Thứ Ba, 20 tháng 6, 2023

 

Đảng Cộng sản Việt Nam xứng đáng là Đảng duy nhất lãnh đạo, cầm quyền ở Việt Nam

Trên trang mạng “Brueau CTM Media-Âu Châu”, tên phản động, bán nước cầu vinh Nguyễn Văn Đài, lại tung lên bài viết: “Đảng CSVN chưa có tính chính danh?” với mục đích hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam qua việc đả kích tính chính danh, đồng thời kêu gọi “xóa bỏ điều 4 Hiến pháp, chấp nhận thể chế chính trị đa nguyên, đa đảng”. Tuy nhiên, thực tiễn lịch sử và hiện tại chứng minh: Đảng Cộng sản Việt Nam xứng đáng là Đảng duy nhất lãnh đạo, cầm quyền ở Việt Nam, bởi lẽ:

Một là, Đảng Cộng sản Việt Nam mở ra trang sử mới cho dân tộc Việt Nam

Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, các phong trào yêu nước, chống thực dân Pháp nổ ra mạnh mẽ nhưng tất cả đều bị đàn áp đẫm máu và lần lượt tan rã. Đất nước chìm trong đêm trường nô lệ, tưởng chừng như không có đường ra. Chỉ đến khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đã xác định đúng đắn mục tiêu cách mạng, đáp ứng được những đòi hỏi và nguyện vọng cấp bách nhất của toàn thể dân tộc Việt Nam (độc lập dân tộc), đồng thời, mục tiêu đó còn phù hợp với xu thế phát triển tất yếu của thời đại (thời đại quá độ lên chủ nghĩa xã hội). Cùng với đó, Đảng đã xây dựng được đường lối và phương pháp cách mạng đúng đắn. Với Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt… do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc soạn thảo, được thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng (02/1930), những vấn đề cơ bản mang tính chiến lược của cách mạng Việt Nam đã được giải quyết. Không chỉ vậy, những cán bộ, đảng viên của Đảng được huấn luyện, thử thách, rèn luyện trong phong trào cách mạng, luôn bám sát thực tiễn, có đủ năng lực lãnh đạo và uy tín chính trị, không phụ lòng tin của nhân dân. Những tấm gương kiên trung của Đảng đã tỏ rõ tinh thần yêu nước, hàng nghìn đảng viên của Đảng bị tù đầy, chém giết, chỉ riêng 31 Ủy viên Trung ương của Đảng (khóa II) đã bị thực dân Pháp “tặng” cho 221 năm tù khổ sai nhưng vẫn kiên định, không sợ khó khăn, gian khổ hy sinh phấn đấu làm tròn sứ mệnh lịch sử giao phó. Do đó, Đảng Cộng sản Việt Nam uy tín tập hợp được sức mạnh toàn dân tộc, lãnh đạo dân tộc đứng lên Tổng khởi nghĩa, giành thắng lợi Cách mạng Tháng Tám 1945, thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân và dân ta đi qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ, hoàn thành sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, làm nên những thắng lợi vĩ đại trong thế kỷ XX.

Hai là, Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đưa đất nước Việt Nam không ngừng phát triển

Hoàn thành trọng trách lãnh đạo sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam với tư cách là Đảng duy nhất cầm quyền, được nhân dân Việt Nam thừa nhận, tin tưởng, ủng hộ và suy tôn, được hiến định trong Hiến pháp và pháp luật. Đảng nắm quyền lực Nhà nước, hóa thân vào Nhà nước nhưng không làm thay Nhà nước mà sử dụng Nhà nước, lãnh đạo Nhà nước và hệ thống chính trị để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, phấn đấu vì mục đích chung của toàn xã hội, của dân tộc Việt Nam theo phương châm: “Việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh”; hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, vì nhân dân… Và Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo toàn dân, toàn quân ta tiến hành toàn diện, động bộ công cuộc đổi mới đất nước. Sau 37 năm đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Việt Nam đã giành được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Từ một nước nghèo nàn, lạc hậu lại chịu hậu quả nặng nề của chiến tranh, đến nay Việt Nam đã vươn lên trở thành nước đang phát triển, có thu nhập trung bình; văn hóa, xã hội tiếp tục phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân không ngừng được cải thiện; chính trị, xã hội ổn định, quốc phòng – an ninh, độc lập, chủ quyền được giữ vững; vị thế và uy tín của đất nước ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế, tạo cho: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Thực tiễn đó đã khẳng định một chân lý: Ở Việt Nam, không có một lực lượng chính trị nào khác, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm, uy tín và khả năng lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đưa sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Vì vậy, những luận điệu của Nguyễn Văn Đài đưa ra là hoàn toàn sai trái, đi ngược lại với lợi ích quốc gia, dân tộc và mong muốn của nhân dân Việt Nam. Chúng ta cần nâng cao cảnh giác và kiên quyết lên án, đấu tranh bác bỏ./.

Bàn Luận

 

CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH LÀ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG, KIM CHỈ NAM CHO HÀNH ĐỘNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

Đảng cộng sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động. Điều này khẳng định giá trị lý luận, thực tiễn to lớn của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam. Song, các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách xuyên tạc sự thật này. Trên trang blog “Vietnamthoibao” Trần Trung Đạo có bài viết: “Một bóng ma đang ám ảnh Việt Nam”, cho rằng việc tôn thờ chủ nghĩa Mác – Lênin và Chủ tịch Hồ Chí Minh là sai lầm, làm cho đất nước không thể phát triển được. Đây là sự xuyên tạc, bôi nhọ trắng trợn chủ nghĩa Mác – Lênin và Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Một là, chủ nghĩa Mác – Lênin là thành tựu tư tưởng, lý luận vĩ đại của nhân loại đã phơi bày bản chất sâu xa, những mâu thuẫn cố hữu tồn tại trong chế độ tư bản chủ nghĩa và dự đoán chính xác xu hướng vận động của các hình thái kinh tế – xã hội để đi đến khẳng định tương lai của nhân loại là chế độ cộng sản chủ nghĩa. Vì vậy, đây là học thuyết khoa học, cách mạng và nhân văn nhất đề ra mục tiêu giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người và chỉ rõ lực lượng, con đường, phương thức nhằm đạt được mục tiêu đó. Vượt lên trên mọi giới hạn về không gian và thời gian, những nguyên lý, quy luật, khái niệm, phạm trù và phương pháp luận cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin tiếp tục là chìa khóa giải đáp những vấn đề tư tưởng, soi sáng những nhiệm vụ lịch sử của nhân loại, đó là giải phóng con người khỏi mọi hình thức áp bức, bóc lột, mọi sự tha hóa. Chủ nghĩa Mác – Lênin có giá trị bền vững và tính thời đại bởi bản thân nó là một học thuyết phát triển và nhân văn, luôn hướng tới sự tiến bộ của xã hội loài người; là học thuyết vạn năng vì nó là một học thuyết chính xác, một học thuyết hoàn bị và chặt chẽ, nó cung cấp cho người ta một thế giới quan hoàn chỉnh, không thỏa hiệp với bất cứ một sự mê tín nào, một thế lực phản động nào. Song, đó là học thuyết phát triển, học thuyết mở, nên sẽ là sai lầm nếu tuyệt đối hóa mặt này hay mặt kia của nó. Vì vậy, chúng ta phải tiếp tục học tập, nghiên cứu, phát triển, vận dụng sáng tạo với thực tiễn cách mạng Việt Nam.

Hai là, chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ thiên tài của Đảng và nhân dân ta, Người thầy vĩ đại của Cách mạng Việt Nam, Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa thế giới, Người chiến sĩ cộng sản quốc tế mẫu mực đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc. Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta: Người ra đi tìm đường cứu nước và thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, dân tộc ta đã giành thắng lợi vang dội trong cuộc Cách mạng tháng Tám, thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống Pháp, đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội. Người đã để lại cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta bản Di chúc mang tầm tư tưởng và trí tuệ của thời đại. Thực hiện bản Di chúc của Người, dưới sự lãnh đạo của Đảng, cách mạng Việt Nam đã không ngừng tiến lên giành được nhiều thắng lợi vẻ vang, giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, hiện thực hoá mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Bên cạnh đó, tư tưởng của Hồ Chí Minh là hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, trên cơ sở kế thừa và phát huy các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại. Giá trị lý luận, thực tiễn to lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa vẫn còn nguyên vẹn, giữ vai trò quyết định trong công cuộc đổi mới hiện nay, tiếp tục soi sáng những vấn đề lý luận để giải quyết các vấn đề thực tiễn đặt ra, đưa nước ta vững chắc tiến lên chủ nghĩa xã hội. Với ý nghĩa đó, ngày 18/5/2021 Bộ Chính trị (khóa XIII) đã ban hành Kết luận số 01-KL/TW về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị khóa XII “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”.

Việc làm của Trần Trung Đạo xuyên tạc trắng trợn chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là đi ngược lại với ý chí của loài người tiến bộ trên thế giới nói chung, nguyện vọng chính đáng của nhân dân Việt Nam nói riêng. Đây là điều, không thể chấp nhận được cần phải lên án mạnh mẽ và đấu tranh loại bỏ./.

LHS

 

TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC CHỈ ĐẠO, ĐỊNH HƯỚNG, QUẢN LÝ THÔNG TIN BÁO CHÍ VỀ BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

Thời gian qua, công tác quản lý thông tin bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên báo chí luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm chỉ đạo. Theo đó, đã từng bước nâng cao chất lượng, phát huy vai trò của báo chí cách mạng trong đấu tranh phản bác quan điểm, luận điệu, âm mưu thù địch, chống phá.

Chỉ thị số 34-CT/TW, ngày 17/4/2009 của Ban Bí thư về “Tăng cường cuộc đấu tranh chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hoà bình” trên lĩnh vực tư tưởng văn hoá” nhấn mạnh: “Tăng cường công tác lãnh đạo và quản lý báo chí, xuất bản, văn hóa, văn nghệ, cổ vũ, khuyến khích những tác phẩm có nội dung và nghệ thuật tốt, ngăn chặn những tác phẩm có quan điểm lệch lạc, sai trái. Chủ động, kịp thời cung cấp, định hướng thông tin cho cán bộ, đảng viên và nhân dân”.

Kết luận số 23-NQ/TW, ngày 22/11/2017 của Ban Bí thư về “Tăng cường chỉ đạo, quản lý, phát huy vai trò của báo chí, xuất bản trong việc ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ” chỉ rõ cần phải: “Tăng cường công tác xây dựng và nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức đảng, đoàn thể trong các cơ quan báo chí, xuất bản; Xây dựng đội ngũ người làm báo, xuất bản có bản lĩnh chính trị vững vàng, trình độ nghiệp vụ ngày càng cao, giữ gìn đạo đức nghề nghiệp, có trách nhiệm với xã hội, đất nước”.

Chỉ thị số 43-CT/TW ngày 8/4/2020 của Ban Bí thư về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của Hội Nhà báo Việt Nam” tiếp tục nêu bật các nhiệm vụ trọng tâm liên quan đến quản lý báo chí, trong đó nhấn mạnh: “Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với báo chí theo hướng bảo đảm báo chí phát triển đúng định hướng chính trị, tư tưởng của Đảng và quyền tự do, dân chủ của nhân dân”.

Đặc biệt, trước những âm mưu, hoạt động chống phá ngày càng phức tạp, tinh vi của các thế lực thù địch trên vực tư tưởng, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”, trong đó, tiếp tục khẳng định: “Phát huy vai trò tổng hợp của các cơ quan báo chí, xuất bản”. Theo đó, quản lý thông tin bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên báo chí là yêu cầu nhiệm vụ quan trọng, tất yếu trong tình hình mới, bởi: “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng là nội dung cơ bản, hệ trọng, sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Ðảng; là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Ðảng, toàn quân, toàn dân...”.

Trải qua 98 năm hình thành và phát triển, báo chí Cách mạng Việt Nam đã luôn đi theo con đường do Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức và lãnh đạo, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng chính trị tư tưởng. Về cơ bản, hoạt động báo chí nước nhà luôn đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước; hoạt động trong khuôn khổ pháp luật; là tiếng nói của Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội và diễn đàn của nhân dân; là một trong những lực lượng xung kích, đi đầu trong đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; góp phần tích cực vào công tác tuyên truyền, phổ biến quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước tới các tầng lớp nhân dân.

Trong tình hình mới, để phát huy mạnh mẽ, tích cực, có hiệu quả hơn nữa công tác quản lý thông tin bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên báo chí, cần tiếp tục chú trọng và quyết liệt hơn trong thực hiện một số nhiệm vụ cơ bản sau:

Một là, xây dựng, hoàn thiện, tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên báo chí.

Cơ quan quản lý nhà nước căn cứ chức năng, nhiệm vụ được giao trực tiếp xây dựng, ban hành hoặc xây dựng, trình cơ quan có thẩm quyền ban hành các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên báo chí nhằm xây dựng hành lang pháp lý để cơ quan báo chí tham gia có hiệu quả công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Theo đó, nội dung văn bản quy phạm pháp luật cần xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của báo chí tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, trọng tâm là bảo vệ Ðảng, bảo vệ Cương lĩnh chính trị, đường lối lãnh đạo của Ðảng; bảo vệ nhân dân, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Đồng thời, quy định cụ thể về những điều “không được làm” trong hoạt động báo chí, trọng tâm là các hành vi chống Đảng, Nhà nước; xuyên tạc bản chất chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; cổ súy quan điểm chống đối, phá hoại việc thực hiện chính sách đoàn kết dân tộc của Đảng, Nhà nước…

Hai là, xây dựng, tổ chức thực hiện các đề án, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch báo chí tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Cơ quan nhà nước có trách nhiệm cần thường xuyên tiến hành nghiên cứu, dự báo tình hình về nguồn lực báo chí cũng như các yếu tố tác động đến công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên báo chí; trên cơ sở đó, tổng hợp và tiến hành xây dựng, ban hành, tổ chức thực hiện các đề án, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch nhằm nâng cao hiệu quả báo chí tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Nội dung đề án, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch cần xác định chính xác những quan điểm, tư tưởng chỉ đạo; mục tiêu, yêu cầu; nội dung, hình thức, cơ chế và nhiệm vụ, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên báo chí. Các nội dung này được tổ chức quán triệt thực hiện đồng bộ tại các cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan báo chí nhằm bảo đảm triển khai chất lượng, hiệu quả, thống nhất.

Ba là, tăng cường tuyên truyền, phổ biến pháp luật và hướng dẫn thực hiện các quy định về quản lý thông tin bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên báo chí.

Đối tượng cần được thường xuyên tuyên truyền, phổ biến và hướng dẫn thực hiện là cán bộ, phóng viên, biên tập viên cơ quan báo chí, trọng tâm là đội ngũ chuyên trách viết tin, bài về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Bên cạnh việc nâng cao nhận thức toàn diện cho đội ngũ cán bộ, phóng viên, biên tập viên, cần nắm rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của báo chí tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; công tác tuyên truyền, phổ biến cần chú trọng làm rõ, bổ sung, khẳng định “những điều không được làm” cũng như chế tài xử lý các hành vi vi phạm. Qua đó, bảo đảm cơ quan báo chí hoạt động tuân thủ pháp luật, bám sát tôn chỉ, mục đích, tham gia hiệu quả công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Trước mỗi chủ trương, chính sách, văn bản mới... liên quan đến những quy định về quản lý thông tin bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên báo chí, công tác tuyên truyền, phổ biến và hướng dẫn cần đa dạng các hình thức: hội nghị, sinh hoạt chuyên đề; thường xuyên thông tin trên các phương tiện truyền thông; phát huy vai trò trách nhiệm của cấp ủy, lãnh đạo cơ quan báo chí.

Bốn là, quan tâm đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng, nâng cao trình độ lý luận chính trị, kiến thức, kỹ năng thực hiện công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng cho đội ngũ những người làm báo. Chú trọng hơn đến việc tổ chức các lớp bồi dưỡng, tập huấn chuyên sâu.

Bên cạnh những nội dung cơ bản như chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, chủ trương của Đảng về đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch - vận dụng trong tình hình mới; những thủ đoạn tuyên truyền phá hoại tư tưởng của các thế lực thù địch… cần quan tâm đào tạo, bồi dưỡng nâng cao kỹ năng viết, kinh nghiệm - kiến thức đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; nhận diện đúng các “cấp độ” chống phá, phản động, xuyên tạc, đồng thời phân biệt với giọng điệu “nói leo”, “a dua” vì thiếu hiểu biết... để xây dựng những tuyến bài, thể loại - hình thức tác phẩm báo chí phù hợp, có trọng tâm, trọng điểm.

Năm là, lãnh đạo cơ quan báo cần chú trọng hơn nữa trong việc quản lý, định hướng, thẩm định, đánh giá nội dung tác phẩm báo chí liên quan đến đấu tranh, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, nhất là trước những thời điểm quan trọng và trước những vấn đề khó, nhạy cảm. Điều này không chỉ nhằm bảo đảm nội dung tác phẩm báo chí luôn đúng tôn chỉ, mục đích, đáp ứng các yêu cầu về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; kịp thời phát hiện những nội dung chưa phù hợp, “chệch” định hướng tuyên truyền; mà còn tránh “sản xuất” ra những tác phẩm báo chí “làm cho có”, chung chung, phiến diện, khiên cưỡng, “vô thưởng vô phạt”, thậm chí là phản tác dụng...

Sáu là, các cơ quan có trách nhiệm cần tích cực, thường xuyên kiểm tra, giám sát, xử lý nghiêm các hành vi cố tình vi phạm quy định về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên báo chí.

Theo đó, cần có “lăng kính” khách quan, khoa học, tránh quy chụp, suy diễn trong đánh giá, kết luận về những vấn đề liên quan đến bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên báo chí; kịp thời phát hiện những sơ hở, thiếu sót trong quá trình thông tin để nhắc nhở khắc phục, xử lý phù hợp, phổ biến - rút kinh nghiệm cho các cơ quan báo chí khác.

Bảy là, quan tâm hơn nữa đến chất lượngtiến độ thời gian sơ kết, tổng kết nhằm đánh giá chính xác công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên báo chí; chỉ rõ những thiếu sót, bất cập và nguyên nhân làm giảm hiệu lực, hiệu quả công tác này; kịp thời biểu dương, nhân rộng những kinh nghiệm hay, mô hình tốt. Kết quả sơ kết, tổng kết phải là những căn cứ, cơ sở thực chất, quan trọng để cơ quan quản lý nhà nước và cơ quan chuyên trách về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng kiến nghị, đề xuất Đảng và Nhà nước tiếp tục bổ sung, ban hành các chỉ thị, nghị quyết, kết luận liên quan đến nhiệm vụ, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên báo chí phù hợp với bối cảnh, tình hình mới./.

Bàn Luận

 

CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH KHÔNG NGỪNG LỢI DỤNG HOẠT ĐỘNG BÁO CHÍ ĐỂ PHÁ HOẠI NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢN

Trong thời gian qua, các thế lực thù địch không ngừng đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng ta với nhiều phương thức, thủ đoạn tinh vi, nguy hiểm và khó nhận diện.

Nhằm vào lĩnh vực báo chí - truyền thông, các thế lực thù địch thường xuyên công kích, vu khống, cho rằng Việt Nam không có tự do báo chí. Chúng sử dụng các đài, báo, tạp chí bên ngoài của các hội nhóm phản động, tổ chức phi chính phủ (NGOs) và đảng phái chính trị thiếu thiện chí với Việt Nam để đăng tải những bài viết xuyên tạc vấn đề tự do báo chí của nước ta; tung hô những đối tượng lợi dụng báo chí để xâm phạm an ninh quốc gia (ANQG) hoặc có quan điểm cực đoan, đi ngược lại chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước. Một số tổ chức như “Tổ chức phóng viên không biên giới”, “Ân xá quốc tế” hằng năm công bố “Báo cáo về vấn đề tự do Internet, tự do báo chí của Việt Nam” với một góc nhìn phiến diện, chủ quan, tiêu cực, nặng nề. Vào các dịp kỷ niệm, các sự kiện báo chí Việt Nam và quốc tế như: Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam (21/6), Ngày Tự do Báo chí thế giới (3/5), Ngày Nhân quyền thế giới (10/12)…, các thế lực thù địch triệt để khai thác, lợi dụng, “thổi phồng để bóp méo” việc chúng ta đấu tranh, xử lý những đối tượng lợi dụng báo chí xâm phạm ANQG - tuyên truyền phá hoại tư tưởng, xuyên tạc tự do báo chí, dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam...

Cùng với đăng tải trên Internet, mạng xã hội những tin, bài của một số đối tượng phóng viên có quan điểm cực đoan, quá khích để kích động chống Đảng, Nhà nước, cổ súy cho quan điểm đòi tách báo chí thoát ly tính Đảng, tính giai cấp..., các thế lực thù địch cũng gia tăng các hoạt động lôi kéo, mua chuộc những phóng viên, biên tập viên có tư tưởng bất mãn, quan điểm cấp tiến để tác động, hô hào họ tham gia vào hoạt động xâm phạm ANQG; tài trợ, cấp học bổng cho một số cán bộ, phóng viên, biên tập viên các cơ quan báo chí tham gia các khóa học về chuyên môn nhằm lôi kéo số này đi theo quỹ đạo của tổ chức nước ngoài, đánh mất vai trò của báo chí cách mạng Việt Nam, không tuân thủ, chấp hành chủ trương quan điểm của Đảng, Nhà nước về báo chí.

Những âm mưu, thủ đoạn nêu trên đã dẫn đến hậu quả suy thoái về tư tưởng chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một số cán bộ phóng viên, biên tập viên. Trong đó, nổi lên là tình trạng đưa tin, viết bài thể hiện quan điểm hoài nghi, thiếu tin tưởng vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Thậm chí, xuất hiện tình trạng phóng viên ủng hộ quan điểm, tư tưởng lệch lạc, sai trái của số đối tượng chống đối trong và ngoài nước; hạ thấp thành quả cách mạng; xuyên tạc lịch sử; suy diễn, thổi phồng khuyết điểm của Đảng, Nhà nước...

Đặc biệt, thông qua các trang cá nhân trên mạng xã hội, một số nhà báo ở trong nước đã viết bài, bình luận thể hiện quan điểm ủng hộ “tự do báo chí, tự do ngôn luận” theo kiểu phương Tây, “bóng gió” lên tiếng đòi thoát ly vai trò của Đảng đối với báo chí trong nước... Đây là những biểu hiện rõ nét của tình trạng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một bộ phận phóng viên, biên tập viên mà nguyên nhân một phần do âm mưu, hoạt động tuyên truyền phá hoại tư tưởng của các thế lực thù địch.

Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, đòi hỏi Đảng, Nhà nước và các cơ quan có trách nhiệm phải tăng cường hơn nữa vai trò quản lý thông tin về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên báo chí, để các hoạt động báo chí nước nhà không chỉ bảo đảm đúng tôn chỉ, mục đích; chấp hành nghiêm các quy định về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, mà còn phát huy mạnh mẽ công tác đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”, lên án, vạch rõ những âm mưu, ý đồ phá hoại tư tưởng của các thế lực thù địch, phần tử phản động và cơ hội chính trị.

Sự thật

 

Việt Nam luôn bảo đảm quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận

Ở Việt Nam, ngay từ trong cuộc đấu tranh giành độc lập, Mặt trận Việt Minh do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đứng đầu đã giương cao ngọn cờ đòi quyền tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do tổ chức, tín ngưỡng, đi lại, bác bỏ áp bức bất công của chính quyền thực dân.

Khi giành được chính quyền, Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1946 đã hiến định quyền tự do ngôn luận, tự do xuất bản và các quyền tự do khác của công dân. Trải qua các lần sửa đổi, bổ sung, Hiến pháp các năm 1959, 1980, 1992 và gần đây là Hiến pháp năm 2013 luôn nhất quán khẳng định quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí của công dân.

Cùng với Hiến pháp và các văn bản pháp luật khác, Luật Báo chí cũng đặt ra các nền móng cơ bản và thống nhất cho tự do ngôn luận, tự do báo chí. Điều 10 Luật Báo chí năm 2016 quy định: “Công dân có quyền: 1. Sáng tạo tác phẩm báo chí; 2. Cung cấp thông tin cho báo chí; 3. Phản hồi thông tin trên báo chí; 4. Tiếp cận thông tin báo chí; 5. Liên kết với cơ quan báo chí thực hiện sản phẩm báo chí; 6. In, phát hành báo in”. Như vậy, dù Việt Nam không có báo chí tư nhân nhưng luật pháp quy định mọi công dân đều có quyền tham gia vào hoạt động báo chí.

Các thế lực chống phá thường vin vào việc Việt Nam không có mô hình báo chí tư nhân mà cố tình lờ đi rằng, mọi công dân đều được quyền tham gia sáng tạo và xuất bản báo chí, mọi tầng lớp, tổ chức trong xã hội đều có cơ quan báo chí đại diện của mình.

Điều 11 Luật Báo chí năm 2016 nêu rõ: Công dân có quyền phát biểu ý kiến về tình hình đất nước và thế giới; tham gia ý kiến xây dựng và thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; góp ý kiến, phê bình, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo trên báo chí đối với các tổ chức của Đảng, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức chính trị-xã hội-nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội-nghề nghiệp và các tổ chức, cá nhân khác. Điều 13 ghi rõ: “Báo chí không bị kiểm duyệt trước khi in, truyền dẫn và phát sóng”.

Không chỉ về phương diện pháp lý mà trong thực tiễn, tự do báo chí ở Việt Nam cũng được biểu hiện sinh động. Nền báo chí Việt Nam phát triển mạnh mẽ cả về số lượng, loại hình, quy mô, công nghệ làm báo. Theo thống kê của Bộ Thông tin và Truyền thông, tính đến tháng 5-2023, cả nước có 808 cơ quan báo chí (trong đó: 138 báo, 670 tạp chí) và 42.400 người hoạt động trong lĩnh vực báo chí, gấp khoảng 6 lần so với thập niên 2000.

Ngoài ra, không thể không kể đến mạng xã hội đã tham gia mạnh mẽ vào môi trường truyền thông trong khoảng 10 năm trở lại đây. Ở Việt Nam, công dân không bị ngăn cấm tham gia mạng xã hội. Quyền phát ngôn, tham gia ý kiến, thảo luận về mọi vấn đề xã hội đã được mở rộng rất nhiều trên các phương tiện truyền thông mới này. Báo chí cùng với mạng xã hội đã trở thành một diễn đàn lớn, nơi mà mọi người dân đều có tiếng nói, mọi vấn đề quốc kế dân sinh được trao đổi, thảo luận, đó là những biểu hiện rất rõ ràng của tự do báo chí, tự do ngôn luận.

Báo chí hiện đại trong những năm gần đây, cùng sự hỗ trợ của công nghệ truyền thông số, đã tăng cường tính tương tác với công chúng. Trên các báo điện tử đều mở phần bình luận cho người đọc. Các kênh phát thanh, truyền hình đều có những chương trình phát sóng trực tiếp, có số điện thoại đường dây nóng để người nghe, người xem gọi điện tương tác ngay khi chương trình đang diễn ra.

Với những thiết bị hiện đại, nhà đài có thể di chuyển đến phỏng vấn và phát sóng trực tiếp ngay tại nhà của các công dân. Mặt khác, các cơ quan báo chí đều thiết lập những chương trình thu thập chất liệu phản ánh từ các “nhà báo công dân”. Đó là minh chứng rất rõ ràng về việc báo chí có thể xuất bản ngay mà không qua kiểm duyệt.

Như vậy, cả trên phương diện pháp lý và hoạt động thực tiễn, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam đều được thể hiện rõ ràng, luôn gắn với quy định pháp luật, luôn hướng tới mục đích phụng sự nhân dân, góp phần thúc đẩy tiến bộ xã hội. Tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam không phải là ngôn luận tự do, báo chí tự do theo ý chí cá nhân, mà là tự do xây dựng vì những mục tiêu tốt đẹp, vì trách nhiệm chân chính với cộng đồng, vì một thể chế chính trị-xã hội của dân, do dân, vì dân.

Các thế lực thù địch dù có tấn công, chỉ trích, chống phá như thế nào cũng không thể thay đổi bản chất tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam. Thực ra đó chỉ là những tiếng nói tiêu cực, lạc lõng của những người cố tình đi ngược chiều với sự phát triển bền vững của đất nước ta, nhân dân ta và của nền báo chí cách mạng đáng tự hào của chúng ta./.

Hoằng Tháo

 Cảnh giác mưu đồ cổ xúy “ngôn luận tự do, báo chí tự do

Với các luận điệu chỉ trích Việt Nam không có tự do ngôn luận, tự do báo chí, có thể thấy các lập luận đã cố tình tập trung vào vế đầu của “Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền” năm 1948, khẳng định tự do tư tưởng, tự do xuất bản là quyền cơ bản của con người, mà bỏ đi vế sau là quyền tự do đó nằm trong khuôn khổ pháp luật và thể chế mỗi quốc gia.

Quá trình xem xét các mối quan hệ giữa Hiến pháp, pháp luật và hoạt động báo chí thực tiễn, các thế lực thù địch, thiếu thiện chí chỉ tập trung vào các vụ việc và cá nhân cụ thể để xuyên tạc về tự do ngôn luận, tự do báo chí của Việt Nam. Khái niệm mà họ sử dụng chính là "ngôn luận tự do", "báo chí tự do", gần với khái niệm tự do tuyệt đối, không có giới hạn.

Tổ chức Phóng viên không biên giới (RSF) nhiều năm gần đây xếp Việt Nam ở vị trí gần cuối bảng xếp hạng về tự do báo chí của 180 quốc gia, với những lý do chủ yếu là “đàn áp các blogger”, “bắt giam các nhà báo”, nhưng trong những vụ việc này, các đối tượng bị bắt giữ đều có hành vi lợi dụng các quyền tự do dân chủ để đưa tin sai sự thật, tuyên truyền chống phá Đảng và Nhà nước, xuyên tạc tình hình kinh tế-xã hội ở Việt Nam.

Trên một kênh truyền thông thiếu thiện chí, khi bình luận về Việt Nam gần đây, có một bài viết về bảng xếp hạng của RSF. Nhưng tổ chức RSF lại không đưa ra được khái niệm hay cách hiểu nào về tự do báo chí. Nếu họ cho rằng không thể bắt giữ các nhà báo và cho rằng không ai đáng bị bắt vì lý do tham gia ngôn luận, thì có lẽ họ đã bỏ qua hoàn toàn việc hoạt động báo chí phải nằm trong khuôn khổ pháp luật. Với cách lập luận như vậy, họ đang cổ xúy cho ngôn luận tự do, báo chí tự do mà không chịu bất cứ trách nhiệm xã hội nào.

Trong vụ việc bắt giữ một nữ nhà báo gần đây, có thể thấy rõ trong thời gian dài, nhà báo này đã công khai chỉ trích nhiều cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức trên trang cá nhân của mình, như Công ty Cổ phần Đại Nam, Quỹ Sống Foundation, Mạng lưới Tự kỷ Việt Nam... với lời lẽ nặng nề nhưng không có căn cứ xác đáng. Núp dưới chiêu bài “nêu nghi vấn”, “đặt dấu hỏi”, “phân tích giả định”, “đấu tranh chống tiêu cực”, nhà báo này đã tùy tiện đưa ra những thông tin có nhiều dấu hiệu quy chụp, phán xét không khách quan, sai sự thật, bất chấp luật pháp và đạo lý.

Ngôn luận tự do dựa theo những phán đoán, suy diễn chủ quan, ác ý đã dẫn một người từng là nhà báo kiêm luật sư phải chịu trách nhiệm trước pháp luật vì lợi dụng quyền tự do dân chủ để xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân và tổ chức khác. Một số nhà báo, luật sư, người dùng mạng xã hội khác bị bắt cũng có chung vi phạm pháp luật như vậy.

Khi phê phán, chỉ trích Việt Nam không có tự do ngôn luận và tự do báo chí, các thế lực thù địch cũng không chỉ ra được điều luật nào, quy định nào ngăn cản tự do của nhà báo, mà có xu hướng áp đặt hình mẫu phương Tây cho Việt Nam. Đó là một cách tiếp cận không có cơ sở khoa học. Nội hàm của tự do ở mỗi quốc gia, mỗi thời điểm có thể giống nhau về phổ quát, còn lại sẽ mang đặc điểm của mỗi thể chế chính trị-xã hội. Thực chất, không có nơi nào có tự do tuyệt đối, đây chỉ là một khái niệm mang tính tương đối và có sự phát triển trong các nền tảng xã hội khác nhau.

Như vậy, ngôn luận tự do, báo chí tự do theo cách mà các thế lực thù địch tuyên truyền là đề cao tư tưởng của các cá nhân, không đi kèm trách nhiệm và các khuôn khổ luật pháp, đạo đức xã hội, không quan tâm hoặc xem nhẹ những hệ quả gây ra cho xã hội, cộng đồng. Điều đó khác rất xa với tự do ngôn luận, tự do báo chí chân chính có trách nhiệm với sự phát triển tiến bộ của xã hội và nhân loại.

 NMT

 

Ý nghĩa chân chính của tự do ngôn luận, tự do báo chí

Tự do là quyền cơ bản của con người, nhưng cùng với đó là nhận thức và hành xử phù hợp với cộng đồng, quốc gia, dân tộc, để tôn trọng quyền tự do của người khác và tuân thủ pháp luật. Điều 29 trong “Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền” năm 1948 của Liên hợp quốc nêu rõ: “Mỗi người đều có nghĩa vụ đối với cộng đồng, trong khi hưởng thụ các quyền về tự do cá nhân, phải chịu những hạn chế do luật định nhằm mục đích duy nhất là bảo đảm việc thừa nhận và tôn trọng đối với các quyền tự do của người khác và phù hợp với những đòi hỏi chính đáng về đạo đức, trật tự công cộng và phúc lợi chung trong một xã hội dân chủ”.

Tự do ngôn luận và tự do báo chí là hai khái niệm trong cùng lĩnh vực, chỉ khác nhau về cấp độ. Báo chí là diễn đàn trong một xã hội phát triển, để mọi công dân, mọi tầng lớp, mọi độ tuổi, giới tính, ngành nghề khác nhau được quyền phát ngôn, bày tỏ tư tưởng, ý kiến, thể hiện hành động và báo chí trở thành nơi mà tự do ngôn luận thể hiện tập trung, mạnh mẽ và được lan tỏa nhiều nhất.

Chính vì vậy, tự do báo chí trở thành mối quan tâm đặc biệt ở mọi nơi, mọi quốc gia, mọi thể chế chính trị-xã hội. Dù ở nền báo chí tư bản hay báo chí xã hội chủ nghĩa, thì báo chí đều có những chức năng chung như: Thông tin, phản ánh, hình thành và định hướng dư luận xã hội, giáo dục, giải trí...

Những chức năng cơ bản này tạo ra cho báo chí một trách nhiệm xã hội, vì sự tiến bộ và phát triển chung của xã hội, hướng tới những giá trị hạnh phúc phổ quát của con người. Vì vậy, khi thực hiện quyền tự do báo chí cũng phải gắn với các chức năng đó, không đi ngược lại các giá trị chân lý, đạo đức, văn hóa, không chống lại an ninh chung của cộng đồng, không trái với xu thế tiến bộ của nhân loại.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có lời giải thích rất rành mạch về tự do ngôn luận, tự do báo chí như sau: “Tự do là thế nào? Đối với mọi vấn đề, mọi người tự do bày tỏ ý kiến của mình, góp phần tìm ra chân lý... Chân lý là cái gì có lợi cho Tổ quốc, cho nhân dân. Cái gì trái với lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân tức là không phải chân lý”. Như vậy, có thể thấy, tự do báo chí chân chính phải đặt trên nền tảng một xã hội dân chủ, tốt đẹp, nhân văn, mọi hoạt động báo chí đều phục vụ lợi ích của đông đảo nhân dân.

Không có tự do báo chí thuần túy, tuyệt đối, đứng bên ngoài xã hội, cộng đồng, thể chế chính trị và bị bóp nghẹt trong chế độ độc tài, khi nhà cầm quyền đã trở thành vật cản bước tiến xã hội. Không có quyền nào vượt lên ở mức cao hơn chế độ kinh tế và sự phát triển xã hội do chế độ kinh tế đó quy định. Chỉ có tự do báo chí trong xã hội dân chủ, khi giai cấp cầm quyền có vai trò tiến bộ dẫn dắt xã hội.

Thực tiễn, hầu hết mọi thể chế chính trị khác nhau đều coi việc chống lại nhà cầm quyền là vi phạm pháp luật và không có nơi nào có văn bản coi tự do ngôn luận, tự do báo chí là quyền tuyệt đối. Khi là Tổng thư ký Liên hợp quốc, ông Ban Ki-moon từng nói: “Tự do ngôn luận được bảo vệ khi nó được sử dụng vào mục đích công lý và cộng đồng... Khi một số người sử dụng quyền tự do này để khiêu khích hoặc sỉ nhục các giá trị niềm tin của người khác thì hành động đó sẽ không được bảo vệ”

LHS

Thứ Tư, 7 tháng 6, 2023

 

Hiểu rõ để không bị mắc mưu thế lực thù địch chống phá Đại hội Công đoàn Việt Nam

Có thể thấy, chiêu trò dụ dỗ, lôi kéo, kích động công nhân, người lao động chống phá sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc mà các thế lực thù địch đã và đang tiến hành là hết sức thâm độc, nham hiểm. Đây thực chất là âm mưu nhằm hạ thấp vai trò của tổ chức Công đoàn Việt Nam để phục vụ cho mưu đồ chống phá Đảng, Nhà nước, nhân dân ta, làm cho nước ta bị suy yếu, mất đoàn kết. Nếu công nhân, người lao động không tỉnh táo, thiếu bản lĩnh sẽ mắc mưu kẻ xấu, vi phạm pháp luật.

Điều 25, Hiến pháp năm 2013 quy định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Như vậy, Nhà nước ta ghi nhận và cho phép quyền tự do lập hội của công dân. Nhưng việc lập hội phải đăng ký hoạt động theo quy định của pháp luật, được Nhà nước Việt Nam công nhận.

Còn cái gọi là “công đoàn độc lập” hay “nghiệp đoàn độc lập” do một số kẻ tự khởi xướng hoàn toàn bất hợp pháp, trái với quy định của pháp luật và không được Nhà nước Việt Nam thừa nhận. Bề ngoài, chúng tuyên bố “không làm chính trị” nhưng lại câu kết với các tổ chức chống phá Nhà nước Việt Nam như: Nghiệp đoàn FO, Lao động Việt, Nhóm bạn công nhân (thuộc Việt Tân), Luật khoa tạp chí, Hội nhà báo độc lập... Các tổ chức này hoàn toàn không đại diện cho quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động và công nhân, mà thực chất là đội lốt, mượn mũ công nhân để thực hiện mưu đồ đen tối của các thế lực thù địch, phản động.

Thực tiễn nhiều quốc gia trên thế giới cho chúng ta thấy những bài học đắt giá từ sự nhận thức chưa đúng, dẫn đến công nhân bị dẫn dắt bởi các tổ chức “dân sự” như “công đoàn độc lập”, “công đoàn đoàn kết”, “công đoàn tự do”... Các hội, nhóm, tổ chức này sử dụng nhiều chiêu trò dụ dỗ, lôi kéo công nhân vào cái bẫy của chúng để hình thành lực lượng chống đối chính quyền, lật đổ chế độ nhằm cướp quyền lãnh đạo.

Đối với Việt Nam, tổ chức công đoàn được quy định cụ thể trong Hiến pháp, Luật Công đoàn Việt Nam nhằm bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng cho người lao động. Thực tế nhiều năm qua, tổ chức Công đoàn Việt Nam đã thực hiện tốt vai trò, trách nhiệm này (tất nhiên không tránh khỏi một số tổ chức công đoàn cơ sở hoạt động chưa hiệu quả, song đó chủ yếu là do cán bộ công đoàn ở đó chưa phát huy tốt vai trò, trách nhiệm). Thực tiễn đã chứng minh rõ, Công đoàn Việt Nam bảo vệ tốt quyền lợi, chăm lo cho người lao động, như vừa qua, khi công nhân và các doanh nghiệp gặp khó khăn do đại dịch Covid-19, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đã kịp thời tham mưu, đề xuất với Chính phủ ban hành nghị quyết về một số chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động gặp khó khăn. Bên cạnh đó, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam cũng tham mưu, đề xuất với Đảng và Chính phủ về Đề án "Đầu tư xây dựng các thiết chế công đoàn tại các khu công nghiệp, khu chế xuất" và tổ chức đầu tư, xây dựng nhà ở, nhà trẻ, khu vui chơi, giải trí cho công nhân, người lao động...

Không ai có thể phủ nhận sự cần thiết, không thể thiếu và vai trò, uy tín của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, tổ chức công đoàn các cấp hiện nay. Còn cái gọi là “công đoàn độc lập”, "nghiệp đoàn độc lập" không hề và không thể đại diện cho quyền, lợi ích của công nhân, người lao động, mà chỉ là kiểu lợi dụng để thực hiện mưu đồ chính trị. Vì vậy, người dân cần hiểu rõ để tránh mắc mưu các thế lực thù địch, phản động.

BĐT

 

 

 NGƯỜI SỐNG MÃI TRONG LÒNG NHÂN DÂN VIỆT NAM VÀ BẠN BÈ QUỐC TẾ

Thế giới ngày càng biến động với những âu lo về xung đột sắc tộc và chiến tranh, về biến đổi khí hậu, an ninh lương thực và dịch bệnh… thì càng thấy trân quý hơn một Hồ Chí Minh luôn tiến về phía trước, sẵn sàng chiến đấu và chiến thắng mọi khó khăn, khổ ải để lãnh đạo nhân dân Việt Nam đến thắng lợi cuối cùng. Một đất nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, dân chủ và ngày càng giàu mạnh, phồn vinh, hạnh phúc như hiện tại không chỉ là mong ước mà còn là sự nghiệp của Người, của dân tộc Việt Nam; là của tất cả các dân tộc đang khát khao được giải phóng, được tự do, độc lập... Vì thế, những thắng lợi của sự nghiệp cách mạng Việt Nam từ năm 1930 đến nay đã không chỉ góp phần đánh bại tàn dư của chế độ phong kiến, chủ nghĩa phát xít, chủ nghĩa thực dân cũ và mới ở Việt Nam và thủ tiêu chủ nghĩa thực dân ở ba nước Đông Dương, phá vỡ phòng tuyến phản cách mạng của chủ nghĩa đế quốc ở Đông Nam Á, mà còn thức tỉnh, cổ vũ các dân tộc bị áp bức khác vùng lên, dũng cảm đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, giành lại độc lập, tự do, đưa đất nước tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội và góp phần to lớn vào phong trào đấu tranh vì hòa bình, dân chủ, tiến bộ của nhân loại, vì sự nghiệp giải phóng hoàn toàn con người khỏi áp bức, bất công… Đồng thời, những thắng lợi đó cũng cho thấy: “Thực tiễn ở Việt Nam đã chứng tỏ rằng nhờ có sự lãnh đạo của đảng Mác - Lênin mà cách mạng đã thu được thắng lợi vẻ vang trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội” và càng khẳng định trên thực tế “tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển của các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi”.

Hành trình hoạt động cách mạng; sự lựa chọn đúng đắn; những nỗ lực không mỏi mệt của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam và phong trào cách mạng thế giới đã được khẳng định trong Nghị quyết của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) về Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong đó, Nghị quyết không chỉ nêu rõ “Chủ tịch Hồ Chí Minh, một biểu tượng xuất sắc về sự tự khẳng định dân tộc, đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội”, mà còn ghi nhận “những đóng góp quan trọng và nhiều mặt của Chủ tịch Hồ Chí Minh trên các lĩnh vực văn hóa, giáo dục và nghệ thuật chính là sự kết tinh của truyền thống văn hóa hàng ngàn năm của dân tộc Việt Nam, và những tư tưởng của Người là hiện thân của những khát vọng của các dân tộc mong muốn được khẳng định bản sắc văn hóa của mình và mong muốn tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc”.

Con đường cách mạng Người lựa chọn và kiên định thực hiện; tấm gương đạo đức mẫu mực của một người cộng sản suốt đời sống giản dị, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; luôn hết lòng yêu thương nhân dân và nhân loại khổ đau, cho đến tận phút cuối lìa xa trần thế cũng không có gì là của riêng ngoài Tổ quốc và Nhân dân đã được K.C.Tiagi khẳng định: “Hồ Chí Minh không bao giờ là một nhà độc tài về chính trị mà là người có một ảnh hưởng mạnh mẽ trong sự lãnh đạo. Người là một người nồng hậu, có khả năng lôi cuốn và thông cảm. Người thiết tha quan tâm tới đồng bào của mình. Người không thay đổi trong suốt cả cuộc đời mình, từ những ngày đầu của cách mạng cho đến khi giữ chức vụ cao nhất là chủ tịch nước. Người luôn coi mình là một người lính được nhân dân cử ra mặt trận. Ở Người, tình yêu đối với nhân dân là một tình cảm mãnh liệt”. Sự ghi nhận và đánh giá đó cũng cho thấy, dù đã đi xa hơn nửa thế kỷ, nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh “không phải là một kỷ niệm của quá khứ. Người là một con người diệu kỳ cho tất cả mọi thời đại”. Vượt lên hẳn mọi sự nghi kỵ, xuyên tạc, với những sự kiện ngụy tạo và tiểu xảo ngôn ngữ để bẻ cong sự thật thì Nguyễn Sinh Cung - Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc - Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ là một/là Người đã để lại một di sản quý giá cho nhân dân Việt Nam và bạn bè quốc tế. Vì thế, không thể xuyên tạc, bôi nhọ cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, vì ngay cả “những kẻ thù xấu xa nhất cũng bắt buộc phải tôn trọng Người. Những nhà văn, nhà báo dù có ác ý nhất cũng không thể tìm thấy một chút thiếu sót nhỏ nhặt nào trong cuộc đời gần 80 năm của Người. Đây cũng là một trong những bài học mà chúng ta có thể rút ra từ cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh: người ta không thể là nhà cách mạng trong những việc lớn mà lại thiếu sót trong những việc nhỏ”.

Và cũng vì thế, mỗi cấp ủy, chính quyền; mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị đều không chỉ phải nghiêm túc thực hiện Kết luận số 01-KL/TW ngày 18/5/2021 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” gắn với Kết luận số 21-KL/TW ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương về “Đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa"” cùng với các quy định về nêu gương, trong đó có Quy định số 08-QĐi/TW ngày 25/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Uỷ viên Bộ Chính trị, Uỷ viên Ban Bí thư, Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương”, với Quy định số 37-QĐ/TW ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương về “Những điều đảng viên không được làm”, coi đó là nhu cầu tự thân, tự giác, trở thành nền nếp để thấy “lòng ta trong sáng hơn”; để kiên định độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội dưới ánh sáng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mà còn phải quán triệt sâu sắc rằng: “Tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta là phải kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng; bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đây là vấn đề mang tính nguyên tắc, có ý nghĩa sống còn đối với chế độ ta, là nền tảng vững chắc của Đảng ta, không cho phép ai được ngả nghiêng, dao động” như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định tại Đại hội XIII của Đảng./.

Bàn Luận


 CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH - NGƯỜI LÀM RẠNG RỠ DÂN TỘC TA, NON SÔNG ĐẤT NƯỚC TA

Lịch sử cách mạng Việt Nam và thế giới hiện đại có khá đầy đủ thông tin, luận chứng và các nghiên cứu khoa học cả ở trong và ngoài nước; được đăng tải rộng rãi trên báo, tạp chí, xuất bản thành sách tại Việt Nam và nhiều nước trên thế giới đều ghi nhận vai trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh với cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam nói riêng, phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và phụ thuộc; với cuộc đấu tranh khỏi áp bức, bất công, vì hòa bình, tự do, công lý của nhân loại tiến bộ nói chung. Lịch sử cũng ghi nhận rằng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành cả cuộc đời mình để phấn đấu, hy sinh cho độc lập, tự do của Tổ quốc; ấm no, hạnh phúc của nhân dân Việt Nam cũng như đấu tranh cho sư nghiệp giải phóng các dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người.

Đó chính là việc người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã rời Tổ quốc ra đi tìm con đường cứu nước hơn một thế kỷ trước; là việc Người quyết định đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, với con đường cách mạng vô sản; là tiến trình Người chuẩn bị, sáng lập, rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam, cùng Đảng đề ra đường lối, chủ trương đúng đắn và lãnh đạo nhân dân Việt Nam đấu tranh giành thắng lợi trong sự nghiệp giải phóng dân tộc; tiếp tục cùng nhân dân kiên cường tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954) và chống Mỹ, cứu nước (1954-1975) để bảo vệ thành quả của Cách mạng Tháng Tám, thực hiện khát vọng giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc; là việc toàn Đảng, toàn dân, toàn quân Việt Nam chung sức, đồng lòng kiên đinh xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa (1975 - nay) dưới ánh sáng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh…

Vì thế, trong trái tim và khối óc của mỗi người dân Việt Nam yêu nước thì Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là một vị lãnh tụ vĩ đại, mà Người còn “là Cha, là Bác, là Anh/Quả tim lớn lọc trong dòng máu nhỏ/Người ngồi đó với cây chì đỏ/Vạch đường đi từng bước từng giờ” như nhà thơ Tố Hữu viết trong bài thơ “Sáng tháng Năm” để đưa đất nước Việt Nam thoát khỏi ách thống trị của phong kiến, thực dân, đế quốc đi đến bến bờ độc lập, tự do, hạnh phúc. Không chỉ dừng ở đó, hành trình đấu tranh và thắng lợi của nhân dân Việt Nam trong cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam được thực hiện trên cơ sở vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện cụ thể của Việt Nam từ khi có Đảng lãnh đạo đã không chỉ khẳng định vị trí, vai trò tiền phong, độc quyền lãnh đạo cách mạng của một Đảng Mácxít Lêninnít kiểu mới; không chỉ góp phần đưa nhân dân Việt Nam “đặt mình lên vị trí vẻ vang nhất trên thế giới”, mà còn cho thấy Chủ tịch Hồ Chí Minh - “Người là Bác Hồ, bởi vì tuy thuộc nhân dân Việt Nam, Người vẫn thuộc vào gia tài của nhân loại, cái gia tài của mọi dân tộc yêu tự do, giải phóng đã phải tiến hành đấu tranh chống lại ách thực dân hay đế quốc”. Vì “ưu điểm lớn nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh là không chỉ đấu tranh cho một lá cờ, cho một sự giải phóng ở bề mặt bên ngoài, Người muốn tiến hành một cuộc chiến đấu cho phẩm giá con người, cho sự giải phóng và phúc lợi của toàn dân và nhờ thế mà cuộc cách mạng Người phát động đã mang tầm cỡ thế giới. Đúng như nhận định của Môhamét Lamari trong tham luận khoa học “Hồ Chí Minh trong lòng nhân dân Angiêri” tại Hội thảo quốc tế về Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1990.

Vì thế, khi Người còn sống hay khi đã mất, thì mọi người dân Việt Nam đều trân quý gọi Chủ tịch Hồ Chí Minh là “Bác/Bác Hồ” cũng như việc đồng bào các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên hết mực yêu thương, gọi người là “Bok Hồ/Cha Hồ”. Đây là một danh xưng thân thiết như một người anh của cha ở trong các gia đình của người Việt Nam, dù đó là gia đình theo “tam đại đồng đường” hay “tứ đại đồng đường” và đó là biểu thị lòng yêu quý, là bởi sự kính trọng nhưng vô cùng giản dị trong văn hóa Việt Nam, lối sống Việt Nam, chứ không phải việc mọi người dân gọi Chủ tịch Hồ Chí Minh là “Bác”- là do bị “ép buộc” hay do Đảng Cộng sản Việt Nam “thần thánh hóa lãnh tụ” như các thế lực thù địch xuyên tạc, cố tình bôi nhọ.

Thực tế, lần đầu tiên Chủ tịch Hồ Chí Minh xưng “Bác” là trong “Trả lời thư chúc mừng của Hội Nhi đồng Công giáo khu Thượng Mỹ, huyện Phú Xuyên, Hà Đông” ngày 10/5/1947. Cụ thể, Người viết: “Bác cảm ơn các cháu. Bác khuyên các cháu: - Biết giữ kỷ luật. - Siêng học, siêng làm. -Yêu Chúa, yêu nước. Bác hôn các cháu”. Phía dưới Người ký: Hồ Chí Minh, chứ không ký là Bác Hồ. Sau đó, trong “Thư gửi nhi đồng toàn quốc nhân kỷ niệm Cách mạng tháng Tám” tháng 8/1947, Người viết ở trên cùng là “Hỡi các cháu yêu quý”… đến cuối thư Người ghi rõ “Bác hôn tất cả các cháu” và ký: Bác Hồ. Từ đó, danh xưng “Bác/Bác Hồ” xuất hiện và được sử dụng cho đến ngày nay.

Tuy nhiên, có một điều đặc biệt là, không chỉ nhân dân Việt Nam mà ngay cả Jean Lacouture - một nhà văn, nhà báo, nhà chính trị người Pháp (một trong những người nước ngoài đầu tiên) đã sớm gọi Chủ tịch Hồ Chí Minh là “Bác Hồ” trong cuốn tiểu sử Chủ tịch Hồ Chí Minh của mình, khi ông viết “Bác Hồ bây giờ là một người cao tuổi. Đời Bác đã trải qua cả nửa thế kỷ đấu tranh cách mạng... Nhưng nếu cậu bé Cung trở thành Nguyễn Tất Thành, trở thành anh Ba, trở thành Nguyễn Ái Quốc, trở thành Vương, trở thành Line, rồi trở thành Hồ Chí Minh không được tự mắt nhìn thấy nước Việt Nam độc lập và thống nhất từ Mục Nam Quan đến mũi Cà Mau, thì những người Việt Nam khác, những người được Bác Hồ đào tạo nên và cũng đều được tôi luyện trong chiến đấu, họ sẽ thay mặt Người mà chứng kiến điều ấy trở thành hiện thực”.

Cùng với đó, nhận định: “Chủ tịch Hồ Chí Minh là một vị lãnh tụ hiếm có trong thời đại chúng ta. Người chẳng những được nhân dân Việt Nam mà còn được nhân dân thế giới yêu mến và kính phục. Người đã cống hiến đời mình từ thuở còn niên thiếu cho đến hơi thở cuối cùng cho cuộc đấu tranh vì độc lập của dân tộc của nhân dân Việt Nam. Người luôn luôn đứng về phía độc lập, công lý và phồn vinh của loài người và đấu tranh để thực hiện những mục tiêu đó. Người là hình ảnh của những đức tính khiêm tốn, giản dị và cần cù” của Tổng thư ký Hội đồng hòa bình Miến Điện cũng là một minh chứng bác bỏ mọi luận điêu bẻ cong sự thật, xuyên tạc về Người như: Chủ tịch Hồ Chí Minh tự “tôn vinh” mình và nếu Chủ tịch Hồ Chí Minh không “du nhập chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam”; không đưa con đường cách mạng Việt Nam theo con đường mà Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 đã đi theo và “sớm bị vứt bỏ từ lâu”; không lựa chọn độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội từ trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng (2/1930) và nếu Đảng Cộng sản Việt Nam không kiên định sự lựa chọn chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng; không kiên trì con đường đi lên chủ nghĩa xã hội được tiếp tục khẳng định trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 và Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), thì Việt Nam đã không phải chịu cảnh “nội chiến dài 30 năm”, không phải tụt hậu, kém phát triển so với Thái Lan, Sinhgapo hàng mấy chục năm…

Việc Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo nhân dân giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do, hòa bình, vì phẩm giá con người  là không thể phủ nhận, nên chẳng ai có thể “bắt buộc toàn dân phải tin theo sự lựa chọn ấy”, nếu sự thật đó không mang lại độc lập - tự do - hạnh phúc thực sự cho mỗi con người. Thực tế, trong bất cứ một cuộc chiến tranh ái quốc vĩ đại nào, của bất cứ dân tộc nào thì những tổn thất, mất mát cũng là không thể tránh khỏi. Cho nên, càng được sống trong độc lập, tự do, hòa bình thì càng phải trân trọng hơn sự phấn đấu, hy sinh của các thế hệ cha anh, của các thế hệ cán bộ, đảng viên và nhân dân, chứ không phải là dùng chiêu trò "phủ nhận sạch trơn" về tư tưởng Hồ Chí Minh, về vai trò của Người đối với cách mạng Việt Nam để nhằm “hạ bệ thần tượng” như các thế lực thù địch đã và đang làm!

Hoằng Tháo