TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ QUYỀN CON
NGƯỜI
Mặt Trời
Tư tưởng Hồ Chí Minh là di sản quý báu của dân tộc Việt Nam, là nền
tảng tư tưởng, kim chỉ nam của Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta trong suốt quá
trình xây dựng, bảo vệ, phát triển đất nước. Trong hệ thống tư tưởng của Người,
tư tưởng về quyền con người được kết tinh từ những giá trị nhân văn truyền
thống của dân tộc kết hợp với tinh hoa của thế giới, có giá trị nổi bật về lý
luận và thực tiễn trong mọi hoạt động của Nhà nước ta, trong đó có hoạt động
lập hiến, lập pháp. Trong
bối cảnh Đảng và Nhà nước đang nỗ lực xây dựng, hoàn thiện nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa, của dân, do dân, vì dân với biểu hiện tập trung là xây dựng
chế độ dân chủ, tôn trọng, đề cao quyền con người thông qua Hiến pháp và pháp
luật, tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người tiếp tục được vận dụng một cách
sáng tạo, hiệu quả trong lĩnh vực xây dựng pháp luật, qua đó góp phần xây dựng
đất nước với phương châm dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh,
đồng thời không ngừng bảo đảm, bảo vệ và thực thi quyền con người của Nhân dân
Việt Nam. Tư
tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người gồm:
Con người là nguồn cội, người dân là chủ nhân của đất
nước - nguyên lý ấy là nền tảng, là cái bất biến của mọi quốc gia, dân tộc.
Thấm nhuần đạo lý ấy, trong cả cuộc đời mình, Người đi tìm đường để giải phóng
dân tộc và đấu tranh cho dân chủ. Những năm bôn ba tìm đường cứu nước, trải
nghiệm cuộc sống cần lao tại nhiều quốc gia trên thế giới, Hồ Chí Minh đã dày
công nghiên cứu các cuộc cách mạng tư sản, các nhà tư tưởng tiến bộ, tham gia
các hoạt động chính trị, đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, bảo vệ, bênh vực
các dân tộc thuộc địa, đấu tranh đòi quyền tự do dân chủ cơ
bản cho dân An Nam. Người đã tìm thấy ở Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền
của Cách mạng Pháp (1789), Tuyên ngôn độc lập của Mỹ (1776) những quyền bất khả
xâm phạm của con người không thể chối cãi - đây là những văn kiện quan trọng
góp phần hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người. Đến với Chủ
nghĩa Mác - Lênin - hệ tư tưởng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động,
các giá trị về dân chủ - pháp quyền nhân dân nói chung, quyền con người nói
riêng của Người được hình thành rõ nét hơn. Đặc biệt, Luận cương của Lênin về
vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa đã giúp Người hiểu sâu sắc và rút ra chân lý
quyền con người gắn với độc lập dân tộc hay nói cách khác, độc lập dân tộc là
nền tảng của quyền con người. Với nhận thức ấy, trong suốt quá trình lãnh đạo
đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam, vấn đề dân chủ, dân quyền, dân
sinh, dân nguyện được Người đề cao và luôn gắn liền với nhiệm vụ dân tộc, dân
chủ, chống đế quốc, chống phong kiến. Điều này được phản ánh thông qua các
chính cương, sách lược của Đảng, tuyên ngôn, chính sách của Mặt trận Việt Minh,
Nghị quyết của quốc dân Đại hội Tân Trào (1945), cũng như các cuộc đấu tranh
đòi tự do ứng cử, bầu cử, tự do kinh doanh, đi lại, tự do ngôn luận, báo chí,
hội họp, tín ngưỡng, nghiệp đoàn... Đặc biệt, ngày 02/9/1945, trong Tuyên ngôn
Độc lập do Người soạn thảo được công bố trước quốc dân, đồng bào, ngay tại lời
đầu tiên Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định “Tất cả mọi người sinh ra đều
có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được;
trong những quyền ấy có quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”
và rằng “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân
tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”.
Trong tư tưởng của Hồ Chí Minh, quyền con người, quyền
tự do dân chủ phải được thể chế hóa bằng Hiến pháp, pháp luật và bảo đảm, bảo
vệ bằng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân. Theo quan điểm của
Người “sự bình đẳng trong xã hội ở nơi pháp luật”,“dân chủ đúng đắn
cũng ở nơi pháp luật”. Tại cuộc họp đầu tiên của Chính phủ nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa, Người chỉ ra 6 nhiệm vụ cấp bách, trong đó có nhiệm vụ
ban hành Hiến pháp để bảo đảm quyền tự do dân chủ của Nhân dân; Người nhận
định “Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến
chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có Hiến pháp. Nhân
dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ. Chúng ta phải có một Hiến pháp dân
chủ”;“tổ chức càng sớm càng hay cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu
phiếu. Tất cả công dân trái gái mười tám tuổi đều có quyền ứng cử và bầu cử,
không phân biệt giàu, nghèo, tôn giáo, dòng giống…”; “Quốc hội là cơ quan có
quyền lực tối cao của Nhân dân sẽ cử ra một Chính phủ thực sự của toàn dân và
ấn định cho nước Việt Nam một Hiến pháp dân chủ”. Với tinh thần
ấy, trong hoàn cảnh khó khăn muôn vàn vì giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm đe
dọa chính quyền cách mạng non trẻ, nhưng với sự tin tưởng tuyệt đối ở sự lãnh
đạo sáng suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh và lòng yêu nước vô hạn của Nhân dân,
cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu, tự do, trực
tiếp và bầu kín đã được tổ chức chỉ trong vòng chưa đầy 5 tháng sau ngày Tuyên
ngôn Độc lập khai sinh Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Với quan niệm “việc
gì lợi cho dân ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân ta phải hết sức tránh” và
“Bảy xin Hiến pháp ban hành. Trăm điều phải có thần linh pháp quyền”, bản
Hiến pháp do Người chủ trì soạn thảo dựa trên 3 trụ cột: đoàn kết toàn dân, đảm
bảo các quyền tự do dân chủ và thực hiện chính quyền mạnh mẽ sáng suốt của Nhân
dân đã được ban hành năm 1946. Hiến pháp năm 1946 đã ghi nhận“bảo đảm quyền
tự do dân chủ của nhân dân” và“tất cả quyền bính trong nước là của
toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu
nghèo, giai cấp, tôn giáo”. Trên cơ sở Hiến pháp năm 1946 và sau này
là Hiến pháp năm 1959, mặc dù đất nước trong hoàn cảnh chiến tranh, thù trong,
giặc ngoài, phải tập trung giải quyết những nhiệm vụ cấp bách của đất nước, dân
tộc, thực hiện quyết tâm xây dựng nhà nước pháp quyền, tăng cường bảo đảm quyền
con người, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ đạo xây dựng và ban hành nhiều đạo luật.
Với tinh thần “Dân chủ phải được thể chế hóa bằng pháp luật, được pháp
luật bảo đảm” và “luật pháp dân chủ phải ngày càng nhiều hơn,
tốt hơn”, dưới chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các đạo luật như Luật Bầu
cử đại biểu Quốc hội (năm 1959), Luật Tổ chức Quốc hội (năm 1960), Luật Tổ chức
Hội đồng Chính phủ (năm 1960), Luật Tổ chức Toà án nhân dân (năm 1960), Luật Tổ
chức Viện kiểm sát nhân dân (năm 1960)... được ban hành đã góp phần quan trọng
trong việc hiện thực hóa các quyền về chính trị của Nhân dân, bảo đảm Nhân dân
là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước, có quyền kiểm soát quyền lực nhà
nước cũng như bảo đảm hoạt động của Nhà nước được thực hiện trên cơ sở Hiến
pháp và pháp luật... Bên cạnh đó, nhiều đạo luật khác điều chỉnh vấn đề quyền
con người như Luật Bảo đảm quyền tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm đối
với nhà ở, đồ vật, thư tín của nhân dân (năm 1957); Luật Quy định quyền lập hội
(năm 1957); Luật Quy định quyền tự do hội họp (1957); Luật Công đoàn (năm
1957); Luật về Chế độ báo chí (năm 1957)… cũng đã được Người dành thời gian,
công sức để chỉ đạo xây dựng, ban hành. Trong quá trình chỉ đạo công tác
xây dựng pháp luật, một vấn đề mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm là
phải bảo đảm sự tham gia của các tầng lớp nhân dân. Điều này được thể hiện rõ
nét trong quá trình xây dựng Hiến pháp năm 1946 và Hiến pháp năm 1959.
Trong Diễn văn khai mạc phiên họp
đầu tiên của Ban sửa đổi Hiến pháp (27/02/1957), Người yêu cầu: “Bản
Hiến pháp của chúng ta sẽ thảo ra chẳng những phải tiêu biểu được các nguyện
vọng của nhân dân miền Bắc, mà còn phải là một mục tiêu phấn đấu cho đồng bào
miền Nam... Sau khi thảo xong, chúng ta cần phải trưng cầu ý kiến của nhân dân
cả nước một cách thật rộng rãi. Có như thế bản Hiến pháp của chúng ta mới thật
sự là bản Hiến pháp của nhân dân, của chế độ dân chủ”.
Quyền con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ
giới hạn ở các quyền tự nhiên vốn có, quyền sống, quyền tồn tại mà được thể
hiện trên tất cả các lĩnh vực dân sự, chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội.
Thông qua Hiến pháp năm 1946, Người khẳng định tất cả công dân Việt Nam đều
ngang quyền về mọi phương diện: chính trị, kinh tế, văn hoá; bình đẳng trước
pháp luật, đều được tham gia chính quyền, được quyền bầu cử; được quyền tự do
ngôn luận, tự do xuất bản, tự do tổ chức và hội họp, tự do tín ngưỡng và tự do
cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài. Trong lĩnh vực kinh tế, quyền tư
hữu tài sản của công dân Việt Nam được ghi nhận; trường tư được mở tự do và
phải dạy theo chương trình Nhà nước. Trong lĩnh vực tư pháp, các quyền dùng
tiếng nói; quyền tự bào chữa hoặc mượn luật sư bào chữa; quyền của bị cáo và
phạm nhân không bị tra tấn, đánh đập, ngược đãi... cũng đã được đề cập và ghi
nhận tại nhiều luật do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban hành. Chẳng hạn như Luật số
103-SL/L005 ngày 20/5/1957 về đảm bảo quyền tự do thân thể và quyền bất khả xâm
phạm đối với nhà ở, đồ vật, thư tín của nhân dân khẳng định “Quyền tự do thân thể và quyền bất khả xâm
phạm đối với nhà ở, đồ vật và thư tín của nhân dân được tôn trọng và bảo đảm.
Không ai được xâm phạm các quyền ấy”; “Việc bắt, giam người phạm đến pháp luật
Nhà nước, việc khám người, nhà ở, đồ vật, thư tín phải theo thủ tục”; quy
định cụ thể trình tự, thủ tục bắt, tạm giữ, tạm giam, khám người, khám đồ vật,
khám thư tín, nhà ở; tuyệt đối nghiêm cấm tra tấn hoặc dùng bất cứ nhục hình
nào đối với những người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam và hình phạt nếu vi phạm;
những người bắt, giam, khám người, khám đồ vật, nhà ở, thư tín trái với đạo
luật này thì tuỳ trường hợp có thể bị thi hành kỷ luật hành chính hoặc xử phạt
từ mười lăm ngày đến ba năm tù, nếu phạm tội tra tấn, dùng nhục hình thì sẽ bị
xử phạt thêm theo hình luật chung… Cùng với nhóm quyền về dân sự, chính
trị, các nhóm quyền để hoàn thiện, phát triển bản thân cũng như quyền của các
nhóm yếu thế trong xã hội cũng được quan tâm ghi nhận. Chẳng hạn như, trong mối
quan hệ giữa nam và nữ, một trong những tư tưởng hết sức tiến bộ đó là việc ghi
nhận đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện. Trong mối quan hệ giữa
các dân tộc, ngoài sự bình đẳng về quyền lợi, những quốc dân thiểu số được giúp
đỡ về mọi phương diện để tiến kịp trình độ chung... quốc dân thiểu số có quyền
học bằng tiếng của mình. Đối với các nhóm yếu thế, Hiến pháp năm 1946 cũng ghi
nhận những người công dân già cả hoặc tàn tật không làm được việc thì được giúp
đỡ; trẻ con được săn sóc về mặt giáo dưỡng; quyền lợi các giới cần lao trí thức
và chân tay được bảo đảm. Đồng thời, để bảo đảm quyền con người được thực
thi trong thực tế, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm để đưa pháp luật vào đời
sống, tạo cơ chế để bảo đảm pháp luật được thi hành. Người luôn trăn trở “làm
sao cho Nhân dân biết hưởng quyền dân chủ, biết dùng quyền dân chủ của mình,
dám nói, dám làm”. Người đề cao “phụng công, thủ pháp, chí công vô tư”, coi
trọng việc giáo dục pháp luật cho toàn dân, khuyến khích Nhân dân tham gia vào
các công việc của Nhà nước, khắc phục dân chủ hình thức./.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét