Thứ Ba, 30 tháng 11, 2021

 SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG TỪ SAU CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945 ĐẾN NHỮNG NGÀY ĐẦU TOÀN QUỐC KHÁNG CHIẾN 19/12/1946

Nhân Trần

 

Bối cảnh tình hình

Tháng Tám năm 1945, chớp thời cơ “ngàn năm có một”, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân Việt Nam đã nhất tề đứng lên tiến hành cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trên phạm vi toàn quốc, xóa bỏ ách cai trị của đế quốc thực dân, đồng thời lật đổ chế độ phong kiến tồn tại hàng ngàn năm, lập ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa - Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á. Thắng lợi đó đã đem lại cho cách mạng Việt Nam thế, lực và diện mạo mới. Đảng ta từ một đảng hoạt động bất hợp pháp trở thành đảng cầm quyền; nhân dân ta được giải phóng khỏi cuộc đời nô lệ lầm than, trở thành người làm chủ đất nước. Tuy nhiên, ngay sau đó, đất nước nhanh chóng lâm vào những khó khăn, thách thức tưởng chừng không thể vượt qua của thù trong, giặc ngoài; trong vòng vây của chủ nghĩa đế quốc và các chính quyền phản động trong khu vực; những khó khăn về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội… mà chế độ thực dân phong kiến để lại. Nền kinh tế vốn nghèo nàn, lạc hậu lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề. Nạn đói năm 1945 làm hơn 2 triệu người chết, hơn 90% số dân mù chữ. Từ vĩ tuyến 16 trở ra Bắc, hơn 20 vạn quân của Tưởng Giới Thạch tràn vào với danh nghĩa làm nhiệm vụ giải giáp quân đội Nhật nhưng nuôi dưỡng mưu đồ tiêu diệt Đảng Cộng sản Đông Dương, lật đổ chính quyền cách mạng, thành lập chính quyền tay sai. Từ vĩ tuyến 16 trở vào Nam, quân đội Anh thực hiện giải giáp quân đội Nhật nhưng thực chất là hành động “dọn đường”, giúp đỡ thực dân Pháp trở lại xâm lược Việt Nam một lần nữa. Ngày 23/9/1945, quân Pháp nổ súng gây hấn ở Sài Gòn, sử dụng biện pháp quân sự mở rộng phạm vi chiếm đóng toàn Nam Bộ. Trong khi giặc ngoại xâm đang ồ ạt tràn vào thì trong nước giặc đói, giặc dốt cũng đang hoành hành. Tiềm lực mọi mặt của Nhà nước và chính quyền cách mạng lại chưa được củng cố, ngân sách cạn kiệt, sản xuất đình trệ, nạn đói chưa được khắc phục, những tệ nạn của chế độ cũ để lại như mê tín dị đoan, rượu chè, cờ bạc, nghiện hút... còn khá phổ biến. Tất cả những khó khăn chồng chất đó đã đặt đất nước Việt Nam ta vào tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”. 

Sách lược hòa hoãn tạm thời và quá trình chuẩn bị để kháng chiến lâu dài

Đứng trước tình thế hiểm nghèo và để giải quyết tình hình đó; từ ngày 23/9/1945 đến tháng 02/1946, ở miền Bắc, ta chấp nhận nhượng bộ cho quân đội Tưởng Giới Thạch và các phần tử tay sai của chúng một số quyền lợi chính trị, kinh tế như đặc cách cho một số ghế bộ trưởng trong chính phủ liên hiệp và 70 ghế trong quốc hội không qua bầu cử. Trong lúc cả nước đói kém nhưng ta vẫn chấp nhận cung cấp một phần lương thực, thực phẩm cho quân Tưởng; nhận tiêu tiền của quân Tưởng. Ở Miền Nam, Đảng chỉ đạo quân và dân ta kiên quyết kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Một số đội quân chủ lực đã được Đảng và Chính phủ ta điều động từ miền Bắc vào sát cánh cùng đồng bào miền Nam đánh Pháp.

Tháng 02/1946, thực dân Pháp đã ký hiệp ước thỏa hiệp thay thế quân Tưởng Giới Thạch ra miền Bắc làm nhiệm vụ giải giáp quân đội Nhật, chuẩn bị mở rộng cuộc chiến tranh xâm lược trên quy mô cả nước. Trước bối cảnh lịch sử mới đó, từ tháng 3/1946 đến tháng 11/1946, Đảng và Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa chủ trương nhượng bộ với quân Pháp một số quyền lợi chính trị, kinh tế, văn hóa nhằm nhanh chóng đuổi 20 vạn quân Tưởng về nước, kéo dài thêm thời gian hòa hoãn để chuẩn bị thêm. Do đó, chúng ta đã ký Hiệp định sơ bộ (6/3/1946) và Tạm ước (14/9/1946) với Pháp. Tranh thủ thời gian hòa hoãn, hòa bình, chúng ta ra sức củng cố tiềm lực mọi mặt, chuẩn bị lực lượng, xây dựng chiến khu để bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ.

Ngày 25/11/1945 Đảng ra Chỉ thị “Kháng chiến kiến quốc”

Chỉ thị là tuyên bố quan trọng của Đảng trong việc giải quyết tình hình đất nước và đề ra những nhiệm vụ mới với khẩu hiệu “Dân tộc trên hết, Tổ quốc trên hết”. Kẻ thù chính của nhân dân Đông Dương lúc này là thực dân Pháp xâm lược, phải tập trung ngọn lửa đấu tranh vào chúng. Nhiệm vụ trong nước là phải củng cố chính quyền chống thực dân Pháp xâm lược, bài trừ nội phản, cải thiện đời sống nhân dân, tích cực chuẩn bị mọi mặt cho kháng chiến lâu dài. Nội dung của bản chỉ thị gồm 13 điều, đề cập những nhiệm vụ cấp bách nhất mà cách mạng cần phải làm lúc bấy giờ, tập trung vào:

Về chính trị: Tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân chống thực dân Pháp xâm lược và xây dựng đất nước, củng cố chính quyền nhân dân bằng cách kiên quyết trừng trị bọn phản quốc, tiến hành tổng tuyển cử để bầu Quốc hội, lập Chính phủ chính thức và ban hành Hiến pháp, cải tổ chính phủ trước khi bầu cử, sửa đổi cách làm việc của chính quyền nhân dân địa phương.

Về quân sự: Động viên toàn dân kiên trì kháng chiến, tổ chức lãnh đạo cuộc kháng chiến lâu dài, dùng lối đánh du kích với phương pháp bất hợp tác triệt để của nhân dân ở vùng địch chiếm đóng, mở rộng chiến tranh du kích ở Campuchia và phát triển tuyên truyền vũ trang trên đất Lào.

Về ngoại giao: Kiên trì chủ trương ngoại giao với các nước theo nguyên tắc “bình đẳng, tương trợ”. Phương châm là “làm cho nước mình ít kẻ thù và nhiều bạn đồng minh hơn hết” và “muốn ngoại giao được thắng lợi là phải biểu dương thực lực”. Đối với Tưởng thì chủ trương Hoa - Việt thân thiện, đối với Pháp độc lập về chính trị, nhân nhượng về kinh tế.

Về kinh tế tài chính: Mở lại các nhà máy do Nhật bỏ, khai thác các mỏ, cho tư nhân được góp vốn vào việc kinh doanh các nhà máy và mỏ ấy, khuyến khích các giới công thương mở hợp tác xã, mở các hội cổ phần tham gia kiến thiết lại nước nhà. Thực hiện khuyến nông sữa chữa đê điều, lập ngân hàng, phát hành giấy bạc, định lại ngạch thuế, lập ngân quỹ toàn quốc, các xứ, các tỉnh. Đẩy mạng tăng gia sản xuất, chống nạn đói theo khẩu hiệu: “Tấc đất tấc vàng”, “Sẻ cơm nhường áo”, “Công việc cứu đói cũng cần như việc đánh giặc”.

Về văn hoá: Tổ chức bình dân học vụ, tích cực bài trừ nạn mù chữ, mở các trường đại học và trung học, cải cách việc học theo tinh thần mới, bài trừ cách dạy nhồi nhét, cổ dộng văn hóa cứu quốc, xây dựng nền văn hoá mới theo ba nguyên tắc: khoa học hoá, dân tộc hoá, đại chúng hoá.

Chỉ thị nhấn mạnh muốn thực hiện được những nhiệm vụ trên đây, Đảng và Mặt trận Việt Minh phải được củng cố và phát triển. Đảng phải duy trì hệ thống tổ chức bí mật hay bán công khai, tuyển thêm đảng viên mới, chú trọng gây thêm cơ sở Đảng trong các xí nghiệp, mở rộng các tổ chức nghiên cứu chủ nghĩa Mác bao gồm những ai có khuynh hướng cộng sản hay có cảm tình với cộng sản, nhưng tổ chức phải do những người cộng sản điều khiển. Trong việc phát triển đảng viên, tăng cường tổ chức Đảng, bản Chỉ thị chỉ rõ phải tránh cả hai khuynh hướng: Chỗ thì tổ chức Đảng hẹp quá, chậm quá, và chưa bỏ được cái bệnh hẹp hòi câu chấp của thời kỳ hoạt động hoàn toàn bí mật, chỗ thì tổ chức Đảng rộng quá, nhanh quá khiến cho những phần tử phức tạp có thể len vào Đảng. Các tổ chức Đảng phải giữ vững và duy trì sinh hoạt đều đặn, xây dựng, củng cố các chi bộ Đảng trong các cơ quan hành chính hay các hội hợp pháp; thành lập chi bộ trong quân đội, phối hợp sự hoạt động bí mật với hoạt động công khai, trong đó, hoạt động bí mật phải được đặc biệt coi trọng và không để cho các cơ quan bí mật trở thành xung đột hoặc đối lập với cơ quan công khai.

Với mặt trận Việt Minh, hết sức phát triển các tổ chức cứu quốc, thống nhất các tổ chức ấy lên toàn kỳ, toàn quốc; sửa chữa lại điều lệ cho các đoàn thể cứu quốc cho thích hợp với hoàn cảnh mới; mở rộng mặt trận Việt Minh, lập các đoàn thể cứu quốc mới, giải quyết những mâu thuẫn giữa Uỷ ban nhân dân và Uỷ ban Việt Minh; củng cố quyền lãnh đạo của Đảng trong mặt trận, thống nhất mặt trận Việt Nam - Lào - Campuchia chống Pháp xâm lược. Chỉ thị còn đề ra các biện pháp thực hiện những nhiệm vụ cụ thể về chính quyền, kháng chiến ở Nam Bộ, về chống và đề phòng nạn đói, về tổng quyển cử...

Chỉ thị “Kháng chiến kiến quốc” thể hiện sự sáng tạo của Đảng trong việc giải quyết chỉ đạo chiến lược và sách lược lúc đó. Chiến lược ở đây được hiểu là chiến lược cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, còn sách lược ở đây là những biện pháp cụ thể có tính mềm dẻo, khôn khéo, giải pháp mang tính tạm thời nhưng vẫn hướng tới mục tiêu chiến lược đó là giải phóng dân tộc. Chỉ thị là bước đi hợp lý, là biện pháp cần thiết sau khi giành chính quyền nhằm cũng cố chế độ, giải quyết những khó khăn, tăng cường sự gắn bó chặt chẽ giữa nhân dân với cách mạng; thể hiện tầm nhìn chiến lược, nhãn quan chính trị của Đảng tuy mới ra hoạt động công khai chưa bao lâu trên một loạt vấn đề liên quan trực tiếp tới sự nghiệp bảo vệ nền độc lập tự do của Tổ quốc, bảo vệ Nhà nước dân chủ nhân dân - thành quả cao nhất của cách mạng tháng Tám 1945, tạo tiền đề cơ bản đưa cách mạng Việt Nam tiến lên. Đó là việc xác định rõ tính chất và nhiệm vụ chiến lược của giai đoạn cách mạng từ sau Tổng khởi nghĩa tháng Tám, xác định và phân loại chính xác kẻ thù, phương hướng cơ bản vừa kháng chiến vừa kiến quốc, một loạt giải pháp nhằm xây dựng và tăng cường thực lực cho cuộc kháng chiến, những quan điểm cơ bản về chỉ đạo chiến tranh và những nội dung chính của đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, tự lực cánh sinh... Trong bối cảnh “nước sôi lửa bỏng” lúc bấy giờ, những chiến lược và sách lược được thể hiện trong Chỉ thị “Kháng chiến kiến quốc” của Đảng thực sự là ánh sáng soi đường cho toàn dân, toàn quân trong cuộc chiến đấu nhằm bảo vệ sự sống còn của dân tộc.

Chỉ thị “Toàn dân kháng chiến” ngày 12/12/1946

Cuối năm 1946, sau khi có thêm viện binh, thực dân Pháp liên tiếp có những hành động gây hấn, khiêu khích, công khai mưu đồ xâm lược, thiết lập lại nền cai trị thuộc địa đối với nước ta. Tháng 11/1946, chúng ngang nhiên đưa lực lượng chiếm đóng Hải Phòng, Lạng Sơn. Tại Hà Nội, từ đầu tháng 12/1946, quân Pháp liên tục dùng đại bác, súng cối bắn phá vào nhiều khu phố tàn sát dân thường, chiếm một số trụ sở của Chính phủ cách mạng và liên tiếp nhiều lần gửi tối hậu thư buộc Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa phải giải tán lực lượng tự vệ, giao quyền kiểm soát Thủ đô cho chúng.

Trước âm mưu, hành động xâm lược của kẻ thù, nhân dân Việt Nam không có con đường nào khác là cầm súng chiến đấu để bảo vệ nền độc lập, tự do vừa giành được. Ngày 12/12/1946, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị “Toàn dân kháng chiến” vạch rõ những nét cơ bản về đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài của nhân dân ta. Chỉ thị chỉ rõ chương trình kháng chiến; cơ quan chỉ đạo kháng chiến; những điều răn trong khi kháng chiến; khẩu hiệu tuyên truyền trong thời kỳ kháng chiến. Mục đích cuộc kháng chiến của nhân dân ta là đánh phản động thực dân Pháp xâm lược, giành thống nhất và độc lập. Tính chất của cuộc kháng chiến là trường kỳ kháng chiến, toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến. Về cách đánh, bước đầu sử dụng triệt để cách đánh du kích vận động chiến, vừa chiến đấu vừa phải bảo toàn thực lực để kháng chiến lâu dài, vừa chiến đấu vừa tự trang bị, vừa đào tạo thêm cán bộ để bổ sung lực lượng. Trong hoàn cảnh so sánh lực lượng ban đầu có sự chênh lệch lớn, cần tổ chức các hoạt động phá hoại, làm cho quân địch đói, khát, què, mù, câm, điếc; bị tiêu hao, mệt mỏi, chán nản. Dự kiến cuộc kháng chiến sẽ diễn ra ba giai đoạn phòng ngự, cầm cự và tổng phản công.

Tuy nhiên, khoảng năm 1995 về trước, không rõ vì nguyên nhân nào mà Chỉ thị “Toàn dân kháng chiến” được viết là ra đời ngày 22/12/1946 tức sau ngày toàn quốc kháng chiến. Có quan điểm cho rằng sau khi Thực dân Pháp gây hấn, toàn quốc kháng chiến bùng nổ, Đảng mới đề ra đường lối kháng chiến và điều này được cho là hợp lôgic. Nhưng trên thực tế, ngày ra đời của Chỉ thị “Toàn dân kháng chiến” là 12/12/1946 và được đính chính lại trong bộ Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 8, (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2000), trang 150 - 155. Việc trả lại ngày ra đời chính xác đó càng cho thấy sự chủ động, sáng tạo của Đảng trước bối cảnh tình hình của giai đoạn mở đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, khẳng định thêm nhận định chính xác của Trung ương Đảng trong Nghị quyết Hội nghị quân sự toàn quốc của Đảng ngày 19/10/1946 là “Không sớm thì muộn, Pháp sẽ đánh mình và mình cũng nhất định phải đánh Pháp”.

Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh 19/12/1946

Ngày 18 và 19/12/1946, Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp tại làng lụa Vạn Phúc (Hà Đông), ra quyết định phát động toàn quốc kháng chiến. Ngay trong đêm 19/12/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ ra “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến”:

Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa. Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ! Hỡi đồng bào! Chúng ta phải đứng lên! Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước”.

 Chấp hành mệnh lệnh của Trung ương Đảng và Bộ Tổng chỉ huy, quân dân ta ở các tỉnh bắc vĩ tuyến 16, nơi có quân Pháp chiếm đóng đồng loạt nổ súng. Chiến sự diễn ra rất quyết liệt, đặc biệt là trong các thành phố lớn. Tại Thủ đô Hà Nội, khoảng 20 giờ ngày 19/12/1946, công nhân nhà máy điện Yên Phụ phá máy, cả thành phố tắt điện. Đó là hiệu lệnh nổ súng chiến đấu toàn thành phố, mở đầu kháng chiến toàn quốc. Dù quân ta trang bị vũ khí thô sơ chống lại kẻ địch tinh nhuệ trang bị vũ khí hiện đại, nhưng với tinh thần “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”, chiến sĩ ta có sự hỗ trợ tích cực của nhân dân vẫn ngày đêm kiên cường bám trụ, giành giật với địch từng căn nhà, từng góc phố. Nhiều trận đánh diễn ra quyết liệt tại Bắc Bộ phủ, chợ Đồng Xuân, nhà bưu điện... diệt nhiều sinh lực, vũ khí của địch, gây hoang mang cho kẻ thù.

Cùng với Hà Nội, quân dân các địa phương khắp Bắc, Trung, Nam anh dũng đứng lên chống thực dân Pháp xâm lược. Cả dân tộc chung sức đồng lòng đánh giặc cứu nước với ý chí sục sôi, niềm tin tất thắng. Đến tháng 02/1947, khi địch tăng viện phá vòng vây, lực lượng ta được lệnh rút về hậu phương, cuộc chiến đấu trong các đô thị tạm thời kết thúc để chuyển sang giai đoạn chiến đấu mới. Trải qua gần hai tháng liên tục chiến đấu, quân dân ta giành thắng lợi quan trọng; thực hiện tiêu hao, tiêu diệt, giam chân địch trong thành phố, làm thất bại kế hoạch “đánh nhanh, thắng nhanh” của thực dân Pháp; tạo điều kiện di chuyển các cơ quan, kho tàng, vật chất (ta đã vận chuyển được gần 40.000 tấn máy móc, nguyên liệu ra vùng căn cứ); tranh thủ thời gian tổ chức cho hàng chục vạn nhân dân tản cư về vùng căn cứ xây dựng thế trận kháng chiến lâu dài. Gần 75 năm đã trôi qua, chúng ta càng nhận thức sâu sắc hơn về tầm vóc cũng như giá trị lịch sử ngày toàn quốc kháng chiến 19/12/1946. Sự kiện đã góp phần khẳng định đường lối chính trị, đường lối quân sự độc lập, tự chủ, đúng đắn, sáng tạo của Đảng ta trong kháng chiến chống Pháp./.

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét