“LỜI KÊU GỌI TOÀN QUỐC KHÁNG CHIẾN”
VỚI VẤN ĐỀ NHẬN THỨC BẢN CHẤT, ÂM MƯU CỦA KẺ THÙ
Trung Lập
Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hoà -
Nhà nước dân chủ, nhà nước công nông đầu tiên trong lịch sử dân tộc Việt Nam và
cũng là nhà nước đầu tiên trong hệ thống các nước thuộc địa tuyên bố giành được
quyền tự do, độc lập và chính thức bắt tay vào xây dựng đất nước theo con đường
đã lựa chọn. Thế nhưng, thực dân Pháp đã bội ước, đã “chà đạp” lên nguyện vọng
chính đáng của nhân dân ta, chúng đã dùng mọi thủ đoạn, kể cả thủ đoạn độc ác
nhất để xoá bỏ thành quả cách mạng mà nhân dân ta bằng xương máu của mình sau gần
một thế kỷ đấu tranh mới giành lại được. Tại sao thực dân Pháp lại bội ước và
quay trở lại xâm lược nước ta ngay sau cách mạng tháng Tám năm 1945 ? Phải chăng
họ “hối hận” vì đã không làm tròn “bổn phận” của người đi “khai hoá” cho một
dân tộc nhỏ bé, nghèo nàn và lạc hậu là Việt Nam? Phải chăng “văn hoá của người Pháp và văn
minh của châu Âu là “đỉnh cao của nhân loại”, cần phải truyền bá vào Việt Nam
và Đông Dương bằng bất cứ giá nào?
Năm tháng đã qua đi, các câu
hỏi nêu trên đã từng bước được làm sáng tỏ bằng những chứng cứ lịch sử xác thực, bằng những tài liệu mật đã được
giải mật, bằng những lời “thú nhận” của cả phía bên kia - những cựu chiến binh đã
từng tham gia chiến tranh ở Việt Nam thời đó và cả sự thừa nhận của những người
“trong cuộc” có lương tâm, “trung thực” trên thế giới, tất cả đều khẳng định rằng:
“Nguồn gốc sâu xa và nguyên nhân trực tiếp
của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp là do dã tâm của bọn thực dân phản động
Pháp muốn quay trở lại xâm lược nước ta một lần nữa, đặt ách thống trị và áp bức
của chúng lên đầu lên cổ nhân dân ta” 1.
Trong “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến”,
Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng khẳng định: “Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta phải
nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì
chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa”2.
Tại sao thực dân Pháp lại “quyết tâm cướp
nước ta lần nữa”? Họ cố tình quay trở lại xâm lược Việt Nam nhằm mục đích
gì? Phải chăng đó là hành động tự phát, nhất thời? Không! Điều đó hoàn toàn
không phải là tự phát, càng không phải là ý muốn chủ quan của một cá nhân nào đó
trong giới cầm quyền “chóp bu” của Chính phủ Pháp mà là “ý thức hệ” của giai cấp
tư sản Pháp, chủ nghĩa thực dân Pháp được thể hiện bằng một kế hoạch đã được vạch
sẵn, có các “bước đi và lộ trình rõ ràng”, được khởi đầu từ giữa thế kỷ XIX,
khi quân Pháp lần đầu tiên đặt gót giày xâm lược lên đất nước ta ở cảng Đà Nẵng...
và đến thời tướng Đờ Gôn, khi nước Pháp còn bị phát xít Đức chiếm đóng, thì kế
hoạch này đã được Đờ Gôn điều chỉnh, bổ sung và triển khai thực hiện. Ông ta
tuyên bố rằng: Phải đứng về phía Đồng Minh chống phát xít để cứu nước Pháp. Kế
hoạch cứu và phục hưng nước Pháp trở thành “mệnh lệnh” không chỉ thôi thúc Đờ
Gôn và những người đứng đầu Chỉnh phủ Pháp xích lại gần các nước Đồng Minh là
Anh, Mỹ với những cái bắt tay “thân mật”, để rồi tạm gác hoặc “quên đi” những hận
thù, những hiềm khích vốn có trong lịch sử để lo việc lớn mà còn bừng sáng tia
hy vọng ở Đờ Gôn: Bành trướng sang Châu Á, nhanh chóng áp đặt nền thống trị ở Đông
Dương, mở rộng khai thác thuộc địa để bù đắp cho sự thiếu hụt tài sản do chi
phí cho chiến tranh quá lớn và sự khan hiếm nguồn tài nguyên thiên nhiên của
chính quốc (nước Pháp). Vì vậy, từ năm 1943, khi cuộc chiến chống quân phát xít
bắt đầu mở rộng thì trong tay Đờ Gôn đã có sẵn một bản kế hoạch chi tiết “trở lại
Đông Dương”, tiếp tục thực hiện mưu đồ “khai hoá” Việt Nam, truyền bá “văn minh
người Pháp” cho xứ này.
Rõ ràng, việc thực Pháp quay trở lại xâm lược nước ta một lần nữa đã
nằm trong kế hoạch của Đờ Gôn và Chính phủ Pháp, nó bộc lộ rõ bản chất và bộ mặt
thật của đội quân xâm lược hiếu chiến: muốn đặt ách thống trị và áp bức của
chúng lên đầu, lên cổ nhân dân ta, biến nước ta thành thuộc địa - nơi cung cấp
các nguyên vật liệu cần thiết để làm giàu cho chúng. Ở đây, có một số vấn đề đặt
ra cần làm sáng tỏ là: để nhanh chóng thực hiện mưu đồ: “hàn gắn vết thương chiến
tranh, nhanh chóng phục hưng nước Pháp”, tại sao kẻ thù lại không lựa chọn các
nước khác để xâm lược và biến các nước đó làm thuộc địa của mình một cách dễ
dàng hơn, mà lại lựa chọn và tiến hành xâm lược Việt Nam, dù chúng biết rằng
xâm lược và thôn tính dân tộc này sẽ rất khó khăn. Việt Nam là một dân tộc vốn
có truyền thống 4000 năm dựng nước và đánh giặc giữ nước, rất yêu chuộng hoà
bình và thiết tha với độc lập, tự do. Vậy thì, điều gì khiến thực dân Pháp
phiêu lưu, mạo hiểm? Phải chăng họ quá tin vào sức mạnh của đội quân xâm lược với
đầy đủ vũ khí tối tân hiện đại nhất nhì thời đó sẽ giúp họ sớm đè bẹp sự phản
kháng của Việt Nam? Phải chăng, khi nghiên cứu lịch sử các cuộc chiến tranh xâm
lược Việt Nam của những người tiền nhiệm họ đã tìm thấy bài học kinh nghiệm để
có thể không lặp lại những thất bại thảm hại mà mà những người đi trước đã mắc
phải?
Luận giải các vấn đề nêu trên sẽ có nhiều đáp án khác nhau, tuỳ
theo cách nhìn nhận của mỗi người, mỗi thế hệ khác nhau. Song, dù luận giải thế
nào thì thực tế sau đây không ai có thể bác bỏ: Đem quân đi xâm lược Việt Nam
và Đông Dương từ năm 1858 và lại quay lại xâm lược Việt Nam và Đông Dương lần
thứ 2 sau năm 1945, hẳn là giới cầm quyền “chóp bu” trong Chính phủ Pháp đã phải
cân nhắc và tính toán rất kỹ lưỡng. Với nền khoa học, kỹ thuật phát triển và những
“bộ óc tầm cỡ quốc tế”, “có tri thức bách khoa thư”, họ thừa sức hiểu rõ cái được,
cái mất, cái lợi, các hại khi tiến hành xâm lược Việt Nam. Trong sự tính toán đó,
họ luôn tự đắc ý là cuối cùng sẽ nắm chắc phần thắng trong tay, còn việc để cho
Việt Nam giành được chính quyền trong cách mạng tháng Tám năm 1945 chỉ là sự cố
“sai sót nhỏ” do điều kiện lịch sử “khách quan” tạo ra. Vì vậy, thực dân Pháp
quay trở lại xâm lược Việt Nam sau cách mạng tháng Tám năm 1945 là để “sửa lại”
những “sai sót nhỏ” không đáng có bởi sự “sơ suất” mà họ mắc phải. Thực chất điều
này là gì? Đằng sau những lời hoa mỹ ấy cần phải hiểu như thế nào cho đúng? Ai
cũng biết rằng, đem quân đi xâm lược Việt Nam không phải là “một cuộc dạo chơi”
hay thăm quan du lịch của thực dân Pháp mà thực chất là chúng triển khai thực
hiện những ý đồ đã định sẵn vì lợi ích của nước Pháp, là nhằm củng cố và không
ngừng nâng cao uy tín, vị thế của một cường quốc về kinh tế, chính trị, văn
hoá, khoa học và quân sự trên trường quốc tế. Đúng vậy! Sau hơn 20 năm tiến
hành những cuộc hành binh man rợ, tàn sát đẫm máu những cuộc khỏi nghĩa của
nhân dân ta, thực dân Pháp mới áp đặt xong ách thống trị trên đất nước Việt
Nam. Kể từ sau khi tập đoàn phong kiến bán nước ký hiệp ước đầu hàng nhục nhã
Patenôtre thì chương trình khai thác lần thứ nhất của thực dân Pháp ở Việt Nam
mới chính thức được triển khai ồ ạt, với quy mô lớn... Tuy nhiên, trong quá
trình khai thác, thực dân Pháp luôn gặp phải sự kháng cự quyết liệt của tất cả
tầng lớp nhân dân Việt Nam: vua quan phong kiến, sĩ phu yêu nước, học sinh,
sinh viên, tư sản và tiểu tư sản, các tầng lớp nhân dân lao động khác... Song,
các cuộc đấu tranh không cân sức của
nhân dân ta chống thực dân Pháp đều bị chúng dìm trong biển máu, nguồn khoáng sản,
tài nguyên thiên nhiên và nguồn nhân công rẻ mạt từ Việt Nam vẫn cứ đều đặn được
đưa về Pháp ngày càng nhiều hơn để phục vụ cho lợi ích của giai cấp tư sản Pháp
ở chính quốc.
Sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914 - 1918), Pháp tuy là một
nước thắng trận, nhưng bị tàn phá nặng nề, nền kinh tế rơi vào tình trạng đình
dốn, kiệt quệ. Để bù đắp cho các thiệt hại lớn do chiến tranh gây ra, bọn tư bản
độc quyền Pháp vừa tăng cường bóc lột nhân dân lao động ở chính quốc, vừa ráo
riết đẩy mạnh khai thác thuộc địa. Do vậy, “chương trình khai thác lần thứ hai”
ở Đông Dương, trong đó có Việt Nam, chính là nhằm mục đích đó.
Thực dân Pháp đã tăng cường đầu tư vào Việt Nam, một mặt là nhằm
khai thác được nhiều hơn kho tài nguyên thiên nhiên phong phú và nguồn nhân
công rẻ mạt; mặc khác, chúng muốn nắm thật chặt thị trường Việt Nam để điều tiết
thị trường Lào và Campuchia. Chỉ trong vòng 6 năm (1924-1929), tổng số vốn đầu
tư vào Đông Dương đã tăng gấp 6 lần so với số vốn đầu tư 20 năm trước chiến
tranh thế giới lần thứ nhất. Chúng bỏ vốn nhiều nhất vào nông nghiệp (chủ yếu
là đồn điền cao su) và khai mỏ (chủ yếu là mỏ than). Ngoài ra, tư bản Pháp còn
mở thêm một số cơ sở công nghiệp chế biến, cho xây dựng một số chợ lớn và đầu tư,
phát triển mạng lưới giao thông vận tải để phục vụ cho việc khai thác và chuyên
chở nguyên vật liệu, lưu thông hàng hoá trong nước và ngoài nước. Đường sắt
xuyên Đông Dương đã ra đời (1927). Ngân hàng Đông Dương được mở rộng, tư bản
tài chính Pháp có cổ phần trong hầu hết các công ty và xí nghiệp lớn. Vì vậy, họ
đã nắm quyền chỉ huy các ngành kinh tế Đông Dương. Để tăng thêm lợi nhuận, thực
dân Pháp dùng mọi thủ đoạn bóc lột, vơ vét tài sản của nhân dân ta bằng cách đánh
thuế nặng. Chính nhờ vào các khoản thu nêu trên mà ngân sách Đông Dương từ 1912
đến 1930 đã tăng gấp 3 lần. Rõ ràng, “miếng mồi ngon” là vậy, một khoản thu lợi
lớn đến như vậy, làm sao các nhà tư bản “tài phiệt” Pháp dám từ bỏ, làm sao họ
có thể như nhẹ nhàng “cuốn gói ra đi”, nhất là vào thời điểm “nước sôi lửa bỏng”,
nước Pháp đang rơi vào tình cảnh suy tàn, kiệt quệ sau chiến tranh thế giới lần
thứ hai, rất cần tiếp sức để hồi sinh. Có thể khẳng định rằng, lợi ích kinh tế
là một trong những mục đích chủ yếu, xuyên suốt, và là động lực cơ bản nhất
thôi thúc thực dân Pháp đưa quân xâm lược Việt Nam và Đông Dương, với ý đồ biến
mảnh đất này thành thuộc địa để nuôi dưỡng, làm giàu cho chúng. Vì thế, chúng bất
chấp đạo lý làm người, bất chấp dư luận và luật pháp quốc tế, ngang ngược thực
hiện kế hoạch xâm lược Việt Nam. Có thể nói rằng, xâm lược Việt Nam và Đông Dương
để phục hưng nước Pháp là động lực chi phối, quyết định bản chất, âm mưu, thủ đoạn
của kẻ thù. Điều này hoàn toàn đúng với nhận định của C.Mác: Khi lợi nhuận đạt
tới 100% thì nhà tư bản sẽ không từ bỏ một thủ đoạn nào, kể cả chui đầu vào
thòng lọng.
Nếu không phải là vậy thì tại sao thực
dân Pháp lại cứ đeo đuổi mục đích và bằng mọi cách để quay lại xâm lược Việt
Nam, thôn tính Việt Nam sau năm 1945? Chúng ta biết rằng, trước 1858 giữa Việt
Nam và Pháp chưa có mối quan hệ ngoại giao, hai dân tộc hoàn toàn không có thù
hận, vướng mắc nào. Việc thực dân Pháp tự cho mình là văn minh, tiến bộ, đi
khai hoá cho Việt Nam chỉ là cái trò lừa bịp để đem quân xâm lược Việt Nam, nhằm
mục đích mở rộng thuộc địa, đặt ách thống trị ở Việt Nam và Đông Dương để khai
thác, vơ vét càng nhiều càng tốt nguồn tài nguyên thiên nhiên và nguồn dân công
rẻ mạt để phục vụ cho sự phát triển của giai cấp tư sản Pháp ở chính quốc. Điều
này đã quá rõ ràng. Vậy thì, kịch bản mà thực dân Pháp soạn sẵn để quay trở lại
xâm lược Việt Nam lần thứ hai có gì là mới ngoài việc “đâm lao thì phải theo
lao”? Có đúng là họ hối hận vì chưa làm tròn trách nhiệm “khai hoá” cho người
Việt Nam, đem lại văn minh cho người Việt Nam mà ngài Tổng thống Pháp Phơrăngxoa
Míttơrăng phát biểu năm 1994, khi thăm chiến trường Điện Biên phủ – nơi quân
Pháp bại trận làm cho nhiều người nửa tin nửa ngờ? Chúng tôi cho rằng, việc quân
Pháp quay trở lại Việt Nam sau năm 1945 không phải là vì mục đích tốt lành,
càng không thể tin vào những lời đưa đón “bóng bẩy” nêu trên mà thực chất của
việc đem quân trở lại xâm lược Việt Nam lần thứ hai là sự tiếp tục theo đuổi mục
đích xâm lược của họ trước đây với bản kế hoạch cũ đã được điều chỉnh. Bản chất,
âm mưu xâm lược Việt Nam của kẻ thù không hề thay đổi, có chăng chỉ là sự thay đổi
các thủ đoạn và biện pháp xâm lược mà thôi. Nhìn lại bối cảnh lịch sử sau cách
mạng Tháng Tám năm 1945, chúng ta thấy rõ điều này.
Vào những năm 1945-1946, Đức, Ý, Nhật lần lượt
bị đánh bại, các nước Đồng Minh đã cứu loài người ra khỏi thảm hoạ của chủ
nghĩa phát xít; các nước xã hội chủ nghĩa theo đó cũng lần lượt ra đời và trở
thành hệ thống xã hội chủ nghĩa do Liên Xô đứng đầu. Anh, Pháp trong phe Đồng
Minh thắng trận, nhưng kiệt quệ về kinh tế, quân sự, vị thế cường quốc thế giới
của họ bị suy giảm nghiêm trọng. Lúc đó, Mỹ đã vươn lên cầm đầu phe tư bản chủ
nghĩa. Chính phủ Mỹ, từ chỗ ngăn cản Pháp trở lại Đông Dương trong thời kỳ Tổng
thống Rudơven với ý đồ tranh giành ảnh hưởng của Pháp ở vùng này, dần dần đi đến
chỗ ủng hộ Pháp trở lại thuộc địa cũ. Vì sao Mỹ ủng hộ Pháp và viện trợ vũ khí,
giúp quân Pháp quay lại Đông Dương và Việt Nam? Bởi vì, sau cách mạng tháng Tám
năm 1945, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đã ra đời và cách mạng Trung Quốc
tiếp tục phát triển mạnh. Đó là nguy cơ đe doạ mưu đồ làm bá chủ thế giới của đế
quốc Mỹ. Để loại trừ ảnh hưởng của chủ nghĩa xã hội do Liên Xô cầm đầu và xoá bỏ
chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, đế quốc Mỹ đã mở “hầu bao” chi những khoản tiền lớn
để cung cấp, viện trợ quân sự, kinh tế cho Pháp, hòng mượn tay quân Pháp ngăn
chặn “làn sóng đỏ” ở Đông Dương, xoá
bỏ cái “mầm cộng sản” đang phát triển ở Việt Nam. Mặt khác, đế quốc Anh vốn có
mâu thuẫn với Mỹ từ lâu nên luôn chống lại “ thuyết uỷ trị” quốc tế của Rudơven,
thực chất là Anh không muốn Mỹ chiếm và nắm giữ quá nhiều nước thuộc địa với những
khoản lợi kếch sù nên ra sức ủng hộ Pháp quay trở lại Việt Nam và Đông dương để
hạn chế ảnh hưởng của Mỹ ở khu vực này và tạo mối thân thiện để làm ăn với Pháp
sau này. Lợi dụng sự giúp đỡ của Mỹ, Anh và khát vọng sớm khắc phục hậu quả nặng nề do cuộc chiến tranh
đem lại, muốn nhanh chóng phục hưng đất nước, thực dân Pháp đã quyết định quay
trở lại xâm lược Việt Nam. Quyết định của thực dân Pháp là dựa trên cơ sở hiện
thực, mang ý nghĩa chính trị sâu sắc: Thứ
nhất, trong khối Đồng Minh, Mỹ và Anh đều ủng hộ Pháp; thứ hai, Việt Nam và Đông Dương vốn là thuộc địa của Pháp với nhiều
lợi ích kinh tế, ở thuộc địa này có nhiều tài nguyên thiên nhiên cần cho nước
Pháp, dễ khai thác, dễ vơ vét để khắc phục những khó khăn ở chính quốc; thứ ba, cả Mỹ, Anh và Pháp đều muốn quay
lại xâm lược Việt Nam là nhằm xoá bỏ nhà nước dân chủ đầu tiên ở khu vực này, đồng
thời bảo vệ, củng cố hệ thống thuộc địa đang có nguy cơ tan rã sau khi Việt Nam
mới ra đời; thứ tư, sau cách mạng
tháng Tám năm 1945, nước Việt Nam mới ra đời còn rất non trẻ, nền kinh tế suy
kiệt, đời sống nhân dân vô cùng khó khăn. Vì vậy, vào thời điểm đó, tiến hành
xâm lược Việt Nam, Pháp hy vọng sẽ nhanh chóng đánh đổ chính quyền cách mạng,
giành thuộc địa. Rõ ràng, trở lại xâm lược Đông Dương và Việt Nam, cả Pháp, Mỹ
và Anh đều đã cân nhắc, tính toán rất kỹ lưỡng. Pháp xem đây không chỉ là việc
quay trở lại lãnh địa cũ của mình mà là sự cần thiết thay mặt Đồng Minh để ngăn
chặn ảnh hưởng của Liên Xô và phong trào chủ nghĩa xã hội ở khu vực này. Vì vậy,
Chính phủ Đờ Gôn luôn tin tưởng rằng, Đông Dương là của người Pháp và người
Pháp sẽ giải phóng Đông Dương. Tóm lại, bản chất, âm mưu và chính sách của thực
dân Pháp đối với việc xâm lược Việt Nam và Đông Dương trước sau là nhất quán,
là vì lợi ích kinh tế và chính trị của họ, ngoài ra không có mục đích nào khác.
Chúng ta không thể hy vọng, tìm kiếm sự đồng cảm, tình thương, lòng tốt ở kẻ
thù và không thể tin vào “lời hứa” của quân xâm lược; cũng không thể “nhân nhượng”,
“cầu hoà” khi đối phương đã rắp tâm, quyết tâm “cướp nước ta một lần nữa”. Sự lấn
tới và từng bước leo thang chiến tranh của quân xâm lược đã giúp chúng ta không
chỉ thấy rõ hơn bản chất thâm độc, tàn ác của thực dân Pháp mà còn thấy rõ hơn
âm mưu đen tối của đế quốc Mỹ cùng các thế lực đứng đằng sau Pháp, Mỹ. Vậy là,
thực dân Pháp cũng như đế quốc Mỹ và bất cứ lực lượng nào, hễ đem quân xâm lược
nước ta, đi ngược lại nguyện vọng chính đáng của nhân dân ta, gây đau thương,
tang tóc cho nhân dân ta thì đều là kẻ thù của nhân dân ta và nhân dân yêu chuộng
hoà bình thế giới, đều là hiểm hoạ của sự tiến bộ xã hội và nền hoà bình thế giới.
Chừng nào còn tồn tại chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc thì chừng ấy nhân
dân ta và cả loài người vẫn còn nguy cơ chiến tranh, tội ác và đau khổ. Vì vậy,
“chúng ta phải đứng lên! Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ,
không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh
thực dân Pháp để cứu Tổ quốc”1. Chỉ khi
nào tiêu diệt được chủ nghĩa thực dân, đế quốc thì chúng ta mới xoá bỏ được
nguy cơ chiến tranh, tệ nạn người áp bức, bóc lột người, lúc đó loài người mới
thật sự có tự do, hạnh phúc. Thực tiễn lịch sử dân tộc Việt Nam và lịch sử thế
giới hiện đại đã chứng minh điều này. Cho nên ai đó còn đang tin vào lòng tốt,
sự nhân từ, “bác ái”, “văn hoá văn minh” của quân “ăn cướp”, bè lũ thực dân, đế
quốc và tay sai của chúng thì hãy đọc lại “lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” của
Chủ tịch Hồ Chí Minh và hàng loạt các tác phẩm khác của Người viết trong giai đoạn
này. Đọc và suy ngẫm từ những trang sách đó, kiểm nghiệm qua thực tiễn đánh giặc
giữ nước của dân tộc mỗi người trong chúng ta sẽ nhận ra sự thật, để biết phải
trái, đúng sai, hiểu rõ hơn bạn, thù, tăng thêm ý thức tự tôn dân tộc, thêm tự
hào vì mình là công dân của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; từ đó mà
nâng cao ý thức cảnh giác, nhìn rõ và lường trước mọi việc có thể xảy ra, sẵn
sàng làm tròn bổn phận công dân của mình quyết “hy sinh đến giọt máu cuối cùng để
giữ gìn đất nước” 2, để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội
chủ nghĩa nơi tổ tiên mình đã sống, nơi mình đã sinh ra, lớn lên và trở thành
con người ./.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét