Thứ Tư, 31 tháng 7, 2019


VẠCH TRẦN LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC PHẨM CHẤT TRUNG THÀNH CỦA QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM

Trong thời gian gần đây, các thế lực thù địch tập trung công kích trực tiếp vào sự trung thành của quân đội đối với Đảng. Chúng cho rằng quan điểm quân đội “chỉ là của quốc gia, dân tộc, không cần đặt dưới sự lãnh đạo của đảng phái nào, lực lượng chính trị nào”; rằng, quân đội trung thành với Đảng là sự trung thành “mù quáng”, là “lạc hậu lỗi thời”; rằng, quân đội chỉ cần trung thành với lợi ích của quốc gia dân tộc, phải đề cao khẩu hiệu “Tổ quốc trên hết” trong mục tiêu lý tưởng chiến đấu của mình; rằng, quân đội “chỉ cần trung thành với nhân dân, bảo vệ nhân dân”. Chúng đặt ra yêu cầu cần phải “bỏ hẳn cách hiểu quân đội chỉ cần trung thành với Đảng Cộng sản và thể chế chính trị xã hội chủ nghĩa”!
Thoảng qua, những quan điểm trên tưởng như là vô hại, nhưng rõ ràng đây thực sự là một âm mưu, thủ đoạn thâm độc, nguy hiểm. Những luận điệu xuyên tạc trên dễ làm cho một số người nhẹ dạ cả tin có thể lầm tưởng rằng, các quan điểm của chúng là phù hợp, là hợp lý, cần phải xem xét, nghiên cứu, để học tập và thực hiện!
Thực chất những luận điệu xuyên tạc phẩm chất trung thành của quân đội ta của các thế lực thù địch là thủ đoạn lừa bịp, phản động về chính trị, phản khoa học cả về lý luận và thực tiễn. Chúng không những xuyên tạc phẩm chất trung thành của quân đội ta, mà còn nhằm tách rời, đối lập một cách vô lối các nội dung trong phẩm chất trung thành của quân đội ta phản ánh các mối quan hệ của quân đội với Đảng, dân tộc và nhân dân. Chúng ta thấy rõ tính chất phi lý, phản khoa học của luận điệu xuyên tạc phẩm chất trung thành của quân đội ta của các thế lực thù địch. Làm sao mà có thể cho rằng, “quân đội chỉ là của dân tộc”, chỉ cần “trung thành và bảo vệ nhân dân và đất nước” một cách chung chung, không cần sự lãnh đạo của một đảng chính trị nào, không cần trung thành với Đảng. Quân đội là của dân tộc, của nhân dân, nhưng quân đội “của dân tộc”, “của nhân dân” ấy là do ai lập nên, do ai tổ chức, rõ ràng là phải có một lực lượng chính trị nhất định.
Thử hỏi, nếu nói rằng quân đội chỉ cần “trung thành và bảo vệ nhân dân”, “bảo vệ đất nước và lợi ích quốc gia dân tộc”, không cần đặt dưới sự lãnh đạo của lực lượng chính trị nào, đảng phái nào, thì quân đội ấy mang bản chất nào, mang bản chất của ai? hay là “không có bản chất”, “không có chính trị”! Đây là một kiểu nhằm để đánh lừa người khác, chứ bản thân những kẻ đưa ra các quan điểm trên cũng thừa hiểu quân đội phải mang bản chất chính trị và phải phục vụ cho ai, trung thành ai.
Đúng là nhiệm vụ của quân đội là bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ nhân dân, nhưng chỉ có quân đội của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam như Quân đội nhân dân Việt Nam mới có thể thực sự làm tròn phận sự trung thành với Tổ quốc, với nhân dân theo đúng nghĩa của nó; và gắn bó chặt chẽ sự trung thành với Đảng, Nhà nước, chế độ, Tổ quốc và nhân dân trong chỉnh thể thống nhất, không tách rời.
Tóm lại, Quân đội nhân dân Việt Nam là của dân tộc, của nhân dân Việt Nam, cũng đồng thời là của giai cấp công nhân Việt Nam, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Việc từ bỏ sự trung thành với Đảng; tách vấn đề trung thành với Đảng và trung thành với nhân dân, với dân tộc là không đúng với bản chất chính trị – xã hội của Quân đội nhân dân Việt Nam. Đây là sự cố tình xuyên tạc, bóp méo thực tiễn lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội nhân dân Việt Nam, cũng như thực tiễn mối quan hệ giữa quân đội với Đảng, với dân tộc và nhân dân, nhằm thủ tiêu vai trò lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, chống phá cách mạng Việt Nam. Chúng ta phải kiên quyết đấu tranh, vạch trần và bác bỏ những luận điệu xuyên tạc, phản động này của các thế lực thù địch./..

                                                   Công Bằng



KHẰNG ĐỊNH VỊ THẾ, VAI TRÒ VÀ NHỮNGĐÓNG GÓP CỦA VIỆT NAM

Ngày 7-6-2019, tại trụ sở Liên hợp quốc ở New York, Hoa Kỳ, Đại hội đồng Liên hợp quốc (LHQ) đã bầu Việt Nam vào vị trí Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an (HĐBA) LHQ nhiệm kỳ 2020-2021, với số phiếu ủng hộ cao kỷ lục 192/193 phiếu.

            Việc Việt Nam trúng cử Ủy viên không thường trực HĐBA LHQ lần thứ hai này đưa đối ngoại đa phương Việt Nam lên tầm cao mới, khẳng định đường lối đối ngoại đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta, đồng thời là một dấu mốc có ý nghĩa quan trọng trong quá trình Việt Nam triển khai Nghị quyết Đại hội XII của Đảng về công tác đối ngoại đa phương là “Chủ động tham gia và phát huy vai trò tại các cơ chế đa phương, đặc biệt là ASEAN và LHQ” và Chỉ thị số 25-CT/TƯ ngày 8-8-2018 của Ban Bí thư về đẩy mạnh, nâng tầm đối ngoại đa phương đến năm 2030

Đối với tổ chức lớn nhất hành tinh như LHQ, có thể nói rằng, chúng ta đã làm nên những kỳ tích sau không dưới một lần đơn xin gia nhập LHQ của Việt Nam bị từ chối. 31 năm sau khi lá đơn xin gia nhập LHQ của Chủ tịch Hồ Chí Minh bị từ chối năm 1946, khát vọng đó mới dần trở thành hiện thực. Đúng 9 giờ sáng ngày 20-9-1977, tại tòa sảnh chính của trụ sở LHQ, lễ thượng cờ Việt Nam được diễn ra theo nghi lễ gia nhập thành viên của LHQ, Việt Nam chính thức vượt qua được các rào cản để trở thành thành viên thứ 149 của LHQ.

42 năm qua kể từ thời khắc lịch sử ấy, Việt Nam luôn nỗ lực là một thành viên tin cậy, có trách nhiệm của LHQ. Công cuộc đổi mới và chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ “sẵn sàng là bạn và đối tác tin cậy” giúp Việt Nam nhanh chóng hòa nhập với cộng đồng quốc tế. Từ chỗ bị bao vây cấm vận, chống đối quyết liệt trên diễn đàn quốc tế, Việt Nam đã có một vị thế mà nhiều nước mơ ước: Quan hệ tốt với cả 5 nước ủy viên thường trực HĐBA, nòng cốt trong các tổ chức khu vực ASEAN, APEC, ASEM, Francophonie, gắn bó với châu Phi, Mỹ Latin. Việt Nam cũng trở thành thành viên chính thức của Công ước Cấm vũ khí hóa học năm 1998; một trong những nước đầu tiên ký Hiệp ước Cấm thử hạt nhân toàn diện năm 1996; thành viên của Hội nghị Giải trừ quân bị năm 1996. Việt Nam cũng đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ Ủy viên không thường trực HĐBA LHQ nhiệm kỳ 2008-2009. Đây là lần đầu tiên Việt Nam tham gia vào cơ quan quan trọng nhất của LHQ về hòa bình, an ninh quốc tế… Môi trường quan hệ quốc tế lý tưởng đó là điều kiện thuận lợi để Việt Nam xây dựng và bảo vệ đất nước, đồng thời cùng với các nước đóng góp cho sự nghiệp hòa bình và phát triển trên thế giới.

Trước tình hình thế giới ngày càng xuất hiện nhiều nguy cơ mới với những biến động, phức tạp khó lường, tại Đại hội XII, Đảng ta đã nhấn mạnh yêu cầu phát triển công tác đối ngoại đa phương, đồng thời đặt ra yêu cầu mới: Công tác đối ngoại đa phương không chỉ phải chuyển mạnh từ “tham dự” sang “chủ động tham gia,” nhất là vào quá trình xây dựng và định hình các quy tắc và luật lệ mới, mà còn phải phát huy vai trò của Việt Nam tại các cơ chế đa phương. Định hướng này cũng chỉ rõ các cơ chế đa phương được ưu tiên trong 5 năm tới là ASEAN và LHQ.

Nắm rõ tinh thần của Nghị quyết Đại hội XII, trong những năm qua, công tác đối ngoại đã đóng góp trực tiếp vào việc đưa các mối quan hệ của Việt Nam với các đối tác đi vào chiều sâu, đồng thời chủ động và tích cực tham gia tạo dựng luật chơi trong các tổ chức đa phương. Cụ thể, Việt Nam đã từng bước chuyển từ việc tham dự các hội nghị đến việc tham gia một cách tích cực, chủ động vào các cơ chế của LHQ. Việt Nam cũng chuyển từ nước nhận trợ giúp sang là đối tác hợp tác với LHQ và tham gia đóng góp xây dựng LHQ. Nổi bật là việc Việt Nam tham gia lực lượng Gìn giữ hòa bình (GGHB) LHQ ở Nam Sudan năm 2014. Cho đến nay, Việt Nam đã cử 30 lượt cán bộ tham gia hoạt động GGHB LHQ tại hai phái bộ Nam Sudan và Cộng hòa Trung Phi. Các sĩ quan Việt Nam đã và đang hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ LHQ giao. Trong hơn 20 lượt sĩ quan đã kết thúc nhiệm kỳ công tác, có 4 sĩ quan hoàn thành ở mức đặc biệt xuất sắc, được lãnh đạo phái bộ và LHQ đánh giá cao về tính chuyên nghiệp, tính kỷ luật, tinh thần đoàn kết quốc tế, đặc biệt là tính thích ứng nhanh. Với kết quả đó, LHQ đã mời Việt Nam cử nhân sự đảm nhiệm các vị trí cao hơn, như: Phó tư lệnh lực lượng quân sự Phái bộ Nam Sudan, Tư lệnh Phân khu Phái bộ Nam Sudan. “Việt Nam tham gia hoạt động này thể hiện trách nhiệm của mình là một quốc gia thành viên của LHQ, thể hiện thiện chí của một dân tộc mong muốn hòa bình, đóng góp vào hòa bình thế giới, đáp ứng mong mỏi của các quốc gia trên thế giới”, Điều phối viên thường trú LHQ tại Việt Nam Kamal Malhotra đã khẳng định như vậy tại Hội nghị sơ kết 5 năm (2014-2019) Việt Nam tham gia hoạt động GGHB LHQ mới đây.

Đối với ASEAN, trong gần 24 năm tham gia tổ chức khu vực này (từ ngày 28-7-1995), với phương châm “Chủ động, tích cực và có trách nhiệm”, Việt Nam đã khẳng định được uy tín và vai trò của mình trong ASEAN thông qua việc tham gia hợp tác ASEAN sâu rộng và toàn diện, hai lần đảm nhiệm thành công cương vị Chủ tịch ASEAN. Việt Nam đã có nhiều sáng kiến đóng góp tích cực cho tiến trình xây dựng Cộng đồng ASEAN, xây dựng những văn kiện quan trọng xác định phương hướng phát triển và các quyết sách lớn của ASEAN trên cơ sở tôn trọng và giữ vững các nguyên tắc cơ bản của hiệp hội.

Thành công trong công tác đối ngoại của Việt Nam trong thời gian gần đây còn thể hiện qua việc Việt Nam tổ chức thành công nhiều sự kiện quốc tế lớn, như: Tuần lễ Cấp cao APEC tại Đà Nẵng năm 2017, Diễn đàn Kinh tế thế giới về ASEAN; Diễn đàn Nghị viện châu Á-Thái Bình Dương lần thứ 26, hay Thượng đỉnh Hợp tác tiểu vùng Mekong mở rộng lần thứ 6. Vai trò trung gian của Việt Nam còn được thể hiện khi đứng ra tổ chức Hội nghị thượng đỉnh Hoa Kỳ-Triều Tiên lần hai vào tháng 2 vừa qua tại Hà Nội.

Cùng với việc đảm nhiệm vai trò Chủ tịch ASEAN vào năm 2020, việc Việt Nam trúng cử Ủy viên không thường trực HĐBA LHQ nhiệm kỳ 2020-2021 cho thấy sự chủ động và tích cực đóng góp có trách nhiệm của Việt Nam đối với hòa bình, an ninh khu vực và quốc tế, uy tín và vị thế mới của Việt Nam ngày càng cao. Một bước chuyển mạnh từ “tham gia tích cực” thành “chủ động đóng góp xây dựng, định hình các thể chế đa phương” đã và đang được cộng đồng thế giới ghi nhận và đánh giá cao.

                                                   Công Bằng



ĐẤU TRANH, NGĂN CHẶN CÁC TÀ ĐẠO Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, đa tôn giáo. Những năm qua, Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm, tạo điều kiện, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo của người dân, trong đó có cả người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam.
Tuy nhiên, các thế lực thù địch đã tìm cách hình thành, phát triển các tà đạo nhằm xâm phạm an ninh chính trị (ANCT), trật tự an toàn xã hội (TTATXH), chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc; qua đó nhằm hình thành các lực lượng đối lập với Đảng, Nhà nước Việt Nam.
Nhận diện tà đạo
Theo Từ điển tiếng Việt: “Tà đạo là đạo giáo chuyên dùng bùa phép mê hoặc người; đường lối sai quấy không chính đáng”. Còn theo Đại từ điển tiếng Việt: "Tà đạo: Tôn giáo khác với tôn giáo được coi là chính thống". PGS, TS Đặng Văn Đoài, Hiệu trưởng Trường Đại học An ninh nhân dân định nghĩa: "Tà đạo là một loại đạo lạ (so với tín ngưỡng, tôn giáo truyền thống) nhưng khuynh hướng hoạt động mê tín dị đoan, phản văn hóa, vi phạm pháp luật".
Ở Việt Nam, những năm qua, tà đạo thường xuất hiện và phát triển mạnh ở vùng nông thôn, vùng sâu xa, nhất là địa bàn Tây Nam Bộ, Tây Nguyên, Tây Bắc. Các tổ chức này đã thu hút được một số lượng người tin theo, trong đó có tà đạo đã lôi kéo hàng nghìn người tham gia, sinh hoạt tại nhiều địa phương, như: Tin lành Đề Ga, Hà Mòn, Pháp Luân Công và đặc biệt gần đây là tà đạo Hội Thánh đức Chúa Trời, dù mới chỉ xuất hiện tại Việt Nam chưa lâu, song, đã phát triển mạnh và hoạt động bất hợp pháp ở hơn 20 tỉnh, thành phố với hàng nghìn người tham gia, nhất là ở Hải Phòng, Quảng Ninh, Ninh Bình, Thái Bình, Thanh Hóa… Việc tuyên truyền, phát triển tà đạo đã ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống xã hội, gây tâm lý bức xúc, hoang mang trong một bộ phận quần chúng và tín đồ các tôn giáo, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, làm phức tạp tình hình ANCT-TTATXH tại địa phương.
Qua nghiên cứu, căn cứ theo địa bàn xuất hiện, nguồn gốc xuất xứ và nội dung, phương thức hoạt động, có thể phân chia tà đạo thành hai nhóm chính: Nhóm thứ nhất có nguồn gốc hình thành liên quan đến các tôn giáo đã được Nhà nước công nhận, điển hình như các tà đạo: Tin lành Đề Ga, Hà Mòn, Giáo hội Tin lành đấng Christ Việt Nam... có nguồn gốc và bản chất liên quan đến Tin lành; các tà đạo: Đạo Tràng Hương Quảng, Pháp môn Di Lặc, Bửu Tòa Tam giáo... có nguồn gốc và bản chất gắn với Phật giáo, Đạo giáo. Nhóm thứ hai có nguồn gốc từ nước ngoài truyền vào Việt Nam, như: Thanh Hải Vô Thượng sư, Pháp Luân Công, Canh tân đặc sủng... Nhóm này mang tính lai tạp giữa một số tôn giáo khác nhau, như: Phật giáo, Đạo giáo và tín ngưỡng dân gian. Dù thuộc nhóm nào thì đặc điểm chung của các tà đạo này luôn tự coi mình là một tổ chức tôn giáo; giáo lý của họ chỉ là sự vay mượn hay chính xác hơn là xuyên tạc, bóp méo giáo lý của các tôn giáo khác theo hướng mê tín dị đoan để phục vụ cho ý đồ của những kẻ cầm đầu; giáo lý, lễ nghi của các tà đạo thường đơn giản, không có hệ thống và hoàn chỉnh như tôn giáo truyền thống, hàm chứa yếu tố mê tín, có màu sắc chính trị.
Từ trục lợi đến chống phá
Người tin theo các tà đạo thuộc nhiều thành phần như: Trí thức, cán bộ, viên chức và công nhân, nông dân, nhưng chủ yếu là người nghèo, có trình độ dân trí thấp; họ bị số đối tượng cầm đầu lợi dụng, lừa mị, lôi kéo tham gia. Các đối tượng sáng lập, cầm đầu và cốt cán thường là những chức sắc, chức việc và tín đồ có uy tín trong tôn giáo, dân tộc, thậm chí cả số đối tượng bất mãn, cơ hội chính trị. Mục đích chính của việc hình thành và phát triển tà đạo là nhằm mục đích trục lợi cá nhân thông qua sự giúp đỡ, đóng góp tiền của, công sức của những người tin theo tà đạo. Số đối tượng cầm đầu thường triệt để lợi dụng những vấn đề bức xúc, khó khăn mà người dân không tự giải quyết được để tác động, lôi kéo họ dựa vào niềm tin tâm linh nhằm giải thoát những vướng mắc về tâm lý và tư tưởng đang nảy sinh. Hoạt động của các tà đạo chủ yếu nhằm thực hành các hoạt động mê tín dị đoan, thực hành tín ngưỡng phản khoa học, phi đạo đức và văn hóa nhằm thu lợi bất chính, như yêu cầu người tin theo phải đóng góp tiền của, công sức xây dựng mới hay tu sửa nơi thờ tự, phục vụ hoạt động duy trì và phát triển tổ chức của các đối tượng cầm đầu, cốt cán. Riêng đối với một số tà đạo như: Tin lành Đề Ga, Hà Mòn… các đối tượng cầm đầu, cốt cán thu hút, lôi kéo người tham gia tổ chức nhằm chống phá chính quyền, cản trở việc thực hiện các chính sách phát triển kinh tế-xã hội, xâm phạm ANCT-TTATXH tại địa phương.
Để nắm giữ niềm tin của những người tham gia, đồng thời ép buộc hoặc tiếp tục thu hút những người khác trong gia đình họ phải đi theo tà đạo, số cầm đầu, cốt cán của các tà đạo thường yêu cầu và buộc số người tin theo không được tiếp xúc và quan hệ với người khác niềm tin; không tham gia các sinh hoạt văn hóa chung của cộng đồng; không thực hiện phong tục tập quán và tín ngưỡng truyền thống của dân tộc, đồng thời phủ nhận các tôn giáo chính thống, kể cả tôn giáo đó là nguồn gốc của mình để tin và trung thành với tổ chức tà đạo; không chấp hành pháp luật hay tham gia các chương trình, chính sách phát triển kinh tế-xã hội ở địa phương. Một số tà đạo mang màu sắc chính trị như: Tin lành Đề Ga”, Hà Mòn, Thanh Hải Vô Thượng sư..., số đối tượng cầm đầu, cốt cán ráo riết kích động tư tưởng dân tộc hẹp hòi, phân biệt, chia rẽ người Kinh với người dân tộc nhằm thu hút người dân để thực hiện mưu đồ ly khai, tự trị ở các vùng dân tộc, hình thành tổ chức phản động chống phá Nhà nước Việt Nam, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc; điển hình như vụ biểu tình, bạo loạn ở Tây Nguyên năm 2001, 2004 do Tin lành Đề Ga tổ chức. Ở một số nơi, số đối tượng cầm đầu các tà đạo như: Thanh Hải Vô Thượng sư, Hà Mòn… còn vu cáo chính quyền vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tìm cách khoét sâu hoặc phóng đại những hạn chế, thiếu sót của chính quyền và cán bộ, đảng viên trong thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo; vu cáo Nhà nước vi phạm dân chủ, nhân quyền; tạo cớ cho bên ngoài can thiệp, chống phá Nhà nước Việt Nam. Có thể khẳng định, các tà đạo đã gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống xã hội, tuyên truyền mê tín dị đoan, kích động tâm lý hoang mang, dao động trong quần chúng nhân dân, làm phức tạp tình hình chính trị tại địa phương, truyền bá những đức tin phản khoa học, phản văn hóa và chuẩn mực chung về đạo đức, lối sống. Đặc biệt, thông qua hoạt động của các tà đạo, các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh thực hiện âm mưu lợi dụng vấn đề tôn giáo chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kích động tư tưởng ly khai nhằm chống phá Việt Nam.
Đấu tranh, đẩy lùi và ngăn chặn
Trong những năm qua, các cơ quan chức năng đã triển khai đồng bộ các biện pháp đấu tranh, ngăn chặn hoạt động của các tà đạo; trong đó đã chủ động nắm tình hình các địa bàn, đối tượng trọng điểm về dân tộc, tôn giáo để triển khai các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng trái pháp luật. Thông qua nhiều kênh, bằng nhiều hình thức đa dạng, phong phú, các cơ quan chức năng đã tuyên truyền, vận động quần chúng không tin, theo kẻ xấu lôi kéo, lừa bịp tham gia tổ chức tà đạo; thấy rõ tác hại của việc tham gia các tà đạo để từ đó tự giác tham gia công tác phòng ngừa, đấu tranh chống các tà đạo. Chủ động xử lý nghiêm số đối tượng cầm đầu, cốt cán theo pháp luật, đồng thời vạch mặt, làm rõ bản chất chúng trước nhân dân. Tuy nhiên, công tác phòng ngừa, đấu tranh với hoạt động của các tà đạo thời gian qua còn tồn tại những hạn chế nhất định. Theo đó, để nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn sự hình thành, phát triển của các tà đạo trong thời gian tới, cần tập trung làm tốt công tác đấu tranh, phòng, chống sự hình thành, phát triển của các tà đạo; đồng thời tiến hành song song với công tác bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân trên cơ sở pháp luật và phải đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện, tuyệt đối của Đảng Cộng sản Việt Nam; sự quản lý, điều hành của Chính phủ nhằm phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị trong công tác này. Tiếp tục nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân về vị trí, vai trò công tác đấu tranh, ngăn chặn hoạt động của các tà đạo, qua đó nhằm huy động sự tham gia của cả xã hội trong công tác này.
Các cơ quan chức năng cần thực hiện tốt công tác quản lý Nhà nước về tôn giáo, đặc biệt là quản lý và định hướng các sinh hoạt, hoạt động tín ngưỡng theo thuần phong mỹ tục của dân tộc và phù hợp với luật pháp. Đối với những đối tượng chủ mưu, cầm đầu các tà đạo, các cơ quan chức năng phải xử lý kiên quyết, kịp thời, triệt để theo pháp luật; vạch trần bản chất và hành vi vi phạm pháp luật, làm mất ổn định chính trị, xã hội, chia rẽ giữa các dân tộc, tôn giáo, lợi dụng danh nghĩa tôn giáo để hoạt động tà đạo, mê tín dị đoan của số này trước quần chúng nhân dân. Tăng cường xây dựng đời sống văn hóa, tinh thần phong phú, lành mạnh cho mọi người dân nhằm tạo “sức đề kháng”, “miễn dịch” mạnh mẽ trước hoạt động của các tà đạo.  
Tiếp tục đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền về quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam về tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam; về thành tựu đã đạt được trong việc bảo đảm quyền con người ở Việt Nam. Đặc biệt, cần tuyên truyền nâng cao nhận thức cho người dân, làm cho người dân hiểu rõ đâu là chính đạo, đâu là tà đạo, tác hại của các tà đạo đối với đời sống vật chất, tinh thần của người dân và toàn xã hội. Từ đó vận động cán bộ, đảng viên và nhân dân tự giác tham gia công tác phòng ngừa, đấu tranh chống hoạt động của các tà đạo.
Chủ động triển khai nắm tình hình, dự báo kịp thời mọi âm mưu, hoạt động lôi kéo, thu hút người tham gia các hội nhóm tà đạo để triển khai các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh. Kịp thời phát hiện, phối hợp giải quyết dứt điểm các hoạt động tụ họp nhóm hoặc có hoạt động liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo không được cơ quan chức năng cho phép để vận động quần chúng giải tán, đồng thời cô lập, răn đe những kẻ cầm đầu, cốt cán trong hội nhóm tà đạo. Trong xử lý các vụ việc liên quan đến tà đạo phải bảo đảm những yêu cầu đặt ra nhằm tranh thủ được sự ủng hộ rộng rãi của cán bộ, đảng viên và nhân dân, kiên quyết không làm phức tạp thêm tình hình, không để sơ hở để bên ngoài lợi dụng vu cáo, xuyên tạc.Tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, xóa đói, giảm nghèo… kết hợp
với thực hiện công bằng xã hội, không ngừng nâng cao trình độ dân trí, đặc biệt là đối với đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh, bảo đảm ổn định ANCT-TTATXH tại địa phương. Tăng cường đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục truyền thống yêu nước, vận động đông đảo các chức sắc, tín đồ và nhân dân tích cực tham gia các hoạt động phát triển kinh tế, xã hội và các phong trào thi đua yêu nước tại địa phương.

                                                   Công Bằng



QUỐC HỘI, NGƯỜI ĐẠI DIỆN CHÂN CHÍNH CHO Ý CHÍ VÀ NGUYỆN VỌNG CỦA NHÂN DÂN

Thể chế bầu cử của Việt Nam là “Đảng chọn dân bầu”… Vậy vì sao các thế lực thù địch, những người tự gọi là “người bất đồng chính kiến” lại tung ra những luận điệu đó? Qua bài viết này, chúng tôi xin góp phần giải đáp những vấn đề trên.
Xuyên suốt các Hiến pháp của Việt Nam từ Hiến pháp 1946-Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, đến Hiến pháp 2013 của nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa (XHCN) Việt Nam đều quy định: Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được bầu cử theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. Nhân dân thực hiện quyền lực Nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, hội đồng nhân dân (HĐND) và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước.
Điều 69, Hiến pháp 2013 quy định: “Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước”. Về quan hệ giữa các cơ quan Nhà nước là “có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” (Khoản 3, Điều 2-Chế độ chính trị).
Hiến pháp 2013 quy định về bầu cử như sau: Việc bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND được tiến hành theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. Công dân đủ 18 tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ 21 tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, HĐND. ĐBQH là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân ở đơn vị bầu cử ra mình và của nhân dân cả nước.
Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND quy định: Mỗi cử tri có quyền bỏ một phiếu bầu ĐBQH và bỏ một phiếu bầu đại biểu HĐND tương ứng với mỗi cấp. Cử tri phải tự mình đi bầu cử, không được nhờ người khác bầu cử thay, trừ trường hợp cử tri vì khuyết tật không tự bỏ phiếu được thì nhờ người khác bỏ phiếu vào hòm phiếu. Luật cũng quy định: Trong trường hợp cử tri ốm đau, già yếu, khuyết tật không thể đến phòng bỏ phiếu được thì tổ bầu cử sẽ mang hòm phiếu phụ và phiếu bầu đến chỗ ở, chỗ điều trị của cử tri để cử tri nhận phiếu và thực hiện bầu cử. Cử tri không thể tự viết được phiếu bầu thì nhờ người khác viết hộ nhưng phải tự mình bỏ phiếu; người viết hộ phải bảo đảm bí mật phiếu bầu của cử tri.
Những quy định về bầu cử của pháp luật Việt Nam là tiên tiến, công bằng và bình đẳng nhất. Ở một số quốc gia, như Hoa Kỳ chẳng hạn, việc bầu cử nguyên thủ (tổng thống và phó tổng thống) do các Đại cử tri (Elector) của các bang chứ không phải do dân bầu trực tiếp. Trước đó ở mỗi bang sẽ cử ra một số đại cử tri bằng đúng tổng số Thượng nghị sĩ và Hạ nghị sĩ của bang. Như vậy chỉ có phiếu của đại cử tri mới quyết định chức vụ nguyên thủ.
Theo báo cáo của Hội đồng Bầu cử quốc gia, cuộc bầu cử ĐBQH khóa XIV, năm 2016 như sau: Tổng số cử tri đủ điều kiện bầu cử là 67.485.482 người, trong đó số cử tri đã tham gia bỏ phiếu là 67.049.091 người, đạt tỷ lệ 99,35%. Cơ cấu (kết hợp) như sau: Đại biểu là người dân tộc thiểu số: 86 người (đạt 17,30%); phụ nữ: 133 người (đạt 26,80%); đại biểu là người ngoài Đảng có 21 người (đạt 4,20%)… Như vậy có thể nói cuộc bầu cử ĐBQH được nhân dân ta đặc biệt quan tâm; cơ cấu đại biểu toàn diện bao gồm cả người ngoài Đảng; các cơ quan chức năng chuẩn bị chu đáo, nghiêm túc nhằm bảo đảm kết quả đúng với đánh giá của cử tri.
Tỷ lệ đại biểu là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam cao chỉ chứng tỏ là uy tín của Đảng Cộng sản Việt Nam rất cao trong nhân dân Việt Nam. Và do đó, việc những người ngoài Đảng ứng cử, nhưng không trúng cử cũng là điều dễ hiểu. Còn nhớ, trong cuộc bầu cử ĐBQH khóa XIV, một tiến sĩ khoa học từng có nhiều bài viết trên mạng “phản biện” chế độ xã hội do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, được nhiều “người bất đồng chính kiến” đề cao nên tự tin tự ứng cử. Song hội nghị cử tri (theo luật định) tại địa phương đã bỏ phiếu với kết quả 6/75. Kết cục ứng cử viên này đã bị loại.
Hoạt động lập pháp của Quốc hội Việt Nam trong thời gian qua, nhất là từ sau Hiến pháp 2013 có nhiều đổi mới về nội dung và phương pháp tiến hành. Về nội dung, pháp luật Việt Nam ngày nay không thể “sao chép” theo tư duy cũ mà phải bảo đảm đúng với quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước và tinh thần Hiến pháp 2013, trong đó bảo đảm các nguyên tắc: Pháp luật là tối thượng; kinh tế thị trường theo định hướng XHCN; toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, thực tế xã hội-tâm tư nguyện vọng của nhân dân và bảo đảm quyền con người. Hoạt động lập pháp ngày nay cũng phải kịp thời thể chế hóa nguyên tắc quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Hoạt động lập pháp cũng gắn liền với đổi mới tổ chức, hoạt động của Chính phủ và chính quyền địa phương cũng như các cơ quan tư pháp. Một trong những đổi mới của Quốc hội khóa XIV là tăng số lượng đại biểu chuyên trách. Trong hoàn cảnh của Việt Nam, theo Luật Tổ chức Quốc hội (có hiệu lực từ ngày 1-1-2016), ĐBQH gồm: Đại biểu chuyên trách và đại biểu kiêm nhiệm. Đại biểu chuyên trách dành toàn bộ thời gian làm việc để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đại biểu của mình; đại biểu kiêm nhiệm dành 30% thời gian cho hoạt động của Quốc hội. Theo đó, cơ cấu Quốc hội khóa XIV có 114 đại biểu chuyên trách Trung ương (thuộc các cơ quan của Quốc hội) và 67 đại biểu chuyên trách địa phương, còn lại là đại biểu kiêm nhiệm.
Giám sát đang là một hoạt động được tăng cường, nhất là trong khóa XIV. Hoạt động giám sát hiện nay tập trung vào việc thực hiện chính sách xóa đói, giảm nghèo, tình trạng ô nhiễm môi trường, quản lý đất đai…  Tại Kỳ họp thứ bảy, Quốc hội đã biểu quyết, năm 2020 thực hiện giám sát chuyên đề “Thực hiện chính sách, pháp luật về phòng, chống xâm hại trẻ em”. Đây là một trong những vấn đề mà cử tri đang bức xúc.
Sinh hoạt của Quốc hội Việt Nam đã và đang đổi mới theo hướng dân chủ-thẳng thắn; phản ánh sát, cập nhật những vấn đề-kể cả vụ việc đang diễn ra mà cử tri quan tâm. Ví dụ, tại Kỳ họp thứ bảy, trước khi thông qua dự án Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia các ĐBQH đã có cuộc trao đổi rất cởi mở về việc có nên quy định cấm người điều khiển phương tiện giao thông sử dụng rượu, bia khi tham gia giao thông hay không? Kết quả quy định này đã được thông qua với 374/446 (chiếm 77,27% tổng số đại biểu).
Sở dĩ các thế lực thù địch, những kẻ cơ hội tập trung công kích Quốc hội Việt Nam thật không có gì khó hiểu. Đây là thủ đoạn nằm trong chiến lược chống phá Việt Nam toàn diện-từ vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam đến toàn bộ hệ thống chính trị các cấp. Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất, thực hiện âm mưu xuyên tạc, bôi nhọ cơ quan này, các thế lực thù địch hy vọng sẽ làm giảm niềm tin của nhân dân đối với chế độ xã hội, dần dần tiến tới chuyển hóa chế độ XHCN ở Việt Nam.
                                                    H.A


CỘNG ĐỒNG QUỐC TẾ ĐÁNH GIÁ CAO BẢN CHẤT XÃ HỘI VÀ VỊ THẾ CHÍNH TRỊ CỦA VIỆT NAM

Nhưng việc chúng ta được bầu với số phiếu gần như tuyệt đối (192/193), trở thành Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc (HĐBA LHQ) một lần nữa khẳng định khả năng, tầm vóc và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Bên cạnh đó, sự kiện quan trọng ấy còn là minh chứng hùng hồn phản bác mọi giọng điệu đang cố tình xuyên tạc đường lối, phủ nhận thành tựu đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta.
Kết quả bầu cử tại Khóa họp thứ 73 Đại hội đồng LHQ công bố tối 7-6 cho thấy, cộng đồng quốc tế đánh giá cao bản chất chế độ xã hội và vị thế chính trị của Việt Nam. Mặt khác, đây cũng là trách nhiệm nặng nề đối với Việt Nam. Điều này đòi hỏi Việt Nam phải có những nỗ lực lớn hơn nữa trong thực hiện đường lối, chính sách đối nội, đối ngoại và tiếp tục có những đóng góp cụ thể cho HĐBA tại LHQ. Nhiệm vụ quan trọng nhất là góp phần xây dựng chương trình nghị sự, tham gia định hình chính sách của LHQ. 
Cách đây hơn 4 thập kỷ, ngày 20-9-1977, Việt Nam trở thành thành viên thứ 149 của LHQ. Kể từ đó, Việt Nam luôn là thành viên tích cực của tổ chức chính trị đa phương lớn nhất hành tinh này. Những đóng góp của Việt Nam là toàn diện, đặc biệt là trên 3 trụ cột: Hòa bình và an ninh quốc tế; phát triển kinh tế-xã hội; quyền con người. Những kết quả hoạt động trên 3 lĩnh vực này không chỉ thể hiện ở những đóng góp của Việt Nam tại LHQ mà còn ở việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị xã hội tại Việt Nam.
Trên lĩnh vực kinh tế-xã hội, xuất phát điểm từ một nền kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp lúa nước lạc hậu, đất nước lại bị chiến tranh tàn phá suốt mấy chục năm, đến nay Việt Nam đã trở thành một nước có mức thu nhập trung bình của thế giới. Quy mô nền kinh tế Việt Nam ngày càng được mở rộng nhờ duy trì tốc độ tăng trưởng khá. GDP năm 2018 đạt 5.535,3 nghìn tỷ đồng, gấp hai lần quy mô GDP năm 2011. GDP bình quân đầu người năm 2018 ước tính đạt 58,5 triệu đồng, tương đương 2.587USD, tăng 198USD so với năm 2017... Mức sống người dân không ngừng được nâng cao, không phải quốc gia nào lâm vào hoàn cảnh như Việt Nam cũng có được kết quả như vậy.
Trong dịp tham dự Hội nghị Thượng đỉnh APEC cuối năm 2017 tại Đà Nẵng, Tổng thống Mỹ Donald Trump đã phải thốt lên rằng “Việt Nam là điều kỳ diệu của thế giới”. Cũng trong dịp dự Hội nghị thượng đỉnh Hoa Kỳ-Triều Tiên lần hai tại Hà Nội (ngày 26-2-2019) Tổng thống Mỹ Donald Trump lại đưa ra thêm một nhận xét: “Việt Nam đang là một trong những nơi phát triển hiếm có trên Trái Đất”.
Là thành viên có trách nhiệm của LHQ, Việt Nam đã đi đầu trong thực hiện chiến lược của LHQ, trong đó có mục tiêu thiên niên kỷ (MDG). Ngay từ năm 2006, Việt Nam đã tuyên bố hoàn thành MDG về xóa nghèo. Như vậy, Việt Nam đã về đích mục tiêu này trước 10 năm so với thời hạn (năm 2015).
Xóa đói, giảm nghèo luôn là một nhiệm vụ chính trị lớn được Đảng và Nhà nước lãnh đạo, chỉ đạo sát sao. Trong năm 2019, tỷ lệ hộ nghèo cả nước giảm bình quân 1%-1,5%/năm. Riêng các huyện nghèo, xã nghèo giảm 4%/năm. Tỷ lệ hộ nghèo dân tộc thiểu số giảm 3%-4% theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều giai đoạn 2016-2020. Ông Ousmane Dione, Giám đốc Quốc gia của Ngân hàng Thế giới (WB) tại Việt Nam cho rằng: “Việt Nam đã đạt được những kết quả to lớn trong việc giảm nghèo và nâng cao chất lượng cuộc sống cho hàng triệu người. Tỷ lệ nghèo trong các dân tộc thiểu số tiếp tục giảm mạnh...”.
Về đường lối đối ngoại, an ninh, quốc phòng, quan điểm, đường lối, chính sách của Việt Nam là nhất quán và có nguyên tắc. Đó là: (1) Đặt lợi ích của quốc gia, dân tộc lên trên hết; (2) Kiên trì thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế, chủ động hội nhập quốc tế với phương châm: Việt Nam sẵn sàng là bạn và là đối tác tin cậy của tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển; (3) Tôn trọng Hiến chương LHQ và luật pháp quốc tế.
 Về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, Nghị quyết số 28-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (khóa XI) xác định rõ mục tiêu, phương châm, quan điểm chỉ đạo và nội dung, giải pháp để thực hiện chiến lược trong tình hình mới. Trong chiến lược nói trên, Đảng Cộng sản Việt Nam xác định rõ đối tác và đối tượng của cách mạng Việt Nam: “Những ai tôn trọng độc lập chủ quyền, thiết lập và mở rộng quan hệ hữu nghị, hợp tác bình đẳng, cùng có lợi với Việt Nam đều là đối tác; bất kỳ thế lực nào có âm mưu và hành động chống phá mục tiêu của nước ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đều là đối tượng của chúng ta”
Quan điểm của Việt Nam về vấn đề chủ quyền và quyền chủ quyền biển, đảo, trong đó có quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam là giữ vững nguyên tắc giải quyết tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình, vừa kiên trì, kiên quyết bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ lợi ích quốc gia-dân tộc, vừa giữ vững môi trường hòa bình và hợp tác để phát triển.
Việt Nam sẽ đón nhận nhiệm vụ Ủy viên không thường trực HĐBA LHQ trong bối cảnh châu Á vừa là tâm điểm phát triển kinh tế, vừa là điểm nóng cạnh tranh ảnh hưởng của các nước lớn. Đây là một vấn đề được Đảng và Nhà nước Việt Nam đặc biệt quan tâm. Về mặt địa chính trị, Việt Nam và Biển Đông có một vị trí đặc biệt quan trọng. Đó là tuyến đường bộ đi từ các quốc gia phương Bắc xuống các quốc gia Đông Nam Á-một thị trường lớn, giàu tài nguyên, đang phát triển mạnh mẽ; đó cũng là tuyến đường biển thuận lợi nhất cho các quốc gia đi từ Đại Tây Dương qua Thái Bình Dương tới Ấn Độ Dương. Việt Nam, với vị trí địa chính trị và địa chiến lược cả trên đất liền, trên biển đảo... luôn là một địa bàn quan tâm của nhiều nước lớn.
Với vị trí Ủy viên không thường trực HĐBA, Việt Nam có nhiều thuận lợi hơn không chỉ trong việc thực hiện nhiệm vụ chung của LHQ mà còn trong xử lý những vấn đề chính trị ở khu vực Đông Nam Á, trong đó có vấn đề chủ quyền biển, đảo và đường hàng không, hàng hải quốc tế qua Biển Đông. Vị trí này còn giúp Việt Nam thực hiện vai trò Chủ tịch Hiệp hội Các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) vào năm 2020.
Liên quan đến những vấn đề địa chính trị của Việt Nam và Biển Đông với vai trò Ủy viên không thường trực HĐBA LHQ, TS Alexey Muraviev, Phó giáo sư Viện Nghiên cứu chiến lược an ninh quốc gia Đại học Curtin (Úc), một nhà nghiên cứu về khu vực, cho rằng: “Việc được bầu làm Ủy viên không thường trực HĐBA LHQ sẽ tiếp tục nâng cao tiếng nói, sức nặng của Việt Nam xét về địa chính trị, như một nhân tố quan trọng và có tầm ảnh hưởng tại khu vực đang phát triển như Đông Nam Á cũng như xa hơn”.
Về việc Việt Nam tham gia lực lượng Gìn giữ hòa bình của LHQ, Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, cho biết: “Đội công binh Việt Nam gồm 290 cán bộ, sĩ quan, chiến sĩ đã cơ bản hoàn tất công tác chuẩn bị về tổ chức biên chế, trang thiết bị, trình độ ngoại ngữ, năng lực chuyên môn và sẵn sàng tham gia hoạt động Gìn giữ hòa bình LHQ từ năm 2020”.
Nhiệm vụ an ninh, quốc phòng, đối ngoại là một chủ đề của Hội nghị Trung ương 10, khóa XII. Tại phiên bế mạc (ngày 18-5), Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Trước những diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường trên thế giới, trong khu vực, cần quan tâm đặc biệt, coi bảo đảm quốc phòng, an ninh và đối ngoại là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên… có chính sách, biện pháp phù hợp, bảo đảm thực hiện thắng lợi nghị quyết về chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.” Một trong những mục tiêu của chiến lược an ninh, quốc phòng và đối ngoại của Việt Nam trong tình hình mới là tiếp tục nâng cao vị thế chính trị của Việt Nam trong cộng đồng quốc tế, thực hiện tốt nhất vai trò Ủy viên không thường trực HĐBA LHQ.
                               H.A


KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN THÀNH QUẢ CÔNG CUỘC PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG

Hàng loạt vụ tham nhũng lớn được đưa ra ánh sang
Thanh tra Chính phủ vừa công bố kết luận thanh tra Khu đô thị mới Thủ Thiêm (TP Hồ Chí Minh). Đây là một trong những vụ sai phạm về kinh tế lớn, diễn ra trong thời gian dài, được dư luận đặc biệt quan tâm. Kết luận thanh tra đã chỉ rõ trong quá trình thực hiện đầu tư, xây dựng Khu đô thị mới Thủ Thiêm, UBND TP Hồ Chí Minh và các sở, ngành liên quan đã có nhiều khuyết điểm, vi phạm.
Căn cứ kết quả thanh tra, Tổng thanh tra Chính phủ kiến nghị Thủ tướng chỉ đạo UBND TP Hồ Chí Minh thu hồi, hoàn trả ngay khoản tiền đã tạm ứng từ ngân sách Nhà nước không đúng quy định đã đầu tư cho Khu đô thị mới Thủ Thiêm. Kiến nghị giao cho Kiểm toán Nhà nước thực hiện kiểm toán, xác định lại tổng mức đầu tư, giá trị tiền sử dụng đất theo giá thị trường và quy định của pháp luật, nhằm tránh thất thoát tiền của Nhà nước, khắc phục tình trạng mất cân đối vốn như hiện nay đối với các dự án BT đang thực hiện trong Khu đô thị mới Thủ Thiêm...
Thanh tra Chính phủ chuyển Kết luận thanh tra đến Ủy ban Kiểm tra Trung ương để xem xét, xử lý theo thẩm quyền đối với các tổ chức, cá nhân thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý có liên quan đến khuyết điểm, vi phạm được nêu trong kết luận.
Khu đô thị mới Thủ Thiêm là một trong hàng trăm vụ sai phạm lớn về kinh tế đã được đưa ra ánh sáng trong mấy năm gần đây. Theo Thanh tra Chính phủ, hơn 6 năm qua, kể từ khi Ban chỉ đạo Trung ương về PCTN được thành lập theo quyết định của Bộ Chính trị, công tác PCTN đã thu được nhiều kết quả quan trọng. Nhiều đại án kinh tế tham nhũng bị triệt phá, thu hồi lại tài sản cho Nhà nước và nhân dân, nhiều quan chức thoái hóa biến chất bị truy tố và chịu hình phạt nghiêm khắc của pháp luật. Tham nhũng đang từng bước được kiềm chế, ngăn chặn, đẩy lùi, góp phần giữ vững ổn định chính trị, thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân.
Đặc biệt, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã kiểm tra làm rõ nhiều vụ việc sai phạm rất nghiêm trọng liên quan đến tham nhũng, quyết định kỷ luật và đề nghị Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chấp hành Trung ương thi hành kỷ luật nhiều tổ chức đảng và đảng viên là cán bộ cao cấp của Đảng, Nhà nước vi phạm, cả đương chức, chuyển công tác và đã nghỉ hưu. Đồng thời, các cơ quan Nhà nước đã kỷ luật tương xứng với kỷ luật của Đảng đối với cán bộ, công chức sai phạm, bảo đảm kịp thời, đồng bộ giữa kỷ luật của Đảng và kỷ luật theo pháp luật của Nhà nước. Việc xét xử được đổi mới theo hướng công khai, dân chủ, minh bạch, theo đúng quy định của pháp luật, không có vùng cấm, không có ngoại lệ, không có đặc quyền, nghiêm minh, thấu tình đạt lý, được nhân dân đồng tình, ủng hộ, đánh giá cao.
Cùng với việc phát hiện, xử lý nghiêm các vụ việc, vụ án tham nhũng, kinh tế, các cơ quan chức năng đã chú trọng xác minh, áp dụng các biện pháp kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản của các đối tượng phạm tội tham nhũng ngay từ giai đoạn điều tra, không để tẩu tán, hợp pháp hóa tài sản tham nhũng.
Bịt các "lỗ hổng” để ngăn ngừa tham nhũng
Có thể nói công cuộc PCTN của chúng ta tuy còn rất gian nan nhưng đã thu được những thành quả rất quan trọng. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác PCTN vẫn còn những tồn tại, hạn chế, vẫn còn tình trạng “trên nóng, dưới lạnh”, nể nang, né tránh, ngại va chạm; việc phát hiện, xử lý tham nhũng vẫn chưa đáp ứng yêu cầu; tự kiểm tra, tự phát hiện và xử lý tham nhũng trong nội bộ cơ quan, đơn vị vẫn là khâu yếu…
Đồng thời, việc chưa có cơ chế đủ mạnh để kiểm soát chặt chẽ quyền lực; công tác kiểm tra, giám sát việc thực thi quyền lực của người có chức vụ, quyền hạn chưa được quan tâm thực hiện nghiêm đã tạo “kẽ hở” cho việc lạm quyền để trục lợi của một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức thiếu rèn luyện đạo đức, tham lợi, vụ lợi bất chính...
“Khoét sâu” vào những hạn chế nói trên, một số người đưa thông tin trên mạng xã hội hoặc báo chí nước ngoài rằng “việc PCTN ở Việt Nam thất bại”, “chỉ đưa ra ánh sáng những vụ việc không thể che đậy được”, “chống tham nhũng ở Việt Nam như nước đổ đầu vịt”… Có lẽ những người đưa ra các thông tin này không hiểu hoặc cố tình không hiểu công tác PCTN ở Việt Nam.
Thế nhưng, nhiều “lỗ hổng phát sinh tham nhũng” nói trên cũng sẽ được “bịt” dần bằng các cơ chế chính sách của Nhà nước, bằng công tác kiểm tra, kỷ luật của Đảng. Luật PCTN 2018 có hiệu lực từ ngày hôm nay là một trong những "vũ khí" quan trọng trên trận tuyến PCTN.
So với Luật PCTN 2005, Luật PCTN 2018 có nhiều điểm mới. Các đối tượng phải kê khai tài sản, thu nhập không còn được gói gọn ở “một số cán bộ, công chức” như quy định tại luật cũ, mà được mở rộng đến sĩ quan Công an nhân dân; sĩ quan Quân đội nhân dân, quân nhân chuyên nghiệp; người giữ chức vụ từ phó trưởng phòng và tương đương trở lên công tác tại các đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp Nhà nước, người được cử làm đại diện phần vốn Nhà nước tại doanh nghiệp; người ứng cử đại biểu Quốc hội, ứng cử đại biểu hội đồng nhân dân (HĐND)…
Ngoài phải kê khai các loại tài sản, thu nhập như quy định trước đây, luật mới còn yêu cầu các đối tượng nêu trên còn phải kê khai thêm công trình xây dựng và tài sản khác gắn liền với đất, nhà ở, công trình xây dựng. Đồng thời, các đối tượng còn phải kê khai cả tổng thu nhập giữa hai lần kê khai. Trường hợp có biến động tài sản như trên mà không giải trình hợp lý về nguồn gốc tài sản, cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập có trách nhiệm xác minh. Người có nghĩa vụ kê khai phải giải trình về tính trung thực, đầy đủ, rõ ràng của bản kê khai, nguồn gốc của tài sản, thu nhập tăng thêm. Đồng thời, có quyền khiếu nại quyết định, hành vi của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc xác minh tài sản, thu nhập khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật.
Điều 39 của Luật PCTN 2018 nêu rõ, bản kê khai của người có nghĩa vụ kê khai phải được công khai tại cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi người đó thường xuyên làm việc. Bản kê khai của người dự kiến được bổ nhiệm giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý được công khai tại cuộc họp lấy phiếu tín nhiệm. Bản kê khai của người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND phải được công khai theo quy định của pháp luật bầu cử… Cán bộ, công chức kê khai không trung thực về tài sản, thu nhập có thể bị xử lý kỷ luật bằng một trong các hình thức: Cảnh cáo, hạ bậc lương, giáng chức, cách chức, buộc thôi việc hoặc bãi nhiệm.
Luật PCTN 2018 còn quy định cơ quan nào để xảy ra tham nhũng, người đứng đầu phải chịu trách nhiệm. Trong đó, người đứng đầu phải chịu trách nhiệm trực tiếp nếu người do mình trực tiếp quản lý, giao nhiệm vụ tham nhũng. Cấp phó phải chịu trách nhiệm trực tiếp nếu xảy ra tham nhũng trong lĩnh vực công tác và trong đơn vị do mình được giao trực tiếp phụ trách; người đứng đầu phải chịu trách nhiệm liên đới…
Cũng phải nói hem rằng, tham nhũng không chỉ có ở Việt Nam mà đã trở thành quốc nạn ở nhiều nước trên thế giới. Tham nhũng không chỉ có từ bây giờ mà đã có từ rất lâu ở Việt Nam. PCTN là quyết tâm lớn của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và toàn xã hội. Luật PCTN mới với những quy định mới sẽ tạo ra bước đột phá mới cho công cuộc PCTN ở nước ta. Với những ai còn mơ hồ về kết quả PCTN ở Việt Nam, hãy nhìn lại các vụ việc đã bị phát hiện, đang phát hiện và chờ đợi kết quả của việc thực hiện Luật PCTN 2018 sau khi có hiệu lực thi hành.
                                          H.A


MỘT CÁI NHÌN CHỦ QUAN, PHIẾN DIỆN VÀ XUYÊN TẠC SỰ THẬT

Chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam là bảo vệ và thúc đẩy quyền con người. Trong mọi chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của Việt Nam, con người luôn được đặt vào vị trí trung tâm. Nhằm góp phần bảo vệ quyền con người, giữ gìn trật tự an toàn và ổn định xã hội, công tác phòng, chống tội phạm (PCTP) nói chung, tội phạm mua bán người nói riêng luôn được Việt Nam đặc biệt chú trọng. Những nỗ lực, cố gắng của Việt Nam trong đấu tranh PCTP mua bán người thời gian qua là toàn diện, rõ nét và không ai có thể phủ nhận.  

Không chỉ xâm hại quyền con người, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, đạo đức, nhân phẩm, tính mạng của các nạn nhân, tội phạm mua bán người còn gây ảnh hưởng xấu đến nền tảng đạo đức, giống nòi, thuần phong mỹ tục, tác động trực tiếp đến tình hình an ninh, trật tự an toàn xã hội... Nhận thức rõ tính chất nguy hiểm ấy, những năm qua, các cơ quan chức năng của Việt Nam từ Trung ương đến địa phương luôn thể hiện trách nhiệm cao, thái độ kiên quyết trong phối hợp đấu tranh, ngăn chặn, xử lý tội phạm mua bán người. Dưới sự chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương, cơ quan chức năng đã tích cực triển khai công tác tuyên truyền, giáo dục và đã tạo được sự chuyển biến cơ bản về nhận thức và hành động của toàn xã hội đối với công tác phòng, chống mua bán người. Không chỉ phổ biến kiến thức pháp luật về tội mua bán người, công tác tuyên truyền của Việt Nam còn hướng vào nâng cao nhận thức cho người dân về thủ đoạn của những kẻ mua bán người, đề cao trách nhiệm của các cấp chính quyền, cơ quan chức năng và từng người dân trong đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này. 

Việt Nam không ngừng hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, chính sách về phòng, chống mua bán người. Tại Điều 150 và Điều 151 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định rõ về tội mua bán người và tội mua bán người dưới 16 tuổi. Đặc biệt, Luật Phòng, chống mua bán người được Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam thông qua và có hiệu lực từ ngày 1-1-2012 đã quy định khung pháp lý quan trọng làm cơ sở cho công tác phòng ngừa, phát hiện và xử lý tội phạm mua bán người. Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 62/2012/NĐ-CP quy định căn cứ xác định nạn nhân bị mua bán và bảo vệ an toàn cho nạn nhân, người thân của họ. Ngày 3-5-2018, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam đã ban hành Chỉ thị số 01/CT-TTg về ngăn chặn, đấu tranh tình trạng công dân Việt Nam xuất cảnh, di cư trái phép, cư trú và lao động bất hợp pháp, vi phạm pháp luật ở nước ngoài, nhằm hạn chế tình trạng tội phạm lợi dụng để bán người ra nước ngoài. Với mục tiêu huy động mọi nguồn lực, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn dân tham gia phòng ngừa, ngăn chặn, tiến tới đẩy lùi tội phạm mua bán người trên phạm vi toàn quốc, ngày 10-5-2016, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam quyết định lấy ngày 30-7 hằng năm là “Ngày Toàn dân phòng, chống mua bán người”. Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chương trình hành động PCTP mua bán người giai đoạn 2016-2020, hướng tới mục tiêu chung là giảm nguy cơ mua bán người, tội phạm mua bán người; thực hiện hiệu quả công tác tiếp nhận bảo vệ và hỗ trợ nạn nhân bị mua bán trở về... Để theo kịp với những diễn biến của tình hình, Việt Nam luôn tích cực nghiên cứu, điều chỉnh, bổ sung hệ thống chính sách, pháp luật theo hướng ngày càng đồng bộ hơn, tính khả thi cao hơn, tạo khung pháp lý thuận lợi hơn cho công tác đấu tranh PCTP buôn bán người và tiếp nhận, hỗ trợ nạn nhân bị mua bán khi được giải cứu.

Việt Nam tích cực tham gia và thể hiện rõ trách nhiệm của mình trong thực hiện các điều ước quốc tế. Các hoạt động nhằm đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong công tác phòng, chống mua bán người được Việt Nam hưởng ứng mạnh mẽ. Việt Nam gia nhập Công ước về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia từ ngày 8-6-2012; Nghị định thư về phòng ngừa trấn áp và trừng trị việc buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em từ ngày 29-12-2011 và Công ước số 29 của Tổ chức Lao động quốc tế về chống lao động cưỡng bức. Việt Nam đã phê chuẩn tham gia Công ước ASEAN về phòng, chống buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ, trẻ em (Công ước Actip)... Được sự hỗ trợ của Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA), Việt Nam triển khai thành công dự án thành lập đường dây nóng phòng, chống buôn bán người. Việc làm này được xem là một trong những giải pháp hữu hiệu, phù hợp để tăng cường mạng lưới hợp tác, phối hợp về phòng, chống mua bán người tại Việt Nam.

Chính phủ Việt Nam kiên quyết ngăn chặn và xử lý nghiêm minh các hành vi phạm tội mua bán người theo pháp luật. Các lực lượng, cơ quan chức năng của Việt Nam luôn quán triệt thực hiện tốt phương châm, nguyên tắc, tinh thần trách nhiệm trong đấu tranh, xử lý với tội phạm mua bán người. Thông tin từ Bộ Công an cho biết, năm 2018, toàn quốc phát hiện 211 vụ với 276 đối tượng, lừa bán 386 nạn nhân, so với năm 2017 giảm 43,88% số vụ, giảm 43,8% số đối tượng, trong đó đã điều tra, khởi tố 200 vụ, 261 đối tượng. Viện kiểm sát nhân dân các cấp đã truy tố 109 vụ, 194 bị can. Tòa án nhân dân các cấp thụ lý 130 vụ, với 233 bị cáo; đã giải quyết, xét xử 116 vụ, với 213 bị cáo. Các cơ quan chức năng đã xác minh, giải cứu, tiếp nhận gần 1.500 trường hợp, trong đó có hơn 490 trường hợp được xác định là nạn nhân bị mua bán, còn lại là những người được xác định nhập cảnh và di cư trái phép. Trong 6 tháng đầu năm 2019, triển khai kế hoạch đấu tranh phòng, chống các loại tội phạm, trong đó có tội phạm mua bán người, lực lượng công an đã phát hiện 89 vụ, 142 đối tượng lừa bán 169 nạn nhân, so với cùng kỳ năm trước giảm cả về số vụ, số đối tượng và số nạn nhân.

Tuy nhiên, Việt Nam không phủ nhận công tác PCTP mua bán người còn những tồn tại, hạn chế nhất định. Đáng chú ý là do nhận thức chưa đầy đủ nên cấp ủy, chính quyền một số địa phương chưa thực sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra đôn đốc, hướng dẫn và giám sát việc thực hiện công tác đấu tranh PCTP nói chung và tội mua bán người nói riêng. Do hiệu quả của công tác truyền thông chưa cao nên nhận thức của một bộ phận người dân về công tác đấu tranh phòng, chống buôn bán người còn nhiều khoảng trống, nhất là về thủ đoạn của các đối tượng phạm tội. Điều kiện kinh tế khó khăn, thiếu việc làm, thêm vào đó là sự nhẹ dạ cả tin, mất cảnh giác của người dân thường bị các đối tượng mua bán người lợi dụng để thực hiện hành vi phạm tội. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế rộng mở, tình hình tội phạm có chiều hướng diễn biến phức tạp và thực tiễn luôn biến đổi không ngừng, do đó việc ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến loại tội phạm này chưa theo kịp được yêu cầu, còn những bất cập nảy sinh. Mặt khác hệ thống pháp luật về phòng, chống mua bán người của Việt Nam với hệ thống pháp luật các nước tiếp giáp còn nhiều điểm khác nhau, trong khi hành vi phạm tội của các đối tượng không chỉ trong khuôn khổ nội địa mà còn mang tính chất xuyên quốc gia. Đây là một trong những khó khăn tác động trực tiếp đến công tác đấu tranh, nhất là trong bắt giữ, điều tra, xử lý các vụ án mua bán người ở Việt Nam...

Dù còn những tồn tại, hạn chế nhất định nhưng những nỗ lực của Việt Nam trong đấu tranh PCTP mua bán người là không thể phủ nhận. Từ những kết quả nổi bật nói trên có thể khẳng định việc Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ cho rằng “vấn đề buôn bán người tại Việt Nam vẫn rất nghiêm trọng do không xử lý triệt để tội phạm buôn người theo pháp luật” là không có cơ sở, phiến diện và xuyên tạc sự thật.

Cần phải thấy rõ một thực tế là không chỉ ở Việt Nam mà ở nhiều nơi, nhiều khu vực trên thế giới hoạt động mua bán người tiếp tục diễn biến phức tạp. Ðây là công việc nhiều khó khăn, trở ngại nhưng với quyết tâm chính trị và bằng kinh nghiệm của mình Việt Nam sẽ tiếp tục huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn dân tham gia phòng ngừa, ngăn chặn, tiến tới đẩy lùi tội phạm mua bán người. Trong bối cảnh tội phạm mua bán người hình thành các đường dây, tổ chức xuyên quốc gia, Việt Nam chủ trương tăng cường hợp tác với các nước trên thế giới, đặc biệt là các nước láng giềng, các tổ chức quốc tế trong PCTP mua bán người. Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam kiên quyết lên án mọi hành động cản trở cuộc đấu tranh phòng, chống mua bán người và kịch liệt phản đối, bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc, bịa đặt nhằm phủ nhận những thành tựu bảo vệ quyền con người nói chung và công tác phòng, chống tệ nạn mua bán người nói riêng ở Việt Nam.

                                                       Sự Thật


PHÒNG, CHỐNG "TỰ DIỄN BIẾN", "TỰ CHUYỂN HÓA” CẦN KIÊN QUYẾT

Phòng, chống "tự diễn biến", "tự chuyển hóa” vốn là công việc rất khó khăn, phức tạp, vì nó liên quan tới vấn đề tư tưởng, biểu hiện âm thầm, gặm nhấm dần lòng tin, xói mòn dần phẩm chất đạo đức của cá nhân, tổ chức. Trong thực tế thì hiện tượng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” cũng liên quan cả gián tiếp và trực tiếp tới công tác xây dựng tổ chức, xây dựng con người, công tác cán bộ v.v..

Hơn nữa, khi thực hiện nhiệm vụ này rất dễ đụng chạm đến danh dự, lợi ích, quan hệ của mỗi con người. Tuy khó nhưng không thể không làm, vì vấn đề này có liên quan đến sinh mệnh chính trị, uy tín của Đảng và sự tồn vong chế độ. Bởi thế, ngoài quan điểm tích cực và chủ động thì việc kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, khắc phục những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" là rất quan trọng. Nếu không kiên quyết trong phòng, chống "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" thì việc thực hiện sẽ trở nên “nửa vời” và không đạt được mục tiêu, yêu cầu đề ra.

Để thể hiện tính kiên quyết trong phòng, chống "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" thì trong quá trình thực hiện phải nắm vững nguyên tắc kỷ luật tự giác, nghiêm minh của Đảng, chống phải đi đôi với xây và phải lấy xây làm chính. Cần phải tiến hành đồng bộ, toàn diện đối với mọi tổ chức, cá nhân, gắn kết chặt chẽ giữa đấu tranh, phê bình với các biện pháp hành chính, pháp luật và kinh tế.

Việc tạo ra phong trào và hành động cụ thể, thiết thực của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân khi đấu tranh ngăn chặn, khắc phục những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" là rất cần thiết. Có một số vấn đề cần tập trung, đó là: Kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, kể cả cán bộ lãnh đạo, quản lý cao cấp, vấn đề này đã được Đảng ta chú trọng thực hiện trong thời gian qua và đã thu được những kết quả nhất định; kiên quyết sử dụng nhiều biện pháp để đấu tranh phòng, chống "tự diễn biến", "tự chuyển hóa"; kiên quyết thực hiện phê bình, tự phê bình. Khi có dấu hiệu vi phạm thì dù cán bộ ở cương vị nào cũng cần phải được kiểm điểm, phê bình, xử lý kịp thời, mạnh mẽ, không "dĩ hòa vi quý", không nể nang, rơi vào chủ nghĩa cá nhân, không có vùng cấm, không loại trừ cán bộ chủ chốt, cán bộ cấp cao tự coi mình là "bề trên", đứng ngoài tổ chức. Những biểu hiện, những đối tượng như thế càng phải kiên quyết trong đấu tranh, khắc phục, loại trừ, bởi đó thực sự là "mầm họa" của "tự diễn biến", "tự chuyển hóa", là nguyên nhân sâu xa nhưng trực tiếp dẫn tới làm ảnh hưởng đến uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng.

                                                       Sự Thật



MỘT CÁI NHÌN CHỦ QUAN, PHIẾN DIỆN VÀ XUYÊN TẠC SỰ THẬT

Trong bản “Phúc trình thường niên về tệ buôn bán người trên thế giới” ra ngày 20-6-2019, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ cho rằng “vấn đề buôn bán người tại Việt Nam vẫn rất nghiêm trọng do không xử lý triệt để tội phạm buôn người theo pháp luật”, từ đó họ đưa Việt Nam vào “nhóm quốc gia có vấn đề buôn bán người bậc 2 và sẽ bị theo dõi do không đạt được những tiêu chuẩn cần thiết nhằm loại bỏ và giảm thiểu nạn buôn bán người”. Cần phải thấy ngay rằng cách nhìn nhận ấy của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ là chủ quan, phiến diện một chiều và xuyên tạc sự thật.

Chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam là bảo vệ và thúc đẩy quyền con người. Trong mọi chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của Việt Nam, con người luôn được đặt vào vị trí trung tâm. Nhằm góp phần bảo vệ quyền con người, giữ gìn trật tự an toàn và ổn định xã hội, công tác phòng, chống tội phạm (PCTP) nói chung, tội phạm mua bán người nói riêng luôn được Việt Nam đặc biệt chú trọng. Những nỗ lực, cố gắng của Việt Nam trong đấu tranh PCTP mua bán người thời gian qua là toàn diện, rõ nét và không ai có thể phủ nhận.  

Không chỉ xâm hại quyền con người, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, đạo đức, nhân phẩm, tính mạng của các nạn nhân, tội phạm mua bán người còn gây ảnh hưởng xấu đến nền tảng đạo đức, giống nòi, thuần phong mỹ tục, tác động trực tiếp đến tình hình an ninh, trật tự an toàn xã hội... Nhận thức rõ tính chất nguy hiểm ấy, những năm qua, các cơ quan chức năng của Việt Nam từ Trung ương đến địa phương luôn thể hiện trách nhiệm cao, thái độ kiên quyết trong phối hợp đấu tranh, ngăn chặn, xử lý tội phạm mua bán người. Dưới sự chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương, cơ quan chức năng đã tích cực triển khai công tác tuyên truyền, giáo dục và đã tạo được sự chuyển biến cơ bản về nhận thức và hành động của toàn xã hội đối với công tác phòng, chống mua bán người. Không chỉ phổ biến kiến thức pháp luật về tội mua bán người, công tác tuyên truyền của Việt Nam còn hướng vào nâng cao nhận thức cho người dân về thủ đoạn của những kẻ mua bán người, đề cao trách nhiệm của các cấp chính quyền, cơ quan chức năng và từng người dân trong đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này. Việt Nam không ngừng hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm

Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định rõ về tội mua bán người và tội mua bán người dưới 16 tuổi. Đặc biệt, Luật Phòng, chống mua bán người được Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam thông qua và có hiệu lực từ ngày 1-1-2012 đã quy định khung pháp lý quan trọng làm cơ sở cho công tác phòng ngừa, phát hiện và xử lý tội phạm mua bán người. Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 62/2012/NĐ-CP quy định căn cứ xác định nạn nhân bị mua bán và bảo vệ an toàn cho nạn nhân, người thân của họ. Ngày 3-5-2018, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam đã ban hành Chỉ thị số 01/CT-TTg về ngăn chặn, đấu tranh tình trạng công dân Việt Nam xuất cảnh, di cư trái phép, cư trú và lao động bất hợp pháp, vi phạm pháp luật ở nước ngoài, nhằm hạn chế tình trạng tội phạm lợi dụng để bán người ra nước ngoài. Với mục tiêu huy động mọi nguồn lực, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn dân tham gia phòng ngừa, ngăn chặn, tiến tới đẩy lùi tội phạm mua bán người trên phạm vi toàn quốc, ngày 10-5-2016, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam quyết định lấy ngày 30-7 hằng năm là “Ngày Toàn dân phòng, chống mua bán người”. Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chương trình hành động PCTP mua bán người giai đoạn 2016-2020, hướng tới mục tiêu chung là giảm nguy cơ mua bán người, tội phạm mua bán người; thực hiện hiệu quả công tác tiếp nhận bảo vệ và hỗ trợ nạn nhân bị mua bán trở về... Để theo kịp với những diễn biến của tình hình, Việt Nam luôn tích cực nghiên cứu, điều chỉnh, bổ sung hệ thống chính sách, pháp luật theo hướng ngày càng đồng bộ hơn, tính khả thi cao hơn, tạo khung pháp lý thuận lợi hơn cho công tác đấu tranh PCTP buôn bán người và tiếp nhận, hỗ trợ nạn nhân bị mua bán khi được giải cứu.

Việt Nam tích cực tham gia và thể hiện rõ trách nhiệm của mình trong thực hiện các điều ước quốc tế. Các hoạt động nhằm đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong công tác phòng, chống mua bán người được Việt Nam hưởng ứng mạnh mẽ. Việt Nam gia nhập Công ước về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia từ ngày 8-6-2012; Nghị định thư về phòng ngừa trấn áp và trừng trị việc buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em từ ngày 29-12-2011 và Công ước số 29 của Tổ chức Lao động quốc tế về chống lao động cưỡng bức. Việt Nam đã phê chuẩn tham gia Công ước ASEAN về phòng, chống buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ, trẻ em (Công ước Actip)... Được sự hỗ trợ của Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA), Việt Nam triển khai thành công dự án thành lập đường dây nóng phòng, chống buôn bán người. Việc làm này được xem là một trong những giải pháp hữu hiệu, phù hợp để tăng cường mạng lưới hợp tác, phối hợp về phòng, chống mua bán người tại Việt Nam.

Chính phủ Việt Nam kiên quyết ngăn chặn và xử lý nghiêm minh các hành vi phạm tội mua bán người theo pháp luật. Các lực lượng, cơ quan chức năng của Việt Nam luôn quán triệt thực hiện tốt phương châm, nguyên tắc, tinh thần trách nhiệm trong đấu tranh, xử lý với tội phạm mua bán người. Thông tin từ Bộ Công an cho biết, năm 2018, toàn quốc phát hiện 211 vụ với 276 đối tượng, lừa bán 386 nạn nhân, so với năm 2017 giảm 43,88% số vụ, giảm 43,8% số đối tượng, trong đó đã điều tra, khởi tố 200 vụ, 261 đối tượng. Viện kiểm sát nhân dân các cấp đã truy tố 109 vụ, 194 bị can. Tòa án nhân dân các cấp thụ lý 130 vụ, với 233 bị cáo; đã giải quyết, xét xử 116 vụ, với 213 bị cáo. Các cơ quan chức năng đã xác minh, giải cứu, tiếp nhận gần 1.500 trường hợp, trong đó có hơn 490 trường hợp được xác định là nạn nhân bị mua bán, còn lại là những người được xác định nhập cảnh và di cư trái phép. Trong 6 tháng đầu năm 2019, triển khai kế hoạch đấu tranh phòng, chống các loại tội phạm, trong đó có tội phạm mua bán người, lực lượng công an đã phát hiện 89 vụ, 142 đối tượng lừa bán 169 nạn nhân, so với cùng kỳ năm trước giảm cả về số vụ, số đối tượng và số nạn nhân.

Tuy nhiên, Việt Nam không phủ nhận công tác PCTP mua bán người còn những tồn tại, hạn chế nhất định. Đáng chú ý là do nhận thức chưa đầy đủ nên cấp ủy, chính quyền một số địa phương chưa thực sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra đôn đốc, hướng dẫn và giám sát việc thực hiện công tác đấu tranh PCTP nói chung và tội mua bán người nói riêng. Do hiệu quả của công tác truyền thông chưa cao nên nhận thức của một bộ phận người dân về công tác đấu tranh phòng, chống buôn bán người còn nhiều khoảng trống, nhất là về thủ đoạn của các đối tượng phạm tội. Điều kiện kinh tế khó khăn, thiếu việc làm, thêm vào đó là sự nhẹ dạ cả tin, mất cảnh giác của người dân thường bị các đối tượng mua bán người lợi dụng để thực hiện hành vi phạm tội. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế rộng mở, tình hình tội phạm có chiều hướng diễn biến phức tạp và thực tiễn luôn biến đổi không ngừng, do đó việc ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến loại tội phạm này chưa theo kịp được yêu cầu, còn những bất cập nảy sinh. Mặt khác hệ thống pháp luật về phòng, chống mua bán người của Việt Nam với hệ thống pháp luật các nước tiếp giáp còn nhiều điểm khác nhau, trong khi hành vi phạm tội của các đối tượng không chỉ trong khuôn khổ nội địa mà còn mang tính chất xuyên quốc gia. Đây là một trong những khó khăn tác động trực tiếp đến công tác đấu tranh, nhất là trong bắt giữ, điều tra, xử lý các vụ án mua bán người ở Việt Nam...

Dù còn những tồn tại, hạn chế nhất định nhưng những nỗ lực của Việt Nam trong đấu tranh PCTP mua bán người là không thể phủ nhận. Từ những kết quả nổi bật nói trên có thể khẳng định việc Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ cho rằng “vấn đề buôn bán người tại Việt Nam vẫn rất nghiêm trọng do không xử lý triệt để tội phạm buôn người theo pháp luật” là không có cơ sở, phiến diện và xuyên tạc sự thật.

Cần phải thấy rõ một thực tế là không chỉ ở Việt Nam mà ở nhiều nơi, nhiều khu vực trên thế giới hoạt động mua bán người tiếp tục diễn biến phức tạp. Ðây là công việc nhiều khó khăn, trở ngại nhưng với quyết tâm chính trị và bằng kinh nghiệm của mình Việt Nam sẽ tiếp tục huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn dân tham gia phòng ngừa, ngăn chặn, tiến tới đẩy lùi tội phạm mua bán người. Trong bối cảnh tội phạm mua bán người hình thành các đường dây, tổ chức xuyên quốc gia, Việt Nam chủ trương tăng cường hợp tác với các nước trên thế giới, đặc biệt là các nước láng giềng, các tổ chức quốc tế trong PCTP mua bán người. Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam kiên quyết lên án mọi hành động cản trở cuộc đấu tranh phòng, chống mua bán người và kịch liệt phản đối, bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc, bịa đặt nhằm phủ nhận những thành tựu bảo vệ quyền con người nói chung và công tác phòng, chống tệ nạn mua bán người nói riêng ở Việt Nam.

                                                       Sự Thật