Chủ Nhật, 24 tháng 3, 2024

 

VẤN ĐỀ ĐỐI TÁC VÀ ĐỐI TƯỢNG, HỢP TÁC VÀ ĐẤU TRANH TRONG BẢO VỆ TỔ QUỐC THỜI KỲ MỚI

 Nhân Trần

 Thực tiễn lịch sử cách mạng nước ta khẳng định vấn đề cơ bản của chiến lược cách mạng là xác định đối tượng, kẻ thù chính, chủ yếu của cách mạng. Ngày nay, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nội dung của vấn đề cơ bản ấy chính là xác định đối tác và đối tượng, hợp tác và đấu tranh trong mối quan hệ biện chứng với việc thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng. Thực chất vấn đề đối tác và đối tượng, hợp tác và đấu tranh trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là nhận thức và xác định đúng vấn đề chiến lược về “bạn - thù”, trên cơ sở đó đề ra chính sách đối nội và đối ngoại phù hợp.

Xác định đối tác, đối tượng là vấn đề cơ bản, quan trọng nhưng cũng rất phức tạp, nhạy cảm đối với mỗi quốc gia. Xây dựng quan hệ và xử lý đúng đắn mối quan hệ với đối tác, đối tượng có tác động rất lớn đến sự ổn định, phát triển bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Chỉ có thể đánh giá và dự báo đúng đối tác và đối tượng, hợp tác và đấu tranh trên cơ sở xác định đúng nhiệm vụ chiến lược của cách mạng; ngược lại, đánh giá và dự báo đúng đối tác và đối tượng để có chiến lược hay sách lược hợp tác và đấu tranh phù hợp, hiệu quả là điều kiện bảo đảm vững chắc cho việc thực hiện thành công nhiệm vụ chiến lược. Bởi chỉ có trên cơ sở nhận thức đúng, xác định rõ, không nhầm lẫn, mơ hồ đối tác và đối tượng mới hoạch định chính xác chiến lược, sách lược hợp tác và đấu tranh đúng đắn.

Thực tiễn của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong mỗi thời kỳ cách mạng cho thấy, Đảng ta luôn nhận thức đúng và giải quyết khéo léo, thành công mối quan hệ giữa đối tác và đối tượng, giữa hợp tác và đấu tranh. Và đó cũng chính là một nguyên nhân quan trọng đưa đến thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, của kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, giành độc lập, thống nhất hoàn toàn cho Việt Nam. Khi nào việc đánh giá “bạn, thù” - “đối tác, đối tượng” chưa thật đầy đủ, sâu sắc thì khi đó xuất hiện tư tưởng chủ quan, mất cảnh giác trong đánh giá và dự báo về tính chất phức tạp của cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc, hậu quả tất yếu là dẫn đến những sai lầm trong quyết sách về quốc phòng, an ninh bảo vệ Tổ quốc.

Lịch sử nước ta đã minh chứng sau khi xảy ra chiến tranh biên giới Tây Nam và phía Bắc, cùng sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch, Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IV đã xác định rõ hơn về vấn đề “bạn, thù” - “đối tác, đối tượng” để giành thế chủ động chiến lược khi chiến tranh biên giới xảy ra. Trên cơ sở phân tích, làm rõ tình hình đất nước, dự báo diễn biến chính trị thế giới và âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch những năm sau đó, tại Đại hội V, Đảng ta khẳng định: Đất nước ta đang ở trong tình trạng vừa có hòa bình vừa phải đương đầu với chiến tranh phá hoại nhiều mặt của kẻ thù; đồng thời sẵn sàng đối phó với chiến tranh xâm lược; cách mạng Việt Nam có hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng chủ nghĩa xã hội và sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Từ khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới năm 1986, vấn đề đối tác và đối tượng, hợp tác và đấu tranh trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đã có những bổ sung, phát triển cả về nhận thức, tư duy lý luận và hoạt động thực tiễn. Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, được thông qua tại Đại hội VII của Đảng cũng xác định phương hướng đối ngoại của Việt Nam: Thực hiện chính sách đối ngoại hòa bình, hợp tác và hữu nghị với tất cả các nước; theo đó, kết quả đạt được thời kỳ này là Việt Nam đã phá được thế bị bao vây, cấm vận; triển khai tích cực và năng động đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa; khôi phục, mở rộng và thiết lập quan hệ ngoại giao với tất cả các nước lớn, trong đó bước ngoặt quan trọng là việc bình thường hóa quan hệ với Mỹ, ký kết Hiệp định khung với EU và gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) trong cùng năm 1995.

Đến Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VII, xuất phát từ bối cảnh quốc tế sau khi mô hình chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, Đảng ta đã cụ thể hoá hơn về đối tượng cơ bản, lâu dài của cách mạng Việt Nam; đồng thời dự báo âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Đảng ta nhận định: “diễn biến hoà bình” là một chiến lược nằm trong chiến lược toàn cầu phản cách mạng của chủ nghĩa đế quốc phá hoại ta trên các lĩnh vực (chính trị, kinh tế, tư tưởng, văn hóa, khoa học, giáo dục, ngoại giao; thậm chí tiến hành bạo loạn lật đổ, sử dụng biện pháp quân sự hay tiến hành chiến tranh xâm lược khi có thời cơ hoặc tạo được nguyên cớ); song trọng tâm, then chốt là phá hoại về tư tưởng, lý luận và văn hóa bằng những thủ đoạn vô cùng thâm độc, xảo quyệt, tấn công toàn diện trên nhiều lĩnh vực với phương thức “đánh mềm, đánh sâu, đánh hiểm”. Lấy chính trị làm mũi nhọn; lấy kinh tế làm trung tâm; lấy dân tộc, tôn giáo làm ngòi nổ; lấy ngoại giao hỗ trợ; lấy quân sự để răn đe nhằm làm tan rã niềm tin, gây hỗn loạn về tư tưởng, lý luận và văn hóa để tạo khoảng trống cho hệ tư tưởng tư sản từng bước chiếm lĩnh, tiến tới xóa bỏ hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa. Sớm nhận thức điều đó, Đảng ta xác định chống “diễn biến hòa bình” là cuộc đấu tranh chính trị phức tạp, kẻ địch có nhiều âm mưu, thủ đoạn xảo quyệt. Do đó, đấu tranh chống “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ là nhiệm vụ cấp bách hàng đầu và phải được kết hợp chặt chẽ với nhiệm vụ sẵn sàng ứng phó với các tình huống khác theo phương châm quyết tâm ngăn ngừa, không để xảy ra bạo loạn lật đổ, giữ vững ổn định chính trị, bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ nước ta.

Kế thừa đường lối đối ngoại và phát huy thành quả tích cực đạt được trên các lĩnh vực sau 10 năm đổi mới, Văn kiện Đại hội VIII của Đảng (năm 1996) khẳng định: “Tiếp tục thực hiện chính sách đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa phương hóa và đa dạng hóa với tinh thần Việt Nam muốn là bạn của tất cả các nước trong cộng đồng thế giới,… trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi, thông qua thương lượng để tìm những giải pháp phù hợp giải quyết các vấn đề tồn tại và tranh chấp, bảo đảm hòa bình, ổn định, an ninh, hợp tác và phát triển”.

Nghị quyết số 07 NQ/TW, ngày 27/11/2001 của Bộ Chính trị (khóa VIII) đã chỉ ra: “hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình vừa hợp tác, vừa đấu tranh, vừa có nhiều cơ hội, vừa không ít thách thức, do đó cần tỉnh táo, khôn khéo và linh hoạt trong việc xử lý tính hai mặt của hội nhập tùy theo đối tượng, vấn đề, trường hợp, thời điểm cụ thể”; đồng thời, nhấn mạnh việc “kết hợp chặt chẽ quá trình hội nhập kinh tế quốc tế với yêu cầu giữ vững an ninh, quốc phòng..., cảnh giác với những mưu toan thông qua hội nhập để thực hiện ý đồ “diễn biến hòa bình” đối với nước ta”.

Bước sang thế kỷ XXI, sau 15 năm đổi mới, thế và lực của Việt Nam được tăng cường, uy tín trên trường quốc tế ngày một nâng cao. Đại hội IX của Đảng (tháng 4/2001) đã xác định phương châm “Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”. Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX (tháng 7/2003) thông qua Nghị quyết “Về chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”, Đảng ta đưa ra nguyên tắc xác định “đối tác” và “đối tượng” trong quan hệ quốc tế của Việt Nam. Các Đại hội X (tháng 4/2006), Đại hội XI (tháng 01/2011), Đại hội XII (tháng 01/2016) và Đại hội XIII của Đảng (tháng 01/2021) tiếp tục khẳng định chính sách đối ngoại nhất quán của Việt Nam là “đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ”, nhấn mạnh cần “chủ động và tích cực” hội nhập quốc tế, nhưng trên hết là vì lợi ích quốc gia  - dân tộc. Đặc biệt, kế thừa Nghị quyết Trung ương 8 khóa IX, Hội nghị Trung ương 8 khóa XI đã thông qua Nghị quyết số 28-NQ/TW, ngày 25/10/2013, “Về chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”.

Quan niệm về đối tác: “Những ai chủ trương tôn trọng độc lập chủ quyền, thiết lập và mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác bình đẳng, cùng có lợi với Việt Nam đều là đối tác của chúng ta”. Hiện nay, trong quan hệ đối ngoại có thể phân loại một số đối tác theo mức độ quan hệ như: đối tác truyền thống, đối tác tin cậy, đối tác toàn diện, đối tác chiến lược toàn diện... Đối tác truyền thống, tin cậy là những nước ít có khả năng bị lôi kéo chống phá ta; đối tác cảnh giác, đề phòng là nước có thể chuyển thành đối tượng; đối tác đồng thời là đối tượng là những nước tuy hợp tác với ta nhưng đang có âm mưu và hành động chống phá ta. Đối tác chiến lược chỉ một mối quan hệ hợp tác quan trọng vừa hướng vào mục tiêu cụ thể, vừa có mong muốn quan hệ lâu dài. Đặc điểm của quan hệ đối tác chiến lược là không có giới hạn về không gian, thời gian; không hạn chế về đối tượng áp dụng, lĩnh vực hợp tác và không nhất thiết phải mang nội dung an ninh quốc phòng. Đối tác chiến lược thể hiện sự cam kết cao hơn mức độ quan hệ song phương thông thường nhưng chưa hình thành các liên minh quân sự. Đó là thước đo sự gắn kết, đan xen về lợi ích giữa các chủ thể trong quan hệ quốc tế, vượt lên trên mức hữu nghị và hợp tác, nhưng chưa đến mức ràng buộc về trách nhiệm pháp lý.

Quan niệm về đối tượng: “Bất kể thế lực nào có âm mưu và hành động chống phá mục tiêu của nước ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đều là đối tượng đấu tranh”. Vì vậy, mọi âm mưu và hành động chống lại độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, chống lại sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa đều bị nghiêm trị theo pháp luật. Trong đó, có ba dạng đối tượng: Đối tượng đối lập về ý thức hệ có âm mưu và hành động tập trung xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta; đối tượng vì lợi ích dân tộc hẹp hòi có ý đồ tranh đoạt chủ quyền lãnh thổ nước ta; đối tượng có thể bị các nước lớn thao túng, có âm mưu và hành động chống phá ta.

Tuy nhiên, trong điều kiện diễn biến mau lẹ và phức tạp của tình hình thế giới cũng như trong nước hiện nay, nhất là tính phức tạp của cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc trong điều kiện mới, cần thấy rõ, khi lợi ích của các quốc gia, dân tộc, với mức độ khác nhau, đang có sự đan cài, thâm nhập “thẩm thấu” và ràng buộc lẫn nhau ngày càng chặt chẽ, hình thành cục diện “trong tôi có anh, trong anh có tôi”, thì vấn đề đối tác và đối tượng, hợp tác và đấu tranh cũng có sự đan xen, khó phân biệt rạch ròi, dễ dẫn đến nhầm lẫn, mơ hồ.

Vì vậy, cần trung thành và vận dụng sáng tạo tư tưởng “dĩ bất biến, ứng vạn biến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong xử lý các mối quan hệ đối ngoại để có cách nhìn và ứng xử đúng đắn đối với vấn đề đối tác và đối tượng, hợp tác và đấu tranh, vừa giữ vững nguyên tắc chiến lược đồng thời linh hoạt, mềm dẻo trong sách lược, trong xử lý các tình huống cụ thể. Bởi vì, trong mỗi đối tượng cần đấu tranh, thậm chí là đối tượng chiến lược, nếu có những mặt tương đồng, có lợi cho cách mạng thì phải tranh thủ hợp tác, chuyển hóa đối tượng đó thành đối tác nhằm loại bớt đối đầu, căng thẳng.

Ngược lại, tuy là đối tác trong quan hệ hợp tác, liên doanh, liên kết trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, khoa học, y tế, đào tạo, quốc phòng, an ninh… nhưng vẫn có những mặt khác biệt, thậm chí mâu thuẫn hay đối lập với lợi ích của chúng ta thì phải cảnh giác, đấu tranh khéo léo để thu hút sự đồng tình, giúp đỡ của thế giới thông qua chính những đối tác đó. Do đó, trong lãnh đạo, chỉ đạo hợp tác cũng như đấu tranh cần có cách nhìn khách quan, biện chứng, không cứng nhắc, nhưng không mơ hồ, mất cảnh giác trong nhận thức và chủ trương; đồng thời phải khéo léo trong xử lý các tình huống cụ thể theo phương châm thêm bạn, bớt thù, “vừa hợp tác, vừa đấu tranh, cố gắng gia tăng hợp tác, tránh xung đột, đối đầu; tránh bị cô lập, lệ thuộc”. Giải quyết tốt mối quan hệ giữa đối tác và đối tượng trong điều kiện hiện nay là góp phần “thêm bạn, bớt thù”, tạo điều kiện cho việc tranh thủ khai thác mọi nguồn lực phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Vấn đề toàn cầu hoá kinh tế là xu thế khách quan tạo cơ hội, nhưng cũng chứa đựng nhiều yếu tố gây không ít khó khăn, thách thức cho nước ta tham gia hội nhập kinh tế thế giới là làm sao khai thác hiệu quả các yếu tố thuận lợi từ quá trình toàn cầu hóa để phát triển, mà vẫn giữ vững độc lập tự chủ về kinh tế, không bị phụ thuộc hoặc bị chi phối của nước ngoài. Nếu bị chi phối về kinh tế thì sớm muộn sẽ bị chi phối về chính trị, vì “không thể có độc lập, tự chủ về chính trị nếu không xây dựng được một nền kinh tế độc lập, tự chủ. Có một nền kinh tế độc lập, tự chủ mới bảo đảm giữ vững độc lập, tự chủ về chính trị, mới không bị lệ thuộc, bị lôi kéo, bị khống chế bởi các thế lực đế quốc chủ nghĩa”.

Những năm tới, chúng ta phải tiếp tục đổi mới tư duy về mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong mối tương quan với vấn đề đối tác và đối tượng, hợp tác và đấu tranh. Đại hội XIII của Đảng đã xác định chủ trương và nguyên tắc hội nhập quốc tế: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát trển, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại. Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên Hiệp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi. Kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng: Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế…”.

Về “đối tác”, có thể dễ dàng nhận thấy ngoài hai nước Lào và Campuchia có quan hệ “láng giềng đặc biệt”, cho đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với 17 nước và đối tác toàn diện với 13 nước. Trong số các đối tác, Việt Nam cũng đặt thứ tự ưu tiên với các nước láng giềng, tiếp đó là các đối tác chiến lược và đối tác toàn diện. Cho đến nay, Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với 191/193 nước thành viên của Liên hợp quốc, là thành viên của nhiều tổ chức khu vực và quốc tế; đã ký kết 16 hiệp định thương mại tự do (FTA), trong đó FTA song phương Việt Nam - Anh và Hiệp định Đối tác Kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) là những FTA mới nhất. Với mạng lưới quan hệ đối ngoại sâu rộng và nhiều tầng nấc như vậy, Việt Nam có lợi ích đan xen giữa các đối tác với nhau. Vì vậy, nói một cách khác, “đối tác” của Việt Nam là tất cả những nước đã thiết lập quan hệ ngoại giao, là những nước có quan hệ kinh tế với Việt Nam, là những thành viên trong các tổ chức khu vực và thế giới (như ASEAN và Liên hợp quốc), cơ chế - hiệp định đa phương (như Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương - CPTPP, RCEP, Tiểu vùng Mê Công), diễn đàn (như Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương - APEC, Diễn đàn hợp tác Á - Âu  - ASEM), các phong trào mà Việt Nam là thành viên.

Về “đối tượng”, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ những lực lượng có “âm mưu, hành động can thiệp của các thế lực thù địch vào công việc nội bộ, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh quốc gia và ổn định chính trị đất nước”. Cùng với đó, Đảng xác định các thách thức: “Tham nhũng, lãng phí, quan liêu, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ cũng như những mâu thuẫn xã hội còn diễn biến phức tạp. Các thế lực thù địch tiếp tục tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước và đất nước ta. Bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định... là những thách thức rất lớn đối với nước ta trong thời gian tới”.

Tất cả những thách thức phương hại đến an ninh quốc gia; ổn định chính trị, trật tự và an toàn xã hội; sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, chế độ xã hội chủ nghĩa, khối đại đoàn kết dân tộc; độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ đều là đối tượng cần đấu tranh nhằm bảo đảm lợi ích tối thượng của quốc gia - dân tộc. Trong quá trình mở rộng quan hệ quốc tế và hội nhập kinh tế thế giới, Việt Nam đã, đang và sẽ có nhiều cam kết quốc tế; đồng thời phải có trách nhiệm và nghĩa vụ thực hiện các cam kết quốc tế đó phù hợp với luật pháp, truyền thống và đạo lý của dân tộc, nhất là đối với những vấn đề nhạy cảm về chính trị, ngoại giao, quốc phòng và an ninh. Đó là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và của cả hệ thống chính trị. Vì vậy, phải có chiến lược và sách lược đúng đắn để xử lý thoả đáng các cam kết, vừa không vi phạm cam kết quốc tế, vừa không làm tổn hại đến lợi ích, uy tín, vị thế của Việt Nam.

Như vậy, trong điều kiện mới, việc giải quyết mối quan hệ giữa đối tác và đối tượng, hợp tác và đấu tranh trong các quan hệ quốc tế phải rất linh hoạt, khéo léo sao cho vừa phải ngăn chặn được các hành động lợi dụng hay phá hoại của cả đối tác và đối tượng, vừa phải tạo điều kiện thuận lợi cho bạn bè quốc tế trong quá trình hợp tác với Việt Nam. Đồng thời phải có sức mạnh cần thiết ngăn chặn, đẩy lùi mọi nguy cơ xâm lược, đáp ứng mọi yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc./.

 

NHẬN DIỆN VÀ ĐẤU TRANH VỚI NHỮNG KẺ “CƠ HỘI CHÍNH TRỊ”

Nhân Trần

Để đấu tranh có hiệu quả với những kẻ “cơ hội chính trị”, các cơ quan, đơn vị trong toàn quân cần nhận thức đúng những biểu hiện của kẻ “cơ hội chính trị” và tính chất phức tạp, khó khăn của cuộc đấu tranh phòng, chống kẻ “cơ hội chính trị” hiện nay. Từ đó, chủ động, kịp thời, kiên quyết thực hiện những biện pháp, bước đi thích hợp, kết hợp chặt chẽ giữa “phòng” và “chống”, không thỏa hiệp với những tư tưởng, biểu hiện của kẻ “cơ hội chính trị” ở mọi nơi, mọi lúc. Đấu tranh trên tất cả các lĩnh vực chính trị, tư tưởng, lý luận, kinh tế, văn hóa, xã hội, không cho chúng có cơ hội trở thành một trào lưu, một lực lượng ảnh hưởng tới sự nghiệp cách mạng của Đảng, của Nhân dân ta.

Nhận diện những kẻ “cơ hội chính trị”

“Cơ hội chính trị” là một bộ phận không nhỏ những kẻ cơ hội, thiếu lý tưởng cộng sản, tìm cách chui vào Đảng, mang danh cán bộ, đảng viên cộng sản để tìm cơ hội “thăng quan tiến chức”. Bất chấp lợi ích của Đảng, của nhân dân, họ tìm cách vun vén cho lợi ích cá nhân, gia đình, dòng tộc để đạt danh vọng, làm giàu cho bản thân và gia đình. Họ say mê quyền lực, địa vị, coi như một thứ có thể mua bán, tiến thân, từ đó mà khéo luồn lách, xun xoe, nịnh bợ cấp trên; đe nẹt, chèn ép cấp dưới. Họ kéo bè kết cánh, móc ngoặc trên dưới, trong ngoài, dựa vào các mối quan hệ thân thiết, tiền bạc để tìm cách chạy chức, chạy quyền, chạy danh, chạy lợi, chạy chỗ, chạy bằng cấp, chạy tuổi... Họ lợi dụng việc tuyển chọn, đánh giá, luân chuyển cán bộ để trục lợi cá nhân, tìm mọi cách đưa người “cùng cánh” vào nắm những chức vụ quan trọng trong cơ quan, đơn vị mà không chịu chọn những người có đức, có tài, đủ tâm, đủ tầm vào vị trí xứng đáng, thậm chí họ sẵn sàng “dìm” người khác để nâng mình lên, vì lợi ích cá nhân mà bất chấp lợi ích tập thể; không chấp hành nghiêm các nguyên tắc tổ chức của Đảng; không gương mẫu trong công tác; không làm tròn chức trách, nhiệm vụ được giao; không chấp hành sự phân công của tổ chức, kén chọn chức danh, vị trí công tác, chọn nơi có nhiều lợi ích, chọn việc dễ, bỏ việc khó. Từ đó, họ dần từ bỏ trách nhiệm phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, không còn là “công bộc” của dân, trở thành những “ông quan” cách mạng, đục khoét tiền bạc, của cải của nước, của dân.

Ngoài những kẻ cơ hội trên thì còn phải kể đến những đối tượng cơ hội chính trị cực đoan. Nhóm này thường bộc lộ công khai tư tưởng bất mãn, chống đối. Họ triệt để khai thác các khiếm khuyết của cơ chế, chính sách, lợi dụng những người có địa vị, uy tín cá nhân nhưng bất mãn hoặc đã từng bị xử lý, nhằm tạo dựng ngọn cờ, tập hợp lực lượng, công kích chính diện vào chủ trương đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước, vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh - nền tảng tư tưởng của chế độ ta với động cơ và mục đích không lành mạnh, gieo rắc tâm trạng hoài nghi, tư tưởng bất mãn, chống đối, phục vụ cho mưu đồ bạo loạn, lật đổ khi có đủ các điều kiện. Hay có những đối tượng do hạn chế về nhận thức, thiếu thông tin hoặc tiếp nhận thông tin từ những kênh không chính thống, bị kẻ xấu lợi dụng, đứng trước các sự kiện phức tạp về chính trị xã hội thường tỏ ra dao động, thiếu tự chủ, mất niềm tin, mất phương hướng, hành động lệch chuẩn, gián tiếp tiếp tay cho các thế lực thù địch. Bộ phận khác do “công thần”, sống vụ lợi ích kỷ, thiếu tu dưỡng rèn luyện, khi lợi ích cá nhân không được đáp ứng, thể hiện và biểu lộ công khai quan điểm bất mãn. Họ thường nói và là trái với quan điểm của Đảng, gây xáo trộn và phân tâm trong xã hội, tạo môi trường xấu…

Có thể khẳng định, những kẻ cơ hội chính trị có nhiều cấp độ biểu hiện, có nhiều dạng và tồn tại ở nhiều vị trí khác nhau, nó là những con “sâu”, con “mọt” đang ngày đêm đục khoét phá hoại Đảng ta và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta, làm suy yếu sức mạnh của tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, gây ra thách thức đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và sự tồn vong của chế độ. Chính vì vậy, nhận diện và đấu tranh với những kẻ “cơ hội chính trị” là một trong những nhiệm vụ chiến lược có ý nghĩa sống còn trong giai đoạn hiện nay.

Đấu tranh với những kẻ “cơ hội chính trị”

Để đấu tranh có hiệu quả với những kẻ “cơ hội chính trị”, các cơ quan, đơn vị trong toàn quân cần nhận thức đúng những biểu hiện của kẻ “cơ hội chính trị” và tính chất phức tạp, khó khăn của cuộc đấu tranh phòng, chống kẻ “cơ hội chính trị” hiện nay. Từ đó, chủ động, kịp thời, kiên quyết thực hiện những biện pháp, bước đi thích hợp, kết hợp chặt chẽ giữa “phòng” và “chống”, không thỏa hiệp với những tư tưởng, biểu hiện của kẻ “cơ hội chính trị” ở mọi nơi, mọi lúc. Đấu tranh trên tất cả các lĩnh vực chính trị, tư tưởng, lý luận, kinh tế, văn hóa, xã hội, không cho chúng có cơ hội trở thành một trào lưu, một lực lượng ảnh hưởng tới sự nghiệp cách mạng của Đảng, của Nhân dân ta. Thực hiện kiên quyết, hiệu quả Kết luận số 21-KL/TƯ tại Hội nghị quyết Trung ương 4 khóa XIII của Đảng Về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Phải quán triệt, cụ thể hóa các nội dung Kết luận thành các văn bản pháp luật, thành kế hoạch, đề án cụ thể; đồng thời nêu cao tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cán bộ chủ trì trong nêu gương thực hiện Nghị quyết, nêu gương trong lời nói, hành động, công việc, đời sống riêng và thực hiện nghiêm chế tài giám sát, kiểm soát sự nêu gương ấy. Kiên quyết xử lý nghiêm, không có vùng cấm đối với các hành vi chạy chức, chạy quyền và hành vi bao che, tiếp tay cho chạy chức, chạy quyền.

Xây dựng các tổ chức đảng trong sạch vững mạnh, cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện mẫu mực tiêu biểu; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên thật sự vững mạnh, không tham nhũng, lãng phí, quan liêu, mất đoàn kết. Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, tạo chuyển biến rõ rệt về ý thức tự tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống và phong cách công tác của cán bộ, đảng viên. Thực hiện có nền nếp và chất lượng việc đấu tranh tự phê bình và phê bình, chủ động ngăn chặn, ngăn ngừa xu hướng cơ hội chính trị. Đặc biệt, thường xuyên nâng cao trình độ lý luận về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và quần chúng để tạo sức “đề kháng” trước sự chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa. Tăng cường công tác quản lý nội bộ, kịp thời đấu tranh và xử lý đối với kẻ cơ hội chính trị, những cán bộ, đảng viên có biểu hiện suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trọng nội bộ.

Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, sự phối hợp và tổ chức chặt chẽ của các lực lượng tạo thành thế trận vững chắc, nhiều tầng, nhiều lớp trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng nói chung, chống chủ nghĩa cơ hội nói riêng. Nâng cao tính chuyên sâu của các cơ quan, các nhà khoa học, chuyên gia đầu ngành, của các lực lượng và tính kịp thời, đa dạng, phong phú của các cơ quan thông tấn, báo chí trong đấu tranh với những kẻ “cơ hội chính trị”, góp phần xây dựng các tổ chức đảng trong sạch vững mạnh, cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện mẫu mực tiêu biểu./.

 

LUÔN CẢNH GIÁC VỚI CHIÊU BÀI “BẤT TUÂN DÂN SỰ”

Mặt Trời

Những năm gần đây, thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam, các thế lực thù địch thường sử dụng thủ đoạn kêu gọi người dân tham gia “bất tuân dân sự” nhằm tập hợp lực lượng để khi có thời cơ thì tiến hành các cuộc “cách mạng màu”, “cách mạng đường phố”, lật đổ chính quyền. Để không mắc mưu, chúng ta cần nâng cao cảnh giác với những lời kêu gọi “bất tuân dân sự” dưới mọi hình thức.

“Bất tuân dân sự” là các hoạt động, công khai từ chối tuân theo một số luật lệ nhất định, yêu cầu và lệnh của chính phủ, hoặc của một quyền lực quốc tế chiếm đóng… Bất tuân dân sự đôi khi, mặc dù không phải luôn luôn, được định nghĩa như là phản kháng bất bạo động.

Thời gian gần đây, nhận thấy sự lợi hại của phương thức đấu tranh bất bạo động, các thế lực thù địch ra sức cổ súy cho hình thức “bất tuân dân sự”, xem đó là con đường hữu hiệu để lật đổ chế độ chính trị do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Trên các trang mạng xã hội của các thế lực thù địch xuất hiện nhiều lời kêu gọi thực hiện “bất tuân dân sự” tại Việt Nam, như: “Lối thoát cho Việt Nam - bất tuân dân sự”, hoặc “Bất tuân dân sự - con đường tự do cho Việt Nam”(!). Họ ra sức tuyên truyền, cổ súy cho các phong trào “bất tuân dân sự” trên thế giới, như phong trào “cách mạng dù” gần đây ở Hồng Kông (Trung Quốc); qua đó, phổ biến kinh nghiệm, giới thiệu các nguyên tắc, hình thức tham gia, hướng dẫn cách đề ra khẩu hiệu, cách mang mặc trang phục và công cụ mang theo của những người tham gia,… với cái gọi là “cẩm nang cho bất tuân dân sự”(!). Các tổ chức phản động ở nước ngoài, như: Việt Tân, Voice cũng mở nhiều lớp huấn luyện nội dung, hình thức “bất tuân dân sự” cho các thành viên để đưa về Việt Nam thực hiện hành động phá hoại. Chúng lợi dụng bức xúc của người dân trước những vấn đề dân sinh, như: vướng mắc về giải phóng mặt bằng, thu hồi đất, ô nhiễm môi trường; những bất cập, chưa sát thực tiễn của một số chủ trương, chính sách cụ thể; hay những hạn chế, yếu kém của chính quyền địa phương trong hoạt động quản lý xã hội; hoặc lợi dụng sự ngộ nhận của người dân trước những thông tin bịa đặt, xuyên tạc mà các thế lực phản động, cơ hội,… tuyên truyền để kích động họ tụ tập, phản đối, không thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước. Qua đó, thúc đẩy hình thành các mâu thuẫn giữa người dân với chính quyền, hợp thức hóa việc thực hiện mưu đồ tập hợp lực lượng, chống đối chính quyền, để khi mâu thuẫn lên cực điểm, chúng sẵn sàng kêu gọi kết hợp đấu tranh bất bạo động với bạo động để chống chính quyền, như vụ gây rối trật tự công cộng, hủy hoại tài sản nhà nước ở Bình Thuận (tháng 6/2018). Để ngăn chặn, làm thất bại thủ đoạn kêu gọi “bất tuân dân sự” của các thế lực thù địch, cần quán triệt và thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp; trong đó, tập trung thực hiện tốt các nội dung trọng tâm sau:

Chủ động vạch trần bản chất của thủ đoạn “bất tuân dân sự”, làm cho người dân hiểu rõ những lời kêu gọi “bất tuân dân sự” là một thủ đoạn tinh vi, nguy hiểm, nằm trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, nhằm phá hoại môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng đất nước của nhân dân ta. Đồng thời, đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục làm cho người dân thấy rõ bản chất của thủ đoạn “bất tuân dân sự” là những hành động cố ý cản trở việc thực thi luật pháp, chính sách của chính quyền. Nói cách khác, đó là hành động vi phạm pháp luật có chủ ý, thể hiện tư tưởng cực đoan, “vô chính phủ” của cá nhân, tổ chức, hay của một nhóm người cụ thể; đi ngược lại lợi ích chính đáng của đại đa số quần chúng nhân dân. Ở nước ta, khi bị các thế lực thù địch lợi dụng, “bất tuân dân sự” trở thành công cụ để lật đổ chính quyền, thay đổi thể chế chính trị. Do đó, mọi người dân cần đề cao cảnh giác với những lời kêu gọi “bất tuân dân sự” dưới mọi hình thức.

Nâng cao hiệu quả hoạt động tuyên truyền, giáo dục ý thức tôn trọng pháp luật cho mọi tầng lớp nhân dân; làm cho khẩu hiệu “sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật” đi vào thực tiễn cuộc sống, được nhân dân quán triệt và chấp hành nghiêm chỉnh ở mọi lúc, mọi nơi. Theo đó, cần huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị để tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật bằng nhiều hình thức, phù hợp với từng đối tượng, địa bàn; trong đó, chú trọng nâng cao hiệu quả công tác này trong các nhà trường, ở các bậc học, từ bậc phổ thông đến đại học. Các cơ quan thông tin, truyền thông cần phát huy thế mạnh của mình, thường xuyên dành dung lượng phù hợp (số trang, số giờ phát sóng,…) để tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật; trong đó, cần đẩy mạnh hơn nữa tuyên truyền Nghị định 38/2005/NĐ-CP, ngày 18/3/2005 của Chính phủ “Quy định một số biện pháp bảo đảm trật tự công cộng”. Tập trung làm rõ những hành vi bị cấm, như: “(1). Lợi dụng các quyền tự do dân chủ của công dân để thực hiện hoặc lôi kéo, kích động, mua chuộc, cưỡng ép người khác tập trung đông người nhằm gây rối trật tự công cộng hoặc để thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật khác; (2). Tập trung đông người trái với quy định của pháp luật ở lòng đường, vỉa hè, trước trụ sở cơ quan, tổ chức, tại khu vực đang diễn ra các hội nghị quốc tế, kỳ họp Quốc hội, Hội đồng nhân dân hoặc các hoạt động chính trị quan trọng khác của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội hoặc nơi công cộng khác”... Hình thức, biện pháp tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cần đa dạng, phong phú, dễ hiểu, dễ chấp hành, phù hợp với trình độ nhận thức của từng đối tượng cụ thể để nội dung mỗi luật và văn bản quy phạm pháp luật nhanh chóng được người dân tiếp nhận. Chính quyền cơ sở ở các địa phương cần coi trọng việc hướng dẫn người dân cách thức, quy trình, thủ tục khiếu nại, tố cáo, phản biện xã hội theo quy định của pháp luật để người dân thực hiện. Kiên quyết, kiên trì động viên, thuyết phục người dân tự giác chấp hành pháp luật theo đúng quy trình, trình tự; đồng thời, giải thích cho họ hiểu rõ lợi ích của việc tuân theo và hệ quả của việc bất chấp quy trình, thủ tục đã được pháp luật quy định.

Thực hiện tốt nền nếp chế độ tiếp dân của người đứng đầu cấp ủy và chính quyền các địa phương, kịp thời giải quyết các bức xúc của người dân, không để “việc bé xé thành to”, tạo cơ hội để các thế lực thù địch kích động phong trào “bất tuân dân sự”. Theo đó, cấp ủy các địa phương cần thực hiện nghiêm túc quy định trong việc tiếp công dân, đối thoại trực tiếp với dân và xử lý những phản ánh, kiến nghị của dân. Người đứng đầu cấp ủy các địa phương (tỉnh, huyện, xã, phường, thị trấn) không chỉ trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo công tác tiếp dân, xử lý, giải quyết phản ánh, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của dân, mà còn phải trực tiếp thực hiện việc tiếp dân (theo định kỳ, hay đột xuất), kịp thời đối thoại với dân khi cần thiết và xử lý, giải quyết các phản ánh, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của dân theo thẩm quyền. Cùng với đó, người đứng đầu chính quyền các địa phương phải coi trọng phát huy quyền làm chủ của người dân; nghiêm túc thực hiện Quy chế Dân chủ cơ sở và quy định của địa phương về tiếp công dân để kịp thời giải quyết các vướng mắc, bức xúc chính đáng của người dân. Việc tiếp dân, đối thoại và xử lý, giải quyết những phản ánh, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo phải trên tinh thần tôn trọng, lắng nghe ý kiến, nguyện vọng của dân; dân chủ, công tâm, khách quan, kịp thời, đúng phạm vi thẩm quyền; trình tự, thủ tục cần đơn giản, tạo thuận lợi cho người dân.

Tăng cường xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân; nâng cao năng lực nghiên cứu, ban hành các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; tiếp tục đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Đó là những biện pháp nhằm triệt tiêu các nguy cơ tiềm ẩn mà các thế lực thù địch có thể lợi dụng để kêu gọi người dân thực hiện “bất tuân dân sự”. Trong giai đoạn hiện nay, cần đẩy mạnh thực hiện các giải pháp xây dựng Chính phủ “kỷ cương, liêm chính, hành động, sáng tạo, bứt phá, hiệu quả”; xây dựng nền hành chính phục vụ, trọng dân và gần dân. Đồng thời, nâng cao hơn nữa năng lực nghiên cứu, đề xuất, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, đảm bảo sát thực tiễn, có tính khả thi cao. Quá trình thực hiện, cần quán triệt tinh thần: Mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước phải xuất phát từ nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, được nhân dân tham gia ý kiến; khắc phục triệt để việc đề xuất, ban hành những chủ trương, chính sách, văn bản quy phạm pháp luật xa rời thực tiễn, gây bức xúc dư luận, tạo cơ hội cho các thế lực thù địch lợi dụng kích động. Muốn vậy, cần coi trọng xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong bộ máy nhà nước thực sự tinh, gọn, hiệu quả; “Đề cao đạo đức công vụ, trách nhiệm xã hội, siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong chỉ đạo và thực thi công vụ của cán bộ, công chức”. Tiếp tục đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng; xử lý nghiêm minh các cá nhân tham nhũng, không có “vùng cấm”; qua đó, củng cố niềm tin của nhân dân vào tính công bằng, nghiêm minh của pháp luật. Bên cạnh đó, cần tăng cường công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Kết luận 21 tại Hội nghị Trung ương 4 (khóa XIII); tích cực ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; gắn với thực hiện có hiệu quả việc đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh./.

Phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng, các ban, ngành, đoàn thể ở địa phương để bám nắm cơ sở; sớm phát hiện và đập tan âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch hòng lôi kéo người dân thực hiện “bất tuân dân sự” ngay khi mới manh nha. Các địa phương cần có các phương án, kế hoạch phòng, chống “bất tuân dân sự”, lồng ghép vào các đợt diễn tập khu vực phòng thủ để đánh giá mức độ sẵn sàng của địa phương. Khi có dấu hiệu xảy ra hiện tượng “bất tuân dân sự”, các lực lượng của địa phương cần bình tĩnh phân tích, đánh giá, xác định rõ nguyên nhân, đúng tính chất của tình hình, không nhầm lẫn giữa mâu thuẫn nội bộ nhân dân với mâu thuẫn địch - ta; đồng thời, khéo léo phân hóa, cô lập kẻ cầm đầu; kiên trì đối thoại, thuyết phục người dân bị lôi kéo không vi phạm pháp luật. Trên cơ sở hiểu rõ nguyên nhân vụ việc, có biện pháp đồng bộ, xử lý triệt để, có lý, có tình; xử lý nghiêm minh theo pháp luật những kẻ cầm đầu để răn đe và giáo dục, thuyết phục những người nhẹ dạ, cả tin, bị lôi kéo. Việc huy động các lực lượng tham gia giải quyết các “điểm nóng”, tụ tập đông người, cần thực hiện đúng quy định của Chính phủ, không tùy tiện.

Cùng với những giải pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân, việc thực hiện đồng bộ các nội dung trọng tâm nói trên sẽ góp phần quan trọng làm thất bại mưu toan kích động “bất tuân dân sự” của các thế lực thù địch chống phá cách mạng Việt Nam./.

 

ĐẤU TRANH LÀM THẤT BẠI THỦ ĐOẠN “BẤT TUÂN DÂN SỰ” CHỐNG PHÁ ĐẢNG, NHÀ NƯỚC

                                                                                                    Mặt Trời

Những năm qua, nhằm thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” đối với Việt Nam, các thế lực thù địch đã sử dụng tổng hợp các phương pháp, cách thức chống phá trên mọi lĩnh vực xã hội, trong đó, chúng triệt để sử dụng phương thức, thủ đoạn mới là “bất tuân dân sự” nhằm gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đưa Việt Nam đi theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản.

Qua nghiên cứu thực tiễn cho thấy, “bất tuân dân sự” có mối quan hệ chặt chẽ với các tổ chức “xã hội dân sự”. Với lập luận, “xã hội dân sự” là “đối quyền của quyền lực nhà nước” để tập trung đòi thực hiện trách nhiệm xã hội, chia sẻ quyền lực chính trị cho “xã hội dân sự”; thực chất là cổ vũ tư tưởng coi nhà nước đối lập với “xã hội dân sự”; kích động thái độ vô chính phủ hòng từng bước đưa “xã hội dân sự” thành lực lượng đối trọng với nhà nước; chủ nghĩa đế quốc coi hình thành “xã hội dân sự” là điều kiện, tiền đề cho việc cổ xúy tự do cá nhân, lấy “bất tuân dân sự” làm phương thức cơ bản để lật đổ chính quyền nhà nước. Xét trên nhiều phương diện, có thể thấy “bất tuân dân sự” có một số đặc điểm cơ bản như sau: 

Là hoạt động công khai từ chối tuân theo, hoặc vi phạm một cách cố ý các quy định của pháp luật hoặc cản trở việc thực thi chính sách, pháp luật của nhà nước; gây áp lực buộc nhà nước phải thay đổi chính sách, pháp luật. Những người tham gia “bất tuân dân sự” thể hiện sự phản kháng, không tuân thủ pháp luật thông qua hình thức đấu tranh “ôn hòa, bất bạo động”. Tuy nhiên, tính chất “bất bạo động” có thể chuyển hóa thành bạo động rất nhanh chóng trong những hoàn cảnh cụ thể; khi gặp thời cơ thuận lợi và đủ điều kiện chín muồi. 

Mục đích và hình thức thể hiện: Thông qua việc từ chối tuân theo hay cản trở việc thực thi pháp luật, gây áp lực đối với nhà nước, các đối tượng thực hiện “bất tuân dân sự” nhằm mục đích cuối cùng là vô hiệu hóa hoạt động của chính quyền, tiến tới lật đổ nhà nước, thay thế bằng một chế độ chính trị mới theo mô hình của chủ nghĩa tư bản. Để che giấu mục đích đó, các thế lực thù địch thường che đậy, ngụy trang dưới những vỏ bọc khác nhau, như: Tụ tập, tuần hành nhằm “phản kháng ôn hòa”, “phản kháng bất bạo động”, “biểu tình ôn hòa”. Đối với Việt Nam, chúng triệt để lợi dụng các vấn đề “dân chủ, nhân quyền”,”dân tộc, tôn giáo” hoặc lợi dụng các sự kiện chính trị - xã hội phức tạp, nhạy cảm liên quan đến quyền và lợi ích của con người để lôi kéo, kích động, thu hút đông đảo người dân tham gia các hoạt động đấu tranh chống tiêu cực, tham nhũng, bảo vệ môi trường, phản đối đặt trạm thu phí... thực chất là để thực hiện “bất tuân dân sự” nhằm chống lại Đảng, Nhà nước Việt Nam.

Chủ thể tiến hành là những cá nhân, tổ chức phản động như: “Việt Tân”, “Hội anh em dân chủ”, “Hội văn đoàn độc lập Việt Nam”, “Hội nhà báo độc lập Việt Nam”, “Mạng lưới Blogger Việt Nam”... giữ vai trò chỉ đạo, tài trợ kinh phí, chỉ đạo đường lối, đào tạo, huấn luyện phương thức hoạt động cho các đối tượng bất mãn, cơ hội chính trị, đối tượng hình sự trong nước... trở thành cộm cán thu hút, lôi kéo, tập hợp người dân tham gia các hoạt động “bất tuân dân sự”. Số đối tượng trong nước ráo riết thu thập tình hình, phát triển lực lượng, hình thành các hội nhóm hoạt động “bất bạo động”. Chúng thông qua mạng xã hội, internet, rải truyền đơn, tờ rơi... để tuyên truyền, vận động thu hút, lôi kéo người dân tham gia các hoạt động do chúng chỉ đạo.

Hậu quả của “bất tuân dân sự” để lại rất nặng nề, kéo dài không chỉ về kinh tế - xã hội mà còn gây ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm mất lòng tin của người dân đối với cấp ủy, chính quyền.

Để đấu tranh, ngăn chặn hiệu quả với hoạt động này, cần thực hiện các giải pháp trọng tâm sau:

Một là, công tác phòng, chống hoạt động lợi dụng “bất tuân dân sự” xâm phạm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội nước ta luôn phải đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện, tuyệt đối của Đảng; sự quản lý, điều hành của Nhà nước nhằm phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị trong triển khai công tác phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn làm thất bại âm mưu, hoạt động lợi dụng phương thức này chống phá Việt Nam. Tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền, vận động nhằm nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân về bản chất của “bất tuân dân sự”, về vị trí, vai trò và tầm quan trọng của công tác phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn hoạt động “bất tuân dân sự” chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội Việt Nam, coi đó là trách nhiệm của các cấp, các ngành và nhân dân để huy động sự tham gia của cả xã hội trong công tác này.

Hai là, tiếp tục nâng cao chất lượng công tác nắm tình hình, phân tích, dự báo kịp thời mọi âm mưu, hoạt động lợi dụng dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo... kích động, lôi kéo nhân dân tham gia “bất tuân dân sự” để triển khai các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh. Nắm tình hình tâm tư, nguyện vọng của nhân dân để tham mưu, đề xuất các cơ quan chức năng giải quyết triệt để, thỏa đáng trên cơ sở pháp luật. Kịp thời phát hiện, phối hợp giải quyết dứt điểm các “điểm nóng” ngay từ cơ sở, không để kéo dài, không lây lan, vượt cấp. Trong xử lý các vấn đề nhạy cảm về dân chủ, nhân quyền phải tính toán, cân nhắc thời điểm phù hợp, bảo đảm yêu cầu đặt ra theo hướng kiên định về nguyên tắc nhưng khôn khéo, linh hoạt về phương pháp, tranh thủ được sự ủng hộ rộng rãi của nhân dân trong nước và cộng đồng quốc tế, kiên quyết không làm phức tạp thêm tình hình, không gây sơ hở để địch lợi dụng vu cáo, xuyên tạc.

Ba là, tăng cường công tác quản lý báo chí, xuất bản; kiểm soát chặt chẽ an ninh thông tin, quản lý internet, tích cực đấu tranh ngăn chặn việc tán phát tài liệu, tin tức xuyên tạc, thù địch về dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo... Tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ mới, trang bị các phương tiện thiết bị hiện đại nhằm phục vụ hiệu quả công tác quản lý, kiểm duyệt, kiểm tra trong lĩnh vực báo chí, xuất bản, internet… đáp ứng kịp thời yêu cầu của công tác phòng ngừa, đấu tranh với hoạt động “bất tuân dân sự”.

Bốn là, cần quán triệt tinh thần giải quyết vấn đề tụ tập đông người, biểu tình, đình công theo đúng cơ chế: Đảng lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối và toàn diện; chính quyền quản lý, điều hành; lấy vận động thuyết phục là chính, kiên quyết thu hẹp vụ việc, không để lây lan, kéo dài. Khi phát hiện có tuần hành, tụ tập đông người hay biểu tình, đình công, cần nhanh chóng đánh giá đúng tính chất, mức độ, xác định rõ nguyên nhân của vụ việc; thực hiện phân hóa số đối tượng cốt cán, cầm đầu với quần chúng bị dụ dỗ, lôi kéo; tuyên truyền vận động, thuyết phục quần chúng giải tán; kiên quyết xử lý theo pháp luật số đối tượng cầm đầu, chủ mưu, kích động, lôi kéo người dân tham gia “bất tuân dân sự”.

Năm là, tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói, giảm nghèo… kết hợp với thực hiện công bằng xã hội, nâng cao trình độ dân trí, đặc biệt là đối với đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo nhằm góp phần bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền và lợi ích của người dân trên cơ sở pháp luật; tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh bảo đảm ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Xây dựng và củng cố hệ thống chính trị ở cơ sở bảo đảm thực hiện tốt các chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước ở địa phương. Đẩy mạnh cải cách hành chính, cải cách tư pháp, xây dựng bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; tăng cường đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân. Chính quyền các cấp phải nêu cao vai trò, trách nhiệm phục vụ nhân dân, vì nhân dân; tăng cường đối thoại, giải quyết kịp thời các vấn đề bức xúc của nhân dân trên cơ sở pháp luật./.

 

ĐẤU TRANH VẠCH TRẦN CHIÊU TRÒ “BẤT TUÂN DÂN SỰ”  ĐỐI VỚI VIỆT NAM

                                                                                                    NMT

Hiện nay, có nhiều quan niệm khác nhau về “bất tuân dân sự”. “Bất tuân dân sự” là các hoạt động công khai từ chối tuân theo, hoặc vi phạm một cách cố ý và có ý thức đối với một số quy định pháp luật nhất định của nhà nước. Điều này khác hẳn với nguyên tắc phổ biến mà hầu hết các nhà nước pháp quyền trên thế giới đều thực hiện, đó là: Tiểu số phục tùng đa số; lợi ích riêng phải nằm trong lợi ích chung; lợi ích cá nhân phải phục tùng lợi ích cộng đồng, xã hội, dân tộc. Vì vậy, “bất tuân dân sự” về cơ bản thể hiện tư tưởng cực đoan, “vô chính phủ”, hầu như không được nhà nước pháp quyền nào chấp nhận (ngoại trừ những thế lực muốn lợi dụng nó để chống lại nhà nước pháp quyền).

“Bất tuân dân sự” hình thức phản kháng, không tuân thủ, không phục tùng, không hợp tác cơ bản là ôn hòa, bất bạo động. Tuy nhiên, không phải tất cả hình thức đều là ôn hòa, bất bạo động. Thậm chí, theo những người chủ trương “bất tuân dân sự”, hành động vũ trang của kẻ yếu chống lại kẻ mạnh hơn có vũ trang thì được coi là bất bạo động. Điều này thể hiện sự mập mờ về tính chất của các hình thức đấu tranh gọi là bất bạo động; hay nói cách khác, ranh giới giữa bất bạo động và bạo động là khá mong manh, có thể chuyển hóa cho nhau rất nhanh chóng. Thực chất, đây là cách ngụy tạo để biện giải, mở đường cho đấu tranh bạo động khi bất bạo động đã tích lũy đủ điều kiện hay “châm ngòi” thành công.

Hành vi phản kháng, không tuân thủ, không phục tùng những điều luật đã được ban hành; được thực hiện thông qua hình thức bất bạo động thể hiện sự coi thường kỷ cương, pháp luật, trái với các nguyên tắc của nhà nước pháp quyền trong một xã hội văn minh. Hơn nữa, khi hướng tới mục tiêu chính trị, “bất tuân dân sự” là bước khởi đầu của một cuộc “cách mạng mềm” nhằm thay đổi chế độ chính trị đang tồn tại hoặc lực lượng chính trị đang nắm quyền. Vì vậy, trong hầu hết các vụ việc, về bản chất, đây là hành vi vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, cần phân biệt rõ giữa bản chất và hiện tượng. Đối với các hiện tượng cụ thể, có thể ở mức độ thấp, không ảnh hưởng xấu nhiều tới cộng đồng, nhưng ở mức độ cao, khi hướng tới mục tiêu chính trị bằng các hình thức đấu tranh trực tiếp gây tác động tiêu cực đến tình hình an ninh trật tự của đất nước, của địa bàn thì cần phải có giải pháp phù hợp

Ở Việt Nam, hoạt động “bất tuân dân sự” đã diễn ra từ nhiều năm trước, có nguy cơ trở thành “phong trào” nguy hại trực tiếp đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội nếu không nhận diện và đấu tranh kịp thời. Những năm gần đây, có một số vụ việc mang bóng dáng “bất tuân dân sự”, như: “Bất tuân cưỡng chế” của một số đối tượng khi giải phóng mặt bằng ở Bắc Giang, Hải Phòng, Hà Nội, Đắc Nông, Gia Lai; “bất tuân” quy định về thành lập hội (nhóm), đòi lập các tổ chức xã hội dân sự (thực chất là phản động trá hình) như “Hội anh em dân chủ”, “Hội phụ nữ nhân quyền Việt Nam”, “Hội cựu tù nhân lương tâm Việt Nam”, “Hội văn đoàn độc lập Việt Nam”, “Hội nhà báo độc lập Việt Nam”, “Mạng lưới Blogger Việt Nam”; “bất tuân” để phản đối đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước.

“Bất tuân dân sự” được tổ chức ngày càng chặt chẽ, được một số tổ chức phản động nước ngoài như Việt Tân, Voice công khai giật dây. Chúng lợi dụng các vấn đề dân sinh còn có hạn chế, khuyết điểm khiến người dân bức xúc để làm suy giảm niềm tin, tích tụ mâu thuẫn của người dân đối với chính quyền, với Đảng, Nhà nước. Chúng lợi dụng thông qua đó để tập hợp, xây dựng, phát triển lực lượng, hợp thức hóa, công khai hóa việc chống đối chính quyền. Đồng thời, gắn kết chặt chẽ giữa “bất tuân dân sự” với “xã hội dân sự”, sử dụng các tổ chức “xã hội dân sự” để chỉ đạo, điều hành “bất tuân dân sự”. Thủ đoạn chủ yếu là tiếp tục sử dụng các chiêu bài “tự do”, “dân chủ”, “nhân quyền”; triệt để lợi dụng các vấn đề nhạy cảm về dân tộc, tôn giáo, các sự kiện, vụ việc, những sơ hở, bất cập của ta trong quá trình triển khai các quyết sách phát triển kinh tế - xã hội, đối ngoại... để đẩy mạnh tuyên truyền chống phá; lôi kéo, kích động nhân dân tụ tập, tuần hành, biểu tình, tạo dựng phong trào phản kháng trong quần chúng; phát triển lực lượng cốt cán, xây dựng “ngọn cờ”; tiến hành tập dượt các kịch bản đấu tranh chuẩn bị cho mục tiêu cao hơn. Để đấu tranh làm thất bại “bất tuân dân sự”, cần thực hiện tốt một số giải pháp chủ yếu sau đây:

Tích cực tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn hóa “thượng tôn pháp luật” cho mọi công dân. Trong đó, cần chú trọng nâng cao trình độ giác ngộ, niềm tin vào tính công bằng, nghiêm minh của pháp luật đối với mọi tầng lớp nhân dân. Đồng thời, tích cực đổi mới nội dung, hình thức, biện pháp tuyên truyền, giáo dục; làm cho mọi chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước đến được với người dân một cách cụ thể, gần gũi, dễ hiểu, dễ tuân thủ, chấp hành. Coi trọng tuyên truyền, hướng dẫn để người dân nắm vững các quy định về quy trình, thủ tục, phương pháp, cách thức tiến hành phản biện xã hội theo pháp luật; tránh để bị kẻ địch lợi dụng phát động “bất tuân dân sự”. Tăng cường đấu tranh vạch rõ bản chất, âm mưu, thủ đoạn sử dụng “bất tuân dân sự” để chống phá Việt Nam của các thế lực thù địch.

Tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước; nâng cao chất lượng ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính của cơ quan hành chính các cấp, nhất là ở cơ sở. Đẩy mạnh cải cách hành chính, xây dựng bộ máy nhà nước tinh gọn, hiệu quả, trong sạch, vững mạnh; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhất là các lĩnh vực quản lý kinh tế, tài chính, tài nguyên, môi trường... Bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức; đẩy mạnh công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm của cán bộ, đảng viên các cấp, củng cố niềm tin của người dân đối với Đảng, Nhà nước. Chính quyền các cấp phải nêu cao vai trò, trách nhiệm phục vụ nhân dân, tăng cường đối thoại, giải quyết tốt các vấn đề bức xúc của nhân dân; giải quyết dứt điểm các vấn đề còn tồn đọng về tranh chấp, khiếu kiện, không để âm ỉ, kéo dài…

Các cơ quan, đơn vị, địa phương tiến hành khảo sát kỹ lưỡng thực trạng “bất tuân dân sự” trên địa bàn quản lý; xây dựng kế hoạch phòng, chống chặt chẽ; bồi dưỡng, tập huấn kỹ năng xử lý. Phối hợp chặt chẽ giữa công an, quân đội, các lực lượng chức năng và cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể các cấp trong việc bám nắm cơ sở, nắm chắc âm mưu, thủ đoạn của bọn phản động trong việc kích động, lôi kéo nhân dân thực hiện “bất tuân dân sự”.

Khi xảy ra các vụ việc “bất tuân dân sự”, cần hết sức tỉnh táo; nhận định, đánh giá đúng tính chất, mức độ, xác định rõ nguyên nhân; kiên trì, khôn khéo, lấy biện pháp đối thoại, tuyên truyền, vận động, thuyết phục là chính; thực hiện phân hóa lực lượng cốt cán, cầm đầu với quần chúng bị dụ dỗ, lôi kéo… Xử lý nghiêm minh số đối tượng cốt cán, cầm đầu, những đối tượng có hành vi vi phạm pháp luật; có biện pháp phù hợp quản lý, giáo dục, động viên, giúp đỡ những đối tượng bị dụ dỗ, lôi kéo..../.

 

BIẾN TƯỚNG MỚI CỦA CHIÊU TRÒ “BẤT TUÂN DÂN SỰ”  CHỐNG PHÁ VIỆT NAM

                                                                                              Mặt Trời

Thuật ngữ “bất tuân dân sự” lần đầu tiên xuất hiện trong tập tiểu luận của Hen-ri Đây-vít Thơ-râu, nhà văn, nhà triết học người Mỹ, người bị chính quyền bang Ma-sa-chu-sét bắt do hành vi không đóng thuế vào cuối tháng 7 năm 1846, với nhan đề “Về bổn phận bất tuân dân sự” vào tháng 5/1849. Quan điểm của Thơ-râu sau đó được phát triển bởi một số học giả khác, chẳng hạn Gin-Sáp, Giáo sư chính trị học tại trường Đại học Massachusetts Dartmouth (Mỹ).

Khái niệm bất tuân dân sự đã phát triển trong một thời gian dài, được rút ra từ các giai đoạn lịch sử khác nhau và từ các nền văn hóa khác nhau. Đã có nhiều tác giả nghiên cứu, đưa ra quan điểm, cách nhìn để nhận diện bất tuân dân sự. Theo Giôn-Ron, nhà triết học chính trị nổi tiếng của Mỹ trong thế kỷ XX, định nghĩa bất tuân dân sự là một hành động công khai, bất bạo động, triệt để nhưng có tính chính trị trái với luật pháp nhằm mục đích thay đổi luật pháp hoặc chính sách. Hu-gô A-đam Bê-đâu, Giáo sư triết học của Đại học Tufts (Mỹ) định nghĩa bất tuân dân sự là một hành động bất hợp pháp, được thực hiện một cách công khai, không mang tính bạo lực và thực hiện một cách cố ý, trong khuôn khổ pháp quyền và với ý định phản kháng hoặc phản đối một số luật, chính sách hoặc quyết định của chính phủ hoặc một số công chức của chính phủ. Ki-li và Ba-mu-lơ định nghĩa bất tuân dân sự là một hành động có chủ ý, công khai và bất bạo động vi phạm luật mà người đó phải chịu trách nhiệm và chế tài. Xờ-mít quan niệm rằng bất tuân dân sự là một cuộc phản đối công khai, bất hợp pháp và mang tính chính trị được thực hiện chống lại nhà nước hoặc chính sách. Sen-đơn trong cuốn Bách khoa toàn thư về tư tưởng chính trị định nghĩa bất tuân dân sự là bất tuân hoặc vi phạm pháp luật vì các lý do đạo đức, tôn giáo hoặc các lý do khác, bởi một cá nhân hoặc một nhóm có tổ chức.

Bất tuân dân sự có nhiều hình thức và cách biểu hiện khác nhau. Ví dụ, có cách tiếp cận cho rằng bất tuân dân sự có 5 hình thức biểu hiện: Một là, tuần hành muối do Ma-hát-ma Gan-đi lãnh đạo (dẫn đầu đoàn 78 người đi bộ trong 24 ngày để phản đối chính sách độc quyền muối do chính quyền Anh áp đặt); hai là, chiến dịch Extremadura  - một phong trào cải cách ruộng đất ở Tây Ban Nha; ba là, tuần hành ủng hộ và phong trào bất di chuyển ở Mỹ; bốn là, loại bỏ các doanh nghiệp không mong muốn (phong trào chống toàn cầu hóa ở Pháp); năm là, phong trào vận động không đóng thuế ở Luân đôn năm 1990.

Mặc dù là người đầu tiên đưa ra thuật ngữ “bất tuân dân sự”, nhưng ở thời điểm ra đời, tác phẩm của Hen-ri Đây-vít Thơ-râu không gây được ảnh hưởng. Tuy nhiên, sang thế kỷ XX, tư tưởng về một cuộc “cách mạng hòa bình” của Thơ-râu được một số nhà hoạt động chính trị phát triển thành phương pháp đấu tranh bất bạo động như phong trào “Satyagraha” của Ma-hát-ma Gan-đi đấu tranh giành độc lập dân tộc cho Ấn Độ từ thực dân Anh (năm 1947); phong trào đấu tranh chống phân biệt chủng tộc ở Mỹ của mục sư Mác-tin Lu-thơ Kinh (thập niên 60 thế kỷ XX); phong trào đấu tranh chống phân biệt chủng tộc (chủ nghĩa A-pác-thai) ở Nam Phi của Nen-xơn Man-đê-la... Đặc biệt, sau Chiến tranh thế giới thứ hai, chiến lược “diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc ra đời với tư tưởng chủ đạo là chuyển cuộc đấu tranh vào bên trong các nước xã hội chủ nghĩa. Từ đó, chiêu bài “bất tuân dân sự” đã bị chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động quốc tế lợi dụng và từng bước trở thành một phương thức, thủ đoạn nằm trong mối liên hệ chặt chẽ với các phương thức, thủ đoạn khác của chiến lược “diễn biến hòa bình”. Các cuộc “cách mạng nhung” ở Tiệp Khắc và Cộng hòa Dân chủ Đức; “cách mạng ca hát” ở các nước vùng Ban-tích (thuộc Liên Xô) vào những năm cuối thế kỷ XX; các cuộc “cách mạng màu” ở một số nước trong không gian hậu Xô-viết; “cách mạng hoa nhài” (“Mùa xuân Ả Rập”) ở một số nước Bắc Phi, Trung Đông cuối năm 2010, đầu năm 2011; phong trào biểu tình nhằm lật đổ Chính phủ Bô-li-va ở Vê-nê-xu-ê-la (từ năm 2014); phong trào “cách mạng dù” của sinh viên vùng lãnh thổ Hồng Kông (Trung Quốc) năm 2014, các cuộc biểu tình phản đối việc sửa đổi Dự luật dẫn độ ở vùng lãnh thổ Hồng Kông (Trung Quốc) vào các năm 2019 và 2020... đều có dấu ấn của thủ đoạn kích động bất tuân dân sự, nhằm gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, gây trở ngại đến hoạt động công quyền, thực thi công lý, gây ra những hiểm họa khôn lường, thậm chí khủng hoảng toàn diện, sâu sắc cho nhiều vùng lãnh thổ và quốc gia trên thế giới.

Ở Việt Nam, hoạt động lợi dụng “bất tuân dân sự” đã diễn ra từ nhiều năm trước, có nguy cơ trở thành “phong trào” gây nguy hại trực tiếp đến an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội nếu không được nhận diện và đấu tranh kịp thời. Các thế lực phản động, thù địch đã tiến hành nhiều hoạt động lợi dụng danh nghĩa dân chủ, phát động cái gọi là bất tuân dân sự để chống đối chính quyền, gây trở ngại cho hoạt động công quyền với nhiều hoạt động dưới nhiều dạng thức và hành động như lợi dụng việc Quốc hội thông qua Luật An ninh mạng, dự án Luật Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt tại một số tỉnh, thành phố trong cả nước, các đối tượng phản động, thù địch đã kích động, lôi kéo người dân tham gia tuần hành, biểu tình, chống người thi hành công vụ, đập phá tài sản các trụ sở chính quyền, gây thiệt hại lớn về tài sản, kinh tế, gây mất an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; lợi dụng chống tiêu cực, tham nhũng, cưỡng chế đất đai, giải phóng mặt bằng để kích động hành vi bất tuân dân sự; lợi dụng tôn giáo để thực hiện mưu đồ xấu, công kích, chống phá... Các thế lực phản động, thù địch còn xuyên tạc trắng trợn rằng, việc xử lý những người vi phạm pháp luật là “đàn áp” những người biểu tình ôn hòa, yêu nước, kêu gọi đưa vấn đề ra Liên hợp quốc và kêu gọi các tổ chức quốc tế vào cuộc; xuyên tạc trắng trợn rằng các đạo luật trên là vi hiến, đe dọa nghiêm trọng cuộc sống người dân. Nham hiểm hơn, các thế lực phản động, thù địch còn kêu gọi người dân không chỉ dùng Facebook mà dùng nhiều mạng xã hội khác để đấu tranh./.

Thứ Hai, 18 tháng 3, 2024

 

SỰ ĐỒNG BỘ TRONG ĐẤU TRANH BẢO VỆ CHỦ QUYỀN QUỐC GIA TRÊN BIỂN VIỆT NAM

Có thể thấy, những luận điệu trên hoàn toàn là sự xuyên tạc trắng trợn, kích động với dụng ý phá hoại. Sự thật là nhiệm vụ bảo vệ biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc luôn được Đảng, Nhà nước, Quân đội ta đặc biệt coi trọng, đang được tiến hành một cách đồng bộ, bài bản, kiên quyết, kiên trì, kiên cường và khôn khéo.

Thứ nhất, đường lối, chính sách, các chiến lược, kế hoạch... phát triển đất nước của Đảng, Nhà nước ta từ trước đến nay đều khẳng định rất rõ ràng, biển, đảo là một bộ phận lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc; lợi ích quốc gia trên biển là vấn đề trọng yếu, thường xuyên và lâu dài của Việt Nam. Ngay từ thời điểm đang phải dồn toàn lực để giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, dù khó khăn trăm bề, Đảng, Nhà nước, Quân đội ta đã kịp thời đưa lực lượng, phương tiện đi giải phóng các đảo từ tay chế độ cũ, thể hiện tầm nhìn trong việc bảo vệ chủ quyền biển, đảo quốc gia.

Trong suốt những năm qua, Việt Nam luôn kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo và tất cả lợi ích hợp pháp, chính đáng trên biển Việt Nam đã được luật pháp quốc tế và Hiến pháp, pháp luật Việt Nam quy định. Đảng, Nhà nước, Quân đội ta đã nhiều lần phát ngôn công khai, khẳng định rõ lập trường, quan điểm nêu trên.

Hệ thống quan điểm của Đảng ta về công tác đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo ngày càng được hoàn thiện, phát triển. Điều đó được thể hiện rõ qua các văn kiện của mỗi kỳ đại hội Đảng. Gần đây nhất, Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định, bổ sung, phát triển những quan điểm cơ bản về nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo trong tình hình mới. Trong đó, Đảng đã xác định quan điểm nhất quán và đề ra các biện pháp giải quyết vấn đề trên biển hiện nay.

Thứ hai, Đảng, Nhà nước và Quân đội ta luôn ưu tiên dành mọi nguồn lực tốt nhất cho nhiệm vụ giữ vững chủ quyền biển, đảo; kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội với củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh tại địa bàn chiến lược, vùng đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo.

Những năm qua, Đảng, Nhà nước ta chủ trương đẩy mạnh phát triển kinh tế biển, tạo điều kiện thuận lợi để ngư dân yên tâm bám biển, làm giàu từ biển. Nhiều ngành kinh tế biển được chú trọng như khai thác dầu khí, vận tải biển, điện gió ngoài khơi, du lịch biển, đảo, phát triển kinh tế các đảo, đẩy mạnh nghiên cứu khoa học... Tất cả hoạt động kinh tế biển đó thể hiện tính chất của nền quốc phòng toàn dân, thực hiện sách lược gắn kinh tế với quốc phòng, góp phần bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo.

Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22-10-2018 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 xác định: “Việt Nam phải trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển, phát triển bền vững, thịnh vượng, an ninh và an toàn; phát triển bền vững kinh tế biển gắn liền với bảo đảm quốc phòng, an ninh, giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ”.

Thứ ba, trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực tiếp tục có những diễn biến phức tạp, Đảng, Nhà nước ta chủ trương thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại; bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia-dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác cùng có lợi.

Đảng, Nhà nước ta thực hiện triết lý “Ngoại giao cây tre” mà bản chất là mềm mại, khôn khéo nhưng rất kiên cường, quyết liệt. Mục tiêu lớn nhất là tránh được xung đột, không để xảy ra chiến tranh, giữ gìn môi trường hòa bình để phát triển đất nước, nhưng đồng thời bảo vệ được lợi ích quốc gia-dân tộc với quyết tâm cao nhất. Chúng ta biết nhu, biết cương, biết thời thế, biết thực lực, biết mình, biết người, biết tiến, biết lui đúng lúc, hợp thời. Đó cũng là thực hiện triết lý “Dĩ bất biến ứng vạn biến”, “Lạt mềm buộc chặt” mà ông cha ta đã đúc rút từ các bài học đấu tranh dựng nước và giữ nước.

Chúng ta xác định, giải quyết tranh chấp trên Biển Đông là vấn đề lâu dài, kiên trì hợp tác tìm kiếm biện pháp hòa bình để giải quyết tranh chấp, bảo vệ lợi ích chính đáng của nước ta, đồng thời tôn trọng lợi ích chính đáng của các nước trên cơ sở tuân thủ luật pháp quốc tế. Chúng ta không đi với nước này để chống lại nước kia; không thụ động chịu tác động hay sự lôi kéo của bất cứ nước nào, nhất là tránh việc trở thành con bài trong tay các nước lớn.

Thứ tư, Đảng, Nhà nước ta luôn chăm lo xây dựng lực lượng hải quân, cảnh sát biển, biên phòng, dân quân tự vệ biển và lực lượng kiểm ngư vững mạnh, với trang bị, phương tiện ngày càng đồng bộ, hiện đại đủ sức quản lý, bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Các lực lượng nêu trên luôn có tinh thần, quyết tâm cao, kiên quyết, kiên trì, kiên cường thực hiện tốt các nhiệm vụ được giao, không có chuyện “không kiên quyết bảo vệ chủ quyền biển, đảo và lợi ích quốc gia trên biển”... như kẻ xấu xuyên tạc, vu cáo.

Thứ năm, Đảng, Nhà nước quan tâm đẩy mạnh công tác tuyên truyền về chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc. Công tác tuyên truyền đã thông tin kịp thời, minh bạch, chính xác để người dân trong nước, người Việt Nam ở nước ngoài và cộng đồng quốc tế hiểu cơ sở pháp lý, chứng cứ lịch sử và sự quản lý thực tế của Việt Nam trên các vùng biển, đảo ở Biển Đông; hiểu rõ quan điểm, lập trường của Đảng, Nhà nước ta về giải quyết vấn đề chủ quyền trên Biển Đông; từ đó, xây dựng niềm tin, ý chí quyết tâm, tạo đồng thuận của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của cộng đồng quốc tế để bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc.

Do đó, những luận điệu xuyên tạc chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước ta trong nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo rõ ràng là xuất phát từ những mưu đồ đen tối, âm mưu kích động, phá hoại, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, chia rẽ mối quan hệ Việt Nam với các nước trên thế giới, cần phải được nhận diện, lên án, đấu tranh kịp thời./.

BĐT

 Sự xuyên tạc, kích động thâm hiểm về nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển

Những luận điệu xuyên tạc chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước ta trong nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo xuất phát từ những mưu đồ đen tối, âm mưu kích động, phá hoại, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, chia rẽ mối quan hệ Việt Nam với các nước trên thế giới, cần phải được nhận diện, lên án, đấu tranh kịp thời

Thời gian qua, trên các trang mạng xã hội, các thế lực thù địch, phản động, một số tổ chức, cá nhân thiếu thiện chí với Việt Nam đã trắng trợn xuyên tạc chủ trương, đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta có liên quan về vấn đề chủ quyền biển, đảo Việt Nam.

Họ vu cáo rằng, Đảng, Nhà nước và Quân đội ta “không kiên quyết bảo vệ chủ quyền biển, đảo và lợi ích quốc gia trên biển”, “lúc nào cũng chỉ muốn đối thoại, đàm phán hòa bình nên để nước ngoài lấn tới...”; "không đủ năng lực và không đủ quyết tâm để bảo vệ chủ quyền biển, đảo”...

Từ đây, các đối tượng ra sức xuyên tạc sự thật về mối quan hệ giữa Việt Nam với các nước có biển trong khu vực Biển Đông; tuyên truyền chủ nghĩa dân tộc cực đoan, tâm lý bài nước này, thân nước kia; kích động sự chống đối Đảng, Nhà nước; hạ thấp vị thế, vai trò, sức mạnh của Quân đội; phá hoại, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Họ kêu gọi Đảng, Nhà nước ta phải từ bỏ chính sách đối ngoại quốc phòng “4 không”, đòi Đảng ta “thực hiện liên minh quân sự” để bảo vệ chủ quyền biển, đảo, bảo vệ lợi ích quốc gia trên biển...

NMT


 KẾT HỢP GIỮA PHÒNG VÀ CHỐNG HIỆU QUẢ PHÁT TÁN SÁCH, BÁO XẤU ĐỘC

Chúng ta cần xác định phương thức tán phát, phổ biến sách, báo xấu độc là thủ đoạn mà các thế lực thù địch sẽ không bao giờ từ bỏ. Cho nên, đấu tranh với sách, báo xấu độc là việc làm lâu dài, thường xuyên để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Đặc biệt cần chú ý kết hợp giữa phòng và chống một cách linh hoạt, tùy từng trường hợp cụ thể để mang lại hiệu quả thực chất.

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã xác định: “Kiên quyết đấu tranh, loại bỏ các sản phẩm, thông tin độc hại, xuyên tạc, phản động, ảnh hưởng xấu đến ổn định chính trị-xã hội, thuần phong mỹ tục”.

Quán triệt, thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, với lĩnh vực xuất bản, ông Nguyễn Nguyên, Cục trưởng Cục Xuất bản, In và Phát hành (Bộ Thông tin và Truyền thông), Phó chủ tịch Hội Xuất bản Việt Nam cho rằng: Trước hết, tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với lĩnh vực xuất bản. Phát huy vai trò, nêu cao trách nhiệm của các cơ quan xuất bản, cơ quan chủ quản trong công tác xuất bản với yêu cầu giữ vững tôn chỉ, mục đích, nâng cao bản lĩnh chính trị cho đội ngũ cán bộ, biên tập viên, thực hiện chặt chẽ quy trình xuất bản, thẩm định kỹ nội dung bản thảo, tránh để xảy ra sai sót nội dung nghiêm trọng về chính trị.

Cùng với đó, công tác hậu kiểm cần tiếp tục được đẩy mạnh nhằm ngăn chặn triệt để các xuất bản phẩm có nội dung vi phạm quy định Luật Xuất bản; các cơ quan bảo vệ pháp luật triển khai đồng bộ các giải pháp đấu tranh, xử lý những ấn phẩm lưu hành bất hợp pháp, nhất là các ấn phẩm có nội dung xấu độc. Riêng với các địa chỉ lưu giữ, tán phát xuất bản phẩm xấu độc trên không gian mạng, cần phát huy vai trò nòng cốt của lực lượng an ninh chính trị nội bộ, an ninh mạng tập trung sử dụng những biện pháp kỹ thuật để ngăn chặn hoạt động và sức phổ biến, tiếp cận đến với người đọc.

Theo ông Nguyễn Thái Bình, Phó giám đốc Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, vấn nạn sách, tài liệu xấu độc được in ấn, mua bán công khai hiện nay là nguy cơ dẫn đến mất kiểm soát vì vô tình tạo thói quen, hành vi vi phạm pháp luật cho bạn đọc, người sử dụng thiếu hiểu biết. Các cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan chức năng cần sớm vào cuộc, xử lý bảo đảm đủ răn đe với những hành vi vi phạm pháp luật. Với những nhóm người có chủ ý thu lợi cá nhân hoặc có kế hoạch, chủ động tán phát sách, báo xấu độc cần phải bị xử lý hình sự để răn đe những đối tượng khác. Với những cá nhân nhỏ lẻ, nếu chỉ hám lợi đơn thuần thì sớm tiếp cận, nhắc nhở.

Ông Nguyễn Thái Bình cũng nhấn mạnh đến vai trò của các cấp ủy Đảng cần chủ động định hướng, cung cấp thông tin thường xuyên để cán bộ, đảng viên không tìm hiểu, không tiếp cận với sách, báo xấu độc; xử lý nghiêm những trường hợp cán bộ, đảng viên phổ biến, giới thiệu sách, báo xấu độc dưới bất cứ hình thức nào. Đặc biệt, đối với các cơ quan quản lý nhà nước cần phải chủ động trong truyền thông chính sách, giúp cho người dân hiểu và làm việc theo pháp luật. Phát huy vai trò của đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên trong hoạt động tuyên truyền miệng để cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân không mua bán, tàng trữ, sử dụng, phổ biến sách, báo xấu độc; đồng thời, nâng cao khả năng nhận diện nội dung xấu độc, tham gia đấu tranh phản bác những quan điểm sai trái, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Một giải pháp mà các chuyên gia trong lĩnh vực xuất bản, phát triển văn hóa đọc nhiều lần nhắc đến, đó là: Ngành xuất bản cần tiếp tục nỗ lực xuất bản, giới thiệu nhiều sách, báo có nội dung lành mạnh, nhân văn, có giá trị học thuật dưới nhiều hình thức đa dạng, hấp dẫn, gắn với phát triển văn hóa đọc trong cán bộ, đảng viên và nhân dân. Qua đó, lấy cái đẹp dẹp cái xấu, tác động tích cực để xây dựng nhận thức đúng đắn, bồi đắp tâm hồn, nâng cao dân trí cho nhân dân, góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc./.

LHS


 ÂM MƯU ĐẦU ĐỘC NHẬN THỨC VỀ SÁCH, BÁO

Đằng sau một cuốn sách, một bài báo chứa đựng tư tưởng, lý lẽ, tâm tư, tình cảm có tác động đến nhận thức, hành vi của độc giả. Bên cạnh những “bảo thư” soi đường, chỉ lối để con người hướng đến các giá trị chân, thiện, mỹ; rèn luyện, phấn đấu tu thân, tích đức để khẳng định bản thân, cống hiến cho xã hội; cũng không hiếm những “tà thư” đầu độc độc giả đưa đường đến với sự tối tăm, hận thù, bi quan, những hành vi lệch chuẩn, thiếu văn hóa và đạo đức, vi phạm pháp luật...

Khác với loại hình tuyên truyền trực quan như tranh, ảnh, phim; sách, báo xấu độc xâm nhập âm thầm, dùng lý lẽ bề ngoài tưởng chừng rất khách quan, khoa học nhưng ngầm ẩn những dụng ý vô cùng thâm hiểm. Chỉ cần độc giả là người thiếu hiểu biết về chính trị, không kiên định với nền tảng tư tưởng của Đảng, có ẩn ức, bất mãn trong đời sống rất dễ bị tiêm nhiễm, dần dần “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” lúc nào không hay. Chẳng hạn, khá nhiều sách, báo dưới cái mác nghiên cứu khoa học lịch sử đã “bắn vào quá khứ” khi lập luận rằng: Không cần tiếp thu chủ nghĩa cộng sản, không cần sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, của Bác Hồ, không cần có Cách mạng Tháng Tám năm 1945, dân tộc Việt Nam cứ “ngoan ngoãn” ở trong “vòng tay bảo hộ” của mẫu quốc Pháp sau Chiến tranh Thế giới thứ hai thì đất nước sẽ phát triển, dân trí nâng cao; rồi sau đó thông qua phương cách hòa bình để có được nền độc lập thì sẽ tốt hơn là phải cầm súng suốt mấy chục năm, làm “kéo lùi lịch sử”. Luận điệu này với những người trưởng thành có hiểu biết lịch sử, có tư duy biện chứng khoa học thì đích thực là phản động, phi thực tế và phản khoa học. Tuy nhiên, nếu là một người trẻ mới mười tám, đôi mươi, sinh ra trong hòa bình thì chưa chắc đã đủ bản lĩnh, trình độ để nhận diện đây là “tà thuyết”.

Theo số liệu của Bộ Công an, tính từ năm 2009 đến 2022, lực lượng an ninh chính trị nội bộ đã phối hợp thu thập, nghiên cứu hơn 500 đề tài, bản thảo; kiến nghị không cho xuất bản hoặc sửa chữa lại nội dung trước khi xuất bản 350 đề tài, bản thảo; ngừng phát hành, thu hồi, tiêu hủy 150 ấn phẩm có nội dung phức tạp, nhạy cảm, vi phạm; xử phạt vi phạm pháp luật trên lĩnh vực xuất bản hơn 760 trường hợp.

Khi những ý đồ thâm hiểm không phát huy dưới dạng “chính ngạch”, các thế lực thù địch đẩy mạnh hoạt động thông qua phương thức cũ đó là tán phát sách, báo xấu độc theo con đường “tiểu ngạch”, nhất là trên không gian mạng.

Sách, báo xấu độc chủ yếu được xuất bản dưới chế độ cũ trước năm 1975, sau này in ấn ở hải ngoại. Dù là thể loại hư cấu hay phi hư cấu, sách, báo xấu độc đều có chung một số đặc điểm về nội dung, đó là: Ra sức cổ vũ quan điểm thù địch, chống đối Đảng Cộng sản Việt Nam; kêu gọi người dân không chấp nhận Đảng ta là đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội; phủ định lý luận về chủ nghĩa xã hội và sự đúng đắn tất yếu của con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; đòi xét lại lịch sử, bôi nhọ nhằm hạ thấp uy tín, danh dự của các anh hùng dân tộc, lãnh tụ của Đảng, các bậc tiền bối cách mạng; khoét sâu vào những mặt trái của xã hội nhằm phủ nhận thành tựu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của Đảng và nhân dân...

Đáng lo ngại là một số cá nhân chuyên kinh doanh sách, báo, dịch vụ in ấn nhận thấy sách, báo xấu độc bị cấm phổ biến, lưu hành là “hàng hiếm” nên đã sưu tập, tái sản xuất, bày bán công khai trên mạng xã hội dưới dạng sách in và sách điện tử. Chỉ cần đặt hàng trên mạng xã hội, bất cứ tác phẩm xấu độc nào trong vài giờ đã có thể chuyển đến tận tay người có nhu cầu.

Vấn đề đáng bàn là vì sao sách, báo xấu độc do các tác giả phản động lại có thể “đội mồ sống dậy” lưu hành dễ dàng mà các cơ quan chức năng chưa kịp thời ngăn chặn?

Hoằng Tháo


 

Nguy hại của “bè phái và lợi ích nhóm”

Có lần, trong câu chuyện trà dư, tửu hậu, sau những chuyện trên trời, dưới biển…, ấy thế rồi chẳng hiểu đầu đuôi thế nào mà câu chuyện “bè phái và lợi ích nhóm” liên quan đến cán bộ, đảng viên lại rôm rả đến thế. Anh bạn tôi được thể “chém gió phần phật”: “Ui trời, tưởng gì to tát chứ chuyện “chia bè, kết cánh” hay “bè phái và lợi ích nhóm” có gì mới lạ đâu, ở đâu chả có. Để tôi chỉ cho các ông xem nhé, anh bạn tôi thao thao bất tuyệt: Các ông cứ nhớ lại xem, nhìn từ các vụ án, vụ việc liên quan đến cán bộ, đảng viên được báo chí truyền thông nói ra rả lâu nay, nhất là các vụ án tiêu cực, tham ô, tham nhũng… vụ nào ít nhiều chả liên quan đến “bè phái và lợi ích nhóm”, “cánh hẩu”, chả thế mà hễ có sai phạm là cả “nhóm lợi ích”, “cả dây” đều bị xử lý đấy thôi, có ông nào thoát đâu, có ông nào “ăn” được một mình đâu..., các ông cứ soi lại mà xem nhé!

Ừ nhỉ, ông bạn tôi nói cũng có cái lý của nó đấy chứ! Nếu chúng ta theo dõi thông tin báo chí, truyền thông thì không khó để nhận biết về những biểu hiện câu kết, móc nối, móc ngoặc của các “nhóm lợi ích” từ các đại án tham nhũng điển hình sai phạm trong các lĩnh vực như: Việt Á, AIC, Cục Đăng kiểm Việt Nam, Vạn Thịnh Phát, Ngân hàng SCB… kéo theo số lượng không nhỏ cán bộ, đảng viên bị kỷ luật, khởi tố, bắt giam.

Cụ thể, vụ án xảy ra tại Công ty Việt Á, đây là vụ án điển hình sai phạm trong lĩnh vực y tế. Cơ quan chức năng đã khởi tố, điều tra 33 vụ án, 133 bị can. Trong đó, có 3 Ủy viên Trung ương Đảng là bộ trưởng, nguyên bộ trưởng và bí thư tỉnh ủy; 1 thứ trưởng, 1 trợ lý Phó Thủ tướng Chính phủ và nhiều cán bộ cấp vụ, cục, lãnh đạo các tổ chức, cơ sở y tế địa phương…

Vụ án liên quan đến Công ty AIC - điển hình sai phạm trong thao túng đấu thầu, đấu giá, vụ án này, đã khởi tố 04 vụ án, 71 bị can, trong đó đã xử lý hình sự 2 nguyên bí thư tỉnh ủy, 2 nguyên chủ tịch tỉnh và nhiều cán bộ diện tỉnh ủy quản lý và cơ quan chức năng vẫn đang tiếp tục mở rộng điều tra.

Vụ án Vạn Thịnh Phát là vụ án xảy ra tại Tập đoàn Vạn Thịnh Phát, Ngân hàng SCB - điển hình sai phạm trong lĩnh vực ngân hàng, dùng ngân hàng để làm sân sau cho doanh nghiệp, trong hệ sinh thái. Trong đại án này, đã khởi tố 3 vụ án, 108 bị can, trong đó có 23 bị can là lãnh đạo cấp vụ, cục, cán bộ các cơ quan thanh tra, kiểm toán, thanh tra giám sát ngân hàng và lãnh đạo thanh tra, ngân hàng một số địa phương.

Vụ án xảy ra tại Cục Đăng kiểm Việt Nam và các trung tâm đăng kiểm địa phương - điển hình cho sai phạm có tính hệ thống, kéo dài, các cơ quan đã khởi tố 114 vụ án/808 bị can tại 49 địa phương, nhiều cán bộ, đảng viên liên quan bị bắt giam…

Qua những vụ án điển hình trên, phần nào cũng nói lên những biểu hiện “bè phái và lợi ích nhóm” trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên. Tất nhiên không hẳn cán bộ, đảng viên hễ cứ sai phạm thì đều liên quan đến “bè phái và lợi ích nhóm”. Nhưng nhìn vào các vụ án với số lượng cán bộ, đảng viên bị xử lý cho thấy khá rõ việc câu kết, móc nối, móc ngoặc của các phần tử trên - dưới, trong - ngoài để chia chác lợi ích do tiêu cực mà có. Không phải là tất cả, nhưng có lẽ những mảnh đất màu mỡ mà đám sâu mọt đục khoét tiền của của Nhà nước, của Nhân dân không dễ để hành động một mình, chúng phải có bầy đàn, câu kết thành “bè phái và lợi ích nhóm”. Xâu chuỗi từ các vụ án, cơ bản các hành vi tiêu cực, tham ô, tham nhũng đều được phân chia bởi “bè phái và nhóm lợi ích”. Đây là một thực tế hiện hữu và có nguy cơ biến tướng với thủ đoạn ngày càng tinh vi hơn.

“Bè phái và lợi ích nhóm” thật là nguy hại… Nhiều người đặt câu hỏi, liệu những cán bộ, đảng viên trước khi mắc những sai lầm, sai phạm có biết điều này? Thiết nghĩ, người ta biết thì biết cả đấy, biết là sai phạm nhưng đôi khi họ lại cứ tặc lưỡi, “ngậm miệng ăn tiền” hoặc vì những lợi ích cá nhân khác mà câu kết bè phái để chia chác… Tục ngữ có câu: “sợ người ở phải, hãi người cho ăn” để cảnh tỉnh người đời luôn phải cẩn trọng trong đối nhân xử thế, đứng trước những mối lợi, không thể không suy xét thấu đáo, cho dù đơn giản chỉ là miếng ăn. Tiếc thay, ngày nay, dường như những răn dạy của cổ nhân đã bị lãng quên với nhiều người. Vì thế mới có chuyện trớ trêu cho cán bộ, đảng viên bị rơi vào tình thế “há miệng mắc quai”, chỉ đến khi những sai phạm bị phát giác thì những cán bộ, đảng viên này mới tỏ ra ăn năn, hối hận… nhưng cũng đã quá muộn màng.

Có lẽ câu chuyện “bè phái và lợi ích nhóm” đã, đang tồn tại trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên là biểu hiện không còn xa lạ với nhiều người. Theo quan điểm của anh bạn tôi: “Không nói xa xôi, ngay trong mỗi gia đình, đôi khi còn chia bè, kết cách huống chi là ở tập thể, cơ quan nọ, tổ chức kia cũng là chuyện bình thường”. Tuy nhiên, kiểu bè cánh hay nói cách khác là theo “phe này”, “cánh kia” nếu chỉ xoay quanh quan điểm, sở thích giống hoặc khác nhau mà hình thành những nhóm chung sở thích có tính chất tích cực thì nó lại không hề xấu, nó chỉ xấu và rất nguy hại khi chia bè kết cánh nhằm tạo ra “cách hẩu”, “nhóm lợi ích” để thu vén và chia chác lợi ích do tiêu cực mà có, thậm chí là đục khoét bất cứ thứ gì sơ hở của cơ quan, tổ chức, của Nhà nước và Nhân dân…

Trong bất kì tổ chức, cơ quan nào nếu tồn tại “bè phái và lợi ích nhóm” thì ở đó sẽ có nguy cơ mất đoàn kết, đấu đá, cạnh tranh ngầm, thậm chí là dùng mọi thủ đoạn để tạo sự ảnh hưởng, khẳng định vị thế của “phe nhóm lợi ích” cũng như ảo tưởng sức mạnh bản thân, ảo tưởng quyền lực một cách trơ trẽn đến thô thiển. Đây là biểu hiện khá rõ tình trạng “lợi ích nhóm”, “cánh hẩu”, “quyền anh, quyền tôi”, “quyền của phe cánh mình”. Theo đó là “bài toán lợi ích” và tất nhiên nó sẽ bao gồm tất cả những lợi ích mà “phe nhóm lợi ích” có cơ hội chiếm hữu được, từ thông tin, tiền bạc cho đến công tác tổ chức cán bộ… dùng thủ đoạn để “vận động, bao vây, cục bộ…” và những lá phiếu tín nhiệm, bình bầu, quy hoạch cán bộ… chẳng còn khách quan, vô tư, trong sáng như vốn có của bản chất dân chủ.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần lên án “bệnh” kéo bè, kéo cánh và gọi đây là căn bệnh “cánh hẩu” trong Đảng. Người đúc kết: “Bè cánh được lôi kéo từ những người có họ hàng, là bà con, cháu, chắt, thân tín, thậm chí mở rộng ra là người cùng xóm, cùng quê; rồi “chén chú, chén anh”, tung hô nhau, ủng hộ nhau, dùng số đông, lợi dụng và bóp méo nguyên tắc tập trung dân chủ, dồn những người tốt, có tài nhưng không cùng “cánh” xuống để “tiêu diệt”, để cát cứ, thao túng…”

Nguy hại của hiện tượng “bè phái và lợi ích nhóm” không nhỏ, nó là nguyên nhân đẻ ra những căn bệnh “thao túng, lạm quyền, lộng quyền, xu nịnh…” của cán bộ, đảng viên. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã không ít lần cảnh báo về những nguy hại của hiện tượng này bằng những câu nói giản dị nhưng vô cùng sâu sắc: “cua cậy càng, cá cậy vây...”. Những cám dỗ về lợi ích, những “viên đạn bọc đường” đã hạ gục không ít những cán bộ, đảng viên mà trước đó họ được cho là những cán bộ, đảng viên trung kiên với những lời thề nguyện cống hiến, trung thành với lợi ích của Đảng, của Đất nước và Nhân dân.

Phải ngăn chặn kịp thời hiện tượng “bè phái và lợi ích nhóm” từ sớm, từ xa, bởi đây cũng là một trong những căn nguyên dẫn đến sự mất niềm tin của Nhân dân đối với Đảng. Hơn ai hết, đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu trong các cơ quan, tổ chức phải nhận thức sâu sắc về những nguy hại của hiện tượng “bè phái và lợi ích nhóm”; nhất định không để lợi ích cá nhân chi phối, tác động để rồi chủ động hoặc vô tình biến mình thành kẻ “câu kết bè phái” lúc nào không hay; nhất định không để bản thân rơi vào vòng xoáy lợi ích mà quên đi bổn phận trách nhiệm của người đảng viên trước Đảng, trước Đất nước và Nhân dân./.

Hoằng Tháo