QUAN
ĐIỂM CỦA ĐẢNG VỀ ĐỐI TÁC, ĐỐI TƯỢNG VÀ Ý NGHĨA THỰC TIỄN HIỆN
NAY
Nhân Trần
Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nhận định hợp tác, cạnh tranh, đấu tranh
và sự tuỳ thuộc lẫn nhau giữa các nước, nhất là giữa các nước lớn ngày càng
tăng; các nước lớn điều chỉnh chiến lược, vừa hợp tác vừa cạnh tranh, đấu
tranh, kiềm chế, thỏa hiệp lẫn nhau, tác động mạnh đến cục diện thế giới và các
khu vực. Vì thế, quán triệt, vận dụng đúng đắn quan điểm đối tác, đối tượng của
Đảng rất cần thiết, góp phần đưa Nghị quyết vào cuộc sống.
Nhận diện đối tác
Đảng ta luôn khẳng định, Việt Nam “là bạn, là đối tác tin cậy và thành
viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế” để “bảo đảm lợi ích tối cao của
quốc gia - dân tộc, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế,
bình đẳng và cùng có lợi, thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự
chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển; đa dạng hoá, đa phương hoá trong quan hệ
đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế”. Theo đó: “Những ai tôn trọng
độc lập, chủ quyền, thiết lập và mở rộng quan hệ hữu nghị, hợp tác bình đẳng,
cùng có lợi với Việt Nam đều là đối tác”. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội
nhập quốc tế hiện nay, không quốc gia nào có thể tự mình phát triển nếu không
tham gia vào quá trình hội nhập, liên kết, vì những giá trị phát triển chung của
nhân loại ngày càng được phổ biến, chia sẻ trên toàn cầu. Đặc biệt là về kinh
tế, các chuỗi cung ứng giá trị hàng hóa đang hình thành thì không một quốc gia
đơn lẻ nào có thể đảm đương được tất cả. Quốc gia nào sớm tham gia vào chuỗi
cung ứng giá trị đó sẽ sớm được hưởng lợi và có đối tác.
Đối tác có thể hiểu là thuật ngữ chỉ mối quan hệ cộng tác, hợp tác,
liên kết, phối hợp với nhau giữa hai hay nhiều bên để cùng hành động, hỗ trợ
lẫn nhau thực hiện mục tiêu chung hay tương đồng của các bên. Đối tác có thể
phân thành nhiều cấp độ khác nhau: quan hệ đặc biệt, chiến lược toàn diện,
chiến lược và chiến lược trong một số lĩnh vực cụ thể, toàn diện, hữu nghị… Đảng
ta xác định, con đường phát triển của Việt Nam là phải tham gia hội nhập khu
vực và quốc tế, là bạn và làm bạn với các nước, các tổ chức quốc tế để cùng
chia sẻ, hợp tác. Qua đó, vừa giành lợi ích chính đáng cho quốc gia, vừa tránh
những thua thiệt về lợi ích và tranh thủ kinh nghiệm, bài học, vốn đầu tư và
những giá trị tiến bộ của nhân loại. Đến nay, Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao
với 191/193 quốc gia thành viên Liên Hợp quốc; có quan hệ thương mại với gần
230 quốc gia và vùng lãnh thổ; là thành viên tích cực của trên 70 tổ chức khu
vực và quốc tế. Chúng ta đã có hơn 100 cơ quan đại diện tại các quốc gia và
vùng lãnh thổ ở các châu lục.
Xác định rõ đối tượng
Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI của Đảng khẳng định: “Bất kỳ thế lực
nào có âm mưu và hành động chống phá mục tiêu của nước ta trong sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc đều là đối tượng của chúng ta”. Đó là những âm mưu, hành
động gây chiến tranh xâm lược; “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ chế độ;
xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, lợi ích quốc gia,
dân tộc của Việt Nam bằng phương thức vũ trang hoặc phi vũ trang, cả từ bên
ngoài và bên trong. Vì thế, đối tượng của cách mạng Việt Nam được xác định là,
những thế lực có âm mưu và hành động chống phá nước ta trong sự nghiệp xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc. Qua thực tiễn có thể nhận diện và phân ra hai dạng chủ yếu: (1)
Những đối tượng đối lập về ý thức hệ, có âm mưu và hành động nhằm xóa bỏ chủ
nghĩa xã hội ở nước ta là chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch nói chung.
Về bản chất, các thế lực này hoàn toàn đối lập về hệ ý thức, tư tưởng, họ muốn
xóa bỏ nền tảng tư tưởng lý luận của Đảng ta là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh; xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, phủ nhận đường
lối, quan điểm của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước; các nguyên tắc
lãnh đạo của Đảng; lịch sử truyền thống, nền văn hóa dân tộc… Phương thức chống
đối là chiến lược “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ, kết hợp với nhiều loại
hình can thiệp bằng kinh tế, chính trị, ngoại giao, văn hóa; có thể cả bằng vũ
trang hoặc chiến tranh ủy nhiệm, trừng phạt. Mục tiêu chủ yếu là lật đổ chính
quyền, thiết lập chính thể mới chịu sự chi phối về lợi ích chiến lược. Tuy
không nhằm mục tiêu đánh chiếm đất đai, xâm phạm chủ quyền lãnh thổ, nhưng có
thể tạo cớ cho các thế lực thù địch đưa nước ta vào thế đối đầu và viện cớ
“trách nhiệm bảo vệ” để đưa đồng minh chiến tranh can thiệp, lật đổ và xâm
lược. (2) Đối tượng thuộc các lực lượng dân tộc hẹp hòi, có ý đồ bành trướng,
tranh chấp chủ quyền lãnh thổ. Tuy cùng có ý thức hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa,
cùng con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, đấu tranh để bảo vệ xã hội xã hội chủ
nghĩa, nhưng do lợi ích dân tộc hẹp hòi, họ có chủ trương và hành động xâm phạm
chủ quyền, quyền chủ quyền lãnh thổ của nước ta, ở cấp độ cao hơn có thể dẫn
đến xung đột vũ trang và chiến tranh biên giới trên biển, trên bộ và trên
không. Một số nước có thể bị các nước lớn thao túng, có âm mưu và hành động
chống phá nước ta. Trong điều kiện bình thường, họ là những đối tác tốt nhưng
trong điều kiện phức tạp, có thể bị kích động, lôi kéo, thao túng, can thiệp,
chống lại chúng ta. Trong đó, có thể có một số nước vốn có quan hệ hữu nghị
truyền thống cũng trở thành đối tượng.
Trong bối cảnh quốc tế hiện nay, các đối tượng không lộ rõ tính chất
thù địch mà thường giấu dưới hình thức đối tác. Do đó, cần phân biệt rõ mức độ
của 2 đối tượng trên. Đối tượng thứ nhất luôn luôn âm mưu xóa bỏ chế độ xã hội
chủ nghĩa ở nước ta, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam mặc dù
bên ngoài đang là đối tác tích cực. Đối tượng thứ hai luôn tìm cách xâm lấn
lãnh thổ, lợi dụng là đối tác để tìm cách chi phối ta. Như vậy, đối tượng thứ
nhất là nguy hiểm, lâu dài mà ta phải cảnh giác và hợp tác; đối tượng thứ hai
là không thể xem thường mà ta phải hợp tác và cảnh giác. Khi xử lý, đòi hỏi
phải, khôn khéo, mềm dẻo, kiên trì xây dựng lòng tin chiến lược, phát huy những
mặt tương đồng, tranh thủ tối đa mặt đối tác cùng tồn tại, phát triển hòa bình;
từng bước thu hẹp những bất đồng trên cơ sở luật pháp quốc tế, bình đẳng, tôn
trọng lợi ích của nhau. Nghiên cứu kỹ đối tượng, có biện pháp phòng ngừa để
tránh sai lầm trong xử lý một số tình huống ở cấp chiến lược, không để rơi vào
thế bị động, đối đầu. Về phương thức, đòi hỏi phải phân tích, đánh giá chính
xác, sâu sắc, cụ thể để có chủ trương, biện pháp chiến lược đúng đắn, xây dựng
tình đoàn kết, hữu nghị bền vững giữa nhân dân các dân tộc, phát huy tối đa mặt
đối tác để tăng cường hợp tác, phát triển, phòng, chống sự chuyển hóa đối tác
thành đối tượng, gây bất lợi cho ta. Vì thế, đối tượng là thuật ngữ chỉ mối
quan hệ đối kháng, đối chọi, chống đối, thù địch... gây bất lợi cho việc bảo
đảm lợi ích của các bên tham gia vào hoạt động nào đó. Đối tượng cũng có những
quy mô, phạm vi cấp độ khác nhau. Đối tượng của toàn nhân loại, của mỗi quốc
gia, trong mỗi lĩnh vực; trong mỗi thời gian, địa điểm với những quan điểm,
động thái cụ thể khác nhau. Xử lý chính xác, khoa học là đòi hỏi trong hoạt
động thực tiễn, nhất là trong quan hệ đối ngoại trong thời kỳ mới.
Nắm vững quan điểm, xử lý linh hoạt
Trong thời đại toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế ngày càng sâu, rộng và
toàn diện hơn; lợi ích của mỗi chủ thể đan xen nhau, vấn đề lợi ích mang tính
toàn cầu ngày càng gia tăng. Vì thế, cần hiểu rõ mối quan hệ biện chứng linh
hoạt giữa đối tác và đối tượng: trong một chủ thể có thể lúc này là đối tác,
lúc khác lại là đối tượng, trong điều kiện nhất định chúng lại có thể chuyển
hóa lẫn nhau. Sự chuyển hóa còn có thể diễn ra trong cùng một chủ thể, trong
các điều kiện khác nhau cả hai mặt đối tác, đối tượng song trùng tồn tại.
Trong lĩnh vực an ninh, quốc phòng, Đảng ta xác định những lực lượng
chống phá mục tiêu của cách mạng nước ta; tiến hành chiến tranh xâm lược; “Diễn
biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ chế độ; xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống
nhất, toàn vẹn lãnh thổ, lợi ích quốc gia, dân tộc của Việt Nam đều là đối
tượng tác chiến của Quân đội ta. Có thể phân thành các nhóm đối tượng tác chiến
chủ yếu: (1) Các thế lực có âm mưu và hành động tiến hành chiến tranh xâm lược
nước ta dưới bất kỳ hình thức nàođều là đối tượng tác chiến của các lực lượng
vũ trang Việt Nam. Đối tượng này có sự chuẩn bị, tiến hành chiến tranh dưới mọi
hình thức; xúc tiến liên minh, liên kết tập hợp lực lượng tiến công ta bằng vũ
lực, hoặc những hoạt động tiền an ninh, bao gồm cả các hoạt động phi vũ trang. (2)
Các thế lực có âm mưu và hành động gây bạo loạn lật đổ, bạo loạn vũ trang ở
nước ta, hoặc phối hợp cả hai hành động. Đối tượng này sử dụng “Diễn biến hòa
bình”, thực hiện các hoạt động nhằm “phi chính trị hóa” công an, quân đội thúc
đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Khi có điều kiện, thời cơ, nhất là lợi
dụng ta sơ hở trong xử lý các tình huống chiến lược, sẽ kích động, gây bạo loạn
lật đổ, xung đột vũ trang hoặc chiến tranh, bao gồm cả chiến tranh ủy nhiệm,
chiến tranh thông tin, chiến tranh mạng… (3) Các thế lực có âm mưu và hành động
xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, xâm
phạm lợi ích quốc gia, dân tộc bằng phương thức vũ trang và phi vũ trang, kể cả
từ bên trong và bên ngoài. Đối tượng thực hiện ý đồ tranh đoạt chủ quyền lãnh
thổ bằng các hoạt động xâm lấn biên giới, biển, đảo thuộc chủ quyền lãnh thổ;
tìm cách chi phối chính sách đối nội, đối ngoại, buộc ta phải nhượng bộ về chủ
quyền, lợi ích quốc gia. Khi có thời cơ, có thể gây xung đột vũ trang, chiến
tranh chiếm giữ lãnh thổ, chiếm đoạt tài nguyên, nhất là trên các vùng biển đảo
Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.
Tuy nhiên, trong tình hình diễn biến nhanh chóng và phức tạp hiện nay,
cần có cách nhìn biện chứng: Trong mỗi đối tượng vẫn có thể có mặt cần tranh
thủ, hợp tác; trong mỗi đối tác có thể có mặt mâu thuẫn với lợi ích của ta cần
phải đấu tranh. Một trong những thành tựu quan trọng của Đảng ta trong công
cuộc đổi mới là: Nhận thức về đối tác, đối tượng, quan hệ đối tác, đối tượng có
bước phát triển mang tính đột phá, có cách nhìn biện chứng; chuyển từ tư duy
bạn, thù sang tư duy đối tác, đối tượng trên cơ sở lợi ích quốc gia - dân tộc;
thấy rõ sự đan xen, chuyển hóa giữa đối tượng, đối tác; xác định lấy đối tác
làm cơ sở để thiết lập quan hệ quốc tế rộng rãi; đồng thời đấu tranh với đối
tượng, với mặt là đối tượng. Nhận thức về đối ngoại an ninh, quốc phòng và hội
nhập quốc tế về quốc phòng, an ninh có sự phát triển.
Vì thế, khi xử lý các vấn đề trong quan hệ với đối tác, đối tượng, cần
chủ động, tranh thủ khai thác những mặt tích cực, hợp tác cùng phát triển;
trong quá trình cạnh tranh, thậm chí đấu tranh với mỗi đối tác cũng cần quan
tâm tới những mặt mâu thuẫn nảy sinh tác động đến lợi ích của các bên. Do đó,
một số vấn đề cần phải quan tâm như mở rộng quan hệ hợp tác, song nêu cao tinh
thần cảnh giác, phát hiện các mâu thuẫn để đấu tranh; tranh thủ mọi cơ hội tìm
hiểu, tạo lòng tin chiến lược để đi đến “tôn trọng độc lập, chủ quyền” của
nhau, mở rộng hợp tác bình đẳng cùng có lợi. Tránh nhìn nhận, đánh giá một cách
phiến diện, máy móc về đối tác, đối tượng; xem đối tác chỉ để hợp tác, đối
tượng chỉ là để cô lập, đấu tranh.
Một số giải pháp
Tích cực
tuyên truyền, giáo dục quan điểm của Đảng ta về đối tác, đối tượng. Làm
tốt công tác tuyên truyền vận độngquần chúng nhân dân, kịp thời định hướng tư
tưởng, dư luận, không để kẻ xấu lợi dụng xuyên tạc kích động. Chấp hành nghiêm
kỷ luật phát ngôn, không để lộ, lọt thông tin bí mật quốc gia; làm rõ những nội
dung, biện pháp chỉ đạo, triển khai thực hiện, nhất là công tác giáo dục chính
trị, quản lý, rèn luyện kỷ luật, bảo vệ chính trị nội bộ. Tích cực học tập nắm chắc
nội dung quan điểm của Đảng về xác định đối tác, đối tượng; xác định đúng đối
tượng tác chiến của các lực lượng vũ trang trong tình hình mới. Với
phương châm chỉ đạo là: kiên định về mục tiêu, nguyên tắc chiến lược; linh
hoạt, mềm dẻo về sách lược. Kiên trì giải quyết tranh chấp, mâu thuẫn bằng biện
pháp hòa bình trên cơ sở bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc, phù hợp với luật
pháp quốc tế; có đối sách phù hợp với từng đối tượng, từng tình huống. Kết
hợp chặt chẽ giữa phương thức đấu tranh phi vũ trang với đấu tranh vũ trang khi
cần thiết để “không bị động bất ngờ”; kết hợp xây dựng với bảo vệ, lấy xây dựng
để bảo vệ; nhấn mạnh phương thức “phi vũ trang”, bảo vệ Tổ quốc từ xa, đấu
tranh chống “Diễn biến hòa bình” và phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển
hóa” trong nội bộ; cụ thể hóa quan điểm chủ động bảo vệ Tổ quốc từ thời bình,
giữ nước từ lúc nước chưa nguy; phát triển, hoàn thiện quan điểm “tự bảo vệ” trong
điều kiện mới. Biết vận dụng vào phân tích, nhận diện đối tượng tác chiến của
lực lượng vũ trang trong tình hình hiện nay. Nắm chắc tình hình, nhiệm vụ cách
mạng, nhiệm vụ an ninh, quân sự, quốc phòng; nhận rõ bản chất, âm mưu, thủ đoạn
của các thế lực thù địch chống phá cách mạng Việt Nam; nêu cao tinh thần cảnh
giác cách mạng, sẵn sàng chiến đấu và chiến thắng trong mọi tình huống. Đấu
tranh chống các phần tử cơ hội chính trị, thoái hoá, biến chất tuyên truyền
xuyên tạc quan điểm, chủ trương của Đảng về bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Kiên quyết đấu
tranh phê phán quan điểm, nhận thức sai trái về đối tác, đối tượng. Chủ
động phát hiện, kiên quyết đấu tranh làm thất bại chiến lược “diễn biến hoà
bình; “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”; chủ động phát hiện những biểu hiện sai
trái, mơ hồ, mất cảnh giác; đấu tranh ngăn chặn biểu hiện suy thoái về tư
tưởng, chính trị, đạo đức; những việc làm tráiquan điểm, đường lối của Đảng,
chính sách, pháp luật của Nhà nước, kỷ luật của quân đội, công an. Trước những sự
kiện phức tạp, nhạy cảm, nhất là diễn biến tình hình trên Biển Đông… phải bình
tĩnh, tỉnh táo, không tự ý tuyên truyền nội dung sai trái, kích động hận thù
dân tộc. Chủ động xây dựng “thế trận lòng dân”, tạo nền tảng vững chắc xây dựng
nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân. Thực hiện giữ nước từ khi nước
chưa nguy; có kế sách ngăn ngừa, loại bỏ các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ
xa, chủ động phòng ngừa, phát hiện sớm và triệt tiêu các nhân tố bất lợi, nhất
là các nhân tố bên trong có thể gây ra các đột biến… như Nghị quyết Trung ương
8 khóa XI và Văn kiện Đại hội XIII của Đảng./.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét