XUYÊN TẠC, CHỐNG PHÁ TRÊN MẶT TRẬN NGOẠI GIAO VIỆT NAM CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

Hoa Súng

Trong những năm qua, đường lối đối ngoại của Việt Nam tiếp tục được đẩy mạnh, tạo ra những bước tiến quan trọng, từ việc tăng cường hợp tác với các nước lớn như Mỹ, Trung Quốc, Nga, Australia, Pháp… đến việc tích cực hoạt động trong các tổ chức quốc tế và khu vực như Liên hợp quốc, ASEAN...

Đặc biệt thời gian qua, lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta đã có các chuyến thăm đến một số quốc gia và theo chiều ngược lại, một số nguyên thủ quốc gia, chính khách quốc tế có chuyến thăm Việt Nam nhằm thúc đẩy quan hệ hợp tác giữa nước ta với nước bạn ngày càng đi vào chiều sâu, thực chất. Thế nhưng, bất chấp thực tế đó, các thế lực thù địch, phản động lại hướng lái, đánh tráo bản chất các chuyến thăm, hướng lái theo chiều hướng tiêu cực. 

Có thể thấy, những luận điệu sai trái, xuyên tạc được biến tấu, lặp đi lặp lại nhiều lần để xuyên tạc như: đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam hiện nay là “đu dây” hoặc “tự sát”; các hoạt động ngoại giao “không có ý nghĩa gì”, có lợi chỉ cho cá nhân, không mang lại lợi ích gì cho đất nước; cho rằng Việt Nam đang bị các cường quốc “chi phối và lệ thuộc”...

Bằng những cái nhìn phiến diện, cực đoan, thiếu thiện chí, một số tổ chức và cá nhân chống đối vẫn tiếp tục phát tán những thông tin sai lệch, bôi nhọ về đường lối đối ngoại của Việt Nam. Họ kêu gọi Liên hợp quốc và các quốc gia sử dụng các công cụ ngoại giao để gây sức ép lên Việt Nam theo ý muốn của họ. Mặt khác, các tổ chức, đối tượng tự xưng đại diện cho cái gọi là “dân chủ”, “nhân quyền” luôn tìm cách khoét sâu những điểm còn khác biệt về quan điểm nhân quyền giữa Việt Nam với Hoa Kỳ và một số quốc gia trong Liên minh châu Âu nhằm hướng các nước có cái nhìn tiêu cực, méo mó về Việt Nam.

Để thực hiện âm mưu của mình, các thế lực thù địch sử dụng nhiều thủ đoạn tinh vi. Có thể thấy, ngay khi biết được thông tin, lịch trình dự kiến về các chuyến thăm của lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta tới nước bạn, một số tổ chức, đối tượng phản động lưu vong ở nước ngoại, những kẻ đội lốt “dân chủ”, “nhân quyền” đã sử dụng mạng xã hội lan truyền thông tin sai trái, thông tin thật - giả lẫn lộn. Họ còn sử dụng hệ thống truyền thông, báo chí và các diễn đàn trực tuyến để phát tán những thông tin sai lệch về đường lối đối ngoại, hoạt động ngoại giao của nước ta, từ cáo buộc Việt Nam vi phạm nhân quyền đến việc xuyên tạc mối quan hệ Việt Nam với các quốc gia khác.

Không những vậy, các đối tượng thù địch, phản động cắt ghép hình ảnh, video và các phát ngôn của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, sau đó thêm thắt bình luận để làm méo mó, sai lệch nội dung và bản chất vấn đề. Những đối tượng cực đoan còn kêu gọi đồng bào ta ở nước ngoài tụ tập, biểu tình với các trò lố như giăng biểu ngữ, hô hoán phản đối hay gửi thư lên chính phủ, cơ quan ngoại giao ở nước sở tại để đả phá chuyến thăm; sử dụng chiêu bài “quốc tế hóa các vụ án hình sự” để đòi thả tự do, công lý một cách trắng trợn, lố bịch cho các đối tượng đang chấp hành án hình sự trong nước; vu cáo Việt Nam đàn áp dân chủ, nhân quyền; phê phán, đòi lật đổ chế độ XHCN ở nước ta…

Những âm mưu, thủ đoạn chống phá đường lối đối ngoại và hoạt động ngoại giao của Việt Nam tuy không mới nhưng việc lặp đi lặp lại sẽ tạo ra những hệ lụy xấu, không chỉ ảnh hưởng đến hình ảnh và uy tín của đất nước trên trường quốc tế mà còn có thể xâm hại đến an ninh quốc gia, công tác chính trị nội bộ. Các thế lực xấu không ngừng bôi nhọ, mỉa mai nhằm làm giảm niềm tin từ cộng đồng quốc tế đối với Việt Nam, từ đó có thể dẫn đến khó khăn của Việt Nam trong việc thu hút đầu tư, hợp tác song phương, đa phương và tham gia vào các tổ chức toàn cầu./.

 

 

TIẾP TỤC BẢO ĐẢM VÀ THÚC ĐẨY QUYỀN CON NGƯỜI

TRONG KỶ NGUYÊN VƯƠN MÌNH CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM

Hoa Súng

Kể từ khi giành lại độc lập cách đây gần 80 năm, Việt Nam luôn đề cao Tuyên ngôn thế giới về quyền con người, tham gia hầu hết công ước quốc tế về quyền con người, cam kết và nỗ lực mạnh mẽ trong việc thúc đẩy, bảo vệ quyền con người ở cả cấp độ quốc gia, khu vực và quốc tế. Việt Nam được bạn bè quốc tế ghi nhận là thành viên năng động, tích cực trong cộng đồng quốc tế. Năm 2023, Việt Nam cùng với Malaysia - hai quốc gia ASEAN đảm nhiệm cương vị thành viên Hội đồng Nhân quyền, luôn nỗ lực hỗ trợ, thúc đẩy hợp tác trong nội bộ khối ASEAN và giữa khu vực ASEAN với Hội đồng Nhân quyền, cũng như thu hút sự ủng hộ và hợp tác của thế giới với ASEAN vì tiến bộ quyền con người của mọi người dân trên thế giới.

Tuy nhiên, hiện nay đất nước ta cũng đối mặt với không ít thách thức chung trong vấn đề đảm bảo và thúc đẩy quyền con người. Hệ thống pháp luật và cơ chế phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức về quyền con người chưa thực sự đáp ứng tốt trước nhu cầu của người dân. Một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức, viên chức còn hạn chế về nhận thức và kỹ năng thực thi quyền con người trong triển khai công tác. Một số nước và tổ chức quốc tế vẫn có những quan điểm khác biệt hoặc thiếu khách quan về vấn đề quyền con người Việt Nam. Các thế lực thù địch, phản động ngày càng gia tăng những hoạt động lợi dụng quyền con người để xuyên tạc sự thật, gây mất ổn định, trật tự xã hội.

Phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 10 và trong nhiều bài viết, phát biểu quan trọng vừa qua, Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định: “Với thế và lực đã tích luỹ được sau 40 năm đổi mới, với sự đồng lòng, chung sức của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, với những thời cơ, thuận lợi mới, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, chúng ta đã hội tụ đủ những điều kiện cần thiết đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam”. Hành trang bước vào kỷ nguyên mới, vươn mình của dân tộc như Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định là: Phát huy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, tự tin, tự chủ, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phát huy dân chủ XHCN, sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và của nền văn hoá, con người Việt Nam, giải phóng toàn bộ sức sản xuất, phát huy tối đa nội lực, tranh thủ ngoại lực, lấy nguồn lực nội sinh, nguồn lực con người là nền tảng, khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo là tạo động lực mới cho phát triển nhanh và bền vững.

Vì vậy, trước kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, cần thích ứng và cập nhật với những xu hướng và yêu cầu mới về quyền con người trong thời đại toàn cầu hóa. Các vấn đề, như biến đổi khí hậu, dịch bệnh, di dân, công nghệ số… có nhiều tác động đến việc thụ hưởng quyền con người của người dân. Việt Nam cần có những chính sách và biện pháp để bảo vệ quyền con người trước những thách thức mới này, đồng thời tận dụng cơ hội mới để nâng cao quyền con người. Cùng với việc bảo đảm ngày càng tốt hơn các quyền con người, Việt Nam tiếp tục nỗ lực để tham gia, đóng góp tích cực vào các hoạt động của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc trên cương vị thành viên của cơ quan liên chính phủ quan trọng nhất về quyền con người cũng như hợp tác với các cơ chế quốc tế khác về quyền con người, qua đó góp phần xây dựng một thế giới hòa bình, ổn định, phát triển bền vững./.

 

 NHỮNG THÀNH TỰU TRONG ĐẢM BẢO VÀ THÚC ĐẨY QUYỀN CON NGƯỜI TẠI VIỆT NAM NHỮNG NĂM QUA

Hoa Súng

Gần 40 năm tiến hành đổi mới đã đưa đất nước đạt được nhiều thành tựu to lớn, vượt bậc trong phát triển kinh tế, xã hội, là cơ sở quan trọng thúc đẩy sự phát triển của Nhà nước, xã hội và đảm bảo quyền con người cũng như nâng tầm vị thế, uy tín Việt Nam đối với quốc tế. Bảo đảm, thúc đẩy quyền con người trên tất cả các lĩnh vực dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa góp phần xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền, vừa đẩy nhanh tiến trình hội nhập quốc tế, vừa nâng cao uy tín, vị thế của Việt Nam, là nhân tố quan trọng trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. 

Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn xác định con người là chủ thể, mục tiêu và động lực của sự nghiệp xây dựng đất nước; con người là trung tâm của các chính sách kinh tế - xã hội. Việc thúc đẩy và bảo vệ quyền con người là bản chất, mục đích của chế độ XHCN và là nhân tố quan trọng cho sự phát triển bền vững, bảo đảm sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đi đến thắng lợi.

Hệ thống pháp luật về quyền con người ngày càng hoàn thiện, cụ thể hóa và bảo đảm các quyền cơ bản của công dân theo tinh thần của Tuyên ngôn thế giới về quyền con người và các điều  ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên. Hiến pháp Việt Nam năm 2013 đã dành riêng một chương với 36 điều quy định rõ về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.

Theo đó, Việt Nam đã bổ sung, sửa đổi hoặc ban hành mới hơn 100 văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến bảo đảm quyền con người, quyền công dân, trong đó có một số đạo luật quan trọng, như Bộ luật Hình sự năm 2015, Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Trưng cầu ý dân năm 2015, Luật Trẻ em năm 2016, Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017, Luật An ninh mạng năm 2018, Bộ luật Lao động năm 2019… Đây là những động lực quan trọng trong việc đảm bảo và thúc đẩy quyền con người góp phần đưa Việt Nam đạt được những thành tựu to lớn trong thời kỳ đổi mới đất nước. 

Sau gần 40 năm đổi mới, Việt Nam đã vươn lên trở thành nền kinh tế lớn nằm trong tốp 4 của ASEAN và trong tốp 40 của thế giới, quy mô thương mại quốc tế nằm trong tốp 20 của thế giới, là một trong những nền kinh tế được đánh giá là năng động và có độ mở cao nhất thế giới. Đặc biệt, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu về phát triển con người, nổi bật là công cuộc giảm nghèo, được bạn bè quốc tế ghi nhận, đánh giá cao. Đời sống của đại bộ phận người dân Việt Nam đã được cải thiện rõ rệt với sự liên tục cải thiện các chỉ số quan trọng liên quan đến con người như mạng lưới y tế dự phòng được tổ chức rộng khắp trên toàn quốc, gắn chặt với y tế cơ sở, tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đã tăng từ hơn 81% năm 2016 lên mức 93,35% vào năm 2023; 85% người khuyết tật có hoàn cảnh khó khăn được trợ giúp xã hội, chăm sóc và phục hồi chức năng… Bằng những sự thay đổi trên đã góp phần đưa tuổi thọ trung bình của Việt Nam trong 30 năm qua tăng 9 tuổi, từ 65,5 tuổi năm 1993 lên 74,5 tuổi năm 2023. Chỉ số phát triển con người (HDI) có xu hướng tăng đều và khá ổn định, cả về giá trị tuyệt đối cũng như thứ hạng. Năm 2022, Việt Nam thuộc nhóm nước có HDI cao của thế giới, nhất là so với các nước có trình độ phát triển cao hơn. Chỉ số hạnh phúc của Việt Nam năm 2023 được xếp thứ 65/137 quốc gia được xếp hạng. Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia xóa bỏ khoảng cách giới nhanh nhất trong vòng 20 năm qua, là một trong những nước hoàn thành sớm Mục tiêu Thiên niên kỷ thứ 3 (MDG 3) về bình đẳng giới và đang nỗ lực thực hiện SDGs, trong đó có các Mục tiêu số 5 và 10 về xóa bỏ bất bình đẳng, thúc đẩy bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ và trẻ em gái. Kỳ bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV (nhiệm kỳ 2021-2026), số lượng nữ đại biểu Quốc hội là 151 người, chiếm 30,26% (đạt tỷ lệ cao nhất từ trước đến nay); tỷ lệ người dân tộc thiểu số tham gia Quốc hội khóa XV là 89 người, chiếm 17,84%. Từ năm học 2017-2018, đã có 22 tỉnh, thành phố tổ chức dạy học tiếng dân tộc thiểu số (715 trường); 8 ngôn ngữ của dân tộc thiểu số được đưa thành môn học... 

Cùng với các quyền về dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa nói trên, Việt Nam cũng đạt được nhiều thành tựu trong thực hiện quyền con người, quyền công dân về tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được khẳng định tại Hiến pháp năm 2013 và được cụ thể hóa trong Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016. Theo báo cáo của Ban Tôn giáo Chính phủ tại Hội nghị cung cấp thông tin báo chí về công tác thông tin đối ngoại (tháng 4/2024), tính đến hết năm 2023, đã có 38 tổ chức tôn giáo được Nhà nước công nhận; cấp đăng ký hoạt động tôn giáo cho 2 tổ chức và 1 pháp môn tu hành thuộc 16 tôn giáo...

Tình hình chính trị - xã hội ổn định, bảo đảm an ninh, trật tự an toàn xã hội là một trong những điểm sáng và là thế mạnh của Việt Nam trong một thế giới đầy biến động hiện nay. Việt Nam được xếp hạng tăng 4 bậc, lên vị trí 41/163 quốc gia, vùng lãnh thổ trong bảng xếp hạng Chỉ số hòa bình toàn cầu năm 2023 về đánh giá mức độ yên bình quốc gia do Viện Kinh tế và Hòa bình (IEP, Australia) công bố. Trong bảng xếp hạng "Chỉ số chính phủ tốt Chandler" (Chandler Good Government Index-CGGI) năm 2022, Việt Nam đã đạt được mức tăng trưởng mạnh mẽ về chỉ số "bình đẳng thu nhập", tăng 33 bậc so với năm 2021, lên vị trí thứ 42. Việt Nam cũng tăng 18 bậc lên vị trí thứ 39 về chỉ số "thu hút đầu tư"; chỉ số "sự hài lòng với các dịch vụ công" xếp thứ 15 và "bình đẳng giới" thứ 27. Thành quả đó cho thấy Đảng, Nhà nước Việt Nam đã tập trung vào tiến trình phát triển nền kinh tế đất nước, đồng thời bảo đảm một xã hội công bằng hơn.

Những đóng góp và thành tựu của Việt Nam trong bảo đảm quyền con người thời gian qua đã góp phần giúp cộng đồng quốc tế hiểu rõ hơn về nỗ lực của Đảng, Nhà nước ta trong bảo vệ và thúc đẩy quyền con người. Sự tin tưởng của cộng đồng quốc tế với Việt Nam còn được thể hiện qua việc ngày 9/4/2024, Hội đồng Kinh tế - xã hội Liên hợp quốc (ECOSOC) đã nhất trí bầu Việt Nam vào Hội đồng Chấp hành Cơ quan Liên hợp quốc về bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ (UN Women) nhiệm kỳ 2025-2027. Đây là cơ hội để Việt Nam sát cánh với các thành viên trong UN Women tham gia xây dựng các chiến lược nhằm xóa bỏ nạn phân biệt, kỳ thị phụ nữ và trẻ em gái, bảo đảm sự công bằng giữa phụ nữ và nam giới trong lĩnh vực phát triển. Bằng những hành động thiết thực, Việt Nam đang đi đúng hướng trên tiến trình thúc đẩy đoàn kết quốc tế và phát triển bao trùm, bền vững.

Với những thành tựu trên, Tổng Thư ký Liên hợp quốc Antonio Guterres đã từng đánh giá: “Việt Nam là một đối tác quan trọng của Liên hợp quốc, đã có nhiều đóng góp thực chất và hiệu quả vào các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc. Mối quan hệ tốt đẹp này cần được tăng cường hơn nữa trong thời gian tới để thúc đẩy hòa bình, sự phát triển bền vững và quyền con người trên thế giới”.

 

 

CHỨC NĂNG CƠ BẢN CỦA NHÀ NƯỚC CỘNG HÒA

XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

                                                                                                          Mặt Trời

          Chức năng của nhà nước thể hiện phương diện hoạt động cơ bản của nhà nước và bản chất, mục đích của nó, được quy định bởi thực tế khách quan của tình hình chính trị, kinh tế, xã hội trong nước và tình hình quốc tế từng giai đoạn phát triển. Căn cứ vào phạm trù tác động của các phương diện hoạt động cơ bản của nhà nước, có thể chia các chức năng của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thành chức năng đối nội và chức năng đối ngoại.

          Chức năng đối nội

          Chức năng bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Muốn tiến hành sự nghiệp đổi mới thuận lợi, Nhà nước ta phải bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên toàn bộ đất nước. Nhà nước phải có đủ sức mạnh và kịp thời đập tan mọi âm mưu chống đối của các thế lực thù địch, đảm bảo điều kiện ổn định cho Nhân dân sản xuất kinh doanh. Muốn vậy, Nhà nước phải quan tâm xây dựng các lực lượng an ninh, các cơ quan bảo vệ pháp luật, đồng thời phải “phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị, tính tích cực cách mạng của khối đại đoàn kết toàn dân, phối hợp lực lượng quốc phòng và an ninh trong cuộc đấu tranh bảo vệ an ninh, trật tự”.

          Chức năng bảo vệ quyền tự do, dân chủ của Nhân dân. Đây là một trong những chức năng quan trọng của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa; bởi vì, việc thực hiện chức năng này thể hiện trực tiếp bản chất của nhà nước kiểu mới, nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Đồng thời, việc thực hiện chức năng này sẽ đảm bảo sức mạnh của Nhà nước trong việc thực hiện tất cả các chức năng khác của Nhà nước, quan hệ đến sự tồn tại, phát triển của bản thân Nhà nước và chế độ. Đảng ta nhấn mạnh “Nhà nước có mối liên hệ thường xuyên và chặt chẽ với nhân dân, tôn trọng và lắng nghe ý kiến của nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân. Có cơ chế và biện pháp kiểm soát, ngăn ngừa và trừng trị tệ quan liêu, tham nhũng, lộng quyền, vô trách nhiệm, xâm phạm quyền dân chủ của nhân dân”.

          Chức năng bảo vệ trật tự pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Đây là chức năng quan trọng, liên quan trực tiếp đến việc thực hiện tất cả các chức năng khác của Nhà nước. Pháp luật là phương tiện quan trọng để Nhà nước tổ chức thực hiện có hiệu quả tất cả các chức năng của mình, do đó, bảo vệ trật tự pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa là hoạt động thường xuyên, có ý nghĩa quyết định đối với việc nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước. Mục đích của chức năng này là nhằm bảo đảm cho pháp luật được thi hành một cách nghiêm chỉnh và thống nhất, thực hiện quản lý trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội bằng pháp luật.

          Chức năng tổ chức và quản lý kinh tế. Tổ chức và quản lý nền kinh tế đất nước, xét đến cùng là chức năng hàng đầu và là cơ bản nhất của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa nhằm xây dựng mọi xã hội dựa trên cơ sở vật chất và kỹ thuật phát triển cao. Nhà nước ta là người đại diện cho ý chí, quyền lực của Nhân dân lao động, là người chủ sở hữu đối với các tư liệu sản xuất chủ yếu; là người nắm trong tay các công cụ, phương tiện quản lý (chính sách, kế hoạch, pháp luật, tài chính, ngân hàng…) và quản lý việc sử dụng tài sản quốc gia. Trên cơ sở đó, Nhà nước có đủ điều kiện để tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế trong nước cũng như hợp tác quốc tế.

          Chức năng tổ chức và quản lý văn hóa, khoa học, giáo dục. Xã hội mới mà Nhân dân ta đang xây dựng là xã hội do Nhân dân lao động làm chủ; có nền kinh tế phát triển trên cơ sở một nền khoa học và công nghệ tiên tiến; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người được giải phóng khỏi sự áp bức, bóc lột, bất công, có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân. Muốn xây dựng xã hội đó, Nhà nước ta phải tổ chức, quản lý sự nghiệp giáo dục đào tạo, văn hóa, phát triển khoa học và công nghệ. Đó là quốc sách hàng đầu để phát huy nhân tố con người, phát huy vai trò then chốt của khoa học và công nghệ. Đó là những động lực trực tiếp của sự phát triển, tạo điều kiện cần thiết cho việc thực hiện các chức năng khác của Nhà nước vừa nhằm tổ chức quản lý văn hóa, khoa học, giáo dục vừa nhằm thực hiện những nhiệm vụ kinh tế xã hội. Trước mắt, cần chuẩn bị cho đất nước bước vào những giai đoạn phát triển tiếp theo trong tương lai, hòa nhập với sự phát triển của nền văn minh thế giới.

          Chức năng đối ngoại

          Nhà nước ta thực hiện chức năng đối ngoại nhằm tranh thủ sự đồng tình ủng hộ và giúp đỡ của nhân dân thế giới, mở rộng hợp tác quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời làm tròn nghĩa vụ quốc tế đối với phong trào cách mạng thế giới. Đảng ta nhấn mạnh: “Mục tiêu của chính sách đối ngoại là tạo điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đi lên chủ nghĩa xã hội, góp phần vào sự nghiệp đấu tranh chung của nhân loại thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội”.

          Chức năng bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Tất cả chức năng đối nội của nhà nước chỉ có thể được triển khai thực hiện tốt khi Tổ quốc được bảo vệ vững chắc. Vì vậy, bảo vệ Tổ quốc là chức năng cực kỳ quan trọng nhằm giữ gìn thành quả cách mạng, bảo vệ công cuộc xây dựng hòa bình của nhân dân, tạo điều kiện ổn định triển khai các kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của đất nước.

          Chức năng củng cố, tăng cường tình hữu nghị và hợp tác với các nước xã hội chủ nghĩa, đồng thời mở rộng quan hệ với các nước khác theo nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi, cùng tồn tại hòa bình, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau. Tư tưởng chỉ đạo thực hiện chức năng này của Nhà nước ta là, trên cơ sở kiên trì đường lối độc lập tự chủ và đoàn kết quốc tế, “nhiệm vụ đối ngoại bao trùm trong thời gian tới là giữ vững hòa bình, mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác, tạo điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời góp phần tích cực vào công cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội”.

          Chức năng ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc, phong trào cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động ở các nước tư bản, chống chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân cũ và mới. Chống chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, chống chính sách gây chiến và chạy đua vũ trang, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Trong thời đại ngày nay, sự phát triển của mỗi nước phụ thuộc vào nhiều vào cộng đồng thế giới. Vì vậy, bất cứ nhà nước tiến bộ nào cũng đều có nghĩa vụ ủng hộ phong trào cách mạng và tiến bộ trên thế giới. Thắng lợi của cách mạng Việt Nam không tách rời sự ủng hộ và giúp đỡ to lớn của nhân dân thế giới. Ngày nay, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đang mở rộng hợp tác với tất cả các nước trên thế giới cùng phấn đấu vì một thế giới hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển./.

 

BẢN CHẤT CỦA NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

                                                                                                    Mặt Trời

          Điều 2, Hiến pháp Việt Nam năm 2013 khẳng định: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”. Bản chất tốt đẹp, ưu việt của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam được thể hiện:

          Thứ nhất, Nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhân dân ta đã tiến hành đấu tranh cách mạng, trải qua bao hy sinh gian khổ làm nên cách mạng Tháng Tám năm 1945, Nhân dân tự mình lập nên nhà nước. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày nay là sự tiếp nối sự nghiệp của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, là nhà nước do Nhân dân mà nòng cốt là liên minh công - nông - trí thức, tự mình định đoạt quyền lực nhà nước. Nhân dân với tính cách là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước, thực hiện quyền lực nhà nước với nhiều hình thức khác nhau. Hình thức cơ bản nhất là Nhân dân thông qua bầu cử lập ra các cơ quan đại diện quyền lực của mình. Điều 6 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước”.

          Thứ hai,  Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước của tất cả các dân tộc trên lãnh thổ Việt Nam, là biểu hiện tập trung của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Tính dân tộc của Nhà nước Việt Nam là vấn đề có truyền thống lâu dài, là nguồn gốc sức mạnh của nhà nước. Ngày nay, tính dân tộc ấy lại được tăng cường và nâng cao nhờ khả năng kết hợp giữa tính giai cấp, tính nhân dân, tính dân tộc và tính thời đại. Điều 5 Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quốc gia thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam. Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc. Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt. Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình. Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước”.

          Thứ ba, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được tổ chức và hoạt động trên cơ sở nguyên tắc bình đẳng trong mối quan hệ giữa nhà nước và công dân. Trước đây, trong các kiểu nhà nước cũ, quan hệ giữa nhà nước và công dân là mối quan hệ lệ thuộc, người dân bị lệ thuộc vào nhà nước, các quyền tự do dân chủ bị hạn chế. Ngày nay, khi quyền lực thuộc về Nhân dân thì quan hệ giữa nhà nước và công dân đã thay đổi, công dân có quyền tự do dân chủ trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, đồng thời làm tròn nghĩa vụ trước nhà nước. Pháp luật bảo đảm thực hiện trách nhiệm hai chiều giữa nhà nước và công dân; quyền của công dân là nghĩa vụ, trách nhiệm của nhà nước, nghĩa vụ của công dân là quyền của nhà nước.

          Thứ tư, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước dân chủ và pháp quyền. Dân chủ hóa đời sống nhà nước và xã hội không chỉ là nhu cầu bức thiết của thời đại mà còn là một đòi hỏi có tính nguyên tắc, nảy sinh từ bản chất dân chủ của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Thực chất của dân chủ xã hội chủ nghĩa là thu hút người lao động tham gia một cách bình đẳng và ngày càng rộng rãi vào quản lý công việc của nhà nước và của xã hội. Vì vậy, quá trình xây dựng nhà nước phải là quá trình dân chủ hóa tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, đồng thời phải cụ thể hóa tư tưởng dân chủ thành các quyền của công dân, quyền dân sự, chính trị cũng như quyền kinh tế, xã hội và văn hóa. Phát huy được quyền dân chủ của Nhân dân ngày càng rộng rãi là nguồn sức mạnh vô hạn của nhà nước. Dân chủ bao giờ cũng gắn với pháp luật. Đó là bản chất của nhà nước pháp quyền. Vì vậy, toàn bộ cơ quan nhà nước từ cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp đều phải được tổ chức và hoạt động theo pháp luật, bằng pháp luật. Nhà nước ban hành pháp luật, quản lý xã hội bằng pháp luật, nhưng nhà nước và cơ quan nhà nước phải đặt mình dưới pháp luật. Cơ quan nhà nước “chỉ được làm những điều pháp luật cho phép”; bảo đảm và phát triển quyền tự do dân chủ của Nhân dân, còn Nhân dân “được làm tất cả những gì pháp luật không cấm”./.

  

QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VỀ XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC

PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

                                                                                                    Mặt Trời

Xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một trong những chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta hiện nay; là xu thế tất yếu của xã hội hiện đại, tùy thuộc vào điều kiện của mỗi quốc gia, dân tộc sẽ có một mô hình nhà nước pháp quyền cụ thể. Ở Việt Nam, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa.

Tổng kết 35 năm đổi mới toàn diện đất nước, Đảng ta xác định: “Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, vì nhân dân phục vụ và vì sự phát triển của đất nước. Tăng cường công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình, kiểm soát quyền lực gắn với siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong hoạt động của Nhà nước và của cán bộ, công chức, viên chức. Tiếp tục đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãnh phí, quan liêu, tội phạm và tệ nạn xã hội”. Đây là một trong mười hai định hướng lớn nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 được khẳng định rõ trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng. Sự khẳng định đó cho thấy, Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm đến nhiệm vụ xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong tiến trình đổi mới toàn diện đất nước, hội nhập quốc tế sâu rộng, hiệu quả và phát triển kinh tế - xã hội bền vững. Đây được xem là một trong những “mắt xích” quan trọng để hiện thực hóa các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội đến kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (năm 2030) và tầm nhìn đến kỷ niệm 100 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (năm 2045).

Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay, nhận thức về nhà nước pháp quyền nói chung và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam nói riêng chưa thống nhất. Các cơ quan nghiên cứu pháp luật và các chuyên gia pháp lý đầu ngành còn có những quan điểm khác nhau và khá đa dạng về nhà nước pháp quyền, nhưng nhìn chung đều thống nhất ở điểm chung của nhà nước pháp quyền, đó là: nhà nước pháp quyền không phải là một kiểu nhà nước mà là một phương thức tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước.

Lý thuyết và thực tiễn cho thấy, trong nhà nước pháp quyền, nhân dân là chủ thể đích thực của quyền lực nhà nước, nhân dân trao quyền lực cho nhà nước bằng cơ chế dân chủ và giám sát việc thực thi quyền lực nhà nước theo nguyên tắc dân chủ. Vì thế, nhà nước pháp quyền là “biểu hiện tập trung của chế độ dân chủ”, là trung tâm của hệ thống chính trị dân chủ. Các thành viên trong xã hội có quyền tham gia vào các công việc của nhà nước, cho nên, nhà nước pháp quyền phải gắn liền với một chế độ hợp hiến, một hệ thống pháp luật dân chủ, tiến bộ, vì con người, nhằm bảo đảm toàn bộ tổ chức và hoạt động của nhà nước vận hành trong khuôn khổ của Hiến pháp, pháp luật và theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Trong xã hội hiện đại, muốn thực hành dân chủ, phát huy vai trò chủ thể nhân dân và xây dựng hệ thống chính trị dân chủ thì phải xây dựng nhà nước pháp quyền. Đó là phương thức chung mà thông qua đó công dân đạt tới xã hội dân chủ và khẳng định quyền làm chủ của mình một cách thực chất. Vì thế, nhà nước pháp quyền được nhìn nhận như “một phương thức thực hiện quyền lực, một cách thức tổ chức nền dân chủ, cách thức tổ chức nhà nước và xã hội trên nền tảng dân chủ. Điều đó có nghĩa là nhà nước pháp quyền gắn liền với một nền dân chủ, tuy không phải là một kiểu nhà nước được xác định theo lý luận về hình thái kinh tế - xã hội, nhưng không thể xuất hiện trong một xã hội không có dân chủ” .

Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam với các đặc trưng cơ bản: Là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Quyền lực Nhà nước là thống nhất; có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Nhà nước ban hành pháp luật; tổ chức, quản lý xã hội bằng pháp luật và không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa”. Điều này đã và đang được thể chế hóa trong Hiến pháp và pháp luật Việt Nam. Với những nhận thức chung đó về nhà nước pháp quyền đương đại, rõ ràng nhà nước pháp quyền hiện thực là thành tựu của văn minh nhân loại, là biểu hiện về trình độ phát triển cao của dân chủ, pháp luật và quản trị nhà nước, là phương thức tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước tối ưu, hiệu quả, mà ở đó có sự ngự trị cao nhất của Hiến pháp, pháp luật, với nội dung thực hiện quyền lực nhân dân và vì sự văn minh, tiến bộ, phát triển con người và nhân loại.

Như thế, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đang xây dựng phục vụ cho yêu cầu bảo đảm tính tối cao của Hiến pháp, pháp luật, hạn chế sự tùy tiện của nhà nước, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, phát huy chủ quyền nhân dân và kiến tạo phát triển xã hội. Theo đó, trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải luôn bảo đảm các đặc trưng: trước hết, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, thực sự là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; thứ hai, quyền lực nhà nước phải thuộc về nhân dân, luôn thống nhất, được tổ chức khoa học, có sự phân công rành mạch, phối hợp chặt chẽ và kiểm soát hiệu quả giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp; thứ ba, Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật; bảo đảm, bảo vệ tốt quyền con người, quyền công dân; thứ tư, cơ quan lập pháp hoạt động chuyên nghiệp và hiệu quả; hoạt động của cơ quan hành pháp phải công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình, hành động, kiến tạo phát triển, phục vụ tốt; cơ quan tư pháp liêm chính, độc lập trong xét xử; bảo đảm quyền tiếp cận công lý; thứ năm, hệ thống pháp luật dân chủ, văn minh, tiến bộ, đồng bộ, thống nhất, kịp thời, khả thi, công khai, minh bạch, ổn định, dễ tiếp cận, được thực hiện nghiêm minh và nhất quán; thứ sáu, văn hóa pháp lý, văn hóa pháp quyền luôn được coi trọng và phát huy sâu rộng; thứ bảy, Nhà nước thực hiện tốt các cam kết trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã gia nhập trên cơ sở bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc, tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc, pháp luật quốc tế./.