Chủ Nhật, 10 tháng 11, 2024

 S VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ DÂN TỘC CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC TA HIỆN NAY.

          Khái quát: Khi giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc sẽ tác động lớn đến chiến lược phát triển của mỗi quốc gia dân tộc. Chủ nghĩa Mác - Lênin đã đề ra những quan điểm cơ bản về vấn đề dân tộc, là kim chí narn soi đuơng cho các Đảng cộng sản và công nhân quốc tế giải quyết vân đê dân tộc, coi đây là một nhiệm vụ chiến lược của cách mạng xã hội chủ nghĩa, là sứ mệnh lịch sủ của giai cấp công nhân. Trong tiến trình lịch sử Việt Nam luôn là một quốc gia đa dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trung thành và vận dụng sáng tạo quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề dân tộc vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, cùng với Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo cách mạng Việt Nam đấu tranh giải phóng dân tộc thắng lợi, thực hiện độc lập dân tộc và CNXH, đảm bảo các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triên.

1. Đặc điểm các dân tộc ở nước ta

Nước ta có 54 dân tộc anh em. Trong đó, Dân tộc Kinh chiếm 87% dân số; 53 dân tộc còn lại chiếm 13% dân số, phân bố rải rác trên phạm vi cả nước; có 10 dân tộc có số dân từ dưới 1 triệu đến 100 ngàn người, 20 dân tộc có số dân dưới 100 ngàn người; 16 dân tộc có số dân từ dưới 10 ngàn người đến 1 ngàn người; 6 dân tộc có số dân dưới 1 ngàn người. Đặc trưng cơ bản nhất của các dân tộc ở nước ta là cố kết dân tộc, hòa hợp dân tộc trong một cộng đồng thống nhât đã trở thành truyền thống, thành sức mạnh, đã được thử thách trong cuộc đấu tranh chống xâm lược đế bảo vệ Tổ quốc và xây dựng đât nước qua mấy ngàn năm lịch sử cho đến ngày hôm nay. Hình thái cư trú xen kẽ giữa các dân tộc ngày càng tăng, tuy nhiên trong từng khu vực nhất định có những dân tộc sống tương đối tập trung, nhưng không thành địa bàn tách biệt. Chính vì vậy, các dân tộc ở nước ta không có lãnh thổ riêng, không có nền kinh tế riêng và sự thống nhât hữu cơ giữa các dân tộc và quốc gia trên mọi mặt của đời sống xã hội ngày càng được củng cố.

Tình hình chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội... giữa các dân tộc, giữa các vùng dân cư là một đặc trưng cần được quan tâm nhằm khắc phục dần sự chênh lệch để thực hiện bình đắng, đoàn kêt dân tộc ở nước ta, nhiều dân tộc có trình độ rất thấp, chủ yếu dựa vào khai thác từ tự nhiên. Đời sông vật chất, tinh thần của bà con dân tộc thiêu só còn thiếu thốn, tình trạng nghèo đói còn kéo dài, thuốc chữa bệnh khan hiếm, nạn mù chữ và tái mù chữ còn xuất hiện nhiều nơi. Hệ thống đường giao thông và phương tiện đi lại còn khó khăn; điện, nước phục vụ cho đời sống còn rất khan hiếm, thông tin, bưu điện chưa đáp ứng được nhu cầu của người dân nhiêu nơi nhất là ở những vùng xa xôi, hẻo lánh...

Cùng với nền văn hóa cộng đồng, mỗi dân tộc trong đại gia đình các dân tộc ở Việt Nam đều có đời sống văn hóa mang bản sắc riêng, rất phong phú. Những đặc trưng của sắc thái văn hóa dân tộc bao gồm ngôn ngữ, tiếng nói, văn hóa, nghệ thuật, tình cảm dân tộc, y phục, phong tục tập quán, quan hệ gia đình dòng họ... các dân tộc có chữ viêt riêng như: Thái, Chăm, Mông, Giarai,... Bên cạnh đó một số dân tộc thiếu số gắn với một vài tôn giáo truyền thống như: đạo Phật, Bàlamôn, đạo Tin Lành, đạo Thiên Chúa... Chính sự phát triển đa dạng mang bản sắc văn hóa của từng dân tộc càng làm phong phú thêm nền văn hóa của cộng đông dân tộc Việt Nam. Các dân tộc thiêu số tuy chỉ chiếm 13% dân số cả nước nhưng lại cư trú trên các địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng về chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh và giao lưu quốc tế, đó là các vùng biên giới, vùng núi cao, hải đảo... nhiều vùng đồng bào dân tộc thiếu số trước đây là căn cứ cách mạng và kháng chiến. Bên cạnh đó một số dân tộc có quan hệ dòng tộc với các dân tộc ở các nước láng giềng và khu vực.

2. Quan điểm của Đảng về vấn đề dân tộc

Qua các thời kỳ cách mạng khác nhau những quan điểm của Đảng ta về vấn đề dân tộc, công tác dân tộc, chính sách dân tộc luôn nhất quán quan điểm:

Một là: Vẩn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc là vấn đề chiên lược, cơ bán, lâu dài, đồng thời cũng là vấn đề cấp bách hiện nay của cách mạng Việt Nam

Hai là: Các dân tộc trong đại gia đinh Việt Nam bình đăng, đoàn kết, tương trợ giúp nhau cùng phát triển, cùng nhau phân đấu thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Kiên quyết đấu tranh với mọi âm mưu chia rẽ dân tộc.

Ba là: Phát triển toàn diện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng trên địa bàn vùng dân tộc thiểu số và miền núi. Gắn tăng trưởng kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội; thực hiện tốt chính sách dân tộc; quan tâm phát triển, bồi dưỡng nguồn nhân lực; chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc; giữ gìn và phát huy những giá trị, bản sắc văn hóa truỵền thống các dân tộc thiểu số trong sự nghiệp phát triển chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam

Bổn là: Ưu tiên đầu tư phát triến kinh tế - xã hội các vùng dân tộc thiểu số và miền núi. Trước hết, tập trung phát triển giao thông và cơ sở hạ tầng, xóa đói giảm nghèo; khai thác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của từng vùng, găn với bảo vệ môi trường sinh thái; phát huy nội lực, tinh thần tự lực, tự cường của đồng bào các dân tộc, đồng thời tăng cường sự quan tâm hỗ trợ của Trung ương và sự giúp đỡ của các địa phương trong cả nước

Năm là: Công tác dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của các cấp, các ngành và của toàn bộ hệ thống chính trị.

3. Chính sách của Nhà nước ta trong việc giải quyết vấn đề dân tộc.

Dựa theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về vấn đề dân tộc đề cao vấn đề dân tộc, thực tiễn đấu tranh cách mạng về xây dựng và bảo vệ Tổ quốc cũng như dựa vào tình hình thế giới trong giai đoạn hiện nay, Đảng, Nhà nước ta đã có những chính sách phát triển các dân tộc Việt Nam. Các chính sách được thể chế vào Hiến pháp, pháp luật cơ bản của nhà nuớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

* Chính sách đối nội:

Thực hiện quyền bình đẳng giữa các dân tộc trên mọi lĩnh vực đó là:

-    Bình đẳng về chính trị là bình đẳng về quyền làm chủ đất nước. Bình đắng về quyền và nghĩa vụ, trước hết là quyền tham chính dân tộc.

-  Bình đẳng về kinh tể, là sự bình đẳng về kinh tế đồng đều giữa các dân tộc và các vùng, có thể lấy mục tiêu về bình quân thu nhập tính theo đầu người làm chuẩn và đó là mục tiêu, là thước đo đế phấn đấu cho sự bỉnh đẳng về kinh tế.

-  Bình đẳng về văn hóa, là các dân tộc có sự phát triển hài hòa trong một nền văn hóa đa dân tộc, vì thế không những không mất đi bản sắc dân tộc mà ngược lại bản sắc văn hóa của các dân tộc còn được giữ vững và ngày càng phát triển; các dân tộc có quyền sử dụng tiếng nói và chữ viết của mình, các dân tộc được hưởng thụ văn hóa, dân trí của cả dân tộc đều được nâng cao. Đoàn kết các dân tộc đều là những thành viên hợp thành của cộng đồng các dân tộc Việt Nam; không phân biệt dân tộc đa số hay dân tộc thiểu số. Sức mạnh của dân tộc Việt Nam là đoàn kết.

Giúp đỡ lẫn nhau cùng phát triển: Một đất nước có nhiều dân tộc như Việt Nam, để tồn tại và phát triển cần có sự giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc. Dân tộc nào cũng có nhu cầu cần được giúp đỡ và ngược lại dân tộc nào cũng có trách nhiệm phải giúp đỡ các dân tộc khác.

* Chính sách đối ngoại:

- Nhà nước ta thực hiện chính sách mở cửa: Xuất phát từ quan điểm đường lối chính sách đân tộc, chứng tỏ nhân dân các dân tộc ta bất cứ trong hoàn cảnh nào cũng tin tưởng, trung thành vào đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước. Chính vì vậy nước ta có sự quan hệ về công tác dân tộc trong khu vực và thế giới như Liên họp quốc. Qua diễn đàn chống phân biệt đối xử, bảo vệ lợi ích của các dân tộc thiểu số, tổ chức và diễn đàn này, nhiều tổ chức khoa học trên thế giới và các diễn đàn đó chúng ta nói lên được chính sách dân tộc rất ưu việt của Đảng và nhà nước ta.

Tổ chức các chương trình liên hoan, giao lưu giữa các dân tộc trong nước và các nước láng giềng như Lào, Trung Quốc, ...

4. Phương hướng giải quyết các vấn đề đân tộc ở nước ta

Hội nhập với thế giới bên ngoài thì việc thực hiện chính sách dân tộc có nhiều phức tạp, nguy cơ về diễn biến hòa bình, các thế lực phản động bên ngoài luôn tìm kẽ hở để kích động dân tộc hòng gây mất ổn định. Trước tình hình mới đặt ra cần thực hiện nhất quán các vấn đề dân tộc như sau:

Thứ nhất: Thực hiện tích cực các chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói, giảm nghèo giữa các quốc gia dân tộc, tất cả các vùng dân tộc.

Thứ hai: Có chính sách đầu tư vốn vào nguồn ngân sách nhà nước một cách tích cực hơn nữa vào việc xây dựng cơ sở hạ tầng, đầu tư cho chăn nuôi, bảo vệ rừng,... đặc biệt là vùng đồng bào dân tộc thiếu số.

Thứ ba: Dưới sự lãnh đạo tập trung, thống nhất và toàn diện của Ban Chấp hành Trung ương Đảng mà trực tiếp là Bộ Chính trị, các cơ quan nhà nước cần phối hợp chặt chẽ với các ban của Đảng ở Trung ương và địa phương để làm tốt công tác dân tộc là vấn đề có ý nghĩa chiến lước và lâu dài của nước ta.

Thứ tư: Vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược, cơ bản, lâu dài của sự nghiệp cách mạng Việt Nam; các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng giúp nhau cùng tiến bộ; chống tư tưởng dân tộc lớn, dân tộc cực đoan và kỳ thị, chia rẽ dân tộc; khắc phục tư tưởng tự ti, mặc cảm dân tộc. Đoàn kết cùng nhau thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Thực hiện tốt chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần, xoá đói giảm nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Tiến hành quy hoạch, sắp xếp lại dân cư, làm tốt công tác định canh định cư và xây dựng vùng kinh tế mới, gắn phát triển kinh tế với bảo đảm an ninh - quốc phòng. Từng bước nâng cao trình độ dân trí, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá, tiếng nói, chữ viết và truyền thống tốt đẹp của các dân tộc. Thực hiện đồng bộ chính sách ưu tiên về đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ, trí thức và phát huy vai trò của những người tiêu biếu, có uy tín trong cộng đồng; củng cố và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Thường xuyên làm tốt công tác dân vận theo phương châm “Chân thành, tích cực, thận trọng, kiên trì, tế nhị, vững chắc” và phong cách “trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân, có trách nhiệm với dân”.

Tóm lại, vân dụng đúng đắn, sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tương Hồ Chí Minh vào giải quyết các vấn đề dân tộc. Đảng ta đã đề ra đường lối đối nội và đối ngoại, hệ thống các quan điểm đường lối chính sách vấn đề dân tộc của Đảng là mục tiêu, căn cứ, cơ sở chính tri để Nhà nước thể chế thành Hiến pháp, pháp luật và các chính sách dân tộc huy động các tố chức chính trị - xã hội cùng phối hợp thực hiện, tạo ra sức manh tổng thể của cả hệ thống chính trị cùng nhau xây dựng các mối quan hệ dân tộc tốt đẹp; củng cố, tăng cường khối đại đoàn kêt toàn dân tộc, ổn đinh chính trị và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, góp phần xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa mang đặc trưng của Việt Nam.

THN

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét