Thứ Năm, 13 tháng 4, 2023

 

THƯỢNG TÔN PHÁP LUẬT, KHÔNG CÓ VÙNG CẤM, KHÔNG CÓ NGOẠI LỆ

Đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực nhưng phải bảo vệ được những cán bộ, đảng viên dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung theo tinh thần Kết luận số 14-KL/TW ngày 22/9/2021 của Bộ Chính trị (Kết luận 14) Theo đó, Ban Chỉ đạo cấp tỉnh, thành phố cần phải có những việc làm cụ thể để hiện thực hoá chủ trương này, trong đó: 1) Cần thể chế hóa Kết luận 14 thành pháp luật để tạo khung khổ pháp lý trong triển khai thực hiện. 2) Cấp ủy, bí thư cấp ủy ở địa phương, cơ sở phải cụ thể hóa thành cơ chế, quy định phù hợp với tình hình địa phương để khuyến khích, bảo vệ cán bộ, đảng viên, người dân dám nghĩ, dám làm, dám đột phá vì lợi ích chung. 3) Khi có vụ việc xảy ra, cấp ủy phải thành lập Hội đồng gồm những thành viên có phẩm chất, có trình độ, khách quan, công tâm để xác định động cơ, tinh thần trách nhiệm của cán bộ, đảng viên trong phản ánh, tố cáo tham nhũng, tiêu cực; đồng thời, đánh giá xem có hay không việc lợi dụng chủ trương theo Kết luận 14 để bao che cho tham nhũng, tiêu cực…

Để thực hiện đúng với tinh thần chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: trong công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực phải thượng tôn pháp luật, không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai, và để cho “trên dưới đồng lòng, dọc ngang thông suốt”, cần tiếp tục thực hiện một cách quyết liệt, kiên trì, đồng bộ những giải pháp mà Đảng ta đã xác định: 

Một là, có các cơ chế thưởng phạt phân minhCấp ủy, Ban Chỉ đạo và bí thư cấp ủy (đồng thời là Trưởng Ban Chỉ đạo) ở địa phương nào thực hiện tốt, có chất lượng, hiệu quả công tác phòng chống tham nhũng, tiêu cực thì phải kịp thời khen thưởng, tôn vinh xứng đáng. Ngược lại, địa phương nào làm không tốt, làm chiếu lệ, hình thức, thậm chí bao che thì xử lý kỷ luật thật nghiêm cấp ủy, nhất là bí thư cấp ủy. 

Hai là, quyết liệt, đồng bộ giữa xây và chống. Giữa xây dựng, hoàn thiện thể chế để bịt kín những kẽ hở, lỗ hổng với thực hiện các giải pháp phòng ngừa tham nhũng; giữa tăng cường kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán để phát hiện tham nhũng, tiêu cực với điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án; giữa kỷ luật đảng với kỷ luật hành chính và xử lý hình sự; quyết liệt, đồng bộ từ Trung ương đến địa phương, cơ sở...

Ba là, cùng với xử lý nghiêm minh các sai phạm theo đúng quan điểm “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể đó là ai”, phải kịp thời thay thế những cán bộ bị kỷ luật, năng lực hạn chế, uy tín thấp theo phương châm“có vào, có ra, có lên, có xuống”.             

Bốn là, Ban Chỉ đạo cấp tỉnh, thành phố tập trung chỉ đạo các cơ quan chức năng ở địa phương tăng cường phối hợp, thực hiện nghiêm cơ chế chỉ đạo của Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương trong phát hiện, xử lý tham nhũng, tiêu cực qua hoạt động kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án; chỉ đạo xử lý dứt điểm những vụ án, vụ việc tham nhũng, tiêu cực đã đưa vào diện theo dõi, chỉ đạo; kiên quyết khắc phục tệ “tham nhũng vặt”; xử lý nghiêm minh, đồng bộ giữa kỷ luật đảng với xử lý kỷ luật hành chính và xử lý hình sự đối với các hành vi tham nhũng, tiêu cực theo đúng nguyên tắc “Tích cực, khẩn trương, rõ đến đâu xử lý đến đó, không phân biệt người có hành vi tham nhũng là ai, đã có dấu hiệu tội phạm phải khởi tố điều tra và đã kết luận có tội thì phải truy tố, xét xử”.

Bàn Luận

 

 TRÊN DƯỚI ĐỒNG LÒNG, DỌC NGANG THÔNG SUỐT THAM NHŨNG BỊ ĐẨY LÙI

Công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực chỉ thực sựthành công khi “trên dưới đồng lòng, dọc ngang thông suốt”. Tuy nhiên, để “trên dưới đồng lòng, dọc ngang thông suốt” thì không chỉ Trung ương mà địa phương cũng phải tích cực vào cuộc. Nhưng thực tế cho thấy, một thời gian dài, ở không ít nơi vẫn còn tình trạng “trên nóng, dưới lạnh”. 

“Trên nóng, dưới lạnh” là dù cho Trung ương đã rất rốt ráo, cương quyết thực hiện, nhưng ở địa phương vẫn “lặng như tờ”, không chuyển biến. Báo cáo của không ítcấp ủy địa phương về phòng, chống tham nhũng thường có chung cụm từ “không phát hiện được vụ án tham nhũng nào ở địa phương”. Nhưng thực tế có phải như vậy?

Thực tế “dưới lạnh” ở các địa phương thời gian qua chủ yếu xuất phát từ thực trạng: còn nể nang, né tránh; chưa có thái độ và nhận thức đúng đắn; bản lĩnh, ý chí và trách nhiệm của cấp ủy và những người đứng đầu chưa cao; sự vào cuộc chưa thực sự quyết liệt của cấp ủy, thường vụ cấp ủy và đặc biệt bí thư cấp ủy... 

Không đâu nắm rõ tình hình địa phương hơn chính cấp ủy và những người đứng đầu cấp uỷ tại cơ sở, địa phương đó. Thế nhưng, nhiều vụ việc tham nhũng, tiêu cực lại không được phát hiện từ đây, mà thường là từ Trung ương, từ tai mắt của nhân dân, từ các cơ quan truyền thông... 

Có nhiều nguyên nhân, cả khách quan và chủ quan  dẫn đến tình trạng “dưới lạnh”, trong đó có những nguyên nhân cơ bản: Một là, cấp ủy, nhất là bí thư cấp ủy còn e dè, nể nang, né tránh trách nhiệm, đùn đẩy lên Trung ương... Hai là, các thành viên cấp ủy, nhất là bí thư cấp ủy ít hay nhiều “tay cũng nhúng chàm” nên không dám xử lý ai; hoặc là thực hiện theo phương châm “dĩ hòa vi quý”... Ba là, sức chiến đấu của cấp ủy, tổ chức đảng yếu kém, còn hình thức trong thực hiện nguyên tắc tự phê bình và phê bình chỉ, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không dám đấu tranh…

Để khắc phục thực trạng này, Ban chấp hành Trung ương đã quyết định thành lập Ban Chỉ đạo phòng chống tham nhũng, tiêu cực cấp tỉnh (Ban Chỉ đạo); Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ban hành Quy định số 67-QĐ/TW ngày 2/6/2022 về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy, chế độ làm việc, quan hệ công tác của Ban Chỉ đạo các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. 

Đến nay, 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã thành lập Ban Chỉ đạo. Tuy nhiên, thời gian qua, sự vào cuộc của các Ban Chỉ đạo chưa đồng đều: có tỉnh đã vào cuộc quyết liệt; có tỉnh mới vào cuộc nhưng chưa quyết liệt; có tỉnh còn đang “khởi động”...

Gần đây, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở một số địa phương đã có những dấu hiệu tích cực và sự chuyển biến đáng kể, khắc phục phần nào tình trạng “trên nóng, dưới lạnh”. Theo thống kê chưa đẩy đủ, đã có những tỉnh, thành phố phát hiện và xử lý kỷ luật, khởi tố nhiều vụ án và bị can liên quan đến tham nhũng, tiêu cực như: Khánh Hòa, Thanh Hóa, Bắc Ninh, Nam Định, Phú Thọ... Đây là những dấu hiệu cho thấy, nhiều cấp uỷ Đảng địa phương đã và đang vào cuộc ngày càng quyết liệt hơn, thực hiện đúng tinh thần mà Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhiều lần nhấn mạnh: “Tiền hô hậu ủng”, “Nhất hô bá ứng”, “Trên dưới đồng lòng”, “Dọc ngang thông suốt”, để cùng Trung ương thực hiện có chất lượng, hiệu quả cao hơn trong công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Điều này xuất phát từ các “động lực thúc đẩy”sau: Thứ nhất, cuộc chiến phòng, chống tham nhũng, tiêu cực được sự thống nhất trong toàn Đảng, được nhân dân đồng tình ủng hộ cao; đã trở thành xu thế tất yếu, là dòng thác mạnh mẽ… để các tỉnh ủy, thành ủy không thể đứng ngoài cuộc, không thể thờ ơ, “dưới lạnh” kéo dài. Thứ hai, theo Quy định của Trung ương: cấp ủy, nhất là bí thư cấp ủy phải nêu cao trách nhiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở địa phương; kết quả phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là thước đo chất lượng, hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, bí thư cấp ủy. Thứ ba, sẽ xử lý kỷ luật cấp ủy, nhất là bí thư cấp ủy, nếu để địa phương mình phụ trách, xảy ra tham nhũng, tiêu cực. Thứ tư, các Ban chỉ đạo của tỉnh ủy, thành ủy phải hoạt động theo đúng Quy định số 67-QĐ/TW ngày 2/6/2022 của Ban Bí thư. Thứ năm, trước dư luận và đòi hỏi chính đáng của cán bộ, đảng viên và nhân dân; trước sự vào cuộc mạnh mẽ của báo chí - truyền thông... các địa phương không thể không khắc phục tình trạng “dưới lạnh” để chuyển sang trạng thái “ấm” và “nóng” lên...

Có thể nói, công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở địa phương thường khó khăn hơn, gặp không ít rào cản “nhạy cảm”, xuất phát từ cơ chế kiểm soát quyền lực, từ mối quan hệ dòng họ, thân tộc, thân hữu... Điều này đặt ra và đòi hỏi cấp ủy, nhất là bí thư cấp ủy phải thật sự bản lĩnh, khách quan, công tâm, đặt, vì mục tiêu chung... Ngoài những cơ chế cần thiết cho công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, để loại bỏ những tâm lý, rào cản ở các địa phương, thì cần phải: 1) Thực hiện bí thư cấp ủy không phải là người địa phương ở tất cả 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương để hạn chế các mối quan hệ dòng họ, thân tộc. 2) Kịp thời thay thế ngay bí thư cấp ủy ở địa phương nào xảy ra tham nhũng, tiêu cực mà cấp ủy, bí thư cấp ủy không xử lý theo thẩm quyền, trách nhiệm. 3) Phải tạo thành phong trào rộng khắp ở địa phương; sự vào cuộc mạnh mẽ của cả hệ thống chính trị; có cơ chế hữu hiệu để cán bộ, đảng viên và nhân dân địa phương kiên quyết, kiên trì công tác phòng chống tham nhũng, tiêu cực. 4) Huy động “tai mắt” phát hiện, phản ánh của toàn xã hội và các cơ quan báo chí - truyền thông...

Sự Thật


 QUYẾT TÂM CAO, NỖ LỰC LỚN, NÓI ĐI ĐÔI VỚI LÀM

Ngày 1/2/2013, Bộ Chính trị ban hành Quyết định số 162-QĐ/TW thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng (Ban Chỉ đạo Trung ương) do Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng làm Trưởng Ban chỉ đạo.

Nhìn lại chặng đường 10 năm kể từ khi thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương trực thuộc Bộ Chính trị đến nay, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định, đấu tranh phòng, chống tham nhũng thực sự đã “trở thành phong trào, xu thế không thể đảo ngược” và “thu được nhiều kết quả quan trọng”, “không phải như một số ý kiến cho rằng, nếu quá tập trung vào chống tham nhũng sẽ làm “nhụt chí”, “chùn bước” những người dám nghĩ, dám làm, làm “chậm” sự phát triển đất nước. Ngược lại, chính nhờ làm tốt công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đẩy mạnh đấu tranh phòng chống tham nhũng, tiêu cực đã góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị, tăng cường quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Đặc biệt là góp phần lấy lại và củng cố niềm tin của nhân dân, bác bỏ mọi luận điệu sai trái của các thế lực xấu, thù địch, chống đối cho rằng đấu tranh phòng, chống tham nhũng, xử lý cán bộ, đảng viên sai phạm là “đấu đá nội bộ”, “phe cánh”. “Đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng và xây dựng, làm trong sạch Đảng và bộ máy Nhà nước chỉ làm “chùn bước” những ai có động cơ không trong sáng, đã trót “nhúng chàm” và những người không nắm vững chủ trương, chính sách của Đảng, thiếu bản lĩnh, thiếu kiến thức và kinh nghiệm”.

Mười năm qua, công tác đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cựcđược thực hiệnliên tục, xử rất nhiều vụ, trong đó có cả Ủyviên Trung ương Đảng, Ủy viên Bộ Chính trị vi phạm bị truy tố, bị thu hồi tài sản với số tiền lên đến hàng triệu USD. Các cơ quan tiến hành tố tụng cả nước đã khởi tố, điều tra 2.657 vụ án tham nhũng, 5.841 bị can; truy tố 2.628 vụ, 6.199 bị can. Đặc biệt, tính từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII, đã khởi tố, điều tra khoảng 4.200 vụ, 7.572 bị can về các tội tham nhũng, lợi dụng chức vụ, gây thiệt hại về kinh tế, trong đó riêng các tội về tham nhũng đã có 455 vụ, 1.054 bị can bị khởi tố, điều tra (Báo cáo số 06-BC/TW ngày 23/7/2022 của Bộ Chính trị). 

Những con số trên cho thấy quyết tâm rất cao, nỗ lực rất lớn, nói đi đôi với làm của Đảng, Nhà nước trong việc phát hiện, xử lý tham nhũng, tiêu cực, đưa nhiệm vụ đặc biệt quan trọng này không chỉ là tuyên ngôn chính trị mà đã trở thành hành động thực tế…Đồng thời là minh chứng khẳng định:việc thành lập Ban Chỉ đạoTrung ương trực thuộc Bộ Chính trị, do Tổng Bí thư làm Trưởng ban là hoàn toàn đúng đắn, đáp ứng đúng nguyện vọng của nhân dân.

Những thành quả nổi bật trong công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực 10 năm qua nhờ vào những yếu tố: Một là, từ nhiệm kỳ Đại hội XI đến nay, Đảng ta có nhiều nghị quyết, quy chế, quy định đúng đắn, chặt chẽ về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng nói chung và đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực nói riêng; Hai là, có sự thống nhất cao trong Đảng và sự đồng thuận trong xã hội; Ba là, có sự chỉ đạo quyết liệt của Ban Chỉ đạo, đặc biệt là đồng chí Tổng Bí thư, Trưởng ban; Bốn là, có sự vào cuộc của các cơ quan chức năng: Ban Nội chính Trung ương, Ủy ban kiểm tra Trung ương, Bộ Công an…

Có thể khẳng định, công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực được Đảng và Nhà nước lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện tích cực từ nhiều năm nay, nhưng thời gian gần đây càng được đẩy mạnh, quyết liệt hơn bao giờ hết, đạt nhiều kết quả cụ thể, rõ rệt. Nhiều vụ án tham nhũng, kinh tế nghiêm trọng, phức tạp đã được xử lý rất kiên quyết, nghiêm minh, theo đúng quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước, kể cả đối với cán bộ lãnh đạo cao cấp của Đảng, của Nhà nước, tướng lĩnh, sĩ quan trong công an, quân đội, cán bộ đương chức và cán bộ đã nghỉ hưu, theo đúng tinh thần: không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai, bởi các lý do: 1) Đảng ta có quyết tâm chính trị rất cao nhằm xây dựng Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh, xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ của nhân dân; 2) Nhân dân đồng tình, ủng hộ; 3) Cả hệ thống chính trị vào cuộc - tiền hô hậu ủng, trên dưới đồng lòng, dọc ngang thông suốt...

Đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực có thể coi là bước đột phá trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong bộ máy nhà nước và của toàn hệ thống chính trị, góp phần quan trọng củng cố lòng tin của các tầng lớp nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng. Theo đó: 1) Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng phải kết hợp giữa xây và chống, xây là chính, chống để xây. 2) Phải siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng, trong bộ máy nhà nước và toàn hệ thống chính trị làm cho Đảng, Nhà nước và cả hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. 3) Đảng ta quyết tâm làm trong sạch đội ngũ cán bộ, nhất cán bộ cấp chiến lược đủ phẩm chất, đủ năng lực, đủ uy tín, ngang tầm nhiệm vụ. 4) Củng cố, tăng cường lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước.

Theo số liệu điều tra dư luận xã hội mới đây do Ban Tuyên giáo Trung ương thực hiện, có 93% số người được hỏi bày tỏ tin tưởng vào cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng và Nhà nước do Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng làm Trưởng Ban Chỉ đạo. Nhiều ý kiến cho rằng, kết quả to lớn đạt được trong 10 năm qua không chỉ dừng lại ở những con số (hàng trăm vụ án, vụ việc được kiểm tra, thanh tra, điều tra, xử lý; hàng ngàn bị cáo bị truy tố, xét xử nghiêm minh; hàng ngàn cán bộ, đảng viên, kể cả cán bộ cao cấp bị xử lý kỷ luật nghiêm khắc; hàng chục ngàn tỷ đồng, hàng triệu m2 đất được thu hồi về cho Nhà nước) mà còn có tính căn cốt, nền tảng, giá trị hơn tiền bạc - đó chính là niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nêu: “Cán bộ, đảng viên, trước hết là người lãnh đạo phải biết trọng liêm sỉ, giữ danh dự, biết xấu hổ khi bản thân và người thân có hành vi tham nhũng, tiêu cực”. Thực tế cho thấy, trong thời gian qua, đã có không ít lãnh đạo, cán bộ cấp cao xin từ chức - đây cũng là một trong những thành quả từ công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực mà Đảng và Nhà nước ta đã thực hiện suốt 10 năm qua. Nhưng dư luận cũng “băn khoăn” là, trong số những cán bộ xin từ chức, ai là người thực sự tự nguyện nêu gương từ đầu, hay chỉ đến khi có đủ bằng chứng, “việc chẳng đừng” mới chịu “xin từ chức”. Và, vẫn còn một số cán bộ dù đã bị kỷ luật cảnh cáo, nhưng chưa thấy từ chức hay cơ quan có thẩm quyền miễn nhiệm theo quy định?

Hoằng Tháo


 THAM NHŨNG - NGUY CƠ ĐE DỌA SỰ TỒN VONG CỦA CHẾ ĐỘ

Tại cuộc Họp báo thông tin về kết quả Đại hội XIII, ngày 1/2/2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh, chống tham nhũng là vấn đề rất lớn, không chỉ ở ta mà nước ngoài cũng có; không phải thời nay mà thời nào cũng có.

Các chủ thể tham nhũng thường là những người có chức vụ, quyền hạn. Họ lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn của mình để thu lợi bất chính cho mình, cho gia đình mình, cho “nhóm lợi ích” của mình. Điều đó cũng cho thấy,tham nhũng thường gắn liền với sự tha hóa quyền lực tại các cơ quan công quyền, có những quan hệ không bình thường giữa quan chức chính quyền (cả Trung ương và địa phương) với doanh nghiệp, hình thành chủ nghĩa tư bản thân hữu, doanh nghiệp sân sau...

Thực tế ở Việt Nam cho thấy, các hành vi tham nhũng diễn ra dưới nhiều dạng, nhiều hình thức, ngày càng tinh vi và khó phát hiện; xảy ra ở cả Trung ương và địa phương; xảy ra ở những chương trình, dự án lớn của quốc gia, trong lĩnh vực kinh tế, tài chính, ngân hàng, đầu tư, xây dựng cơ bản, quản lý đất đai, văn hoá, y tế, giáo dục... Tình trạng đáng buồn này xuất phát từ những nguyên nhâncơ bản: Thứ nhất, chủ nghĩa cá nhân chi phối mạnh, mặt trái của cơ chế thị trường tác động lớn, nhiều người chưa vượt lên được sức cám dỗ của đồng tiền, vật chất...; Thứ hai, nhiều cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện, sức đề kháng kém, vẫn bị các “nhóm lợi ích”, chủ nghĩa tư bản thân hữu lôi kéo…Thứ ba, nhiều cấp ủy, tổ chức Đảng chưa trong sạch, không vững mạnh, sức chiến đấu kém, đấu tranh phê bình, tự phê bình yếu…Thứ tư, công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ chưa đạt được như kỳ vọngThứ năm, khâu tổ chức thực hiện của các nghị quyết, kết luận, chỉ thị, quy định... của Đảng vẫn là khâu yếu, chưa thực sự đi vào cuộc sống…

Nếu nhiều tổ chức Đảng, nhiều cán bộ, đảng viên yếu kém, suy thoái về tư tưởng chính trị, tha hóa về đạo đức, không trong sạch, dẫn đến tham nhũng, tiêu cực; nếu nạn tham nhũng, tiêu cực tràn lan, nhân dân bất bình... sẽ là không chỉ đe dọa đến an ninh chính trị, trật tự an toàn của xã hội của đất nước, mà còn là nguy cơ rất lớn đe dọa sự tồn vong của Đảng, của chế độ. 

Quyết tâm phòng, chống tham nhũng, tiêu cực cũng là để thực hiện có hiệu quả, chất lượng mục tiêu xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ; nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; để Đảng xứng đáng với trọng trách lịch sử mà giai cấp, dân tộc, nhân dân giao phó...

Hoằng Tháo


 Kiên trì đấu tranh, đẩy lùi tình trạng đoàn kết xuôi chiều

Trong những năm qua, Đảng ta đã có nhiều chủ trương, giải pháp nhằm chấn chỉnh tình trạng đoàn kết xuôi chiều và dân chủ hình thức.

Hội nghị lần thứ 4 của các nhiệm kỳ Đại hội XI, XII và XIII của Đảng ta, Trung ương đều ra Nghị quyết về tiếp tục đổi mới, chỉnh đốn Đảng, trong đó trọng tâm là chống tham nhũng, tiêu cực. Hội nghị Trung ương 4 (khóa XIII) đánh giá rất cụ thể, rõ ràng về nguyên nhân, tác hại và những giải pháp khắc phục tình trạng “đoàn kết xuôi chiều, dân chủ hình thức”.

Quy định số 08-QĐi/TW ngày 25-10-2018 của Ban Chấp hành Trung ương đã yêu cầu cán bộ, đảng viên, trước hết là các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương phải “Nghiêm túc thực hành tự phê bình và phê bình; thấy đúng phải cương quyết bảo vệ, thấy sai phải quyết liệt đấu tranh; không tranh công đổ lỗi. Dũng cảm nhận khuyết điểm và trách nhiệm”.

Cụ thể hơn, Quy định số 37-QĐ/TW ngày 25-10-2021 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã bổ sung một số quy định mới về những điều đảng viên không được làm. Trong đó, điều thứ 3 quy định đảng viên “không thực hiện trách nhiệm nêu gương; chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, vụ lợi; “tư duy nhiệm kỳ”, đoàn kết xuôi chiều, dân chủ hình thức, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh; độc đoán, chuyên quyền, quan liêu, xa rời quần chúng”.

Mới đây là Quy định số 96-QĐ/TW ngày 2-2-2023 của Bộ Chính trị về việc lấy phiếu tín nhiệm đối với chức danh, chức vụ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị. Trong các tiêu chí để lấy phiếu tín nhiệm, quy định nêu cụ thể về việc đánh giá “ý thức tổ chức kỷ luật, việc chấp hành các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình”. Như vậy, những người dĩ hòa vi quý, né tránh đấu tranh sẽ không nhận được sự tín nhiệm của tập thể. 

Tuy nhiên, dù có bao nhiêu quy định, quy chế cũng không thể bao trùm lên tất thảy mọi hoạt động của Đảng và các cơ quan nhà nước, đoàn thể. Do vậy, không thể không nhắc một điều tưởng như đã quá quen thuộc, đó là, mỗi tổ chức đảng, đảng viên phải luôn nhận thức sâu sắc và hành động nhất quán theo Cương lĩnh, đường lối chính trị của Đảng. Mọi cán bộ, đảng viên phải có trách nhiệm đóng góp ý kiến, cùng tập thể xây dựng nghị quyết. Phải chống bằng được thói bàng quan, chiếu lệ trong sinh hoạt đảng. Mỗi cán bộ, đảng viên cần quan tâm đến tập thể, khiêm tốn, lắng nghe ý kiến, tôn trọng đồng chí, đồng nghiệp. Những điều này tưởng như ai cũng thuộc nhưng làm cho đúng, cho thực chất mới khó. Một danh nhân từng nói đại ý: Tôi từng nghĩ, người khác tôn trọng tôi là vì tôi xuất sắc. Dần dần tôi hiểu ra điều này, người khác tôn trọng tôi là vì họ rất xuất sắc.

Cần nhấn mạnh vai trò gương mẫu của người đứng đầu. Thủ trưởng phải công tâm, công bằng, thật sự là trung tâm, hạt nhân đoàn kết, quy tụ được người tài, người thẳng thắn, có ý kiến khác mình. Không có thắng lợi chung chung, thành tựu chung chung. Muốn tập thể giành thắng lợi thì mỗi cá nhân phải làm tốt công việc của mình, phải dám chịu trách nhiệm. Đã cùng nhau đẩy thuyền thì phải đẩy thật, đừng “dô hò” là chính. Được như thế chính là tẩy trừ chủ nghĩa cá nhân, vì “chủ nghĩa cá nhân là kẻ thù hung ác nhất” như Bác Hồ căn dặn.    

Bàn Luận


 Những hệ lụy tai hại khi đoàn kết xuôi chiều

Đoàn kết xuôi chiều, nể nang, né tránh do nhiều nguyên nhân, từ những ảnh hưởng của nếp nghĩ cũ, sợ rằng “sự thật mất lòng” nên không dám nói điều phải trái; từ trình độ, nhận thức không đồng đều trong một tập thể; từ môi trường công tác, làm việc. Có những nơi vì thủ trưởng gia trưởng, không muốn nghe những điều trái tai dẫn đến tình trạng dù có nhiều ý kiến nhưng vẫn là chủ kiến của cấp trên. Có thủ trưởng tỏ ra dân chủ, trong cuộc họp, ông nêu vấn đề và bảo: “Các đồng chí cứ tranh luận thoải mái”, nhưng người dự họp thừa biết tính ông, nếu tranh cãi thì trước sau cũng sẽ bị định kiến, trù dập. Khi có đại biểu cấp trên dự các buổi sinh hoạt phê bình, kiểm điểm, thì chuyện nội bộ luôn được giữ kín, “đẹp phô ra, xấu xa đậy lại”. Xem ra hai chữ “xuôi chiều” luôn có cái lý của nó, cái lý của phép thần thông biến tảng đá thành hột bấc. Lâu dần các sinh hoạt tập thể đều như một cái khuôn, toàn là ý kiến minh họa chủ tọa, theo kiểu “Mỗi ngày một cuộc giao ban/ Lại bàn những chuyện đã bàn hôm qua”(!).

Không phải đến bây giờ chúng ta mới đề cập tới những hệ lụy, những tác hại không nhỏ của đoàn kết xuôi chiều. Cách đây hơn 80 năm, trong tác phẩm “Tự chỉ trích” viết năm 1939, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ nêu rõ: “Nếu “đóng kín cửa bảo nhau, giữ cái vỏ thống nhất mà bề trong thì hổ lốn một cục, đầy rẫy bọn hoạt đầu, đó mới chính là để cho quân thù chửi rủa; hơn nữa, đó tỏ ra không phải một đảng tiền phong cách mạng, mà là một đảng hoạt đầu cải lương”(*). 

Gần đây, phát biểu tại Hội nghị cán bộ toàn quốc quán triệt, triển khai thực hiện Kết luận và Quy định của Ban Chấp hành Trung ương về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng tổ chức tại Hà Nội ngày 9-12-2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nêu rõ: “Mọi thái độ nể nang, né tránh, hữu khuynh, “ngậm miệng ăn tiền” hoặc cực đoan, muốn lợi dụng phê bình để đả kích người khác, gây rối nội bộ, đều là không đúng”.

Đoàn kết xuôi chiều, dân chủ hình thức là căn bệnh mãn tính, gây hại không kém gì so với mất đoàn kết nội bộ. Không ngại nói quá khi coi những người luôn nói theo hoặc giữ thái độ im lặng là đã suy thoái trong nhận thức và hành động. Tuy không gây nguy hiểm ngay, nhưng nó phá hoại sức mạnh của Đảng, sức mạnh của các tổ chức, cơ quan, đơn vị một cách thầm lặng. Nó là mảnh đất màu mỡ cho chủ nghĩa cơ hội tiếp tục phát triển. Nó khiến cho đúng-sai, phải-trái nhập nhòa. Nó khiến cho quy trình công tác cán bộ nhiều khi làm đúng nhưng kết quả cuối cùng là người được bổ nhiệm thì sai, làm nản lòng những người chân chính.

NMT


 Đoàn kết xuôi chiều thực chất là đoàn kết giả tạo

Gần đây, trong một cuộc hội thảo khoa học về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, có diễn giả đề nghị cần gọi đoàn kết xuôi chiều bằng đúng bản chất của nó là “đoàn kết giả tạo”. Cái sự “giả” có thể thấy ở những người không bao giờ đưa ra chính kiến rõ ràng, chuyên nói dựa ý kiến lãnh đạo, chuyên dẫn lời của những vị có “tầm ảnh hưởng” để nói ý đồ cá nhân. Ở nhiều nơi hiện nay tuy được xem là “đoàn kết” nhưng thực chất vẫn có tình trạng cán bộ, đảng viên, nhân viên cấp dưới rất ngần ngại khi phát biểu trung thực, thẳng thắn, sợ nêu chính kiến, sợ mất lòng cấp trên và nhiều nỗi sợ vô hình khác.

Thái độ khách quan, khoa học là khi luận chứng, giải thích về một vấn đề nào đó thì phải dùng sự thật để chứng minh. Sẽ không thuyết phục khi dùng quan điểm của người khác để chứng minh cho quan điểm của mình. Khi gọi đúng tên sự thật sẽ nhìn nhận, phân tích nó một cách đầy đủ, khoa học và có giải pháp khắc phục rốt ráo, triệt để hơn.

Trong loạt bài “Những việc cần làm ngay”, sau này trở thành một chuyên mục trọng tâm trên Báo Nhân Dân (từ số đầu ngày 25-5-1987 đến số cuối cùng ngày 29-9-1990), tác giả NVL (Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh) đã nói về tình trạng đoàn kết xuôi chiều là một sự “im lặng đáng sợ”. Đó là một trong những biểu hiện của căn bệnh hình thức kéo dài trong Đảng. Tác giả NVL viết: “Tính Đảng, tính nguyên tắc, tình thương yêu đồng chí đã bị thay thế bằng tính nể nang, thiếu thẳng thắn đấu tranh bảo vệ chân lý, bảo vệ việc đúng, người tốt”.

Tình trạng nể nang, thiếu thẳng thắn mặc dù được chỉ ra từ rất lâu rồi nhưng thật khó sửa. Qua các cuộc kiểm tra của các đoàn kiểm tra, giám sát từ Trung ương xuống cơ sở, hầu như cuộc nào cũng nói tới cái sự “mũ ni che tai” cho khỏi phiền đến mình. Không ít tổ chức đảng và người đứng đầu vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, không thực hiện nghiêm túc chế độ tự phê bình và phê bình, đội ngũ cán bộ, đảng viên thiếu tinh thần đấu tranh với những hành vi sai trái, vi phạm của đồng chí mình.

Đáng lưu ý, việc vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ-một nguyên tắc cơ bản của Đảng-lại thường có gốc rễ từ bệnh độc đoán, quan liêu, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh. Người viết bài này từng có dịp đi viết bài điều tra về tình trạng mất đoàn kết kéo dài ở một số địa phương. Khi tiếp xúc với các cán bộ đứng đầu cấp ủy, chính quyền, họ có chung một nhận xét, tình trạng mâu thuẫn nội bộ đến mức chia phe, chia nhóm “đánh” nhau thì dễ nhận biết, sinh hoạt phê bình tuy có căng thẳng nhưng khi sai phạm được làm rõ thì giải pháp cũng cụ thể hơn, chỉ cần xử lý kỷ luật, thay thế một vài vị trí chủ chốt, thế là yên ổn.

Đáng sợ nhất là tình trạng “mất đoàn kết ngầm”. Ở một cơ quan nọ, người có trách nhiệm về công tác nhân sự gặp riêng người cánh hẩu, dặn rằng: "Tôi thì không thể không bầu, nhưng các chú thì... tùy". Chữ “tùy” là “mật mã” vô cùng lợi hại. Để rồi trong cuộc họp người ta tâng bốc nhau lên tận mây xanh, nhưng ra ngoài thì chê bai, dựng chuyện, nói xấu nhau. Khi giới thiệu để lấy phiếu tín nhiệm quy hoạch, bổ nhiệm, họ không tiếc lời khen, nào là bằng cấp đầy mình, nào là chuyên môn giỏi giang, nhưng khi cầm lá phiếu thì chính họ “gạch rách cả giấy”. Ban lãnh đạo mười người thì cả mười đều khen, nhưng phiếu giới thiệu thì không quá bán. Thế là phát sinh những quả tù mù có “khói độc”.

BĐT


 Giáo dục thanh niên không thể cứ hô hào chung chung

Ở phường 14, quận Tân Bình, TP Hồ Chí Minh, ông Nguyễn Văn Thôn được coi là một trong những người rất có uy tín. Ông là Anh hùng LLVT nhân dân, từng hoạt động tình báo trong lòng địch. Sau khi thực hiện thành công phi vụ cài bom cho nổ tung kho vũ khí lớn của địch ở sân bay Biên Hòa năm 1972, ông bị chỉ điểm và bị địch bắt. Trong thời gian bị giam cầm tại khám Chí Hòa (Sài Gòn), ông Thôn nhiều lần chạm mặt những tướng cướp khét tiếng như Điền Khắc Kim, Lâm “chín ngón”...  Danh tiếng của những “đại ca” giang hồ này khiến bất cứ tù nhân nào cũng e sợ, nhưng với Nguyễn Văn Thôn thì ngược lại. Khi biết ông là tác giả của vụ nổ long trời lở đất ở sân bay Biên Hòa, ngay cả các “đại ca” giang hồ cũng bày tỏ sự thán phục, kính nể. Anh Thôn cho biết: “Tôi chẳng phải là người có võ nghệ cao cường gì, nhưng họ nể là vì mình có bản lĩnh. Người có bản lĩnh thì ở đâu, lúc nào cũng giữ được vị thế, giá trị của mình, kể cả khi đứng trước giang hồ cộm cán. Bản lĩnh ấy phải thông qua giáo dục, rèn luyện, tu dưỡng mới có được. Thiếu và yếu bản lĩnh thì càng làm to càng dễ “chết”. Tiêu cực, suy thoái là từ trong suy nghĩ, tư duy mà ra. Đổ lỗi do cơ chế, khách quan chỉ là cách ngụy biện của người kém bản lĩnh. Ngụy biện cho cái sai cũng là một dạng suy thoái”. Những năm gần đây, ông Thôn luôn là nhân tố “truyền lửa” cho các tổ chức trong hệ thống chính trị ở địa phương. Cấp ủy, chính quyền và các cơ quan, đoàn thể coi ông là vốn quý trong công tác giáo dục, bồi đắp lý tưởng cách mạng cho thế hệ trẻ.

Dẫn một câu chuyện cụ thể như vậy để thấy, giáo dục, tuyên truyền, xây dựng bản lĩnh chính trị nhằm ngăn ngừa nguy cơ suy thoái trong giới trẻ phải thực hiện ngay từ cơ sở, thông qua những việc làm, chương trình cụ thể. Nếu chỉ tuyên truyền kiểu hô hào chung chung, rất khó để đưa thông điệp, tư tưởng thấm vào tư duy người trẻ. Bởi, trong kỷ nguyên 4.0, sự tiếp nhận, sàng lọc, đào thải thông tin diễn ra rất gay gắt. Chỉ những thông tin thực sự hấp dẫn, có ích, có sức thuyết phục mới có sức mạnh cảm hóa. Tìm những nhân tố tích cực, điển hình, đặc biệt là những người có uy tín trong cộng đồng dân cư để làm gương giáo dục là cách làm không mới, nhưng luôn luôn đòi hỏi chúng ta phải quan tâm đổi mới cách làm, thực hiện bằng trách nhiệm, tâm huyết cao nhất mới mong có kết quả.

Sự Thật


 Khi người trẻ mắc bệnh suy thoái

Thời gian gần đây, dư luận tích cực trên không gian mạng bày tỏ bức xúc trước việc nhiều đối tượng phản động lưu vong ở nước ngoài thường xuyên lên mạng xã hội tung tin xuyên tạc, nói xấu đất nước, xúc phạm danh dự lãnh đạo Đảng, Nhà nước, gây rối an ninh chính trị. Điều đáng bàn ở đây là đại đa số những đối tượng phản động này đều còn trẻ. Trước khi quay lưng, phản bội Tổ quốc, họ từng là những trí thức trẻ, từng có thời gian là công chức, viên chức, công tác trong các cơ quan, đơn vị thuộc hệ thống chính trị ở một số địa phương. Do bất mãn với tổ chức, non kém về tư tưởng chính trị, bị chủ nghĩa cá nhân chi phối, họ đã bị căn bệnh suy thoái tấn công. Từ sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, họ đã “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, biến mình trở thành những con rối cho các thế lực thù địch ở hải ngoại giật dây. Sau khi ra nước ngoài sống lưu vong, chúng trở thành những kẻ phản bội, càng ngày càng điên cuồng thực hiện các hành vi phản quốc.

Dù chỉ là những thành phần cá biệt, nhưng thực trạng này cho thấy khi căn bệnh suy thoái trẻ hóa, mức độ nguy hiểm đối với môi trường chính trị và đời sống xã hội là vô cùng lớn. Hằng ngày, hằng giờ, chúng ra rả các luận điệu phản động trên không gian mạng làm cho một bộ phận giới trẻ trong nước bị tác động, ảnh hưởng bởi tư tưởng thù địch, dẫn đến dao động, bi quan, phai nhạt niềm tin.

Nhìn rộng ra, sâu hơn những vụ án tham nhũng lớn được đưa ra ánh sáng công lý thời gian qua, chúng ta thấy hành vi tham nhũng, suy thoái đều liên quan đến những cán bộ có chức quyền. Cán bộ có chức quyền càng to, ảnh hưởng của suy thoái càng lớn. Tuy nhiên, để đến lúc phải điều tra, xử lý thì đó là giải pháp “trị bệnh”. Làm sao để cán bộ, đảng viên không “nhúng chàm” thì phải coi trọng “phòng bệnh”, ngăn ngừa các mầm mống dẫn đến suy thoái ngay từ khi còn trẻ.

Biểu hiện phổ biến của tình trạng trẻ hóa bệnh suy thoái là sự thờ ơ, bàng quan với lợi ích dân tộc, chỉ tập trung lo kiếm tiền, không quan tâm đến các phong trào hành động cách mạng, phong trào thi đua yêu nước, không thiết tha vào Đảng. Đối với cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức trẻ thì đó là biểu hiện né tránh đấu tranh, dĩ hòa vi quý, mũ ni che tai, tư tưởng cầu an, lười học chính trị, lười nghiên cứu nghị quyết... Thực trạng này ở một bộ phận không nhỏ người trẻ đã được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhiều lần nhấn mạnh, đó là “nhạt Đảng, khô Đoàn, xa rời chính trị”. Khi một người trẻ bị hổng kiến thức lý luận chính trị, không được bồi đắp tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống đến nơi đến chốn thì đến lúc anh ta giàu lên, rất dễ trở thành những “trọc phú” thời đại mới. Khi những “trọc phú” ấy tìm cách “chui” vào hệ thống chính trị để thăng tiến thì nguy hại cho tổ chức đảng, cho vận mệnh chính trị của đất nước là rất khó lường. Thực tế đã chứng minh không ít người giàu có sau khi có chân trong hệ thống chính trị, hành vi kiểu “trọc phú” của họ đã gây ra những hệ lụy phức tạp cho tổ chức. Đối với những người trẻ “nhạt Đảng, khô Đoàn, xa rời chính trị”, từ suy thoái đạo đức, lối sống đến suy thoái tư tưởng chính trị là khoảng cách rất mong manh. Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII đã nêu rõ: Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc...

LHS


 Thực hiện Chủ trương “Dân thụ hưởng” là động lực để dân tin Đảng

Có thể thấy, Đảng và Nhà nước luôn chú trọng phát triển kinh tế vì mục tiêu con người, thực hiện nhất quán quan điểm gắn kết chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; phát triển văn hóa, xã hội, giáo dục, y tế vì con người, xây dựng thiết chế chính trị, hệ thống pháp luật của nhà nước pháp quyền XHCN, quản lý đất nước, xã hội, mang lại những điều tốt đẹp cho con người. Vì vậy, đời sống vật chất, tinh thần của người dân ngày càng được cải thiện. Mỗi một người dân Việt Nam đang hằng ngày, hằng giờ được thụ hưởng môi trường hòa bình, ổn định, yên tâm lao động sản xuất và thừa hưởng chính thành quả đó. Trong xu thế đi lên của đất nước, ai cũng được tạo cơ hội phát triển, không ai bị bỏ lại phía sau. Người dân ở vùng sâu, vùng xa, vùng bị ảnh hưởng của bão lũ, thiên tai khiến đời sống còn khó khăn thì Đảng, Nhà nước có chính sách an sinh xã hội, toàn xã hội đều chung tay giúp đỡ. Mục đích cuối cùng là để mỗi người dân Việt Nam đều được bình đẳng tận hưởng cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, “ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành” đúng như tâm nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Như thế, “dân thụ hưởng” không dừng lại trên lý thuyết, trong nghị quyết, giấy tờ hay khẩu hiệu suông để hô hào mà được thể hiện sinh động, thuyết phục trong hiện thực đời sống mỗi người dân Việt Nam. Dù những phần tử cơ hội chính trị, thế lực thù địch có cố tình bóp méo, xuyên tạc thế nào thì cũng không thể phủ nhận được sự thật rằng đời sống của người dân Việt Nam đang ngày càng đi lên. Đó chính là động lực để người dân tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng; nỗ lực lao động, cống hiến để đất nước ngày càng phát triển thì những giá trị mà mỗi người được thụ hưởng sẽ ngày càng lớn hơn.

BĐT


 Các thế lực thù địch luôn cố tình xuyên tạc  chủ trương “dân thụ hưởng” với mưu đồ xấu

Có thể nói phương châm “dân thụ hưởng” đã được thể hiện rõ trong mục tiêu, đồng thời cũng đã được triển khai thực hiện trong suốt quá trình cách mạng XHCN tại Việt Nam. Đại hội XIII của Đảng tiếp tục thể hiện rõ quyết tâm chính trị của Đảng trong mục tiêu vì hạnh phúc của nhân dân, vì chủ nghĩa xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định rất rõ: “Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân”; “nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”. Rõ ràng hưởng thụ đầy đủ lợi ích cả về vật chất, tinh thần là khát vọng của người dân, là mục tiêu, lý tưởng cao đẹp của cách mạng XHCN và đang được hiện thực hóa trên đất nước ta. Từ sự cùng khổ của người dân một nước thuộc địa, bị đặt dưới ách thống trị của thực dân, đế quốc, trải qua chiến tranh đau thương, mất mát, đến nay người dân Việt Nam đã thực sự sống trong tự do, hòa bình, độc lập, thống nhất, đời sống ngày càng đi lên.

Thế nhưng trong suốt những năm qua, các thế lực thù địch, phản động luôn cố tình phủ nhận những thành quả ấy. Lợi dụng tình hình công cuộc đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực khiến một số cán bộ cấp cao vướng vào tham nhũng, tiêu cực nên bị kỷ luật, buộc phải từ chức hoặc phải chịu trách nhiệm hình sự, lực lượng thù địch đã rêu rao rằng chỉ có “quan cộng sản” mới có nhà lầu, xe hơi, cuộc sống sung sướng, được hưởng thụ và cho rằng “dân thụ hưởng chỉ là ru ngủ dân...". 

Ở đây, chúng ta phải khẳng định rằng những kẻ cơ hội chính trị và lực lượng thù địch không phải là không biết, không nhìn thấy những thành tựu to lớn về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội mà người dân Việt Nam ngày ngày được thụ hưởng. Tuy nhiên, chúng cố tình xuyên tạc sự thật; thấy cây mục cho rằng cả cánh rừng phải chặt bỏ; lấy hiện tượng quy chụp bản chất; lấy sự thoái hóa, biến chất của một số cán bộ, đảng viên để suy diễn về phẩm chất đạo đức của toàn bộ đội ngũ cán bộ, đảng viên...

LHS


 Các thế lực thù địch luôn cố tình xuyên tạc  chủ trương “dân thụ hưởng” với mưu đồ xấu

Có thể nói phương châm “dân thụ hưởng” đã được thể hiện rõ trong mục tiêu, đồng thời cũng đã được triển khai thực hiện trong suốt quá trình cách mạng XHCN tại Việt Nam. Đại hội XIII của Đảng tiếp tục thể hiện rõ quyết tâm chính trị của Đảng trong mục tiêu vì hạnh phúc của nhân dân, vì chủ nghĩa xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định rất rõ: “Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân”; “nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”. Rõ ràng hưởng thụ đầy đủ lợi ích cả về vật chất, tinh thần là khát vọng của người dân, là mục tiêu, lý tưởng cao đẹp của cách mạng XHCN và đang được hiện thực hóa trên đất nước ta. Từ sự cùng khổ của người dân một nước thuộc địa, bị đặt dưới ách thống trị của thực dân, đế quốc, trải qua chiến tranh đau thương, mất mát, đến nay người dân Việt Nam đã thực sự sống trong tự do, hòa bình, độc lập, thống nhất, đời sống ngày càng đi lên.

Thế nhưng trong suốt những năm qua, các thế lực thù địch, phản động luôn cố tình phủ nhận những thành quả ấy. Lợi dụng tình hình công cuộc đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực khiến một số cán bộ cấp cao vướng vào tham nhũng, tiêu cực nên bị kỷ luật, buộc phải từ chức hoặc phải chịu trách nhiệm hình sự, lực lượng thù địch đã rêu rao rằng chỉ có “quan cộng sản” mới có nhà lầu, xe hơi, cuộc sống sung sướng, được hưởng thụ và cho rằng “dân thụ hưởng chỉ là ru ngủ dân...". 

Ở đây, chúng ta phải khẳng định rằng những kẻ cơ hội chính trị và lực lượng thù địch không phải là không biết, không nhìn thấy những thành tựu to lớn về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội mà người dân Việt Nam ngày ngày được thụ hưởng. Tuy nhiên, chúng cố tình xuyên tạc sự thật; thấy cây mục cho rằng cả cánh rừng phải chặt bỏ; lấy hiện tượng quy chụp bản chất; lấy sự thoái hóa, biến chất của một số cán bộ, đảng viên để suy diễn về phẩm chất đạo đức của toàn bộ đội ngũ cán bộ, đảng viên...

LHS


Thứ Năm, 6 tháng 4, 2023

 

THỦ ĐOẠN LỢI DỤNG VẤN ĐỀ DÂN CHỦ - ĐÂU LÀ SỰ THẬT LỊCH SỬ

          Dân chủ luôn là vấn đề được các nước phương Tây, các thế lực thù địch lợi dụng để chống đối nước khác, cho rằng nước đó mất dân chủ, thiếu dân chủ, thậm chí rêu rao chế độ một Đảng cầm quyền là thủ tiêu dân chủ. Sự thật có phải như thế? Để làm rõ vấn đề, trước hết cần xác định “dân chủ” ở đây là dân chủ như thế nào, dân chủ của ai và dân chủ cho ai? Với tư cách là hình thức chế độ chính trị của đất nước, dân chủ xuất hiện cùng với sự xuất hiện của nhà nước. Trong thiết chế dân chủ, quyền của công dân, tính tối cao của pháp luật được thừa nhận; những cơ quan quyền lực nhà nước đều do bầu cử mà ra. Dân chủ được thực hiện thông qua hai hình thức cơ bản là dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp. Mặt khác, dân chủ gắn liền với hình thức tổ chức nhà nước, nên không bao giờ có một thứ dân chủ “thuần túy” mà luôn mang bản chất giai cấp sâu sắc.

          Xem xét nền dân chủ ở các nước tư bản chủ nghĩa, nhất là các nước tự xưng là tự do nhất, dân chủ nhất. Đa nguyên về chính trị, đa đảng đối lập là nét đặc trưng của thể chế chính trị tư sản hiện nay. Vì mục tiêu giành chính quyền để bảo vệ lợi ích của giai cấp mình, các chính đảng tư sản thể hiện vai trò, thế mạnh của mình trong các cuộc bầu cử và vận động tranh cử trở thành một trong những chức năng quan trọng nhất khẳng định sự tồn tại của các chính đảng. Bầu cử dưới chế độ tư sản là một chế định pháp luật được quy định rất chặt chẽ, tuy nhiên vẫn diễn ra những cuộc bầu thiếu công bằng, nhiều gian lận. Mỹ là nước tự cho mình có nền dân chủ ở tầm “khuôn thước” để các nước khác phải noi theo; có nhiều đảng phái chính trị, nhưng thực tế do đảng Dân chủ và Cộng hòa luân phiên nhau kiểm soát và không ai khác ngoài những người của hai đảng trên nắm giữ các vị trí then chốt trong chính quyền; chính họ là người đề ra “luật chơi”, thiết kế các quy tắc bầu cử để bảo vệ sự độc quyền của mình và phong tỏa con đường chiến thắng của đối thủ khác. Nói chung, ở các nước tư bản, về hình thức thì các đảng chính trị đều “tự do”, “bình đẳng” trong đấu tranh nghị trường và đều có khả năng cầm quyền. Nhưng trên thực tế thì chỉ có các đảng lớn, có thế lực, được sự hậu thuẫn của các tập đoàn tư bản độc quyền mới chiến thắng. Mặt khác, chế độ đa đảng ở phương Tây, xét thực chất vẫn là nhất nguyên chính trị vì tất cả đều nhằm phục vụ chế độ tư bản. Qua bầu cử, đảng nào chiếm đa số phiếu thì thành lập chính phủ và điều hành đất nước; các đảng khác là đối lập nhưng là đối lập trung thành, nghĩa là không thách thức chính thể tư bản, chỉ phản đối một số chính sách cụ thể của chính phủ. Khi phe đối lập giành thắng lợi trong bầu cử và lên cầm quyền, một mặt họ khuếch trương lợi thế chính trị của thế lực tư bản mà họ là đại diện, mặt khác cố gắng duy trì và củng cố chế độ tư bản chủ nghĩa. Về tính nhất nguyên tư sản, ngay người Mỹ cũng phải công nhận đảng Dân chủ hay Cộng hòa không có gì khác nhau vì đều hoàn toàn tán thành chủ nghĩa tư bản và ủng hộ sứ mạng toàn cầu hóa của Mỹ, bác bỏ chủ nghĩa cộng sản. Tuy khác nhau về một số tư duy cụ thể nhưng những người lãnh đạo hai đảng vẫn giống nhau ở chỗ đều là những đại diện trung thành cho các thế lực tư bản độc quyền. Pháp luật Mỹ quy định người ứng cử vào các cơ quan quyền lực phải có một lượng tài sản lớn làm vật bảo đảm và các ứng cử viên phải có tiền để tiến hành các chiến dịch vận động tranh cử tốn kém. Do đó, trên thực tế, chỉ có những triệu phú, tỷ phú mới có cơ hội tham gia bộ máy chính quyền nên cái gọi là “nền dân chủ” chỉ là của nhà giàu.

          Trong chế độ xã hội chủ nghĩa, Đảng Cộng sản là tổ chức duy nhất lãnh đạo hệ thống chính trị. Điều này thể hiện bằng đường lối, chính sách của Đảng về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và được thể chế hóa trong pháp luật. Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản là nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và phát triển của nhà nước xã hội chủ nghĩa. Ở Việt Nam, thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân là bản chất, là quy luật hình thành, phát triển và hoàn thiện của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Từ khi ra đời Đảng luôn là nhân tố bảo đảm mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam; đó không phải là ý chí chủ quan mà là một tất yếu khách quan. Mọi mưu toan hạ thấp vai trò của Đảng Cộng sản là trái với yêu cầu khách quan của quá trình phát triển đất nước và nguyện vọng chính đáng của Nhân dân. Lịch sử vẻ vang hơn bảy thập kỷ của cách mạng nước ta chứng minh rằng Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng chính trị duy nhất lãnh đạo, đã đưa lại những tiền đề thuận lợi cơ bản để thực hiện dân chủ. Đảng chủ động đề ra các chủ trương, biện pháp thực hiện dân chủ; đường lối, chính sách của Đảng được Nhà nước thể chế hóa, cụ thể hóa thành luật pháp, chính sách và các biện pháp tổ chức thực hiện; có sự tập trung thống nhất giữa Trung ương và địa phương vì không có địa phương nào do lực lượng chính trị khác chi phối. Người dân có nơi để đề đạt nguyện vọng, phản ánh tình hình, đề xuất sáng kiến, không có tình trạng đùn đẩy giữa các đảng phái như ở các nước có thể chế đa đảng. Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là nền dân chủ cho toàn thể quần chúng lao động; do đó, nó không chấp nhận sự chia rẽ xã hội hay tạo ra lực lượng đối lập, đối kháng nhất là trên lĩnh vực chính trị tư tưởng. Vì thế, việc nhân danh các chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền”, “đa nguyên, đa đảng” để kích động, gây chia rẽ, tạo hận thù chỉ là thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch muốn xóa bỏ Đảng Cộng sản và chủ nghĩa xã hội. Trong điều kiện kinh tế - xã hội, trình độ dân trí, các thiết chế còn chưa phát triển, hoàn thiện như ở Việt Nam, nếu không có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản thì dân chủ sẽ rất dễ bị vi phạm. Với mục tiêu phát huy đầy đủ quyền làm chủ của Nhân dân trong công cuộc xây dựng đất nước, kiến tạo nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ưu việt hơn các chế độ dân chủ đã có trong lịch sử, Đảng đã phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với tính cách là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, là tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn, tham gia đắc lực vào việc xây dựng, tuyên truyền và vận động Nhân dân thực hiện đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tham gia xây dựng Đảng, thực hiện sự giám sát của Nhân dân đối với hoạt động, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, công chức và các cơ quan Nhà nước. Dân chủ trong Đảng gắn chặt với dân chủ trong tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước. Nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng luôn gắn với nguyên tắc hiệp thương dân chủ trong hệ thống Mặt trận Tổ quốc. Qua đó làm sâu sắc nền dân chủ ở nước ta./.

BIỂN RỘNG

 

 

 

ĐẤU TRANH CHỐNG "TỰ DIỄN BIẾN", "TỰ CHUYỂN HÓA"      PHẢI ĐỒNG BỘ, RỘNG KHẮP

        Đại hội lần thứ XII, Đảng ta đã nhận định hiện tượng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên đã đến mức đáng lo ngại. Biểu hiện của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đã xâm nhập vào không ít cấp ủy, chính quyền địa phương và đang có dấu hiệu làm xói mòn những giá trị đạo đức xã hội. Những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” xuất hiện với các biểu hiện như lười học tập, rèn luyện, nhất là học tập lý luận chính trị, thích khai thác các loại thông tin đa chiều trên mạng Internet nhưng thiếu bản lĩnh để phân tích, xử lý thông tin. Một số cán bộ, đảng viên còn thiếu niềm tin vào thắng lợi của sự nghiệp đổi mới đất nước; tham nhũng, lãng phí, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để trục lợi, vi phạm pháp luật Nhà nước; một số khác thì kéo bè, kết cánh, gây mất đoàn kết nội bộ, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh...    

          Thực tế cho thấy, sự chống phá của các thế lực thù địch thông qua chiến lược “diễn biến hòa bình” thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ngày càng diễn biến phức tạp với các chiêu trò đa dạng, tinh vi, khó lường. Vì vậy để tiếp tục thực hiện tốt nhiệm vụ phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” cần nhiều giải pháp, nhưng trước hết phải nhận rõ các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch về nền tảng lý luận của Đảng ta. Hiện nay, các đối tượng thù địch cho rằng chủ nghĩa Mác - Lênin không còn phù hợp với thế giới đương đại. Giai cấp công nhân không còn vai trò, sứ mệnh lịch sử. Đối với tư tưởng Hồ Chí Minh, họ cho rằng, đó không phải là kết quả của sự vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin mà là sự đối lập với chủ nghĩa Mác - Lênin. Từ kiểu xuyên tạc như vậy chúng tiến tới phủ nhận cương lĩnh, đường lối của Đảng ta với các hành vi đòi thay đổi cương lĩnh của Đảng, từ bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa, tung hô chủ nghĩa tư bản; xuyên tạc, phủ nhận thành tựu hơn 30 năm đổi mới của Đảng và Nhân dân ta; đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập; phủ nhận nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa…Các quan điểm sai trái đó khi thì được bộc lộ trực diện qua các “hội nghị, hội thảo”, nhưng cũng có khi được ngụy trang lắt léo dưới các bài nói, bài viết trên các trang mạng xã hội hoặc qua các tác phẩm văn học, nghệ thuật. Về mặt tổ chức lực lượng, họ nhân danh và lợi dụng một số tổ chức trên thế giới và trong nước để viết “thư ngỏ” gửi lãnh đạo Đảng, Nhà nước với những lời lẽ vòng vo, lắt léo với mục đích là tạo ra sự mơ hồ, phân tâm trong cán bộ, đảng viên và Nhân dân, hòng làm thay đổi nhận thức, tình cảm, niềm tin, ý chí cách mạng, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

          Từ thực tế trên, việc đẩy mạnh đấu tranh chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là nhiệm vụ tất yếu khách quan. Để thực hiện tốt nhiệm vụ này thì lực lượng tham gia đấu tranh cần được tổ chức thống nhất, rộng khắp, nhiều cấp đặt dưới sự chỉ đạo và hướng dẫn thống nhất của cấp ủy các cấp. Cấp ủy, chính quyền các cấp phải chủ động triển khai đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa. Việc tổ chức đấu tranh cần theo hướng chủ động, kịp thời, nhạy bén, sâu sắc, toàn diện, hiệu quả. Cùng với đó, để công tác đấu tranh đạt hiệu quả thiết thực, cần chăm lo xây dựng đội ngũ nòng cốt, có đủ tri thức, năng lực trong nhìn nhận, phát hiện, phản bác các quan điểm sai trái. Đội ngũ này phải bao gồm các nhà khoa học, nhà lý luận, cán bộ nghiên cứu thực sự tâm huyết, có bản lĩnh chính trị vững vàng; thường xuyên được cung cấp thông tin, tài liệu chính xác từ các cơ quan chức năng, để có căn cứ xác đáng trong đấu tranh với các thế lực thù địch. Đối với lực lượng rộng rãi cần được tổ chức chu đáo trong từng cơ quan, đơn vị, ban, ngành, đoàn thể; đồng thời kết hợp chặt chẽ nhiều hình thức, biện pháp đấu tranh.  

          “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là kẻ thù nội tại hết sức nguy hiểm. Tác hại của nó vô cùng to lớn, làm suy yếu Đảng, sai lệch đường lối, gây tổn hại nghiêm trọng đến niềm tin của Nhân dân đối với Đảng. Nó là điều kiện để các thế lực thù địch thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”. Việc nghiên cứu và nhận thức, nhận diện, phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ hiện nay là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng vũ trang nhân dân càng cần phải tu dưỡng, rèn mình để luôn có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức trong sáng, ý chí chiến đấu cao, để xứng đáng là lực lượng tiên phong trong nhiệm vụ phòng, chống chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.

                                                                                                                                    BIỂN RỘNG

 

GIÁ TRỊ LỊCH SỬ VÀ Ý NGHĨA THỜI ĐẠI KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN CỦA BẢN TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP NGÀY 2/9/1945                                        

                                                                                                                  

          Ngay sau khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã soạn thảo “Tuyên ngôn độc lập” và ngày mùng 2 tháng 9 năm 1945 tại Quảng trường Ba Đình - Hà Nội, trước cuộc mít tinh của hàng chục vạn người đủ các tầng lớp ở cả trong nước và nước ngoài, Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu thay mặt Chính phủ lâm thời trịnh trọng đọc Tuyên ngôn độc lập, tuyên bố với toàn thể quốc dân và thế giới: Nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời - nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á.

Tuyên ngôn độc lập là một văn kiện lịch sử, một văn bản pháp lý quan trọng bậc nhất của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Với hệ thống lập luận ngắn gọn, chặt chẽ, lý lẽ sắc bén, giọng văn hùng hồn, chứa đựng những nội dung bất hủ, một cơ sở pháp lý vững chắc không chỉ có giá trị lịch sử, khẳng định mạnh mẽ chủ quyền quốc gia của dân tộc Việt Nam trước toàn thế giới, mà còn có ý nghĩa thời đại sâu sắc mở ra thời kỳ mới của dân tộc ta trên con đường phát triển đi lên chủ nghĩa xã hội. Tuyên ngôn độc lập cũng là áng văn chính luận giàu chất trí tuệ, chứa đựng những tư tưởng cao đẹp, giàu giá trị nhân bản. Không khô khan, lý trí mà giàu cảm hứng, không bi lụy, cảm thương, mà có giọng điệu hùng tráng quyết đoán, uyển chuyển, thuyết phục. Bản Tuyên ngôn độc lập khẳng định quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm của nhân dân Việt Nam được hưởng tự do, độc lập mà tự mình giành lại từ tay đế quốc, thực dân: “Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn tám mươi năm nay, một dân tộc đã dũng cảm đứng về phía Đồng minh chống phát xít Nhật; dân tộc đó phải được tự do, dân tộc đó phải được độc lập và sự thật đã thành một nước tự do độc lập”.

Không phải ngẫu nhiên Chủ tịch Hồ Chí Minh mở đầu Tuyên ngôn độc lập của mình bằng những lý lẽ bất hủ của tổ tiên người Mỹ và người Pháp được trích dẫn trong hai bản tuyên ngôn nổi tiếng của họ. “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Người lại viện dẫn từ bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng tư sản Pháp năm 1791: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được”. Cách lập luận này vừa khéo léo lại vừa cương quyết. Khéo léo vì Bác cho người đọc thấy rõ sự tôn trọng của mình đối với bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ và bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng Pháp năm 1791. Bản Tuyên ngôn chính thức chỉ ra một chính quyền cách mạng mới của nhân dân Việt Nam được xây dựng và trưởng thành theo đúng ý nguyện của mọi tầng lớp nhân dân và cả dân tộc Việt Nam.          

Tuyên ngôn độc lập khẳng định ý chí sắt đá không gì lay chuyển nổi và đồng thời là triết lý nhân sinh vĩnh hằng của dân tộc Việt Nam được Chủ tịch Hồ Chí Minh phát hiện, khẳng định: “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Tuyên ngôn độc lập là sản phẩm của sự kết hợp các giá trị của truyền thống anh hùng, bất khuất và ý chí độc lập dân tộc của Việt Nam với sứ mệnh cao cả của giai cấp vô sản được đề cập trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản mà Mác, Ăngghen viết năm 1848. Nó thể hiện rõ nét cách mạng Việt Nam là một bộ phận hữu cơ của cách mạng thế giới và giai cấp vô sản Việt Nam là một bộ phận không thể tách rời của giai cấp vô sản thế giới có sứ mệnh lịch sử cao cả và vĩ đại là giải phóng dân tộc và nhân loại.

Bản Tuyên ngôn độc lập là thể hiện lòng trung thành tuyệt đối với chủ nghĩa Mác - Lênin của Đảng Cộng sản Việt Nam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bản Tuyên ngôn còn cho thấy Chủ tịch Hồ Chí Minh có tầm nhìn chiến lược về sự phát triển của đất nước, có những dự báo thiên tài về tương lai của cách mạng cũng như quá trình hội nhập sâu rộng của Việt Nam vào phong trào cách mạng thế giới. Bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam), do Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp soạn thảo và công bố trước toàn thể nhân dân Việt Nam và thế giới cho thấy trí tuệ sắc sảo và lỗi lạc của Người. Đây là kết quả của một quá trình tư duy khoa học độc đáo và thiên tài của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Điều đó càng khẳng định rõ ràng và nhất quán một chân lý hết sức giản dị nhưng có tầm khái quát cao là: Tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh cũng như trí tuệ sắc sảo của Người mãi mãi soi sáng đường chúng ta đi.

Gần tám mươi năm đã trôi qua, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Tuyên ngôn độc lập ngày 2/9/1945 đã trở thành sức mạnh to lớn của toàn dân tộc Việt Nam vượt qua mọi khó khăn, thách thức, thực hiện lời thề thiêng liêng trong ngày Lễ độc lập: “Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”. Ngày nay, trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực còn nhiều diễn biến rất phức tạp, khó lường, tác động trực tiếp đến nước ta, tạo ra cả thời cơ và thách thức. Toàn Đảng, toàn dân ta đã và đang tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh; bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

 

                                                                                             BIỂN RỘNG