Thứ Ba, 30 tháng 11, 2021

 ĐỐI TƯỢNG PHẢN ĐỘNG NGUYỄN VĂN ĐÀI PHÁT NGÔN

XUYÊN TẠC VẤN ĐỀ NHÂN QUYỀN Ở VIỆT NAM

Hoa Súng

Thực tế, ở Việt Nam không có cơ quan nào với tên gọi “cơ quan nhân quyền quốc gia, tên tiếng Anh là: National Human Rights Institutions, viết tắt là: NHRIs”, nhưng trong hệ thống chính trị của nước ta, các cơ quan, tổ chức đang thực hiện chức năng, nhiệm vụ về bảo vệ, thúc đẩy quyền con người trong một số lĩnh vực đặc biệt như: Ban Dân nguyện của Quốc hội, Ủy ban Dân tộc của Chính phủ, Ủy ban Quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam, Ủy ban Quốc gia vì Trẻ em, Ủy ban Quốc gia về người cao tuổi Việt Nam, Ủy ban Quốc gia về người khuyết tật…Hàng năm các chính sách xã hội giành cho các đối tượng được cấp ủy, chính quyền các cấp đặc biệt quan tâm, triển khai thực hiện có hiệu quả. Như vậy thể hiện một vấn đề không thể phủ nhận là tình hình nhân quyền ở Việt Nam luôn được tôn trọng, phát huy đầy đủ và ngày càng được bảo đảm tốt hơn.

Mặt khác từ trước đến nay, quyền con người và pháp luật về quyền con người luôn được quy định cụ thể trong hệ thống pháp luật Việt Nam như Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992 và đặc biệt là Hiến pháp năm 2013 đã thể chế hóa quan điểm của Đảng về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, phù hợp với thực tiễn Việt Nam và chuẩn mực quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã tham gia. Quốc gia Việt Nam đã tích cực tham gia hầu hết các công ước quốc tế cơ bản, quan trọng nhất về quyền con người và được luật hóa như 4 Công ước Geneve của Luật Nhân đạo quốc tế năm 1957; Công ước về quyền dân sự, chính trị; Công ước về quyền kinh tế – xã hội và văn hóa, ngày 24/9/1982; Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ, ngày 18/12/1982; Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc, ngày 19/3/1982; Công ước về quyền trẻ em, ngày 20/2/1990; Công ước về quyền của người khuyết tật, ngày 22/10/2007; tham gia trong việc thành lập Ủy ban liên Chính phủ ASEAN về nhân quyền, ngày 23/10/2009, Ủy ban thúc đẩy và bảo vệ quyền phụ nữ và trẻ em ASEAN (ACWC), ngày 7/4/2010… Đặc biệt, Việt Nam là một trong 06 quốc gia thành viên Liên hợp quốc đã hoàn thành phần lớn các Mục tiêu Phát triển thiên niên kỷ trước thời hạn năm 2015 và được xem là tấm gương điển hình của cộng đồng quốc tế trong thực hiện mục tiêu phát triển bao trùm, không ai bị bỏ lại phía sau của Liên hợp quốc.

Điều này hoàn toàn ngược lại những phát ngôn xuyên tạc của Nguyễn Văn Đài.ngày 21/10/2021 cho rằng: Việt Nam thành lập cơ quan nhân quyền “không phải là cơ quan bảo vệ nhân quyền, mà là cơ quan để che dấu các vi phạm nhân quyền, cũng như để biện minh cho những hành động vi phạm nhân quyền của Chính phủ Việt Nam”.

 

  GIÁ TRỊ LỊCH SỬ, NHÂN VĂN LỜI KÊU GỌI TOÀN QUỐC KHÁNG CHIẾN 19/12/1946 CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

Hoa Súng

Một là, Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh 19/12/1946 khẳng định khát vọng hòa bình của dân tộc Việt Nam và mục đích chính trị của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp là để bảo vệ Tổ quốc.

Hiệp định sơ bộ 06/3/1946 giữa Chính phủ Việt Nam DCCH và Pháp được ký kết nhưng Chính phủ Pháp vẫn không từ bỏ chính sách xâm lược Việt Nam. Song Hồ Chí Minh vẫn kiên trì tìm mọi cách để cứu vãn tình thế khó khăn, tránh nổ ra chiến tranh trong lúc bất lợi nhất, điều đó được thể hiện trong cuộc đàm phán giưa Việt Nam và Pháp tại Hội nghị Phôngtennơblô (06/7-10/9/1946). Với tư cách là thượng khách của Chính phủ Pháp, thực chất là để chỉ đạo phái đoàn của ta. Tại đây Người phát biểu: “Tinh thần thiện chí của Việt Nam khi ký hiệp ước còn giá trị hơn mọi văn bản và lời nói, vì chúng tôi kiên quyết bảo đảm những lợi ích tinh thần, văn hóa và vật chất của Pháp và ngược lại, Pháp phải bảo đảm nền độc lập của chúng tôi. Tôi xin nhắc lại…một chữ “Độc lập” là đủ để đưa lại một sự tín nhiệm đang cần được khẳng định….Tôi đến đây để hòa giải. Tôi không muốn về hà Nội với hai bàn tay trắng. Tôi mong muốn trở về với những kết quả cụ thể, một sự khẳng định tương lai hợp tác mà chúng tôi mong đợi”[1].

Song lập trường ngoan cố của Chính phủ Pháp, Hội nghị Phôngtennơblô bị bế tắc, cả hai vấn đề Độc lập của Việt Nam và Nam bộ là bộ phận không thể tách rời của nước Việt Nam thống nhất chưa được giải quyết. Để cứu vãn tình thế đó ngày 14/9/1946 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký với Thủ tướng Pháp Gioocgiơ Biđôn, ghi nhận những điều khoản chung tạm thời có lợi cho cả hai bên để cùng nhau tiếp tục đám phán trở lại, chậm nhất vào đầu tháng 01/1947.

Tuy nhiên, thực dân Pháp đã phản bội lại những điều ký kết đó, tiếp tục có những hành động khiêu kích ngày càng trắng trợn cho thấy cuộc chiến tranh xâm lược đã đến rất gần với Việt Nam. Đến ngày 13/12/1946, Người vẫn khẳng định:“Đồng bào tôi và tôi thành thực muốn hòa bình. Chúng tôi không muốn chiến tranh. Tôi biết là nhân dân Pháp không muốn chiến tranh. Cuộc chiến tranh này chúng tôi muốn tránh bằng đủ mọi cách…Nước Việt Nam cần kiến thiết, nước Việt Nam không muốn là nơi chôn vùi hàng bao nhiêu sinh mạng. Nhưng cuộc chiến tranh ấy, nếu người ta buộc chúng tôi phải làm thì chúng tôi sẽ làm”[2].

Khi bọn thực dân Pháp gửi tối hậu thư yêu cầu ta buông vũ khí, đầu hàng, buộc dân tộc ta phải đứng lên kháng chiến. Ngay đầu lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến Người nêu rõ: “Hỡi đồng bào toàn quốc! Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta một lần nữa! Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ. Hỡi đồng bào! Chúng ta phải đứng lên!”.

Khi chiến tranh nổ ra, một mặt lãnh đạo nhân dân chiến tranh, mặt khác Người tiếp tục tìm mọi cách cứu vãn hòa bình. Đã rất nhiều lần Người gửi thư, gửi điện cho  Chính phủ, nhân dân, binh lính viễn chính Pháp, kiều Pháp có mặt tại Việt Nam, nhân dân tiến bộ trên thế giới để tố cáo tội ác của Pháp và kêu gọi trở lại đàm phán hòa bình giữ Pháp - Việt. Người đã nêu rõ lập trường của Chính phủ và nhân dân Việt Nam: “Chính phủ và nhân dân Pháp chỉ cần có một cử chỉ công nhận độc lập và thống nhất của nước Việt Nam là chấm dứt được những tai biến này; hòa bình và trật tự sẽ trở lại ngay tức khắc”[3].

“Chúng tôi muốn hòa bình ngay để máu người Pháp và người Việt ngừng chảy. Những dòng máu đó chúng tôi đều quý như nhau. Chúng tôi mong đợi ở Chính phủ và nhân dân Pháp một cử chỉ mang lại hòa bình. Nếu không, chúng tôi bắt buộc phải chiến đấu đến cùng để giải phóng hoàn toàn đất nước. Nước Việt Nam có thể bị tàn phá, nhưng Việt Nam sẽ hùng mạnh hơn sau cuộc tàn phá đó. Còn nước Pháp chắc chắn sẽ mất hết và sẽ biến khỏi hẳn cõi Á châu”[4].

Hai là, Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh 19/12/1946 thể hiện nghệ thuật chọn thời cơ phát động chiến tranh đúng lúc

Trong điều kiện Nhà nước cách mạng non trẻ đang đứng trước vô vàn thử thách, chính quyền chưa được củng cố vững chắc; hơn 20 vạn quân Tưởng và bọn phản động tay sai ráo riết thực hiện âm mưu “diệt cộng, cầm Hồ” lật đổ chính quyền cách mạng; hơn 2 vạn quân Anh đang hỗ trợ cho Pháp xâm lược miền Nam; nền kinh tế vốn nghèo nàn, lạc hậu lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề; nhân dân chưa thoát hẳn nạn đói thì lũ lụt đe dọa, lực lượng vũ trang còn non trẻ, vũ khí trang bị và kinh nghiệm chiến đấu còn rất hạn chế; Đảng ta chưa có kinh nghiệm lãnh đạo tiến hành chiến tranh cách mạng… Đội quân đế quốc Pháp, với vũ khí trang bị hiện đại, đã từng chinh chiến khắp các chiến trường, lại được sự hỗ trợ của quân Anh. Và hơn nữa, gần 100 năm đô hộ, Pháp hiểu khá rõ về Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Giặc Pháp, so với ta, là một kẻ địch khá mạnh”(1). Tuy vậy, Đảng cũng nhận định, thực dân Pháp cũng có những điểm yếu cơ bản không thể khắc phục, mà cái yếu nhất đó là thực dân Pháp tiến hành một cuộc chiến tranh phi nghĩa trong thời đại mới. Về phía ta, có những thuận lợi cơ bản như nhân dân ta có truyền thống yêu nước nồng nàn, chí căm thù giặc sâu sắc, lại chiến đấu ngay trên quê hương, đất nước mình. Tuy nhiên, những nhân tố đó chưa thể phát huy ngay được. Trước mắt, còn hàng loạt khó khăn của một Nhà nước non trẻ, phải gánh chịu hậu quả nặng nề của chế độ thực dân, phong kiến, của chiến tranh và đe dọa của giặc xâm lăng. Nếu phát động chiến tranh ngay Việt Nam gặp nhiều điều bất lợi, sau một thời gian chuẩn bị tốt thế và lực, cuối tháng 12/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh hỏi ý kiến Đại tướng Võ Nguyên Giáp bây giờ nếu phát động chiến tranh Việt Nam có thể giữ được Hà Nội trong bao lâu? Đại tướng Võ Nguyên Giáp trả lời: Thưa Bác, ta có thể giữ được Hà Nội trong khoảng một tháng. Chủ tịch Hồ Chí Minh kết luận, như vậy ta phát động chiến tranh, kết quả ta giữ được Hà Nội gần hai tháng. Vì trong thời gian đó Chính phủ Việt Nam DCCH đang ở Hà Nội, nếu thời gian giữ Hà Nội quá ngắn mà phát động chiến tranh Chính phủ ta sẽ không kịp sơ tán lên chiến khu Việt Bắc.   

Ba là, Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh 19/12/1946 thể hiện nghệ thuật tiến hành chiến tranh nhân dân toàn dân, toàn diện

Với tinh thần kháng chiến toàn dân, toàn diện huy động tất cả mọi người dân ở mọi dân tộc, tôn giáo, thành phần xã hội đều cùng nhau đoàn kết thành một khối thống nhất, phát huy cao độ lòng yêu nước, đặt lợi ích Tổ quốc lên trên hết, trước hết cùng nhau đánh giặc bằng mọi thứ vũ khí có trong tay, đánh địch trên mọi mặt trận.

“...Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp, cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước...”. Đây là luận điểm hoàn toàn đúng đắn thể hiện kế thừa, vận dụng, phát triển kinh nghiệm, truyền thống của dân tộc Việt Nam, chủ nghĩa Mác - Lênin về phát huy vai trò của QCND trong dựng nước, giữ nước và bảo vệ Tổ quốc, có giá trị sâu sắc vận dụng vào sự nghiệp BVTQ trong tình hình mới.

Bốn là, Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh 19/12/1946 thể hiện ý chí quyết tâm bảo vệ Tổ quốc trong mọi hoàn cảnh

Độc lập, tự do và hòa bình là nguyện vọng chính đáng, là thành quả phấn đấu không ngừng của dân tộc Việt Nam. Khi đã giành độc lập rồi thì mục tiêu bảo vệ nền độc lập ấy dù có phải gian khô và hy sinh đến đâu cũng quyết tâm đấu tranh bảo vệ đến cùng. Như Bác đã kêu gọi: “Ta phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng, để giữ gìn đất nước. Dù phải gian khổ kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết hy sinh, thắng lợi nhất định về dân tộc ta!”. Như vậy, một khi đất nước bị xâm lăng, mỗi người dân Việt Nam không tiếc tính mạng, của cải và vật chất quyết tâm chiến đấu đến cùng, sự hy sinh đó dựa trên sự giác ngộ cách mạng và niềm tin lý tưởng chiến thắng của cách mạng, điều đó đã trở thành hành động của hàng triệu đồng bào, chiến sĩ cả nước cùng nhau đứng lên chiến đấu đánh bại kẻ thù xâm lược thực dân Pháp và đế quốc Mỹ sau này.



[1] Hồ Chí Minh, Biên niên tiểu sử, Nxb. Chính trị quốc gia, H.1993, t.3, tr.279.

[2] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2000, t4, tr.473.

 

[3],4 Sđd, t.5, tr.12, 19.

 

  TOÀN QUỐC KHÁNG CHIẾN (19/12/1946) - QUYẾT ĐỊNH MANG Ý NGHĨA LỊCH SỬ TRỌNG ĐẠI

Hoa Súng

Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, ngày 2/9/1945, tại vườn hoa Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ cách mạng lâm thời trịnh trọng đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam DCCH - Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á. Nhưng không lâu sau ngày tuyên bố độc lập ấy, thực dân Pháp trở lại xâm lược nước ta. Trải qua một thời gian nhân nhượng, chuẩn bị tiềm lực mọi mặt, ngày 19/12/1946, kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Đây thực sự là thời khắc trọng đại của lịch sử dân tộc.

Cách mạng Việt Nam vượt qua tình thế hiểm nghèo, chuẩn bị tiềm lực cho kháng chiến

Ngay khi vừa giành lại độc lập, đất nước phải đối diện với muôn vàn khó khăn, thử thách. Theo thỏa thuận giữa các nước đồng minh thắng trận, quân đội Tưởng Giới Thạch vào đóng tại miền Bắc, quân Anh (theo sau là quân Pháp) vào đóng tại miền Nam Việt Nam làm nhiệm vụ giải giáp quân đội Nhật (lấy vĩ tuyến 16 làm ranh giới), nhưng đều nuôi dưỡng ý đồ tiêu diệt lực lượng cách mạng và ĐCS Đông Dương, thành lập chính quyền phản động tay sai. Trong khi đó, tình hình kinh tế, chính trị, xã hội trong nước rơi vào khủng hoảng trầm trọng: sản xuất trì trệ, ngân khố quốc gia trống rỗng, nạn đói năm 1945 làm gần 2 triệu người chết chưa khắc phục xong, hơn 90% dân số mù chữ, tệ nạn xã hội còn rất phổ biến, các thế lực phản động ra sức hoạt động chống phá... Vận mệnh dân tộc nguy nan như “ngàn cân treo sợi tóc”.

Trong tình thế hiểm nghèo ấy, Đảng và Chính phủ nước Việt Nam DCCH do CT.Hồ Chí Minh đứng đầu đã đề ra những quyết sách đúng đắn, sáng tạo: Tổ chức Tổng tuyển cử bầu Quốc hội, HĐND nhằm củng cố chính quyền cách mạng, xây dựng nền móng cho chế độ mới; phát động phong trào tăng gia sản xuất, xóa bỏ mọi thứ thuế vô lý, thực hiện giảm tô, chia lại ruộng công, tịch thu ruộng đất của đế quốc, việt gian chia cho nông dân nghèo; mở lớp Bình dân học vụ kêu gọi toàn dân tham gia phong trào xóa nạn mù chữ; xây dựng “Quỹ độc lập” và phong trào “Tuần lễ vàng” huy động đóng góp tự nguyện của nhân dân; phát triển LLVT cách mạng theo nguyên tắc toàn diện cả về chính trị và quân sự, chú trọng cả số lượng và chất lượng... Nhờ đó, chỉ một thời gian ngắn, ta đã căn bản diệt được “giặc đói”, “giặc dốt”, giải quyết khó khăn về tài chính, từng bước tăng cường sức mạnh quốc phòng, an ninh.

Với chính sách bảo thủ phản động, thực dân Pháp huy động lực lượng trở lại tái chiếm Đông Dương. Chúng hi vọng với vũ khí trang bị cùng phương tiện chiến tranh hiện đại, đội quân xâm lược nhà nghề sẽ nhanh chóng phát huy sức mạnh, đè bẹp mọi sự kháng cự của cách mạng Việt Nam, thiết lập lại nền cai trị thuộc địa hà khắc, tàn bạo trước đây.

Được sự giúp đỡ của quân đội Anh, ngày 23/9/1945, thực dân Pháp tiến công Sài Gòn mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược nước ta lần thứ hai.

Tiếp đó, từ tháng 10/1945 - 01/1946, quân Pháp tiếp tục đánh chiếm nhiều địa bàn quan trọng ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ, từng bước thiết lập hệ thống kìm kẹp tại cơ sở. Trong bối cảnh đó, để tránh phải đương đầu với nhiều kẻ thù cùng một lúc, Chính phủ Việt Nam DCCH một mặt nhân nhượng cho quân đội Tưởng Giới Thạch một số quyền lợi ở miền Bắc (nhận cung cấp lương thực, nhận tiêu tiền “quan kim”, “quốc tệ” đã mất giá...), mặt khác kiên quyết phát động phong trào ủng hộ Nam Bộ kháng chiến, đưa hàng vạn cán bộ, chiến sĩ vào Nam chiến đấu, trực tiếp góp phần làm thất bại âm mưu “đánh nhanh, thắng nhanh” của thực dân Pháp.

Do gặp khó khăn ở chiến trường miền Nam, thực dân Pháp không đủ khả năng đánh chiếm ngay miền Bắc, buộc phải đàm phán với Tưởng Giới Thạch hòng tìm bước đi thích hợp.

Cuối tháng 02/1946, Hiệp ước Hoa - Pháp được ký kết. Theo đó, thực dân Pháp nhượng bộ cho Tưởng Giới Thạch một số quyền lợi kinh tế, chính trị, văn hóa... Ngược lại, quân Pháp sẽ ra miền Bắc thay thế quân Tưởng làm nhiệm vụ giải giáp quân đội Nhật, nhưng thực chất là chờ viện binh phát động chiến tranh.

Để nhanh chóng gạt quân Tưởng về nước, đồng thời có thêm điều kiện chuẩn bị tiềm lực, ngày 06/3/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ Việt Nam DCCH ký với đại diện Chính phủ Pháp (Xanhtơni) bản Hiệp định sơ bộ, chấp thuận cho quân Pháp ra miền Bắc thay quân Tưởng làm nhiệm vụ giải giáp quân đội Nhật.

Ngày 14/9/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký với Chính phủ Pháp bản Tạm ước nhượng bộ cho Pháp thêm một số quyền lợi về kinh tế - văn hóa ở Việt Nam. Tranh thủ thời gian hòa hoãn, nhân dân ta ra sức xây dựng lực lượng.

Ngày 22/5/1946, Chính phủ ra sắc lệnh quy định Vệ quốc đoàn chính thức trở thành Quân đội quốc gia nước Việt Nam DCCH. Ngoài ra, cách mạng còn có gần 1 triệu đội viên thuộc lực lượng DQTV khắp cả nước, tạo nền tảng vững chắc cho sự nghiệp đấu tranh suốt chặng đường về sau.

Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp bùng nổ - tầm vóc và ý nghĩa lịch sử

Cuối năm 1946, sau khi có thêm viện binh, thực dân Pháp liên tục tiến hành các hành động khiêu khích. Tháng 11/1946, chúng chiếm đóng Hải Phòng, Lạng Sơn, chính thức gây ra cuộc chiến tranh xâm lược miền Bắc.

Tại Hà Nội, từ đầu tháng 12/1946, quân Pháp liên tục dùng đại bác, súng cối bắn phá vào nhiều khu phố tàn sát dân thường... đưa quân chiếm một số trụ sở cách mạng. Đặc biệt, ngày 18 và 19/12/1946, thực dân Pháp đã liên tiếp gửi tối hậu thư buộc Chính phủ Việt Nam DCCH phải phá bỏ công sự trong thành phố, giải tán lực lượng tự vệ, giao quyền kiểm soát Thủ đô cho chúng.

Ngày 18 và 19/12/1946, trước âm mưu, hành động xâm lược của kẻ thù, nhân dân Việt Nam không có con đường nào khác là cầm súng chiến đấu để bảo vệ lập, tự do. BTV Trung ương Đảng đã họp hội nghị tại Vạn Phúc (Hà Đông), quyết định phát động toàn quốc kháng chiến.

Khoảng 20 giờ ngày 19/12/1946, quân dân Thủ đô Hà Nội nổ súng mở đầu kháng chiến toàn quốc. Ngay đêm 19/12/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ ra lời kêu gọi đồng bào, trong đó Người khẳng định rõ:

Hỡi đồng bào toàn quốc! Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta một lần nữa! Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ. Hỡi đồng bào! Chúng ta phải đứng lên! Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp, cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước. Hỡi anh em binh sĩ, tự vệ, dân quân! Giờ cứu quốc đã đến. Ta phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng, để giữ gìn đất nước. Dù phải gian khổ kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết hy sinh, thắng lợi nhất định về dân tộc ta! Việt Nam độc lập và thống nhất muôn năm. Kháng chiến thắng lợi muôn năm”.

Chấp hành mệnh lệnh của Trung ương Đảng và Bộ Tổng chỉ huy, quân dân ta tại các thành phố, thị xã ở bắc vĩ tuyến 16 có quân Pháp chiếm đóng đồng loạt nổ súng đánh địch. Chiến sự diễn ra rất quyết liệt, đặc biệt là trong các thành phố lớn. Ngay tại Thủ đô Hà Nội, dù lực lượng chênh lệch, vũ khí thô sơ chống lại kẻ địch tinh nhuệ được trang bị hiện đại, nhưng với tinh thần “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”, đồng bào, chiến sĩ ta vẫn kiên cường bám trụ, giành nhau với địch từng căn nhà, từng góc phố. Cùng với Hà Nội, quân dân các địa phương khắp Bắc, Trung, Nam đã anh dũng đứng lên chống thực dân Pháp xâm lược. Cả dân tộc chung sức đồng lòng với ý chí sục sôi, niềm tin tất thắng. Trải qua gần 2 tháng liên tục chiến đấu và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đề ra (tiêu hao, giam chân địch trong thành phố, tạo điều kiện di chuyển các cơ quan, kho tàng, tổ chức nhân dân tản cư về vùng căn cứ xây dựng thế trận kháng chiến lâu dài), lực lượng ta chủ động rút về hậu phương an toàn.

  

 

 

GIÁ TRỊ LỊCH SỬ, NHÂN VĂN LỜI KÊU GỌI

TOÀN QUỐC KHÁNG CHIẾN 19/12/1946 CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

Hoa Súng

Một là, Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh 19/12/1946 khẳng định khát vọng hòa bình của dân tộc Việt Nam và mục đích chính trị của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp là để bảo vệ Tổ quốc.

Hiệp định sơ bộ 06/3/1946 giữa Chính phủ Việt Nam DCCH và Pháp được ký kết nhưng Chính phủ Pháp vẫn không từ bỏ chính sách xâm lược Việt Nam. Song Hồ Chí Minh vẫn kiên trì tìm mọi cách để cứu vãn tình thế khó khăn, tránh nổ ra chiến tranh trong lúc bất lợi nhất, điều đó được thể hiện trong cuộc đàm phán giưa Việt Nam và Pháp tại Hội nghị Phôngtennơblô (06/7-10/9/1946). Với tư cách là thượng khách của Chính phủ Pháp, thực chất là để chỉ đạo phái đoàn của ta. Tại đây Người phát biểu: “Tinh thần thiện chí của Việt Nam khi ký hiệp ước còn giá trị hơn mọi văn bản và lời nói, vì chúng tôi kiên quyết bảo đảm những lợi ích tinh thần, văn hóa và vật chất của Pháp và ngược lại, Pháp phải bảo đảm nền độc lập của chúng tôi. Tôi xin nhắc lại…một chữ “Độc lập” là đủ để đưa lại một sự tín nhiệm đang cần được khẳng định….Tôi đến đây để hòa giải. Tôi không muốn về hà Nội với hai bàn tay trắng. Tôi mong muốn trở về với những kết quả cụ thể, một sự khẳng định tương lai hợp tác mà chúng tôi mong đợi”[1].

Song lập trường ngoan cố của Chính phủ Pháp, Hội nghị Phôngtennơblô bị bế tắc, cả hai vấn đề Độc lập của Việt Nam và Nam bộ là bộ phận không thể tách rời của nước Việt Nam thống nhất chưa được giải quyết. Để cứu vãn tình thế đó ngày 14/9/1946 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký với Thủ tướng Pháp Gioocgiơ Biđôn, ghi nhận những điều khoản chung tạm thời có lợi cho cả hai bên để cùng nhau tiếp tục đám phán trở lại, chậm nhất vào đầu tháng 01/1947.

Tuy nhiên, thực dân Pháp đã phản bội lại những điều ký kết đó, tiếp tục có những hành động khiêu kích ngày càng trắng trợn cho thấy cuộc chiến tranh xâm lược đã đến rất gần với Việt Nam. Đến ngày 13/12/1946, Người vẫn khẳng định:“Đồng bào tôi và tôi thành thực muốn hòa bình. Chúng tôi không muốn chiến tranh. Tôi biết là nhân dân Pháp không muốn chiến tranh. Cuộc chiến tranh này chúng tôi muốn tránh bằng đủ mọi cách…Nước Việt Nam cần kiến thiết, nước Việt Nam không muốn là nơi chôn vùi hàng bao nhiêu sinh mạng. Nhưng cuộc chiến tranh ấy, nếu người ta buộc chúng tôi phải làm thì chúng tôi sẽ làm”[2].

Khi bọn thực dân Pháp gửi tối hậu thư yêu cầu ta buông vũ khí, đầu hàng, buộc dân tộc ta phải đứng lên kháng chiến. Ngay đầu lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến Người nêu rõ: “Hỡi đồng bào toàn quốc! Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta một lần nữa! Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ. Hỡi đồng bào! Chúng ta phải đứng lên!”.

Khi chiến tranh nổ ra, một mặt lãnh đạo nhân dân chiến tranh, mặt khác Người tiếp tục tìm mọi cách cứu vãn hòa bình. Đã rất nhiều lần Người gửi thư, gửi điện cho  Chính phủ, nhân dân, binh lính viễn chính Pháp, kiều Pháp có mặt tại Việt Nam, nhân dân tiến bộ trên thế giới để tố cáo tội ác của Pháp và kêu gọi trở lại đàm phán hòa bình giữ Pháp - Việt. Người đã nêu rõ lập trường của Chính phủ và nhân dân Việt Nam: “Chính phủ và nhân dân Pháp chỉ cần có một cử chỉ công nhận độc lập và thống nhất của nước Việt Nam là chấm dứt được những tai biến này; hòa bình và trật tự sẽ trở lại ngay tức khắc”[3].

“Chúng tôi muốn hòa bình ngay để máu người Pháp và người Việt ngừng chảy. Những dòng máu đó chúng tôi đều quý như nhau. Chúng tôi mong đợi ở Chính phủ và nhân dân Pháp một cử chỉ mang lại hòa bình. Nếu không, chúng tôi bắt buộc phải chiến đấu đến cùng để giải phóng hoàn toàn đất nước. Nước Việt Nam có thể bị tàn phá, nhưng Việt Nam sẽ hùng mạnh hơn sau cuộc tàn phá đó. Còn nước Pháp chắc chắn sẽ mất hết và sẽ biến khỏi hẳn cõi Á châu”[4].

Hai là, Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh 19/12/1946 thể hiện nghệ thuật chọn thời cơ phát động chiến tranh đúng lúc

Trong điều kiện Nhà nước cách mạng non trẻ đang đứng trước vô vàn thử thách, chính quyền chưa được củng cố vững chắc; hơn 20 vạn quân Tưởng và bọn phản động tay sai ráo riết thực hiện âm mưu “diệt cộng, cầm Hồ” lật đổ chính quyền cách mạng; hơn 2 vạn quân Anh đang hỗ trợ cho Pháp xâm lược miền Nam; nền kinh tế vốn nghèo nàn, lạc hậu lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề; nhân dân chưa thoát hẳn nạn đói thì lũ lụt đe dọa, lực lượng vũ trang còn non trẻ, vũ khí trang bị và kinh nghiệm chiến đấu còn rất hạn chế; Đảng ta chưa có kinh nghiệm lãnh đạo tiến hành chiến tranh cách mạng… Đội quân đế quốc Pháp, với vũ khí trang bị hiện đại, đã từng chinh chiến khắp các chiến trường, lại được sự hỗ trợ của quân Anh. Và hơn nữa, gần 100 năm đô hộ, Pháp hiểu khá rõ về Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Giặc Pháp, so với ta, là một kẻ địch khá mạnh”(1). Tuy vậy, Đảng cũng nhận định, thực dân Pháp cũng có những điểm yếu cơ bản không thể khắc phục, mà cái yếu nhất đó là thực dân Pháp tiến hành một cuộc chiến tranh phi nghĩa trong thời đại mới. Về phía ta, có những thuận lợi cơ bản như nhân dân ta có truyền thống yêu nước nồng nàn, chí căm thù giặc sâu sắc, lại chiến đấu ngay trên quê hương, đất nước mình. Tuy nhiên, những nhân tố đó chưa thể phát huy ngay được. Trước mắt, còn hàng loạt khó khăn của một Nhà nước non trẻ, phải gánh chịu hậu quả nặng nề của chế độ thực dân, phong kiến, của chiến tranh và đe dọa của giặc xâm lăng. Nếu phát động chiến tranh ngay Việt Nam gặp nhiều điều bất lợi, sau một thời gian chuẩn bị tốt thế và lực, cuối tháng 12/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh hỏi ý kiến Đại tướng Võ Nguyên Giáp bây giờ nếu phát động chiến tranh Việt Nam có thể giữ được Hà Nội trong bao lâu? Đại tướng Võ Nguyên Giáp trả lời: Thưa Bác, ta có thể giữ được Hà Nội trong khoảng một tháng. Chủ tịch Hồ Chí Minh kết luận, như vậy ta phát động chiến tranh, kết quả ta giữ được Hà Nội gần hai tháng. Vì trong thời gian đó Chính phủ Việt Nam DCCH đang ở Hà Nội, nếu thời gian giữ Hà Nội quá ngắn mà phát động chiến tranh Chính phủ ta sẽ không kịp sơ tán lên chiến khu Việt Bắc.   

Ba là, Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh 19/12/1946 thể hiện nghệ thuật tiến hành chiến tranh nhân dân toàn dân, toàn diện

Với tinh thần kháng chiến toàn dân, toàn diện huy động tất cả mọi người dân ở mọi dân tộc, tôn giáo, thành phần xã hội đều cùng nhau đoàn kết thành một khối thống nhất, phát huy cao độ lòng yêu nước, đặt lợi ích Tổ quốc lên trên hết, trước hết cùng nhau đánh giặc bằng mọi thứ vũ khí có trong tay, đánh địch trên mọi mặt trận.

“...Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp, cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước...”. Đây là luận điểm hoàn toàn đúng đắn thể hiện kế thừa, vận dụng, phát triển kinh nghiệm, truyền thống của dân tộc Việt Nam, chủ nghĩa Mác - Lênin về phát huy vai trò của QCND trong dựng nước, giữ nước và bảo vệ Tổ quốc, có giá trị sâu sắc vận dụng vào sự nghiệp BVTQ trong tình hình mới.

Bốn là, Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh 19/12/1946 thể hiện ý chí quyết tâm bảo vệ Tổ quốc trong mọi hoàn cảnh

Độc lập, tự do và hòa bình là nguyện vọng chính đáng, là thành quả phấn đấu không ngừng của dân tộc Việt Nam. Khi đã giành độc lập rồi thì mục tiêu bảo vệ nền độc lập ấy dù có phải gian khô và hy sinh đến đâu cũng quyết tâm đấu tranh bảo vệ đến cùng. Như Bác đã kêu gọi: “Ta phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng, để giữ gìn đất nước. Dù phải gian khổ kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết hy sinh, thắng lợi nhất định về dân tộc ta!”. Như vậy, một khi đất nước bị xâm lăng, mỗi người dân Việt Nam không tiếc tính mạng, của cải và vật chất quyết tâm chiến đấu đến cùng, sự hy sinh đó dựa trên sự giác ngộ cách mạng và niềm tin lý tưởng chiến thắng của cách mạng, điều đó đã trở thành hành động của hàng triệu đồng bào, chiến sĩ cả nước cùng nhau đứng lên chiến đấu đánh bại kẻ thù xâm lược thực dân Pháp và đế quốc Mỹ sau này.

 

 



[1] Hồ Chí Minh, Biên niên tiểu sử, Nxb. Chính trị quốc gia, H.1993, t.3, tr.279.

[2] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2000, t4, tr.473.

 

[3],4 Sđd, t.5, tr.12, 19.

 

 “LỜI KÊU GỌI TOÀN QUỐC KHÁNG CHIẾN”

VỚI VẤN ĐỀ NHẬN THỨC BẢN CHẤT, ÂM MƯU CỦA KẺ THÙ

                                             Trung Lập

Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hoà - Nhà nước dân chủ, nhà nước công nông đầu tiên trong lịch sử dân tộc Việt Nam và cũng là nhà nước đầu tiên trong hệ thống các nước thuộc địa tuyên bố giành được quyền tự do, độc lập và chính thức bắt tay vào xây dựng đất nước theo con đường đã lựa chọn. Thế nhưng, thực dân Pháp đã bội ước, đã “chà đạp” lên nguyện vọng chính đáng của nhân dân ta, chúng đã dùng mọi thủ đoạn, kể cả thủ đoạn độc ác nhất để xoá bỏ thành quả cách mạng mà nhân dân ta bằng xương máu của mình sau gần một thế kỷ đấu tranh mới giành lại được. Tại sao thực dân Pháp lại bội ước và quay trở lại xâm lược nước ta ngay sau cách mạng tháng Tám năm 1945 ? Phải chăng họ “hối hận” vì đã không làm tròn “bổn phận” của người đi “khai hoá” cho một dân tộc nhỏ bé, nghèo nàn và lạc hậu là Việt Nam?  Phải chăng “văn hoá của người Pháp và văn minh của châu Âu là “đỉnh cao của nhân loại”, cần phải truyền bá vào Việt Nam và Đông Dương bằng bất cứ giá nào?

 Năm tháng đã qua đi, các câu hỏi nêu trên đã từng bước được làm sáng tỏ bằng những chứng cứ  lịch sử xác thực, bằng những tài liệu mật đã được giải mật, bằng những lời “thú nhận” của cả phía bên kia - những cựu chiến binh đã từng tham gia chiến tranh ở Việt Nam thời đó và cả sự thừa nhận của những người “trong cuộc” có lương tâm, “trung thực” trên thế giới, tất cả đều khẳng định rằng: “Nguồn gốc sâu xa và nguyên nhân trực tiếp của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp là do dã tâm của bọn thực dân phản động Pháp muốn quay trở lại xâm lược nước ta một lần nữa, đặt ách thống trị và áp bức của chúng lên đầu lên cổ nhân dân ta1. Trong “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến”, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng khẳng định: “Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa”2. Tại sao thực dân Pháp lại “quyết tâm cướp nước ta lần nữa”? Họ cố tình quay trở lại xâm lược Việt Nam nhằm mục đích gì? Phải chăng đó là hành động tự phát, nhất thời? Không! Điều đó hoàn toàn không phải là tự phát, càng không phải là ý muốn chủ quan của một cá nhân nào đó trong giới cầm quyền “chóp bu” của Chính phủ Pháp mà là “ý thức hệ” của giai cấp tư sản Pháp, chủ nghĩa thực dân Pháp được thể hiện bằng một kế hoạch đã được vạch sẵn, có các “bước đi và lộ trình rõ ràng”, được khởi đầu từ giữa thế kỷ XIX, khi quân Pháp lần đầu tiên đặt gót giày xâm lược lên đất nước ta ở cảng Đà Nẵng... và đến thời tướng Đờ Gôn, khi nước Pháp còn bị phát xít Đức chiếm đóng, thì kế hoạch này đã được Đờ Gôn điều chỉnh, bổ sung và triển khai thực hiện. Ông ta tuyên bố rằng: Phải đứng về phía Đồng Minh chống phát xít để cứu nước Pháp. Kế hoạch cứu và phục hưng nước Pháp trở thành “mệnh lệnh” không chỉ thôi thúc Đờ Gôn và những người đứng đầu Chỉnh phủ Pháp xích lại gần các nước Đồng Minh là Anh, Mỹ với những cái bắt tay “thân mật”, để rồi tạm gác hoặc “quên đi” những hận thù, những hiềm khích vốn có trong lịch sử để lo việc lớn mà còn bừng sáng tia hy vọng ở Đờ Gôn: Bành trướng sang Châu Á, nhanh chóng áp đặt nền thống trị ở Đông Dương, mở rộng khai thác thuộc địa để bù đắp cho sự thiếu hụt tài sản do chi phí cho chiến tranh quá lớn và sự khan hiếm nguồn tài nguyên thiên nhiên của chính quốc (nước Pháp). Vì vậy, từ năm 1943, khi cuộc chiến chống quân phát xít bắt đầu mở rộng thì trong tay Đờ Gôn đã có sẵn một bản kế hoạch chi tiết “trở lại Đông Dương”, tiếp tục thực hiện mưu đồ “khai hoá” Việt Nam, truyền bá “văn minh người Pháp” cho xứ này.

Rõ ràng, việc thực Pháp quay trở lại xâm lược nước ta một lần nữa đã nằm trong kế hoạch của Đờ Gôn và Chính phủ Pháp, nó bộc lộ rõ bản chất và bộ mặt thật của đội quân xâm lược hiếu chiến: muốn đặt ách thống trị và áp bức của chúng lên đầu, lên cổ nhân dân ta, biến nước ta thành thuộc địa - nơi cung cấp các nguyên vật liệu cần thiết để làm giàu cho chúng. Ở đây, có một số vấn đề đặt ra cần làm sáng tỏ là: để nhanh chóng thực hiện mưu đồ: “hàn gắn vết thương chiến tranh, nhanh chóng phục hưng nước Pháp”, tại sao kẻ thù lại không lựa chọn các nước khác để xâm lược và biến các nước đó làm thuộc địa của mình một cách dễ dàng hơn, mà lại lựa chọn và tiến hành xâm lược Việt Nam, dù chúng biết rằng xâm lược và thôn tính dân tộc này sẽ rất khó khăn. Việt Nam là một dân tộc vốn có truyền thống 4000 năm dựng nước và đánh giặc giữ nước, rất yêu chuộng hoà bình và thiết tha với độc lập, tự do. Vậy thì, điều gì khiến thực dân Pháp phiêu lưu, mạo hiểm? Phải chăng họ quá tin vào sức mạnh của đội quân xâm lược với đầy đủ vũ khí tối tân hiện đại nhất nhì thời đó sẽ giúp họ sớm đè bẹp sự phản kháng của Việt Nam? Phải chăng, khi nghiên cứu lịch sử các cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của những người tiền nhiệm họ đã tìm thấy bài học kinh nghiệm để có thể không lặp lại những thất bại thảm hại mà mà những người đi trước đã mắc phải?

Luận giải các vấn đề nêu trên sẽ có nhiều đáp án khác nhau, tuỳ theo cách nhìn nhận của mỗi người, mỗi thế hệ khác nhau. Song, dù luận giải thế nào thì thực tế sau đây không ai có thể bác bỏ: Đem quân đi xâm lược Việt Nam và Đông Dương từ năm 1858 và lại quay lại xâm lược Việt Nam và Đông Dương lần thứ 2 sau năm 1945, hẳn là giới cầm quyền “chóp bu” trong Chính phủ Pháp đã phải cân nhắc và tính toán rất kỹ lưỡng. Với nền khoa học, kỹ thuật phát triển và những “bộ óc tầm cỡ quốc tế”, “có tri thức bách khoa thư”, họ thừa sức hiểu rõ cái được, cái mất, cái lợi, các hại khi tiến hành xâm lược Việt Nam. Trong sự tính toán đó, họ luôn tự đắc ý là cuối cùng sẽ nắm chắc phần thắng trong tay, còn việc để cho Việt Nam giành được chính quyền trong cách mạng tháng Tám năm 1945 chỉ là sự cố “sai sót nhỏ” do điều kiện lịch sử “khách quan” tạo ra. Vì vậy, thực dân Pháp quay trở lại xâm lược Việt Nam sau cách mạng tháng Tám năm 1945 là để “sửa lại” những “sai sót nhỏ” không đáng có bởi sự “sơ suất” mà họ mắc phải. Thực chất điều này là gì? Đằng sau những lời hoa mỹ ấy cần phải hiểu như thế nào cho đúng? Ai cũng biết rằng, đem quân đi xâm lược Việt Nam không phải là “một cuộc dạo chơi” hay thăm quan du lịch của thực dân Pháp mà thực chất là chúng triển khai thực hiện những ý đồ đã định sẵn vì lợi ích của nước Pháp, là nhằm củng cố và không ngừng nâng cao uy tín, vị thế của một cường quốc về kinh tế, chính trị, văn hoá, khoa học và quân sự trên trường quốc tế. Đúng vậy! Sau hơn 20 năm tiến hành những cuộc hành binh man rợ, tàn sát đẫm máu những cuộc khỏi nghĩa của nhân dân ta, thực dân Pháp mới áp đặt xong ách thống trị trên đất nước Việt Nam. Kể từ sau khi tập đoàn phong kiến bán nước ký hiệp ước đầu hàng nhục nhã Patenôtre thì chương trình khai thác lần thứ nhất của thực dân Pháp ở Việt Nam mới chính thức được triển khai ồ ạt, với quy mô lớn... Tuy nhiên, trong quá trình khai thác, thực dân Pháp luôn gặp phải sự kháng cự quyết liệt của tất cả tầng lớp nhân dân Việt Nam: vua quan phong kiến, sĩ phu yêu nước, học sinh, sinh viên, tư sản và tiểu tư sản, các tầng lớp nhân dân lao động khác... Song, các cuộc đấu tranh   không cân sức của nhân dân ta chống thực dân Pháp đều bị chúng dìm trong biển máu, nguồn khoáng sản, tài nguyên thiên nhiên và nguồn nhân công rẻ mạt từ Việt Nam vẫn cứ đều đặn được đưa về Pháp ngày càng nhiều hơn để phục vụ cho lợi ích của giai cấp tư sản Pháp ở chính quốc.

Sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914 - 1918), Pháp tuy là một nước thắng trận, nhưng bị tàn phá nặng nề, nền kinh tế rơi vào tình trạng đình dốn, kiệt quệ. Để bù đắp cho các thiệt hại lớn do chiến tranh gây ra, bọn tư bản độc quyền Pháp vừa tăng cường bóc lột nhân dân lao động ở chính quốc, vừa ráo riết đẩy mạnh khai thác thuộc địa. Do vậy, “chương trình khai thác lần thứ hai” ở Đông Dương, trong đó có Việt Nam, chính là nhằm mục đích đó.

Thực dân Pháp đã tăng cường đầu tư vào Việt Nam, một mặt là nhằm khai thác được nhiều hơn kho tài nguyên thiên nhiên phong phú và nguồn nhân công rẻ mạt; mặc khác, chúng muốn nắm thật chặt thị trường Việt Nam để điều tiết thị trường Lào và Campuchia. Chỉ trong vòng 6 năm (1924-1929), tổng số vốn đầu tư vào Đông Dương đã tăng gấp 6 lần so với số vốn đầu tư 20 năm trước chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Chúng bỏ vốn nhiều nhất vào nông nghiệp (chủ yếu là đồn điền cao su) và khai mỏ (chủ yếu là mỏ than). Ngoài ra, tư bản Pháp còn mở thêm một số cơ sở công nghiệp chế biến, cho xây dựng một số chợ lớn và đầu tư, phát triển mạng lưới giao thông vận tải để phục vụ cho việc khai thác và chuyên chở nguyên vật liệu, lưu thông hàng hoá trong nước và ngoài nước. Đường sắt xuyên Đông Dương đã ra đời (1927). Ngân hàng Đông Dương được mở rộng, tư bản tài chính Pháp có cổ phần trong hầu hết các công ty và xí nghiệp lớn. Vì vậy, họ đã nắm quyền chỉ huy các ngành kinh tế Đông Dương. Để tăng thêm lợi nhuận, thực dân Pháp dùng mọi thủ đoạn bóc lột, vơ vét tài sản của nhân dân ta bằng cách đánh thuế nặng. Chính nhờ vào các khoản thu nêu trên mà ngân sách Đông Dương từ 1912 đến 1930 đã tăng gấp 3 lần. Rõ ràng, “miếng mồi ngon” là vậy, một khoản thu lợi lớn đến như vậy, làm sao các nhà tư bản “tài phiệt” Pháp dám từ bỏ, làm sao họ có thể như nhẹ nhàng “cuốn gói ra đi”, nhất là vào thời điểm “nước sôi lửa bỏng”, nước Pháp đang rơi vào tình cảnh suy tàn, kiệt quệ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, rất cần tiếp sức để hồi sinh. Có thể khẳng định rằng, lợi ích kinh tế là một trong những mục đích chủ yếu, xuyên suốt, và là động lực cơ bản nhất thôi thúc thực dân Pháp đưa quân xâm lược Việt Nam và Đông Dương, với ý đồ biến mảnh đất này thành thuộc địa để nuôi dưỡng, làm giàu cho chúng. Vì thế, chúng bất chấp đạo lý làm người, bất chấp dư luận và luật pháp quốc tế, ngang ngược thực hiện kế hoạch xâm lược Việt Nam. Có thể nói rằng, xâm lược Việt Nam và Đông Dương để phục hưng nước Pháp là động lực chi phối, quyết định bản chất, âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù. Điều này hoàn toàn đúng với nhận định của C.Mác: Khi lợi nhuận đạt tới 100% thì nhà tư bản sẽ không từ bỏ một thủ đoạn nào, kể cả chui đầu vào thòng lọng.

          Nếu không phải là vậy thì tại sao thực dân Pháp lại cứ đeo đuổi mục đích và bằng mọi cách để quay lại xâm lược Việt Nam, thôn tính Việt Nam sau năm 1945? Chúng ta biết rằng, trước 1858 giữa Việt Nam và Pháp chưa có mối quan hệ ngoại giao, hai dân tộc hoàn toàn không có thù hận, vướng mắc nào. Việc thực dân Pháp tự cho mình là văn minh, tiến bộ, đi khai hoá cho Việt Nam chỉ là cái trò lừa bịp để đem quân xâm lược Việt Nam, nhằm mục đích mở rộng thuộc địa, đặt ách thống trị ở Việt Nam và Đông Dương để khai thác, vơ vét càng nhiều càng tốt nguồn tài nguyên thiên nhiên và nguồn dân công rẻ mạt để phục vụ cho sự phát triển của giai cấp tư sản Pháp ở chính quốc. Điều này đã quá rõ ràng. Vậy thì, kịch bản mà thực dân Pháp soạn sẵn để quay trở lại xâm lược Việt Nam lần thứ hai có gì là mới ngoài việc “đâm lao thì phải theo lao”? Có đúng là họ hối hận vì chưa làm tròn trách nhiệm “khai hoá” cho người Việt Nam, đem lại văn minh cho người Việt Nam mà ngài Tổng thống Pháp Phơrăngxoa Míttơrăng phát biểu năm 1994, khi thăm chiến trường Điện Biên phủ – nơi quân Pháp bại trận làm cho nhiều người nửa tin nửa ngờ? Chúng tôi cho rằng, việc quân Pháp quay trở lại Việt Nam sau năm 1945 không phải là vì mục đích tốt lành, càng không thể tin vào những lời đưa đón “bóng bẩy” nêu trên mà thực chất của việc đem quân trở lại xâm lược Việt Nam lần thứ hai là sự tiếp tục theo đuổi mục đích xâm lược của họ trước đây với bản kế hoạch cũ đã được điều chỉnh. Bản chất, âm mưu xâm lược Việt Nam của kẻ thù không hề thay đổi, có chăng chỉ là sự thay đổi các thủ đoạn và biện pháp xâm lược mà thôi. Nhìn lại bối cảnh lịch sử sau cách mạng Tháng Tám năm 1945, chúng ta thấy rõ điều này.

           Vào những năm 1945-1946, Đức, Ý, Nhật lần lượt bị đánh bại, các nước Đồng Minh đã cứu loài người ra khỏi thảm hoạ của chủ nghĩa phát xít; các nước xã hội chủ nghĩa theo đó cũng lần lượt ra đời và trở thành hệ thống xã hội chủ nghĩa do Liên Xô đứng đầu. Anh, Pháp trong phe Đồng Minh thắng trận, nhưng kiệt quệ về kinh tế, quân sự, vị thế cường quốc thế giới của họ bị suy giảm nghiêm trọng. Lúc đó, Mỹ đã vươn lên cầm đầu phe tư bản chủ nghĩa. Chính phủ Mỹ, từ chỗ ngăn cản Pháp trở lại Đông Dương trong thời kỳ Tổng thống Rudơven với ý đồ tranh giành ảnh hưởng của Pháp ở vùng này, dần dần đi đến chỗ ủng hộ Pháp trở lại thuộc địa cũ. Vì sao Mỹ ủng hộ Pháp và viện trợ vũ khí, giúp quân Pháp quay lại Đông Dương và Việt Nam? Bởi vì, sau cách mạng tháng Tám năm 1945, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đã ra đời và cách mạng Trung Quốc tiếp tục phát triển mạnh. Đó là nguy cơ đe doạ mưu đồ làm bá chủ thế giới của đế quốc Mỹ. Để loại trừ ảnh hưởng của chủ nghĩa xã hội do Liên Xô cầm đầu và xoá bỏ chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, đế quốc Mỹ đã mở “hầu bao” chi những khoản tiền lớn để cung cấp, viện trợ quân sự, kinh tế cho Pháp, hòng mượn tay quân Pháp ngăn chặn “làn sóng đỏ” ở Đông Dương, xoá bỏ cái “mầm cộng sản” đang phát triển ở Việt Nam. Mặt khác, đế quốc Anh vốn có mâu thuẫn với Mỹ từ lâu nên luôn chống lại “ thuyết uỷ trị” quốc tế của Rudơven, thực chất là Anh không muốn Mỹ chiếm và nắm giữ quá nhiều nước thuộc địa với những khoản lợi kếch sù nên ra sức ủng hộ Pháp quay trở lại Việt Nam và Đông dương để hạn chế ảnh hưởng của Mỹ ở khu vực này và tạo mối thân thiện để làm ăn với Pháp sau này. Lợi dụng sự giúp đỡ của Mỹ, Anh và khát vọng sớm  khắc phục hậu quả nặng nề do cuộc chiến tranh đem lại, muốn nhanh chóng phục hưng đất nước, thực dân Pháp đã quyết định quay trở lại xâm lược Việt Nam. Quyết định của thực dân Pháp là dựa trên cơ sở hiện thực, mang ý nghĩa chính trị sâu sắc: Thứ nhất, trong khối Đồng Minh, Mỹ và Anh đều ủng hộ Pháp; thứ hai, Việt Nam và Đông Dương vốn là thuộc địa của Pháp với nhiều lợi ích kinh tế, ở thuộc địa này có nhiều tài nguyên thiên nhiên cần cho nước Pháp, dễ khai thác, dễ vơ vét để khắc phục những khó khăn ở chính quốc; thứ ba, cả Mỹ, Anh và Pháp đều muốn quay lại xâm lược Việt Nam là nhằm xoá bỏ nhà nước dân chủ đầu tiên ở khu vực này, đồng thời bảo vệ, củng cố hệ thống thuộc địa đang có nguy cơ tan rã sau khi Việt Nam mới ra đời; thứ tư, sau cách mạng tháng Tám năm 1945, nước Việt Nam mới ra đời còn rất non trẻ, nền kinh tế suy kiệt, đời sống nhân dân vô cùng khó khăn. Vì vậy, vào thời điểm đó, tiến hành xâm lược Việt Nam, Pháp hy vọng sẽ nhanh chóng đánh đổ chính quyền cách mạng, giành thuộc địa. Rõ ràng, trở lại xâm lược Đông Dương và Việt Nam, cả Pháp, Mỹ và Anh đều đã cân nhắc, tính toán rất kỹ lưỡng. Pháp xem đây không chỉ là việc quay trở lại lãnh địa cũ của mình mà là sự cần thiết thay mặt Đồng Minh để ngăn chặn ảnh hưởng của Liên Xô và phong trào chủ nghĩa xã hội ở khu vực này. Vì vậy, Chính phủ Đờ Gôn luôn tin tưởng rằng, Đông Dương là của người Pháp và người Pháp sẽ giải phóng Đông Dương. Tóm lại, bản chất, âm mưu và chính sách của thực dân Pháp đối với việc xâm lược Việt Nam và Đông Dương trước sau là nhất quán, là vì lợi ích kinh tế và chính trị của họ, ngoài ra không có mục đích nào khác. Chúng ta không thể hy vọng, tìm kiếm sự đồng cảm, tình thương, lòng tốt ở kẻ thù và không thể tin vào “lời hứa” của quân xâm lược; cũng không thể “nhân nhượng”, “cầu hoà” khi đối phương đã rắp tâm, quyết tâm “cướp nước ta một lần nữa”. Sự lấn tới và từng bước leo thang chiến tranh của quân xâm lược đã giúp chúng ta không chỉ thấy rõ hơn bản chất thâm độc, tàn ác của thực dân Pháp mà còn thấy rõ hơn âm mưu đen tối của đế quốc Mỹ cùng các thế lực đứng đằng sau Pháp, Mỹ. Vậy là, thực dân Pháp cũng như đế quốc Mỹ và bất cứ lực lượng nào, hễ đem quân xâm lược nước ta, đi ngược lại nguyện vọng chính đáng của nhân dân ta, gây đau thương, tang tóc cho nhân dân ta thì đều là kẻ thù của nhân dân ta và nhân dân yêu chuộng hoà bình thế giới, đều là hiểm hoạ của sự tiến bộ xã hội và nền hoà bình thế giới. Chừng nào còn tồn tại chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc thì chừng ấy nhân dân ta và cả loài người vẫn còn nguy cơ chiến tranh, tội ác và đau khổ. Vì vậy, “chúng ta phải đứng lên! Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc”1. Chỉ khi nào tiêu diệt được chủ nghĩa thực dân, đế quốc thì chúng ta mới xoá bỏ được nguy cơ chiến tranh, tệ nạn người áp bức, bóc lột người, lúc đó loài người mới thật sự có tự do, hạnh phúc. Thực tiễn lịch sử dân tộc Việt Nam và lịch sử thế giới hiện đại đã chứng minh điều này. Cho nên ai đó còn đang tin vào lòng tốt, sự nhân từ, “bác ái”, “văn hoá văn minh” của quân “ăn cướp”, bè lũ thực dân, đế quốc và tay sai của chúng thì hãy đọc lại “lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh và hàng loạt các tác phẩm khác của Người viết trong giai đoạn này. Đọc và suy ngẫm từ những trang sách đó, kiểm nghiệm qua thực tiễn đánh giặc giữ nước của dân tộc mỗi người trong chúng ta sẽ nhận ra sự thật, để biết phải trái, đúng sai, hiểu rõ hơn bạn, thù, tăng thêm ý thức tự tôn dân tộc, thêm tự hào vì mình là công dân của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; từ đó mà nâng cao ý thức cảnh giác, nhìn rõ và lường trước mọi việc có thể xảy ra, sẵn sàng làm tròn bổn phận công dân của mình quyết “hy sinh đến giọt máu cuối cùng để giữ gìn đất nước” 2, để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa nơi tổ tiên mình đã sống, nơi mình đã sinh ra, lớn lên và trở thành con người ./.



1 Ban chỉ đạo tổng kết chiến tranh - trực thuộc Bộ Chính trị; Tổng kết cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, thắng lợi và bài học, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1990, tr.7

2 Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 480.

1 , 2 Sđd, tr.480.