Thứ Sáu, 30 tháng 8, 2019



CHỦ ĐỘNG ĐẤU TRANH PHẢN BÁC ÂM MƯU 
LỢI DỤNG NGƯỜI THIỂU SỐ CHỐNG PHÁ VIỆT NAM

Thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình” đối với Việt Nam, trong những năm qua, quyền của người dân tộc thiểu số (DTTS) luôn là một trong những vấn đề chiến lược được các thế lực thù địch triệt để lợi dụng nhằm gây mất ổn định, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng ta, đưa Việt Nam đi theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản. Chúng coi đó là một yếu tố quan trọng để tạo sức ép từ bên ngoài, đồng thời kích động các hoạt động chống phá từ bên trong. Trong đó, chúng tập trung vào một số hoạt động cơ bản sau:
Một là, lợi dụng các vấn đề về lịch sử, đất đai và cuộc sống khó khăn của một bộ phận đồng bào DTTS để vu cáo Nhà nước ta "phân biệt đối xử”,“đàn áp người DTTS", ép người DTTS phải “bỏ đạo, bỏ văn hoá dân tộc” hoà nhập với “cuộc sống văn minh” của người Kinh… để kích động, lôi kéo người DTTS biểu tình, bạo loạn, xâm phạm an ninh chính trị, trật tự xã hội (ANCT-TTATXH)  ở nước ta. Các thế lực thù địch còn triệt để lợi dụng sơ hở, thiếu sót trong thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo, giải quyết khiếu nại tố cáo… ở vùng DTTS để mua chuộc, lôi kéo những phần tử xấu và người DTTS gây mất ổn định ANCT-TTATXH trên địa bàn. Chúng còn lợi dụng sự thoái hóa, biến chất của một bộ phận cán bộ, đảng viên; triệt để xoáy sâu tâm lí và sự dồn nén bức xúc do số cán bộ, đảng viên này gây ra với đồng bào để tuyên truyền, xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, phủ nhận thành tựu công cuộc đổi mới nhằm làm cho nhân dân mất niềm tin vào Đảng, vào chính quyền. 
Hai là, chúng đánh tráo và đồng nhất khái niệm quyền dân tộc tự quyết là quyền của quốc gia - dân tộc với quyền của các DTTS để tuyên truyền, xuyên tạc nhằm làm cho đồng bào các dân tộc ngộ nhận rằng, quyền dân tộc tự quyết là quyền của riêng đồng bào các DTTS. Từ đó, chúng tìm cách kích động, lôi kéo đồng bào dân tộc đòi “quyền dân tộc tự quyết, tự quản”, đòi thành lập nhà nước riêng, thoát ly khỏi sự quản lý của Nhà nước, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc như: “Nhà nước Tin lành Đề-ga” ở Tây Nguyên, “Vương quốc Khmer Krom” ở Tây Nam Bộ, “Vương quốc Mông” ở Tây Bắc... Qua đó nhằm hình thành các tổ chức đối lập với Đảng, Nhà nước ta. Bên ngoài, các tổ chức người Việt lưu vong ở nước ngoài như: "Hội người Mông thế giới", "Hội người Thượng Đề-ga"… tích cực móc nối, tài trợ, chỉ đạo số đối tượng trong nước thu hút, tập hợp lực lượng, hình thành nhen nhóm phản động gây mất ổn định chính trị ở địa phương.
Ba là, triệt để tác động Quốc hội Mỹ và các nước phương Tây, các tổ chức quốc tế thông qua các dự luật, nghị quyết, báo cáo... hoặc tổ chức các cuộc điều trần, hội thảo, họp báo nhằm xuyên tạc, bóp méo tình hình nhân quyền ở các vùng DTTS ở nước ta. Điển hình như: Báo cáo tình hình nhân quyền thế giới hằng năm của Anh, Mỹ; Nghị quyết của Nghị viện EU... Trong đó, chỉ riêng Hạ viện Mỹ hằng năm đã liên tục thông qua nhiều Dự luật, Nghị quyết về quyền của người DTTS tại Việt Nam như: Dự luật HR 1897, Nghị quyết H.Res.484… hay Báo cáo thường niên của Tổ chức Theo dõi nhân quyền (HRW), Tổ chức Ân xá Quốc tế (AI)... Đặc biệt, các tổ chức phản động lưu vong còn tìm cách tham gia các diễn đàn của Liên hợp quốc để gây sức ép đòi Nhà nước Việt Nam phải trao “quyền tự quyết, tự quản” cho người Khmer, người Thượng… ở trong nước.
Bốn là, lợi dụng kênh ngoại giao song phương, đa phương, hợp tác quốc tế với Việt Nam để lồng ghép vấn đề “cải thiện dân chủ, nhân quyền” trong các nội dung hợp tác với nước ta; gây sức ép về vấn đề quyền của người DTTS, đòi “quyền dân tộc tự quyết” cho các nhóm DTTS trong quan hệ với Việt Nam. Các thế lực thù địch còn thông qua tiếp xúc, làm việc với các cơ quan chức năng để tán phát, truyền bá các tài liệu, văn bản như: Thư ngỏ, Thông cáo báo chí… hoặc gửi kháng thư tới các lãnh đạo Đảng, Nhà nước nhằm xuyên tạc tình hình dân chủ, nhân quyền, trong đó có quyền của người DTTS ở trong nước, qua đó, hòng hạ thấp uy tín Việt Nam trên trường quốc tế. 
Năm là, triệt để lợi dụng trình độ dân trí thấp, phong tục, tập quán lạc hậu của đồng bào các DTTS để “tôn giáo hóa” các vùng DTTS, vùng sâu, vùng xa, tập trung vào địa bàn Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ. Chúng lập ra các "tôn giáo riêng" cho đồng bào DTTS như "Tin lành Đề-ga" ở Tây Nguyên; "Tin lành của người Mông" ở Tây Bắc, "Phật giáo của người Khmer" ở Tây Nam Bộ… Qua đó, hòng tập hợp, lôi kéo đồng bào dân tộc đi theo các tôn giáo rồi dùng thần quyền, giáo lý để nắm và khống chế quần chúng, chi phối các địa bàn, hình thành lực lượng đối trọng với chính quyền. Thông qua tôn giáo dụ dỗ đồng bào cản trở việc thực hiện chính sách, pháp luật, gây mất ổn định chính trị, xã hội ở địa phương.
Những năm qua, các cơ quan chức năng đã triển khai đồng bộ các biện pháp đấu tranh, ngăn chặn hoạt động lợi dụng quyền của người DTTS để xâm phạm ANCT-TTATXH nước ta. Trong đó, đã chủ động nắm tình hình các địa bàn, đối tượng trọng điểm về dân tộc, tôn giáo, các tổ chức phản động lưu vong, các tổ chức quốc tế… thường có hoạt động chống phá ta về dân tộc, tôn giáo để triển khai các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn. 
Chủ động ngăn chặn, vô hiệu hóa âm mưu, hoạt động thông qua triển khai các dự án, chương trình hợp tác quốc tế trong các vùng DTTS để lôi kéo, mua chuộc người dân tộc tham gia các hoạt động xâm phạm ANCT-TTATXH. Đã tham mưu cho Đảng và chính quyền các cấp chủ động giải quyết từ cơ sở các vụ việc nhạy cảm, phức tạp liên quan tới dân tộc, tôn giáo trên địa bàn; đồng thời triển khai các phương án đấu tranh, xử lý nghiêm các đối tượng lợi dụng quyền của người DTTS xâm phạm ANCT-TTATXH trước pháp luật. Thông qua nhiều kênh và hình thức tuyên truyền, chúng ta đã chuyển tải chính sách, thành tựu đã đạt được trong việc bảo vệ, phát huy quyền của người DTTS ở nước ta, giải tỏa kịp thời các thông tin xuyên tạc, sai lệch về vấn đề này tới các tầng lớp nhân dân, cộng đồng quốc tế, kiều bào ta ở nước ngoài. Đặc biệt, việc nước ta bảo vệ thành công Báo cáo quốc gia theo Cơ chế kiểm điểm định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ III của Hội đồng Nhân quyền LHQ ngày 4-7-2019 tại Geneva (Thụy Sỹ) là minh chứng sinh động nhất khẳng định mạnh mẽ nỗ lực và thành tựu của Việt Nam trong việc bảo vệ và thúc đẩy quyền con người, trong đó có quyền của người DTTS, được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao; góp phần đấu tranh, phản bác các luận điệu xuyên tạc về vấn đề này đối với nước ta.    
Trong thời gian tới, các thế lực thù địch vẫn sẽ tiếp tục lợi dụng quyền của người DTTS nhằm thúc đẩy chiến lược “Diễn biến hòa bình” đối với nước ta. Để phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn hiệu quả hoạt động này, các cơ quan chức năng cần tiếp tục tăng cường tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân về quyền của đồng bào các DTTS theo luật pháp quốc tế và pháp luật Việt Nam; âm mưu, thủ đoạn lợi dụng vấn đề này chống phá Việt Nam để đề cao cảnh giác, không nghe theo kẻ xấu, không bị kẻ địch lợi dụng; tự giác thực hiện quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về dân tộc, tôn giáo. Đề cao tinh thần dân tộc và tôn trọng những điểm khác biệt của các DTTS không trái với lợi ích chung của đất nước; kiên quyết chống tư tưởng kì thị, chia rẽ dân tộc, tôn giáo, dân tộc hẹp hòi, cực đoan hoặc mặc cảm dân tộc, tôn giáo. Không ngừng chăm lo xây dựng, củng cố, kiện toàn hệ thống chính trị ở các địa bàn vùng DTTS, vùng sâu, vùng xa; nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, hiệu lực hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân nhằm xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân ngày càng vững mạnh. Tiếp tục khơi dậy ý thức tự lực, tự cường và phát huy truyền thống đoàn kết, bình đẳng, tương trợ giúp đỡ nhau cùng phát triển giữa các dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. 
Tiếp tục thực hiện hiệu quả các chương trình, dự án phát triển kinh tế, xã hội, nâng cao trình độ dân trí, văn hóa, xóa đói, giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội, tạo mọi điều kiện để đồng bào các DTTS được tiếp cận với các điều kiện sống của khu vực thành thị, nhằm góp phần đảm bảo ngày càng tốt hơn quyền và lợi ích của đồng bào các DTTS, vùng sâu, vùng xa. Làm tốt công tác nắm tình hình, kịp thời phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn âm mưu, hoạt động lợi dụng quyền của người DTTS để phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân, chống phá cách mạng nước ta. Giải quyết triệt để, kịp thời các “điểm nóng”, các mâu thuẫn, khiếu kiện trong đồng bào các DTTS ngay từ cơ sở, không để kéo dài, không lây lan, vượt cấp…



TÍCH CỰC ĐẤU TRANH VỚI LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC 
THÀNH QUẢ CÁCH MẠNG THÁNG TÁM

Giá trị và ý nghĩa lịch sử của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là minh chứng hiển nhiên của lịch sử. Thế nhưng, đến nay vẫn có không ít những quan điểm xuyên tạc, luận điệu sai trái, thù địch, phản động, những nhận thức lệch lạc đánh giá không đúng về ý nghĩa, tầm vóc lịch sử của sự kiện vĩ đại này ở một số luận điệu sau đây:
Một là, hạ thấp tầm vóc, bôi nhọ thành công của Cách mạng Tháng Tám của dân tộc ta dưới sự lãnh đạo của Đảng
Một số đối tượng hàm hồ cho rằng: “Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam là sự ăn may của Cộng sản Việt Minh”. Họ lập luận, Việt Minh đã nhanh tay cướp lấy thành quả của Đồng minh chống phát xít, khi quân đồng minh chưa kịp vào Đông Dương để giải giáp quân Nhật. Những kẻ thâm thù với cách mạng thì trắng trợn vu cáo: Việt Minh đã cướp công của dân tộc trong Cách mạng Tháng Tám”; chúng vào hùa với nhau để tung ra luận điệu: Cách mạng Tháng Tám là do tinh thần dân tộc lãnh đạo, dù không có Đảng Cộng sản, nhiều nước thuộc địa đã giành được độc lập mà ít tốn xương máu. Sự hao tốn xương máu của dân tộc là do Đảng Cộng sản gây ra.
Như mọi người đều biết, để làm nên thành công của cách mạng Tháng Tám “long trời, lở đất”, cả dân tộc Việt Nam với quyết tâm và tinh thần “dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”, đã nhất tề vùng lên, cuộc Tổng khởi nghĩa của nhân dân ta đã thành công, lật đổ bộ máy thống trị phát xít cùng triều đình phong kiến, thiết lập nên chính quyền cách mạng trên cả nước. 
Cách mạng Tháng Tám thành công, ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh long trọng đọc bản Tuyên ngôn độc lập, tuyên bố khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, mở đầu một chế độ mới, là chặng đường phát triển của dân tộc Việt Nam trong kỷ nguyên mới. Cuộc cách mạng vĩ đại đó đã chấm dứt hoàn toàn chế độ phong kiến tồn tại hàng nghìn năm trên đất nước ta, đồng thời chặt đứt những mắt xích quan trọng của chế độ thực dân, thúc đẩy, cổ vũ phong trào giải phóng dân tộc bị áp bức, nô lệ các nước thuộc địa trên toàn thế giới. Cách mạng diễn ra trong điều kiện thời cơ nghìn năm có một, tuy nhiên, thời cơ đó chỉ được tận dụng và đạt thành quả với sự chuẩn bị kỹ lưỡng cả thế và lực lượng cách mạng của Đảng. Cách mạng tháng Tám thắng lợi, nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa ra đời là kết quả của cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc lâu dài, đầy hy sinh, gian khổ của nhân dân ta, dưới sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh chứ không phải là sự “ăn may” hay “cướp công” nào cả như những đối tượng xấu, có thái độ thù địch, xuyên tạc.
Hai là, xét lại, xuyên tạc ý nghĩa lịch sử, thời đại của Cách mạng Tháng Tám
Mặc dù thụ hưởng thành quả của Cách mạng Tháng Tám gần 80 năm qua, song một số kẻ lại mạo danh, núp bóng “Người Việt Nam yêu nước” “ăn cháo đá bát”, đòi xét lại sự kiện lịch sử Cách mạng Tháng Tám. Có nhiều phần tử cơ hội chính trị tỏ ra bất mãn, cực đoan, quá khích, dưới chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền”, “xã hội dân sự” đấu tranh với cái gọi “vì chính nghĩa”, vì “dân chủ, tự do”, bất chấp lẽ phải, phẩm giá con người tung ra những luận điệu trắng trợn, hằn học, bỉ ổi rằng: Thành quả Cách mạng Tháng Tám  nhanh chóng rơi vào tay Đảng Cộng sản. 
Họ vu cáo đây là nguyên nhân dân tộc Việt Nam rơi vào “thảm họa” hai cuộc chiến tranh tàn khốc chống Pháp và chống Mỹ khiến cho đất nước bị tàn phá, dân tộc phân ly và ngày nay tiếp tục tình trạng nghèo đói, lạc hậu. Theo họ, nếu không đi theo con đường của cách mạng vô sản vạch ra, Việt Nam vẫn có độc lập mà tránh được chiến tranh, đi theo con đường của nước tư bản phát triển tới phồn vinh.
Đánh giá về nguyên nhân và bản chất của Cách mạng Tháng Tám, ngay các sử gia phương Tây mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau, song họ đều thấy được vai trò to lớn của Mặt trận Việt Minh, tinh thần dân tộc, cũng như tầm tư tưởng thời đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh. 
Nói về Cách mạng Tháng Tám, sử gia người Na Uy S.Tonesson thừa nhận “Cuộc cách mạng ở Việt Nam năm 1945 là một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, không chỉ có vậy, đó còn là một cuộc cách mạng chính trị chống lại nền quân chủ thối nát, và là một cuộc cách mạng xã hội chống lại chủ đất và thực dân”. 
Cách mạng Tháng Tám thành công đã mở ra một kỷ nguyên mới, đưa nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ làm chủ cuộc đời mới, kỷ nguyên nhân dân được tự do, đất nước được độc lập. Sức lan tỏa của Cách mạng Tháng Tám đã thức tỉnh các dân tộc trên thế giới, các nước Phi, Mỹ La tinh, cổ vũ phong trào giải phóng dân tộc để giải phóng khỏi ách áp bức, bóc lột. 
Đúng như nhà sử học Mông Cổ, TS Sanomish Dashtsevel đánh giá: “Cách mạng Tháng Tám đã tạo điều kiện cho nhân dân Việt Nam làm chủ đất nước, giành được những thành tựu to lớn trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, xây dựng đất nước. Cuộc Cách mạng tháng Tám còn có ý nghĩa quan trọng đối với phong trào giải phóng dân tộc, dân chủ ở các nước châu Á và trên thế giới”. 
Như vậy, thực chất của những luận điệu trên là một thủ đoạn xuyên tạc, bôi nhọ, đổi trắng thay đen, hòng hạ thấp ý nghĩa lịch sử của Cách mạng tháng Tám. Mục đích của chúng là phá hoại về tư tưởng và đại đoàn kết dân tộc, gây mất lòng tin của các thế hệ đối với truyền thống cách mạng vẻ vang của Đảng, của dân tộc Việt Nam. Thủ đoạn của chúng là cố tình khoét sâu vào nỗi đau chiến tranh và vu cáo, đổ vấy hậu quả đau thương này cho chính quyền cách mạng, cố tình chia rẽ đoàn kết, hòa hợp dân tộc, đẩy một bộ phận nhân dân xa rời Đảng, Nhà nước. Làm như vậy, họ đã vu cáo cả một dân tộc, phỉ báng cả quê hương, đất nước, biết bao anh hùng, liệt sĩ đã ngã xuống vì nền độc lập, tự do của Tổ quốc. Họ cam tâm đứng về phía thế lực thù địch ra sức “bắn đại bác vào quá khứ” một cách bỉ ổi nhất; bán rẻ lương tâm, cuồng nhiệt cổ xúy cho mọi quan điểm, luận điệu chống đối Đảng, Nhà nước, đi ngược lại lợi ích của nhân dân, quê hương, xứ sở.
Ba là, xuyên tạc thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám là mở ra thời kỳ Đảng đã áp đặt một chế độ độc tài toàn trị, một đảng duy nhất nắm quyền thống trị với một nhà nước “chuyên chính vô sản”
Chúng cho rằng, sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, Đảng nắm được quyền thống trị toàn đất nước, thành lập Nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa, Đảng Cộng sản Việt Nam đã áp đặt một chế độ độc tài toàn trị. Điều 4 – Hiến pháp 2013 chỉ rõ: Đảng Cộng sản Việt Nam – Đội quân tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội quân tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc. Các tổ chức Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật (Hiến pháp năm 2013, tr.12, 13). 
Thực tế trong đời sống chính trị, xã hội đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình. Ngoài lợi ích của dân tộc, phụng sự Tổ quốc và nhân dân, Đảng không có lợi ích nào khác. Đảng lấy “Tập trung dân chủ” (thiểu số phục tùng đa số, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách), “Đoàn kết thống nhất”, “tự phê bình và phê bình”… là những nguyên tắc tổ chức hoạt động của mình. Cùng với đó là mô hình nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân. Xét trên cơ sở chính trị, pháp luật, thực tiễn như vậy tại sao lại nói là thể chế chính trị ở Việt Nam là độc tài, bác đoạt nhân quyền, mất tự do, dân chủ? 
Thực tế, đằng sau sự vu cáo thâm độc này là cổ xúy cho thể chế đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, thúc đẩy “xã hội dân sự”, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước pháp quyền XHCN, hướng lái Việt Nam đi theo con đường TBCN. Những nội dung xuyên tạc trên không có gì mới, chỉ là trò “bổn cũ soạn lại”, năm nào đến dịp cả nước kỷ niệm ngày lễ trọng đại, chúng lại lôi ra với ý đồ nói lâu, nói dai, nói đại để mong bỡn quá hoá thật. Tuy nhiên, chính sự nhai đi nhai lại luận điệu ấu trĩ ấy càng chứng tỏ bản chất phản động, phi lý của các thế lực chống đối. Bởi sự thật hiển nhiên chỉ có một, còn ngụy tạo tất bị chân lý phơi bày, không thể khoác áo giả dối, đánh lừa.
   


PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC MỤC TIÊU CNXH
TRƯỚC THỀM ĐẠI HỘI XIII
Vừa qua, Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 35-CT/TW, ngày 30-5-2019, Về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Để công tác chuẩn bị chu đáo, việc tổ chức đại hội các cấp bảo đảm thành công tốt đẹp theo đúng tinh thần chỉ thị của Bộ Chính trị, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã quán triệt: Kiên định mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội (CNXH) trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Kiên định những vấn đề có tính nguyên tắc trong Cương lĩnh, Điều lệ, đường lối, chủ trương của Đảng. Tuy nhiên các thế lực phản động, phần tử cơ hội chính trị lợi dụng thời điểm này để công kích, chống phá, xuyên tạc mục tiêu, lý tưởng, con đường đi lên XHCN ở Việt Nam.
Cứ “đến hẹn lại lên”, nhằm vào thời điểm đất nước chuẩn bị có những sự kiện trọng đại, các thế lực thù địch, phần tử phản động, cơ hội chính trị lại triệt để lợi dụng để đẩy mạnh các hoạt động công kích, chống phá cách mạng Việt Nam.
Lợi dụng thời điểm tổ chức Đảng từ Trung ương đến địa phương đang có những chuẩn bị bước đầu để tiến tới đại hội Đảng các cấp, “lộng giả thành chân”, các đối tượng này bắt đầu gia tăng các hoạt động tuyên truyền, chống phá.
Trên các trang điện tử, blog hải ngoại, họ vờ vịt tỏ thái độ ngạc nhiên, ra vẻ thông thái dạy đời: “Vì sao đến giờ này mà Đảng và Nhà nước Việt Nam vẫn kiên định mục tiêu, lý tưởng CNXH”. Họ cho rằng: “Ai cũng thấy là CNXH đã ở vào giờ thứ 25 trên phạm vi toàn cầu, việc thực hiện XHCN tại Việt Nam đã hoàn toàn thất bại sau 10 năm thực hiện triệt để (1975-1985) dù cố gắng “Đổi mới” 10 năm sau đó (1985-1995) theo gương “cải tổ” của Liên Xô vẫn không cứu vãn được.
Chúng xuyên tạc: Để được cứu nguy, tránh sự sụp đổ như Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu, đạt được nhiều thành tựu như hiện nay, thực tế Việt Nam đã thực hiện “Kinh tế thị trường, theo định hướng tư bản chủ nghĩa”; nhờ đó, Việt Nam mới phát triển nhiều mặt để có bộ mặt phồn vinh như hôm nay về kinh tế, đời sống người dân ngày một được cải thiện và nâng cao, chứ không phải kinh tế thị trường định hướng XHCN…”.
Đây thực chất là những luận điệu phi lịch sử, phản khoa học và phản động. Mục đích của những kẻ tung ra luận điều này rất rõ ràng là muốn xóa bỏ CNXH, thay đổi thể chế chính trị, hướng lái nước ta đi theo con đường tư bản chủ nghĩa; bên cạnh đó là làm cho quần chúng nhân dân hoài nghi, bi quan, dao động, suy giảm niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, vào con đường đi lên CNXH mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn.
Như vậy, luận điệu mà chúng nêu trên liệu có cần tranh luận? Chắc hẳn là không. Tuy nhiên cũng nên nói rõ để không “thật, giả, vàng, thau lẫn lộn”. Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là sự lựa chọn của dân tộc Việt Nam. Lịch sử dân tộc nửa cuối thế kỷ XIX và ngót nửa đầu thế kỷ XX, đất nước không được độc lập, nhân dân không được tự do. Các phong trào từ “Cần Vương”, “Khởi nghĩa nông dân”, đến phong trào “Đông Du”, phong trào “Giải phóng dân tộc theo khuynh hướng tư sản dân tộc”… đều thất bại, cách mạng Việt Nam lâm vào khủng hoảng về con đường giải phóng dân tộc.
Trong điều kiện đó, Nguyễn Ái Quốc đã đưa lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, ánh sáng của Cách mạng Tháng Mười, cách mạng vô sản về Việt Nam. Từ khi có Đảng, độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, giành lại độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, xây dựng đất nước theo con đường CNXH, vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Nói như thế để thấy, con đường cách mạng vô sản tiến bộ là phù hợp với hoàn cảnh lịch sử cụ thể, CNXH là sự lựa chọn của lịch sử dân tộc Việt Nam.
Độc lập dân tộc là gắn liên với chủ nghĩa xã hội là sự lựa chọn đúng đắn của nhân dân. Nhân dân là cội nguồn sức mạnh, chủ thể quyết định vận mệnh của dân tộc và non sông đất nước. Đảng Cộng sản Việt Nam một lòng phụng sự nhân dân, phụng sự Tổ quốc. Ngoài lợi ích của dộc tộc, nhân dân, Đảng không có lợi ích nào khác. Nhân dân một lòng theo Đảng. Lý tưởng cộng sản là sự lựa chọn của nhân dân. Kiên định con đường đi lên CNXH là sự kiên định con đường thực tiễn mà nhân dân ta đang đi, kiên định mục tiêu thực hiện mà chúng ta đang hướng tới, là tiếp nối thành quả cách mạng của nhân dân ta và nâng lên tầm cao mới phù hợp với điều kiện lịch sử.
Trong tiến trình cách mạng Việt Nam, Đảng ta tiếp tục con đường đã lựa chọn, kiên định mục tiêu CNXH mà tính đúng đắn, khoa học, cách mạng đã được thực tiễn chứng minh để xây dựng nước ta thực sự giàu mạnh, dân chủ, văn minh, nhân dân ta thực sự có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc. Kiên định con đường đi lên CNXH là phù hợp với quy luật lịch sử, chứ không phải là “đi vào vết xe đổ của Liên Xô” như sự xuyên tạc của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị. CNXH hiện thực sau Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 không chỉ có ảnh hưởng quốc tế sâu rộng mà còn làm thay đổi tiến trình lịch sử thế giới trong suốt thế kỷ XX và cho đến tận ngày nay.
CNXH từ lý luận khoa học đã trở thành hiện thực sinh động; từ một nước trở thành hệ thống XHCN thế giới, trở thành lực lượng cách mạng thúc đẩy nhân loại phát triển và phẩm giá con người trong lòng xã hội được thực thi… Liên Xô sụp đổ là sự kiện địa chính trị lớn nhất của thế kỷ XX làm đau đớn nhân loại tiến bộ. Song nó phản ánh sự sai lầm về một mô hình khi đã xa rời những vấn đề mang tính nguyên tắc của CNXH. Bên cạnh đó cũng phải nói rõ, những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử đạt được trong hơn 30 đổi mới đến nay mà nhân dân ta đạt được dưới sự lãnh đạo của Đảng, là thành tựu của công cuộc đổi mới, thành tựu của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN chứ không phải là “kinh tế thị trường theo định hướng tư bản chủ nghĩa” như các thế lực thù địch xuyên tạc.
Kinh tế thị trường định hướng XHCN Việt Nam là “nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời bảo đảm định hướng XHCN phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước. Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế; có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền XHCN, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhằm mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh" (Đảng Cộng sản Việt Nam: “Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII”, tr.102). Đây là mô hình kinh tế tổng quát trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam, là thành quả phát triển, hoàn thiện về mặt tư duy lý luận của Đảng và thực tiễn phát triển kinh tế trong thời kỳ đổi mới. Kinh tế thị trường định hướng XHCN có đặc trưng mang tính đặ c thù, khác căn bản về chất so với kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa mà đến những kẻ ngu ngơ nhất cũng không thể đánh đồng. Thủ đoạn của thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị, phản động là xuyên tạc về mục tiêu, lý tưởng và con đường đi lên CNXH ở nước ta, xuyên tạc kinh tế thị trường định hướng XHCN, nhằm mục đích hướng lái cách mạng Việt Nam theo con đường tư bản chủ nghĩa; tác động, tiêm nhiễm tạo nhận thức lệch lạc, hoài nghi, tư tưởng hoang mang, dao động, từ đó suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân cần nâng cao ý thức cảnh giác và tăng cường đấu tranh tranh phản bác, làm thất bại âm mưu phản cách mạng nguy hiểm này.


Chủ Nhật, 25 tháng 8, 2019


NGÀY QUỐC KHÁNH 2/9: GIÁ TRỊ LỊCH SỬ,
Ý NGHĨA THỜI ĐẠI CỦA BẢN TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP
TV
Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản ”Tuyên ngôn Độc lập” lịch sử do chính Người chuẩn bị, trịnh trọng tuyên bố trước toàn thế giới về sự ra đời của một nhà nước mới: Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam).
Thời gian đã qua đi hơn 2/3 thế kỷ, nhiều chi tiết nội dung trong Tuyên ngôn đã được nghiên cứu, làm sáng tỏ trên nhiều lĩnh vực. Chúng ta càng thấy rõ những tư tưởng vĩ đại, tầm nhìn chiến lược của Người thể hiện trong Tuyên ngôn.
Tuyên ngôn Độc lập ngày 2/9/1945 là văn bản pháp lý đặt cơ sở cho việc khẳng định thiết lập nhà nước pháp quyền ở Việt Nam, với mục tiêu Độc lập - Tự do - Hạnh phúc, khơi nguồn sáng tạo và soi sáng con đường cách mạng Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng Nhà nước của dân, do dân và vì dân. Hơn thế nữa, Tuyên ngôn độc lập còn đóng góp cho sự nghiệp giải phóng nhân loại, là sự mở đầu kỷ nguyên độc lập, tự do của các dân tộc thuộc địa, bị áp bức trên toàn thế giới.
Tuyên ngôn Độc lập là một văn kiện lịch sử, một văn bản pháp lý quan trọng bậc nhất của nước ta. Với hệ thống lập luận chặt chẽ, lí lẽ sắc bén, giọng văn hùng hồn, một cơ sở pháp lý vững chắc khẳng định mạnh mẽ chủ quyền quốc gia của dân tộc Việt Nam trước toàn thế giới, mở ra thời kỳ mới của dân tộc ta trên con đường phát triển.
Nội dung của Tuyên ngôn Độc lập đã được các nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực nghiên cứu, làm rõ, nhưng hiện vẫn còn những luận điệu xuyên tạc, đặt câu hỏi với dụng ý xấu: Vì sao Chủ tịch Hồ Chí Minh lại mở đầu bản Tuyên ngôn Độc lập bằng những câu trích dẫn từ hai bản Tuyên ngôn của nước Mỹ và Pháp?
Điều này cần phải hiểu và lý giải rõ.
Một là, Chủ tịch Hồ Chí Minh là danh nhân văn hóa thế giới như UNESCO đã tôn vinh, Người nhắc đến hai văn kiện lịch sử ấy với lòng trân trọng đặc biệt của một trí tuệ lớn đối với sự phát triển của văn minh nhân loại mà Cách mạng giành độc lập của Hoa Kỳ năm 1776 và Cách mạng tư sản Pháp 1789 đã giành được. Đây là những thành quả văn hoá của nhân loại, là dấu mốc lớn của lịch sử loài người, trong đó đã khẳng đinh những quyền cơ bản của con người. Đó là "quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” … “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi. Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được”… Đây là những tư tưởng rất tiến bộ đã được khẳng định trong hai bản Tuyên ngôn của nước Mỹ và nước Pháp. Dẫn dắt từ sự kiện này để Chủ tịch Hồ Chí Minh đi đến kết luận nhằm tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ của quốc tế đối với cuộc cách mạng của nhân dân Việt Nam.
Hai là, trên nền tảng và tiền đề đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định rằng, chính cuộc cách mạng mà dân tộc Việt Nam đã giành được vào Tháng Tám năm 1945 là bước đi tiếp trong sự phát triển của nhân loại, đồng thời cũng là cột mốc cho sự phát triển của lịch sử giải phóng con người thuộc các dân tộc bị áp bức, bóc lột. Đó là mẫu hình đầu tiên và cũng là ngọn cờ đầu của cuộc đấu tranh giải phóng các dân tộc thuộc địa nhỏ yếu thoát khỏi ách đô hộ, thống trị của chủ nghĩa thực dân cũ và mới mà cách mạng Việt Nam do Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo đã gương cao.
Ba là, đi sâu nghiên cứu hai bản Tuyên ngôn của nước Mỹ và nước Pháp, chúng ta thấy cả hai bản Tuyên ngôn đã đề cao và khẳng định quyền con người: “Mọi người đều sinh ra bình đẳng”. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do. Chính sự suy rộng ra đã thể hiện một tư tưởng lớn, một luận điểm quan trọng thể hiện sự vượt trội của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được trình bày trong Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam. Đây là một nội dung rất căn bản, có ý nghĩa không chỉ đối với dân tộc ta mà còn có ý nghĩa sâu sắc đối với thời đại. Từ đó tới nay, các nước trên thế giới đã và đang liên tục đấu tranh để giành độc lập, giành quyền dân tộc cơ bản của mình.
Như vậy, có thể thấy, với vốn tiếng Anh cùng với thiên tài trí tuệ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dịch và trích dẫn Tuyên ngôn của nước Mỹ và nước Pháp nhưng có sự điều chỉnh và phát triển để thể hiện quan điểm riêng của mình về quyền con người và trên thực tế, tinh thần ấy đã được thể hiện và khẳng định trong tất cả các bản Hiến pháp của Việt Nam từ trước đến nay.
Đó chính là sự đóng góp về lý luận và thực tiễn về quyền con người, đem lại những tiến bộ và phù hợp với sự phát triển của nhân loại.
Hơn 70 năm đã trôi qua, những tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Tuyên ngôn Độc lập ngày 2/9/1945 đã trở thành sức mạnh to lớn của toàn dân tộc Việt Nam vượt qua mọi khó khăn, thách thức, thực hiện lời thề thiêng liêng trong ngày Lễ độc lập: “Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”.
Với tinh thần đó mà cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại đã giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trong suốt hơn 70 năm qua. Hiện nay, toàn Đảng, toàn dân ta đã và đang tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới toàn diện trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực sẽ còn nhiều diễn biến rất phức tạp, tác động trực tiếp đến nước ta, tạo ra cả thời cơ và thách thức.
Để tận dụng, phát huy tốt nhất thời cơ, thuận lợi, vượt qua khó khăn, thách thức, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta cần đoàn kết một lòng với quyết tâm cao, phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại; nâng cao đời sống của nhân dân. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập ,chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.


Thứ Năm, 22 tháng 8, 2019


SỨC MẠNH CHÍNH NGHĨA CỦA VIỆT NAM TRÊN BIỂN ĐÔNG
Chủ quyền không thể bác bỏ, tranh cãi, gắn chặt với lập trường đúng đắn khẳng định kiên quyết bảo vệ chủ quyền biển đảo thiêng liêng bằng biện pháp hòa bình của Việt Nam đã làm nên sức mạnh chính nghĩa của chúng ta trên Biển Đông.
Vi phạm của nhóm tàu khảo sát Hải Dương 8 đã quá rõ
Tình hình căng thẳng ở Biển Đông những ngày qua khi nhóm tàu khảo sát Hải Dương 8 (Haiyang Dizhi 8) của Trung Quốc có hoạt động vi phạm trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) và thềm lục địa Việt Nam ở khu vực phía Nam Biển Đông, đã khiến dư luận trong nước và quốc tế hết sức bất bình. Vi phạm của nhóm tàu khảo sát Hải Dương 8 là ngang ngược, bất chấp dư luận khu vực và thế giới lên án. Trước vi phạm vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam đã quá rõ ràng, nên buộc lòng, các lực lượng chức năng Việt Nam có toàn quyền tiến hành các biện pháp kiên quyết và kiên trì bảo vệ chủ quyền với tinh thần hòa bình. 
Những hình ảnh từ vệ tinh và định vị toàn cầu cho thấy rất rõ rằng, nhóm tàu Hải Dương 8 của Trung Quốc đã hoạt động trái phép tại vùng biển bãi Tư Chính - một vùng biển hoàn toàn nằm trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, theo đúng các quy định của Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982 mà Việt Nam và Trung Quốc đều là thành viên.
Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982 được 107 quốc gia, trong đó có Việt Nam, chính thức ký tại Montego Bay (Jamaica) vào ngày 10-12-1982. Sau Hiến chương Liên hợp quốc, Công ước UNCLOS 1982 được đánh giá là văn kiện pháp lý quốc tế quan trọng nhất kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, với sự tham gia của ký kết của 157 quốc gia trên thế giới tính tới nay, trong đó có Trung Quốc.
Là một văn kiện pháp lý đa phương đồ sộ, bao gồm 320 Điều khoản và 9 Phụ lục, với hơn 1.000 quy phạm pháp luật, Công ước UNCLOS 1982 đã đáp ứng nguyện vọng và mong đợi của cộng đồng quốc tế về một trật tự pháp lý quốc tế mới đối với tất cả các vấn đề về biển và đại dương. Công ước là cơ sở pháp lý chung cho việc giải quyết các tranh chấp biển, trong đó có phân định vùng biển và thềm lục địa chồng lấn giữa các nước xung quanh Biển Đông.
Bãi Tư Chính không phải và chưa bao giờ là vùng biển tranh chấp
Các bãi ngầm Tư Chính cùng các bãi ngầm và đá ngầm ở khu vực này là một phần không thể tách rời của thềm lục địa Việt Nam về phía Đông Nam, ngăn cách với quần đảo Trường Sa của Việt Nam bằng một rãnh sâu nên theo Công ước UNCLOS 1982, nó hoàn toàn không thuộc quần đảo Trường Sa. Khu vực bãi ngầm Tư Chính của Việt Nam được các luật sư công pháp quốc tế khẳng định, hoàn toàn không nằm trong khu vực chồng lấn chủ quyền của Trung Quốc. Cho nên, bãi Tư Chính chưa hề và chưa bao giờ là khu vực tranh chấp chủ quyền.
Bãi Tư Chính trên thềm lục địa Việt Nam, đã được Việt Nam sử dụng và khai thác đặc quyền kinh tế một cách ổn định và từ lâu, chứ không phải bây giờ mới có, mới xuất hiện tuyên bố chủ quyền, càng không phải khu vực đang có tranh chấp trên biển. Do vậy, càng không cớ gì để Trung Quốc hay bất cứ nước nào khác biến vùng không hề có tranh chấp trở thành có tranh chấp và gây căng thẳng khiến tình hình Biển Đông tiếp tục nóng lên tháng 7-2019 này.
Nói cách khác vùng biển mà nhóm tàu Hải Dương 8 của Trung Quốc đang hoạt động trái phép hoàn toàn nằm trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam được quy định tại Công ước UNCLOS 1982 mà chính Trung Quốc đã ký kết tham gia và cam kết có trách nhiệm tuân thủ. Là một cường quốc, nước lớn trong khu vực và trên thế giới, Trung Quốc càng cần nêu gương, thể hiện trách nhiệm nghiêm túc thực hiện những gì mà chính Trung Quốc đã cam kết, ký kết tham gia Công ước Liên hợp quốc này.
Sự biện minh không có cơ sở pháp lý
Nhằm biện minh cho các hoạt động vi phạm vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam tại khu vực bãi Tư Chính ở phía Nam Biển Đông, Trung Quốc tuyên bố họ cũng có quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với vùng nước liên quan. Những tuyên bố đòi hỏi chủ quyền trên Biển Đông được Trung Quốc công bố từ năm 2009 khi công bố bản đồ thể hiện yêu sách phi lý về “đường 9 đoạn” (hay còn gọi là “đường lưỡi bò 9 đoạn”) chiếm tới khoảng 80% diện tích Biển Đông.
Yêu sách “đường lưỡi bò 9 đoạn” của Trung Quốc hoàn toàn không có cơ sở pháp lý và thực tiễn và đã bị Tòa Trọng tài Thường trực (PCA) bác bỏ năm 2016 trong phán xử về vụ tranh chấp giữa Philippines và Trung Quốc. Trong phán quyết ngày 12-7-2016, Tòa Trọng tài Thường trực (PCA) kết luận rằng “các vùng biển do Trung Quốc xác lập ở Biển Đông không được vượt quá giới hạn do Công ước UNCLOS 1982 quy định; việc Trung Quốc yêu sách quyền chủ quyền, quyền tài phán và “quyền lịch sử” trong phạm vi “đường lưỡi bò 9 đoạn” là vi phạm các quy định của Công ước UNCLOS 1982 và không có hiệu lực pháp lý.
Như vậy, theo Công ước UNCLOS 1982 được xem như là “bản Hiến pháp về đại dương” trên thế giới, Việt Nam có quyền thiết lập vùng đặc quyền kinh tế là vùng biển tiếp liền phía ngoài lãnh hải, hợp với lãnh hải thành một vùng biển có chiều rộng 200 hải lý tính từ đường cơ sở. Dựa trên các quy định được Công ước UNCLOS 1982 công nhận và bảo hộ, bãi Tư Chính nằm trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam.
Việt Nam có chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán của các quốc gia đã được xác lập tại Công ước UNCLOS 1982. Bất kỳ ai xâm phạm vào vùng biển Tư Chính là vi phạm chủ quyền được công nhận của Việt Nam. Việc nhóm tàu Hải Dương 8 hoạt động trái phép tại vùng biển bãi ngầm Tư Chính, vì thế là sự xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam, xâm phạm trực tiếp quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam!
Thực hiện chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán của quốc gia ven biển theo quy định tại Công ước UNCLOS 1982, thực tế Việt Nam có quyền thi hành mọi biện pháp cần thiết, kể cả việc khám xét, kiểm tra, bắt giữ và khởi tố tư pháp các hành vi vi phạm nghiêm trọng quy định của Công ước này. Luật pháp được thừa nhận rộng rãi và tuân thủ trên thế giới theo Công ước UNCLOS 1982 khẳng định tính chính nghĩa của Việt Nam tại bãi ngầm Tư Chính, đồng thời bác bỏ mọi tuyên bố cũng như hành vi của nhóm tàu Hải Dương 8 của Trung Quốc đang vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam tại vùng biển này.
Trung Quốc không chỉ vi phạm Hiến pháp của thế giới về đại dương
Không những không tuân thủ UNCLOS 1982 mà Trung Quốc đã ký kết tham gia, việc đưa nhóm tàu Hải Dương 8 vào hoạt động trong vùng biển thuộc vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, Trung Quốc còn vi phạm cam kết của họ với các quốc gia ASEAN trong Tuyên bố về ứng xử của các bên tại Biển Đông (DOC). Theo văn kiện được Trung Quốc ký với các quốc gia ASEAN ngày 4-11-2002 nhân Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 8 tại Campuchia này, Trung Quốc đã đưa ra cam kết cùng với các nước ASEAN thúc đẩy môi trường hòa bình, hữu nghị và hòa hợp tại Biển Đông, không đe dọa sử dụng hay sử dụng vũ lực, phù hợp với các nguyên tắc phổ cập của luật quốc tế, trong đó có Công ước UNCLOS 1982.
Những vi phạm của Trung Quốc tại bãi Tư Chính hiện nay không chỉ vi phạm “hiến pháp về đại dương” cũng như cam kết khu vực, mà còn vi phạm các cam kết trong các thỏa thuận song phương giữa Việt Nam và Trung Quốc. Điều này có thể thấy rất rõ nếu soi chiếu theo “Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển Việt Nam - Trung Quốc” năm 2011 và các cam kết, nhận thức chung của lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai Nhà nước Việt Nam - Trung Quốc.
Cộng đồng quốc tế thấy được sự chính nghĩa của Việt Nam
Những diễn biến của tàu khảo sát Hải Dương 8 hoạt động phi pháp, xâm phạm nghiêm trọng vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam, cùng hành vi đòi hỏi chủ quyền phi lý và hung hăng của Trung Quốc đang bị chỉ trích và lên án ngày càng mạnh mẽ trong khu vực và trên thế giới. Chính nghĩa của Việt Nam đang tạo thành sức mạnh và áp lực ngày càng lớn đòi Trung Quốc phải rút toàn bộ nhóm tàu Hải Dương 8 khỏi các vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và tài phán của Việt Nam được quy định tại Công ước UNCLOS 1982.
Cộng đồng quốc tế những ngày qua đã chỉ trích mạnh mẽ nhóm tàu khảo sát Hải Dương 8 của Trung Quốc vi phạm vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam ở khu vực phía Nam Biển Đông. Nghị sĩ Eliot L.Engel, Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại Hạ viện Mỹ, ngày 26-7 đã ra tuyên bố về sự can thiệp của Trung Quốc vào vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam, trong đó nhấn mạnh sự hung hăng gần đây của Trung Quốc ở Biển Đông là một minh chứng đáng lo ngại về việc một quốc gia “ngang nhiên coi thường luật pháp và ngoại giao quốc tế”. Nghị sĩ Engel kêu gọi Trung Quốc ngay lập tức rút tàu ra khỏi vùng biển thuộc chủ quyền của nước láng giềng và chấm dứt các chiến thuật “bắt nạt” bất hợp pháp này.
Trong khi đó, Nghị sĩ Mike Gallagher thuộc Đảng Cộng hòa ở Mỹ cũng chỉ trích “những hoạt động ngày càng hung hăng của Trung Quốc ở Biển Đông là không thể chấp nhận được”. Ông Gallagher đã thúc giục Quốc hội Mỹ nhanh chóng thông qua dự luật lưỡng đảng do ông và Nghị sĩ Jimmy Panetta đề xuất, để đáp trả hành động của Bắc Kinh ở khu vực này.
Trong tuyên bố thể hiện lập trường mạnh mẽ và trực diện nhằm vào Trung Quốc, Bộ Ngoại giao Mỹ đã nêu rõ quan ngại sâu sắc trước thông tin Trung Quốc can thiệp vào các hoạt động khai thác dầu và khí đốt của Việt Nam ở Biển Đông, đồng thời cáo buộc Bắc Kinh đe dọa an ninh năng lượng trong khu vực. Người phát ngôn của Bộ Ngoại giao Mỹ nhấn mạnh Trung Quốc cần phải chấm dứt mọi hành vi “bắt nạt” và kiềm chế tham gia vào các hoạt động khiêu khích, gây bất ổn.
Cố vấn An ninh Quốc gia Mỹ John Bolton cũng tuyên bố trên mạng xã hội Twitter rằng: “Tôn trọng chủ quyền và tự do hàng hải là vấn đề căn bản trong tầm nhìn Ấn Độ - Thái Bình Dương của Mỹ và các nước ASEAN. Hành vi dọa nạt của Trung Quốc nhằm vào các quốc gia Đông Nam Á láng giềng đang phản tác dụng và đe dọa hòa bình và ổn định khu vực”.
Theo các nguồn tin báo chí, trong dự thảo Tuyên bố chung của Hội nghị Ngoại trưởng các nước ASEAN diễn ra tại Thủ đô Bangkok (Thái Lan) từ ngày 30-7-2019 tới, các nước ASEAN cũng sẽ bày tỏ quan ngại về những hành động hiện nay của Trung Quốc “làm xói mòn lòng tin” và gia tăng căng thẳng ở Biển Đông.
Sự chính nghĩa - vì thế đang tạo sức mạnh cho Việt Nam trong cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc. Và có thể thấy rõ rằng, khi cộng đồng quốc tế thấy được sự chính nghĩa của Việt Nam, thấy được tinh thần hòa bình và chủ trương nhất quán tôn trọng luật pháp quốc tế của Việt Nam, thì công cuộc bảo vệ chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc trên Biển Đông của chúng ta thêm phần thuận lợi. Thế giới tiến bộ ngày nay không chấp nhận những hành vi phi pháp, cường quyền trên Biển Đông.      
                                                             Công Bằng


VẪN LÀ TIẾNG NÓI LẠC LÕNG, XUYÊN TẠC TÌNH HÌNH TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM
Mới đây, trong ba ngày 16, 17 và 18/7/2019 tại thủ đô Washington, DC, 02 tu sĩ được cho là thuộc giáo hội “bị bách hại” tại Việt Nam tên là A Ga và Lương Xuân Dương khi tiếp xúc với Tổng thống Hoa Kỳ cũng như trao đổi với đài RFA tiếng Việt đã cố tình nói sai sự thật về tự do tôn giáo ở Việt Nam.
Mục sư đạo Tin Lành ở Tây Nguyên là A Ga đã nói rằng: “Tôi có nguyện vọng là trong tương lai gần chính quyền Việt Nam không nên dối trá, phải có chính sách thay đổi để cho người dân, đặc biệt đồng bào ở Tây Nguyên, có quyền tự do tôn giáo. Khi có tự do tôn giáo rồi thì họ không bao giờ phải chạy trốn qua Thái Lan mà họ rất đau khổ. Hy vọng chính phủ Việt Nam không thể che dấu được nữa”.
Còn đạo hữu Lương Xuân Dương khi trao đổi với đài RFA thì lớn tiếng vu cáo: “Nhà cầm quyền Việt Nam đã hứa rất nhiều lần nhưng không thực hiện. Tôi mong muốn ngành lập pháp Hoa kỳ tác động lên ngành hành pháp để đưa Việt Nam vào lại danh sách các nước cần quan tâm đặc biệt về tự do tôn giáo (CPC), buộc Việt Nam phải tôn trọng những điều mà chính họ đã cam kết”.
Người tự xưng là “cựu tù nhân lương tâm” và đến từ bang Texas còn cho biết, đến tham dự Ngày vận động cho Việt Nam với ba mục tiêu: thứ nhất là vận động các dân biểu và nghị sĩ của Quốc hội Hoa Kỳ làm việc với chính quyền Việt Nam về những vi phạm của chính quyền Việt Nam đối với quyền tự do tôn giáo đạo Cao Đài cũng như các tôn giáo khác như Phật Giáo, Hòa Hảo, Công Giáo, Tin Lành…; thứ hai là từ chính sách độc tài, nhà cầm quyền Việt Nam bóp nghẹt tiếng nói những người yêu nước, yêu nhân quyền, tôn trọng quyền tự do tôn giáo, bắt giam họ một cách tùy tiện. Vị này bày tỏ mong muốn nói lên sự thật để các vị thuộc lập pháp, hành pháp Hoa Kỳ tác động lên chính quyền Việt Nam, buộc họ phải trả tự do cho các tù nhân lương tâm; thứ ba là chế tài những viên chức Việt Nam có liên quan đến tình trạng vi phạm nhân quyền trong nước.
Rõ ràng, những tiếng nói lạc lõng trên hoàn toàn là xuyên tạc, không đúng sự thật về vấn đề tôn giáo ở Việt Nam.
Việt Nam là một quốc gia đa tín ngưỡng, đa tôn giáo, trong đó có 6 tôn giáo lớn, gồm: Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Hồi giáo, Cao Đài, Hòa Hảo. Hằng năm, ở Việt Nam có hàng nghìn lễ hội tôn giáo hoặc tín ngưỡng từ cấp quốc gia đến địa phương được diễn ra, các tín đồ tôn giáo tự do thực hiện các nghi lễ tôn giáo, bày tỏ và thực hành đức tin tôn giáo của mình.
Trong suốt những năm vừa qua, Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn chú ý ban hành và thực hiện tốt các chính sách bảo đảm tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo, các tôn giáo đều được đối xử công bằng trước pháp luật.
Điều 24, Hiến pháp năm 2013 ghi rõ: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật”. Bên cạnh đó, các quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân còn được cụ thể hóa trong Bộ luật Dân sự, Bộ luật Tố tụng Hình sự, Luật Đất đai, Luật Giáo dục…
Luật Tín ngưỡng tôn giáo có hiệu lực ngày 1/1/2018 và Nghị định 162/2017/NĐ-CP đã khẳng định: “Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người; bảo đảm để các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật… cấm phân biệt đối xử, kỳ thị vì lý do tín ngưỡng tôn giáo.”
Đáng chú ý, sự thành công rất tốt đẹp của Đại lễ Phật đản Liên hợp quốc Vesak 2019 với sự tham dự của hàng nghìn đại biểu quốc tế thuộc 570 phái đoàn quốc tế đến từ 112 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó có nhiều nguyên thủ, người đứng đầu Chính phủ, Phó Tổng thư ký Liên hợp quốc, cùng hơn 20 đại sứ và đại diện các tổ chức quốc tế tại Việt Nam vào giữa tháng 5/2019 là minh chứng tiêu biểu cho thành tựu tự do tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam, nơi mọi tôn giáo và công dân đều có đầy đủ quyền tự theo Hiến pháp và pháp luật./.
                                           Công Bằng


CẢNH GIÁC VỚI THỦ ĐOẠN LỢI DỤNG MẠNG INTERNET TÁC ĐỘNG, LÔI KÉO SINH VIÊN CỦA CÁC TỔ CHỨC PHẢN  
Những năm gần đây, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh luôn coi trọng, tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch
Trước những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới cũng như khu vực: hoạt động khủng bố, xung đột tôn giáo, sắc tộc, tranh chấp lãnh thổ nhất là vấn đề biển đảo tác động tiêu cực đến an ninh quốc gia,... các tổ chức phản động đã sử dụng mạng internet để tuyên truyền, lôi kéo, kích động tầng lớp sinh viên nhằm tập hợp lực lượng, tạo điều kiện đẩy mạnh các hoạt động chống phá cách mạng nước ta, thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” để tiến đến mục đích cuối cùng là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản và chế độ XHCN ở Việt Nam. Nổi bật lên một số thử đoạn sau:
Một là, thông qua internet thành lập các hội nhóm “xã hội dân sự” để tác động, lôi kéo tầng lớp sinh viên.
Xã hội dân sự ở đây được hiểu là các tổ chức xã hội do quần chúng nhân dân lập ra hoạt động vì quyền lợi và mục đích chính đáng của nhân dân thông qua lực lượng phản biện xã hội góp phần cho nhà nước hoàn thiện đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, lực lượng phản biện xã hội này bao gồm các chuyên gia ở các lĩnh vực khác nhau họ có cách nhìn khách quan và đúng đắn về xã hội. Lợi dụng vấn đề này, các tổ chức phản động đã thành lập các hội nhóm “Xã hội dân sự” trên mạng internet để tuyên truyền, tác động, lôi kéo tầng lớp sinh viên. Điển hình là việc, các tổ chức phản động, đặc biệt, các cá nhân, tổ chức phản động lưu vong người Việt thông qua các trang web để thành lập các nhóm xã hội dân sự đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền phá hoại tư tưởng, xuyên tạc các điều khoản cơ bản được nêu ra trong Hiến Pháp. Một số đối tượng phản động trong nước tìm cách lợi dụng quá trình trao đổi, kích động  thay đổi Điều 4 Hiến pháp, “phi chính trị hóa”, hướng lái việc sửa đổi Hiến Pháp theo ý đồ của Mỹ và Phương Tây, tung tin đồn thất thiệt, ngụy tạo ý chí và nguyện vọng của nhân dân nhằm phủ nhận  bản Hiến pháp hiện hành không còn phù hợp. Vốn là tầng lớp nhạy cảm về vấn đề chính trị và thường xuyên tiếp cận với mạng internet, các thế lực thù địch tăng cường  tiến hành các hoạt động lôi kéo, móc nối với tầng lớp sinh viên tạo thành một lực lượng đối lập trong nước, coi đây là lực lượng nòng cốt để tiến hành Chiến lược “diễn biến hòa bình” và lập đổ chính quyền khi có thời cơ.
Hai là, thiết lập các trang thông tin, diễn đàn liên quan để thu hút sinh viên tham gia.
Cùng vưới sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, các website giờ đây không chỉ là những trang văn bản đơn giản mà có thể chuyển tải thông tin một cách đa dạng kết hợp văn bản, âm thanh, hình ảnh cho đến video… Thực tế, các đối tượng phản động đã thành lập rất nhiều các trang web có nội dung chống phá nhà nuớc ta như: www.Tuoitreyeunuoc.com, www.ykien.net, www.thongluan.org, www.talawas.org, www.viettan.org... Với hình thức trình bày sinh động, hấp dẫn, các website đã  thu hút được một lượng lớn người sử dụng internet truy cập hàng ngày. Việc đưa những thông tin, tài liệu lên mạng internet thông qua dich vụ Web rất đơn giản, an toàn và nhanh chóng, có thể thực hiện ở bất cứ nơi nào có kết nối internet, thông tin sau khi được đưa lên mạng có thể đến với một lượng lớn công chúng ở bất cứ nơi nào khi mà hiện nay internet đã có mặt ở tận các vùng sâu, vùng xa, biên giới hải đảo, nhất là các đại lí internet công cộng và dịch vụ internet không dây 3G mới phát triển trong thời gian gần đây. Lợi dụng tâm lý tò mò hiếu kỳ của tầng lớp sinh viên, các thế lực thù địch lập những trang thông tin, diễn đàn bàn luận những vấn đề trong xã hội như vấn đề biển đảo, dự thảo pháp luật,... để thu hút sinh viên tham gia. Khi đã thu hút đông đảo sinh viên tham gia, diễn đàn đưa ra những luận điệu xuyên tạc đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước; đồng thời, tổ chức  thăm dò ý kiến của tầng lớp sinh viên từ đó tuyên truyền, lối kéo với các sinh viên có sự dao động lệch lạc về tư tưởng, chính trị.
Ba là,  lợi dụng các vấn đề nhạy cảm xã hội để đưa ý kiến, thảo luận trên mạng internet, kích động tư tưởng chống đối của sinh viên.
Với âm mưu thực hiện “diễn biến hòa bình” nhằm  xóa bỏ chế độ XHCN ở Việt Nam, tầng lớp sinh viên được các thế lực thù địch xác định là mục tiêu quan trọng hàng đầu để thay đổi, chuyển hóa, tác động, lôi kéo trở thành lực lượng “nòng cốt”, “xung kích” cho các hoạt động mít tinh, biểu tình, phá rối an ninh, bạo loạn, lật đổ chính quyền. Chúng không ngừng tăng cường các biện pháp tác động chuyển hóa về mặt tư tưởng trong sinh viên, đưa sinh viên vào các hoạt động chống đối tạo dựng ngọn cờ đối lập về chính trị, đòi đa nguyên đa đảng, xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Thực tế cho thấy, thời gian qua, lợi dụng các vấn đề nhạy cảm trong đó có vấn đề chủ quyền biển đảo chúng tạo dựng các hoạt động biểu tình, chống đối phản đối Trung Quốc, đồng thời kích động, lôi kéo tầng lớp sinh viên tham gia.
Điển hình trong thời gian qua có một số sinh viên có các biểu hiện chống đối, đi ngược lại ý chí, nguyện vọng của dân tộc như: Nguyễn Phương Uyên, Đinh Nguyên Kha…..đã tiến hành một số hoạt động tuyên truyền chống nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Nguyễn Phương Uyên là sinh viên trường Đại học Công nghiệp thực phẩm TP. Hồ Chí Minh, là một đoàn viên tiêu biểu, vào khoảng tháng 4, tháng 5 năm 2012, Nguyễn Phương Uyên làm quen với Nguyễn Thiện Thành qua trang mạng facebook, từ đây cô đã tham gia vào tổ chức “Tuổi trẻ yêu nước” - đây là một tổ chức phản động thành lập ở nước ngoài với âm mưu lập đổ chính quyền. Ngày 10/10/2012 Kha và Uyên tiến hành rải truyền đơn trên cầu vượt An Sương (xã Bà Điểm, huyện Hóc Môn, TP.HCM) sau đó bị CQAN phát hiện đấu tranh xử lý về mặt hình sự về Tội tuyên truyền chống nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam theo điều 88, Bộ Luật hình sự 1999, sửa đổi bổ sung ngày 19/06/2009.
Bốn là, lợi dụng các trang thông tin, diễn đàn để kích động, lôi kéo sinh viên biểu tình.
Lợi dụng đặc diểm tâm lý của bộ phận sinh viên, các thế lực thù địch tiến hành hoạt động tập hợp, móc nối sinh viên tham gia biểu tình phản đối các yêu sách của Trung Quốc đối với hai quần đảo Hoàng  Sa và Trường Sa của Việt Nam. Chúng cho rằng, đó là hành động thể hiện sự quan tâm của sinh viên tới vấn đề biển, đảo và gửi thông điệp tới Trung quốc cũng như thế giới rằng Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam. Đáng chú ý, các cuộc biểu tình thường diễn ra với quy mô lớn tuần hành trên các tuyến đường gây ách tắc giao thông, ảnh hưởng đến sinh hoạt của người dân;  đoàn người biểu tình còn kéo đến các lãnh sứ quán Trung Quốc. Từ việc biểu tình bất bạo động khi có sự kích động thì đám đông rất dễ gây bạo loạn ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh quốc gia. 
Tóm lại, dưới chiêu bài cập nhật thông tin, các thế lực thù địch, phản động vẫn đang hàng ngày, hàng giờ kêu gọi quần chúng nhân dân tham gia các tổ chức của chúng. Đặc biệt, chúng chú ý đến lực lượng thanh niên tại các trường đại học, cao đẳng, lôi kéo thanh niên vào các hoạt động biểu tình, chống Đảng, chống Nhà nước. Tuy nhiên, với tình yêu nước lớn lao, khát vọng, hoài bão ngày ngày vẫn đang mê say rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị, bồi đắp kiến thức, trình độ để góp sức xây dựng quê hương ngày một giàu đẹp, tin rằng, thế hệ trẻ Việt Nam, điển hình là bộ phận học sinh, sinh viên sẽ luôn đề cao cảnh giác và kiên quyết đấu tranh làm thất bại âm mưu của các thế lực thù địch, phản động.
                                                Công Bằng