Chủ Nhật, 25 tháng 2, 2024

 

ĐẤU TRANH PHẢN BÁC CÁC LUẬN ĐIỂM SAI TRÁI VỀ QUỐC PHÒNG, AN NINH TRONG TÌNH HÌNH MỚI

NMT

Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch về quốc phòng, an ninh đã có nhiều học giả, nhà nghiên cứu khoa học đưa ra những luận cứ, luận chứng rất sâu sắc và toàn diện. Đặc biệt, cuốn sách “Một số vấn đề về đường lối quân sự, chiến lược quốc phòng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa thời kỳ mới” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã cung cấp nhiều luận cứ quan trọng trực tiếp đấu tranh phản bác có hiệu quả với các quan điểm sai trái thù địch về quốc phòng, an ninh.

Một là, phải kiên quyết đấu tranh làm thất bại âm mưu “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang nhân dân. Quan điểm này được Tổng Bí thư nhắc nhiều lần trong các bài viết “Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi và sự trưởng thành, phát triển của Quân đội nhân dân Việt Nam”, “75 năm Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng vững bước dưới lá cờ vinh quang của Đảng”, “Nắm vững thời cơ, vượt qua thách thức, tiếp tục thực hiện chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”… Chúng ta biết rằng, nhà nước và quân đội là sản phẩm của xã hội có giai cấp và đấu tranh giai cấp. Vì vậy, quân đội mang bản chất giai cấp của nhà nước tổ chức và nuôi dưỡng nó. Không có nhà nước “phi giai cấp”, nên không có quân đội “phi chính trị”. Sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước đối với quốc phòng, an ninh, Quân đội, Công an đều nhằm bảo đảm cho Quân đội, Công an luôn tuyệt đối trung thành với Đảng, Nhà nước và Nhân dân; giữ vững bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc; có sức mạnh chiến đấu cao, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong mọi tình huống. Vì vậy, trong mọi hoàn cảnh, chúng ta phải kiên định nguyên tắc “Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quốc phòng, an ninh, Quân đội, Công an”. Đây là nguyên tắc cốt tử, tiên quyết trong hoạt động quân sự, quốc phòng và quá trình trưởng thành, lớn mạnh của lực lượng vũ trang ta. Bởi vì: “Đảng không những đề ra đường lối quân sự, xác định phương hướng phát triển tiềm lực quân sự, quốc phòng của đất nước, xác định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu và các chủ trương, giải pháp nâng cao sức mạnh chiến đấu của Đảng bộ Quân đội, mà Đảng còn lãnh đạo việc tổ chức hiện thực hóa quan điểm, đường lối xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”. Đồng thời, đồng chí Tổng Bí thư cũng nhấn mạnh, để giữ vững sự lãnh đạo của Đảng, một vấn đề hết sức cấp thiết hiện nay là phải đề cao tinh thần cảnh giác, chủ động, nhạy bén đẩy mạnh phản bác các luận điệu sai trái chống phá Đảng, Nhà nước và Quân đội của các thế lực thù địch; tỉnh táo, kịp thời xử lý các vấn đề phức tạp, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống. Từ ngàn đời nay trong quá trình dựng nước và giữ nước, cha ông ta đã có truyền thống xây dựng đội quân vừa chiến đấu, vừa sản xuất như chính sách “ngụ binh ư nông”, thực hiện “thực túc binh cường”, “quốc thịnh binh cường”, lúc thời bình sản xuất huấn luyện, khi có giặc thì là người lính xung kích cùng toàn dân đánh giặc. Năm 1944, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam ngày nay. Người xác định nhiệm vụ của Quân đội là: “Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”; đồng thời, khẳng định Quân đội vừa chiến đấu, vừa công tác, vừa sản xuất, trong đó chiến đấu là nhiệm vụ chủ yếu. Ngày nay, kết hợp quốc phòng, an ninh với phát triển kinh tế - xã hội là chủ trương hết sức đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta. Trong thời bình, Quân đội tham gia lao động sản xuất góp phần xây dựng nền kinh tế, phát triển đất nước, đúng với chức năng, nhiệm vụ của Quân đội, tạo điều kiện thuận lợi để bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”, “giữ nước từ khi nước chưa nguy”.

Hai là, phải bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa” tức là bảo vệ từ trước, phòng ngừa từ trước, chủ động chuẩn bị các điều kiện để bảo vệ vững chắc Tổ quốc ngay trong thời bình, khi đất nước chưa có chiến tranh, nguy biến. Để bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”, thì không chỉ tập trung tăng cường sức mạnh quốc phòng, an ninh đơn thuần mà còn phải đẩy mạnh phát triển toàn diện các mặt kinh tế, văn hóa, xã hội, chăm lo xây dựng làm cho đất nước ta ngày càng mạnh lên, để giữ cho “trong ấm”. Đồng thời, đẩy mạnh các hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế, tạo thế đan xen lợi ích chiến lược và củng cố sự tin cậy chiến lược với các đối tác, nhất là các nước láng giềng, các nước lớn, đối tác chiến lược... để giữ cho “ngoài êm”, tạo nền tảng vững chắc để ngăn chặn, đẩy lùi mọi nguy cơ chiến tranh, xung đột, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Đồng thời, các lực lượng, nhất là Quân đội nhân dân cần chủ động, nhạy bén, nâng cao năng lực nghiên cứu, dự báo, thực hiện tốt chức năng tham mưu chiến lược với Đảng và Nhà nước về quân sự, quốc phòng. Kịp thời nhận diện, xử lý đúng đắn, hài hòa, linh hoạt về đối tác, đối tượng quốc phòng; có đối sách xử lý phù hợp, hiệu quả các tình huống, các vấn đề về biên giới, biển, đảo, nhất là trên biển Đông, không để bị động, bất ngờ, ngăn ngừa nguy cơ chiến tranh, xung đột “từ sớm, từ xa”.

Ba là, phải xây dựng được nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân vững mạnh. Đây là yêu cầu khách quan của sự nghiệp bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa chứ không phải do ý muốn chủ quan của cá nhân hay tổ chức nào. Là một chủ trương chiến lược của Đảng ta, đồng thời cũng là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta. Tư tưởng cốt lõi xuyên suốt chỉ đạo đường lối quân sự, chiến lược quốc phòng của Đảng, Nhà nước ta là lấy xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc là nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Bởi truyền thống đoàn kết, yêu nước của dân tộc, lòng tin của quần chúng nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, “thế trận lòng dân” vững chắc chính là cội nguồn sức mạnh to lớn để dân tộc Việt Nam vượt qua mọi khó khăn, thử thách tiến lên phía trước. Do đó, trong bối cảnh hiện nay, phải luôn coi trọng phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết giữa các dân tộc, giữa các vùng, miền, giữa mọi giai tầng; đoàn kết giữa dân với Đảng, giữa quần chúng với cán bộ, đảng viên, giữa quân với dân, thực hiện “trên dưới đồng lòng, dọc ngang thông suốt” có như vậy mới xây dựng được “thế trận lòng dân” vững chắc. Nhiệm vụ chung của cả hệ thống chính trị là làm cho kinh tế phải vững, quốc phòng phải mạnh, thực lực phải cường, lòng dân phải yên, chính trị - xã hội ổn định, cả dân tộc là một khối đoàn kết thống nhất. Đảng phải lãnh đạo làm sao cho quân hùng, nước mạnh, dân tộc tự tin đi trên con đường đã chọn.

Bốn là, bảo vệ vững chắc lợi ích quốc gia, dân tộc. Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, khi các mối quan hệ quốc tế ngày càng mở rộng, bên cạnh việc hợp tác cùng phát triển, giữa các quốc gia vẫn luôn tồn tại sự cạnh tranh với nhau. Suy cho cùng, chỉ có lợi ích quốc gia, dân tộc là tối thượng, là vĩnh viễn. Chính sách quốc phòng có vai trò đặc biệt quan trọng, quan hệ trực tiếp đến vận mệnh của quốc gia, dân tộc. Điều kiện tiên quyết là sức mạnh nội lực phải ở vị trí trọng tâm, không thể dựa dẫm, phụ thuộc, trông chờ vào sự cứu cánh bên ngoài. Việc Việt Nam thực hiện chính sách không tham gia liên minh quân sự không phải là hành động “tự trói tay chân” như các đối tượng vẫn rêu rao. Trong một thế giới ngày càng phụ thuộc lẫn nhau, an ninh của Việt Nam không thể tách rời an ninh khu vực nói riêng và an ninh của thế giới nói chung. Hợp tác quốc phòng là một trong những yếu tố quan trọng để duy trì hòa bình, ổn định trong khu vực và trên thế giới, đồng thời cũng là một yếu tố quan trọng để thực hiện các mục tiêu quốc phòng của Việt Nam. Chính vì vậy, Việt Nam chủ trương mở rộng đối ngoại quốc phòng, tham gia ngày càng tích cực vào các hoạt động hợp tác quốc phòng, an ninh của khu vực và của cộng đồng quốc tế. Tư tưởng cốt lõi, xuyên suốt trong xây dựng chiến lược quốc phòng Việt Nam là bảo vệ nền độc lập, tự chủ của đất nước phải gắn với bảo vệ hòa bình; bảo vệ hòa bình, giữ vững môi trường hòa bình ổn định để đất nước phát triển là mục tiêu tối thượng của bảo vệ Tổ quốc, là điều kiện căn cốt nhất để đất nước phát triển, là một giá trị thiêng liêng của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Có bảo vệ được hòa bình, giữ vững môi trường hòa bình sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho đất nước ổn định, phát triển. Ngược lại, đất nước có phát triển, tiềm lực có dồi dào thì vị thế, uy tín của đất nước càng được nâng cao, là điều kiện căn cốt để bảo vệ hòa bình.

Chúng ta đã thấy rõ, các quan điểm sai trái, thù địch về quốc phòng, an ninh là hết sức thâm độc, nguy hiểm, không thể coi thường, xem nhẹ vì nó liên quan trực tiếp đến sự tồn vong của Đảng và liên quan đến bản chất của lực lượng vũ trang cách mạng. Cuốn sách “Một số vấn đề về đường lối quân sự, chiến lược quốc phòng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa thời kỳ mới” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cung cấp những luận cứ quan trọng cũng là chỉ đạo, định hướng cho mỗi chúng ta phải luôn nêu cao tinh thần cảnh giác, kiên quyết đấu tranh chống lại âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch về quốc phòng, an ninh./.

 

NHẬN DIỆN CÁC LUẬN ĐIỂM SAI TRÁI VỀ QUỐC PHÒNG,  AN NINH TRONG TÌNH HÌNH MỚI

Hoằng Tháo

Các quan điểm sai trái, thù địch về quốc phòng, an ninh là hết sức thâm độc, nguy hiểm, không thể coi thường, xem nhẹ vì nó liên quan trực tiếp đến sự tồn vong của Đảng và liên quan đến bản chất của lực lượng vũ trang cách mạng Việt Nam. Hiện nay các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đã dùng nhiều thủ đoạn chống phá ngày càng công khai, trực diện hơn, chúng triệt để lợi dụng mạng xã hội và một số báo, đài phát thanh tiếng Việt ở nước ngoài để xuyên tạc, bóp méo trắng trợn quan điểm, đường lối của Đảng về tăng cường quốc phòng, an ninh; những hoạt động đối ngoại, các sự kiện quan trọng trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh. Từ đó kích động, lôi kéo các phần tử bất mãn, cực đoan tạo lập lực lượng đối lập chống phá Đảng, Nhà nước, lực lượng vũ trang. Một số luận điệu về quốc phòng, an ninh chúng thường sử dụng là:

Một là, đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với lĩnh vực quốc phòng, an ninh và lực lượng vũ trang, đòi “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang. Đây là mục tiêu xuyên suốt của các thế lực thù địch. Chúng cho rằng “Quân đội, Công an do nhà nước nuôi dưỡng nên chỉ phục tùng nhà nước, không phục tùng đảng phái nào”. Chúng lấy dẫn chứng ở các thể chế chính trị tư sản với chế độ đa đảng, quân đội, công an không do đảng nào lãnh đạo... Dựa vào đó, chúng phủ nhận nguyên tắc “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt”; đòi bỏ quy định “lực lượng vũ trang nhân dân tuyệt đối trung thành với Đảng” ở Điều 65 Hiến pháp năm 2013.

Hai là, xuyên tạc đường lối của Đảng về xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân. Về chức năng của Quân đội, Công an, các thế lực thù địch cho rằng chỉ nên xây dựng chức năng đội quân chiến đấu chứ không cần đến chức năng đội quân công tác và đội quân lao động sản xuất. Chúng tỏ vẻ thân thiện góp ý rằng “Quân đội, Công an nhân dân Việt Nam không nên thực hiện sản xuất, lao động mà chỉ thuần túy làm nhiệm vụ quốc phòng, an ninh; “Quân đội không làm kinh tế là sự đột phá về tư duy” và làm kinh tế thì “lợi ít, hại nhiều”... Những luận điệu đó nhằm xuyên tạc bản chất, truyền thống, chức năng của Quân đội, tách Quân đội khỏi sự gắn bó máu thịt với Nhân dân và sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng thời hạ thấp vai trò của Quân đội trong đời sống xã hội. Bên cạnh đó, chúng còn có luận điệu tuyên truyền “lái” lực lượng vũ trang chỉ làm nhiệm vụ kinh tế, có kinh tế sẽ mua sắm vũ khí trang bị hiện đại, sẽ bảo vệ được Tổ quốc, giữ gìn an ninh trật tự... Các luận điệu này đều rất thâm độc, một mặt chúng muốn chuyển bản chất Quân đội, Công an ta thành đội quân “đánh thuê” không có mục tiêu lý tưởng, không phát huy nghệ thuật đánh giặc của cha ông ta, phụ thuộc vào các nước khác, mất bản chất giai cấp công nhân. Chúng muốn Quân đội, Công an chú trọng làm kinh tế mà bỏ qua nhiệm vụ huấn luyện sẵn sàng chiến đấu, mất phương hướng mục đích và bản chất truyền thống tốt đẹp của lực lượng vũ trang nhân dân.

Ba là, xuyên tạc, bóp méo tình hình an ninh trật tự, gây mất ổn định ở một số địa phương; xuyên tạc lịch sử và tình hình biên giới. Quá trình giải quyết một số vụ việc có sự tham gia của lực lượng vũ trang, chúng cho rằng, chính quyền đang dùng “Công an, Quân đội để chống lại nhân dân” và xuyên tạc bản chất, mục đích, ý nghĩa rồi quy kết và cho rằng, thực chất “Quân đội, Công an là của Đảng, chứ không phải của Nhân dân mà cũng chẳng phải của đất nước”, từ đó hòng gây mâu thuẫn nội bộ và làm mất lòng tin của Đảng, Nhân dân đối với Quân đội và Công an; chia rẽ tình quân dân; chia rẽ Quân đội với Công an.

Bốn là, xuyên tạc đường lối đối ngoại về quốc phòng, an ninh của Việt Nam. Xét về chính sách quốc phòng, Đảng, Nhà nước ta thực hiện chủ trương “bốn không” (không tham gia các liên minh quân sự, không là đồng minh quân sự của bất kỳ nước nào; không cho bất cứ nước nào đặt căn cứ quân sự ở Việt Nam; không dựa vào nước này để chống nước kia; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế). Các đối tượng cho rằng, chính sách “bốn không” như trên là “tự trói tay chân mình”; là “không đủ khả năng để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ”, là lạc hậu, lỗi thời, không phù hợp với thực tế, đi ngược lại với xu thế toàn cầu hóa....

Những thủ đoạn trên của các thế lực thù địch đặc biệt nguy hiểm, gây hoang mang, tạo sự hoài nghi trong nhân dân, nhất là thế hệ trẻ, làm suy giảm niềm tin vào đường lối quân sự, quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc và phương hướng xây dựng Quân đội, Công an hiện đại của Đảng và Nhà nước ta. Đồng thời, tác động tiêu cực đến quá trình triển khai, thực hiện đường lối của Đảng về quốc phòng, an ninh; kìm hãm và gây bất lợi cho ta trong quan hệ quốc tế, đối ngoại quân sự, quốc phòng, an ninh và bảo đảm hòa bình cho sự ổn định, phát triển đất nước./.

 ĐẤU TRANH QUỐC PHÒNG Ở  VIỆT NAM HIỆN NAY                                                                                                        

                                                                                             LHS

Đấu tranh quốc phòng là một hình thức đấu tranh cơ bản ở Việt Nam. Tư tưởng về đấu tranh quốc phòng xuất hiện từ rất sớm, gắn liền với quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc; thể hiện đậm nét ở bài học kinh nghiệm lo giữ nước từ lúc chưa nguy, trị nước từ khi chưa loạn; hòa hiếu bang giao với các nước khác, luôn đề phòng không để đất nước bị động, bất ngờ của cha ông ta. Đấu tranh quốc phòng ở Việt Nam là tổng thể các hoạt động đấu tranh phi vũ trang và đấu tranh vũ trang được kết hợp chặt chẽ với nhau, diễn ra trong cả thời bình và thời chiến, do toàn dân tiến hành dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành thống nhất của Nhà nước, nhằm xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Ngày 25 tháng 11 năm 2019 Bộ Quốc phòng ban hành “Quốc phòng Việt nam 2019”. Đây là lần thứ tư chúng ta ban hành sách trắng quốc phòng; trong đó xác định nội dung cơ bản của đấu tranh quốc phòng, đó là:

Việt Nam tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích của tất cả các nước theo quy định của luật pháp quốc tế; đồng thời, yêu cầu các nước tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, Hiến pháp, pháp luật của Việt Nam.

Việt Nam kiên quyết, kiên trì đấu tranh giải quyết mọi tranh chấp, bất đồng bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp và thông lệ quốc tế và sẽ sử dụng mọi biện pháp cần thiết để tự vệ khi chủ quyền, lãnh thổ, lợi ích quốc gia - dân tộc bị xâm phạm.

Việt Nam chủ trương xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân; phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, trong đó lực lượng vũ trang làm nòng cốt trong đấu tranh quốc phòng, cả phi vũ trang và vũ trang; kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị, ngoại giao, kinh tế, văn hóa; không để nước ngoài lợi dụng, thỏa hiệp với nhau hoặc với các thế lực thù địch làm phương hại đến độc lập, chủ quyền, lợi ích quốc gia - dân tộc; xử trí linh hoạt, hiệu quả từng tình huống.

Tích cực, chủ động ngăn ngừa và đẩy lùi nguy cơ chiến tranh là một trong những nhiệm vụ trọng yếu trong thời bình của quốc phòng Việt Nam nhằm thực hiện chiến lược quốc phòng tối ưu là bảo vệ chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, lợi ích quốc gia - dân tộc mà không cần phải tiến hành chiến tranh. Công cuộc phòng thủ đất nước được thực hiện dựa trên tổng thể các hoạt động chính trị, kinh tế, ngoại giao, văn hóa - xã hội và quân sự theo một chiến lược thống nhất nhằm loại trừ các nhân tố dẫn đến xung đột vũ trang và chiến tranh, đồng thời chuẩn bị chu đáo mọi mặt, đồng bộ từ thời bình; sẵn sàng đánh thắng các hình thái chiến tranh xâm lược.

Biên giới nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thiêng liêng, bất khả xâm phạm. Bảo vệ biên giới là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ tính uy nghiêm, biểu tượng quốc gia ở biên giới, cửa khẩu; bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc; bảo vệ tài nguyên môi trường sinh thái, an ninh chính trị, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội, phòng thủ vững chắc khu vực biên giới.

Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý chứng minh chủ quyền không thể tranh cãi đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; quyền chủ quyền đối với vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa trên Biển Đông. Việt Nam kiên quyết, kiên trì bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với các vùng biển của mình theo luật pháp quốc tế. Việt Nam tuân thủ Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển giữa Việt Nam và Trung Quốc; tiếp tục thực hiện toàn diện, hiệu quả quy tắc ứng xử trên biển Đông (DOC), cùng với các nước ASEAN phấn đấu sớm đạt được bộ quy tắc ứng xử chung trên biển Đông (COC) với Trung Quốc; kiểm soát tốt bất đồng trên biển, không có hành động làm phức tạp, mở rộng tranh chấp, gìn giữ hòa bình, ổn định ở biển Đông.

Việt Nam và Campuchia tiếp tục nỗ lực đàm phán giải quyết vấn đề biên giới trên bộ và trên biển trên tinh thần hữu nghị, hợp tác, triệt để tuân thủ các cam kết, theo luật pháp và thông lệ quốc tế, phản đối các hành động can thiệp, kích động gây chia rẽ quan hệ hai nước. Trong khi biên giới trên biển chưa được phân định, Việt Nam thực hiện nghiêm chỉnh Hiệp định về vùng nước lịch sử năm 1982, tăng cường hợp tác quản lý, bảo vệ và gìn giữ an ninh trật tự khu vực biên giới, trên đất liền và trên biển.

Là quốc gia biển, Việt Nam đặc biệt quan tâm đến an ninh biển, bảo đảm cho vùng biển Việt Nam là vùng biển an toàn, thân thiện, được kiểm soát chặt chẽ, tuân thủ luật pháp quốc tế, hỗ trợ và bảo vệ các hoạt động tự do thương mại, hàng hải, hàng không quốc tế, lao động hòa bình trên biển.

Việt Nam phản đối mọi hành động xâm phạm chủ quyền, lợi ích quốc gia trên không gian mạng, sử dụng không gian mạng để tuyên truyền, xuyên tạc, kích động, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc; sẵn sàng sử dụng mọi biện pháp phù hợp với luật pháp quốc tế để ngăn chặn các hành động chống phá, bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia trên không gian mạng.

Việt Nam đẩy mạnh hợp tác với các nước trong và ngoài khu vực nhằm đối phó với các thách thức an ninh chung. Phòng, chống, đối phó với biến đổi khí hậu toàn cầu là mục tiêu chiến lược quốc gia. Việt Nam có chính sách ưu tiên sử dụng năng lượng sạch, giảm khí thải nhà kính và giảm bớt tác hại của hiện tượng nước biển dâng. Việt Nam ủng hộ các hoạt động của Ủy hội sông Mê kông, ủng hộ quản lý và sử dụng hiệu quả nguồn nước sông Mê kông theo quy định của luật pháp quốc tế về các con sông đi qua nhiều nước.

Việt Nam kiên quyết lên án và chống lại hành động khủng bố, tài trợ và nuôi dưỡng khủng bố dưới mọi hình thức, đồng thời phản đối các hoạt động lợi dụng chống khủng bố để can thiệp vào công việc nội bộ của các nước. Việt Nam ủng hộ những nỗ lực của cộng đồng quốc tế, mở rộng hợp tác nhằm ngăn ngừa các hoạt động khủng bố và các hoạt động hỗ trợ khủng bố dưới mọi hình thức, phù hợp với những nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, Hiến pháp, pháp luật và điều kiện của Việt Nam./.

 

 

MỘT SỐ NỘI DUNG ĐẤU TRANH QUỐC PHÒNG TRONG TÌNH HÌNH MỚI

Nhân Trần

Đấu tranh quốc phòng là những hoạt động đấu tranh trong công cuộc giữ nước, được thực hiện bằng tổng thể các hình thức, biện pháp đấu tranh trên các lĩnh vực chính trị, tư tưởng, kinh tế, khoa học, công nghệ, quân sự, dân tộc, tôn giáo, văn hóa, ngoại giao, pháp lý,... do toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị tiến hành, sử dụng phương thức đấu tranh phi vũ trang là chủ yếu. Hoạt động này đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng và sự chỉ đạo, điều hành tập trung thống nhất của Nhà nước, nhằm tạo sức mạnh tổng hợp, toàn diện của quốc gia, đối phó có hiệu quả với các nguy cơ an ninh truyền thống, phi truyền thống, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Đối tượng đấu tranh quốc phòng rất đa dạng, bao gồm đối tượng cơ bản, nguy hiểm, lâu dài là các thế lực thù địch hiếu chiến, đồng minh và tay sai có âm mưu, hành động xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang, chuyển hóa, lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa. Đối tượng trực tiếp, nguy hiểm, lâu dài là các thế lực nước lớn và đồng minh có tham vọng, hành động xâm phạm chủ quyền lãnh thổ, xâm hại lợi ích quốc gia - dân tộc. Đối tượng rất nguy hiểm là các tổ chức phản động trong và ngoài nước, lực lượng cơ hội, suy thoái chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, có tư tưởng, hành động chống phá sự nghiệp cách mạng bằng biện pháp vũ trang, phi vũ trang. Chúng câu kết, tiếp tay cho các thế lực thù địch, hiếu chiến và thế lực nước lớn có tham vọng chủ quyền lãnh thổ, đe dọa đến sự tồn vong của chế độ, độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Mục tiêu đấu tranh quốc phòng nhằm phòng ngừa, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn, hành động xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển, đảo của Tổ quốc; ngăn chặn làm thất bại xung đột vũ trang và xâm nhập tiến công mạng, đẩy lùi mọi nguy cơ chiến tranh; làm thất bại chiến lược “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, đẩy lùi “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; ngăn chặn các mối đe dọa an ninh truyền thống và phi truyền thống, không để bị động, bất ngờ, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc. Để đấu tranh có hiệu quả với các tình huống trên, chúng ta phải dựa vào thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, “thế trận lòng dân” vững chắc; phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, lấy lực lượng vũ trang làm nòng cốt và tùy từng tình huống để vận dụng phương thức đấu tranh phù hợp, cụ thể là:

Trong phòng, chống “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ: Kết hợp chặt chẽ phòng, chống trên các lĩnh vực chính trị, tư tưởng, văn hóa, kinh tế, ngoại giao, quân sự, an ninh, dân tộc, tôn giáo, theo một chiến lược chung, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước. Thường xuyên cảnh giác, đấu tranh chống các quan điểm, tư tưởng sai trái, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyến hóa”; lực lượng cơ hội chính trị; ngăn chặn các tổ chức phản động móc nối, xâm nhập. Phát huy vai trò của cấp ủy, chính quyền, đoàn thể, huy động sức mạnh của nhân dân. Tăng cường tuyên truyền, vận động, giáo dục, thuyết phục nhân dân nghiêm chỉnh thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách đại đoàn kết dân tộc của Đảng, Nhà nước. Quá trình đó, cần dựa vào dân, giữ dân, giành dân, bảo vệ dân; đồng thời, kiên quyết trừng trị các đối tượng, hành động vũ trang phản cách mạng. Quân đội phối hợp chặt chẽ với công an, cô lập, tiêu diệt những tên cầm đầu; phân hóa, làm tan rã lực lượng phản động; nhanh chóng dập tắt bạo loạn; bảo vệ các địa bàn, mục tiêu trọng yếu về chính trị, kinh tế, quân sự; bảo vệ Đảng, chính quyền; không để thế lực thù địch lợi dụng tạo cớ can thiệp quân sự. Bao vây, ngăn chặn, tiêu diệt nhanh, gọn lực lượng vũ trang phản động trong nội địa và lực lượng can thiệp quân sự từ bên ngoài.

Trong phòng, chống các mối đe dọa an ninh phi truyền thống: Coi đây là nhiệm vụ “chiến đấu trong thời bình”, nên cần chuẩn bị đầy đủ, đồng bộ các mặt; nắm chắc tình hình, dự báo đúng các tình huống; kịp thời điều chỉnh, bổ sung kế hoạch, phương án theo diễn biến, phát triển của tình hình. Huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, toàn dân, lực lượng vũ trang làm nòng cốt, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo, chỉ huy, điều hành tập trung, thống nhất, hiệp đồng chặt chẽ; phát huy “bốn tại chỗ’’ kết hợp với cơ động, hỗ trợ của đơn vị, địa phương khác và sự hỗ trợ quốc tế. Khi có tình huống xảy ra, phải nhanh chóng triển khai hoạt động phòng, chống; vận dụng linh hoạt các biện pháp kỹ thuật, công nghệ, quân sự, an ninh, thông tin… bảo vệ các mục tiêu, bảo vệ nhân dân, khắc phục hậu quả, khôi phục hoạt động bình thường, sẵn sàng đối phó với các thế lực thù địch, phản động lợi dụng để phá hoại, xâm phạm chủ quyền, lợi ích quốc gia - dân tộc. Giữ vững chủ quyền, tuân thủ quy định của pháp luật, bảo vệ bí mật quốc gia, bí mật quân sự trong hợp tác quốc tế đối phó với thách thức an ninh phi truyền thống.

Trong phòng, chống chiến tranh thông tin, chiến tranh không gian mạng: Hình thành thế trận bảo vệ không gian mạng, hệ thống dữ liệu thông tin, hệ thống lãnh đạo, chỉ huy, điều hành đồng bộ, vững chắc, bí mật. Sử dụng lực lượng tác chiến không gian mạng làm nòng cốt kết hợp với lực lượng chuyên trách, kiêm nhiệm của các ban, bộ, ngành, chuyên gia trong các tổ chức xã hội, doanh nghiệp công nghệ thông tin, người Việt Nam ở nước ngoài nhằm hình thành lực lượng tổng hợp, dưới sự chỉ đạo, chỉ huy của Bộ Quốc phòng, trực tiếp là Bộ Tư lệnh 86. Đồng thời, phải vận dụng tổng hợp các biện pháp chiến thuật, kỹ thuật, công nghệ trong phòng thủ, trinh sát, tấn công mạng, ngăn chặn, làm thất bại các biện pháp, thủ đoạn chiến tranh thông tin, chiến tranh không gian mạng của đối phương; bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia - dân tộc trên không gian mạng, bảo vệ hệ thống thông tin lãnh đạo, chỉ đạo, chỉ huy của Đảng, Nhà nước, Quân đội. Kết hợp hoạt động tác chiến không gian mạng với hoạt động quân sự, làm rối loạn chỉ huy, điều khiển vũ khí, phương tiện chiến tranh của địch tại các khu vực, địa bàn tác chiến chủ yếu, góp phần đánh bại các hình thái chiến tranh xâm lược.

Trong phòng, chống xâm phạm chủ quyền, lợi ích quốc gia - dân tộc, xâm chiếm biển, đảo, xâm lấn biên giới: Trên biển, đảo dựa vào nhân dân, huy động sức mạnh của nhân dân; hình thành thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân rộng khắp, có trọng điểm. Phát huy vai trò nòng cốt trong thực thi, bảo vệ pháp luật của lực lượng Cảnh sát biển phối hợp với lực lượng Hải quân, Biên phòng và các lực lượng khác, kịp thời phát hiện âm mưu, ngăn chặn hành động xâm phạm chủ quyền, lợi ích quốc gia - dân tộc, chiếm giữ các đảo đá, bãi cạn trên vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của nước ta. Kiên quyết, kiên trì, kết hợp chặt chẽ đấu tranh trên thực địa với đấu tranh ngoại giao, pháp lý, thông tin, tuyên truyền... không để xảy ra sự đã rồi; bảo vệ các hoạt động chấp pháp, lợi ích của ta; tránh mắc mưu khiêu khích, tạo cớ gây xung đột vũ trang. Trên khu vực biên giới hình thành thế trận biên phòng nhân dân trên cơ sở thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân bảo vệ biên giới vững chắc. Phát huy vai trò nòng cốt của Bộ đội Biên phòng, cùng với các lực lượng khác và nhân dân, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền địa phương; quản lý chặt chẽ đường biên, kịp thời phát hiện, ngăn chặn các hoạt động xâm lấn, xâm phạm chủ quyền, phá hoại cột mốc, xâm nhập, xâm canh, xâm cư, v.v. Kết hợp chặt chẽ biện pháp nghiệp vụ, đấu tranh pháp lý, ngoại giao với đấu tranh trên các lĩnh vực khác; bảo vệ an ninh, an toàn tuyến biên giới, các mục tiêu chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa khu vực biên giới.

Trong phòng, chống xung đột vũ trang, xung đột vũ trang phát triển thành chiến tranh xâm chiếm biển, đảo: Dựa vào thế trận phòng thủ các đảo, quần đảo; các khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố ven biển; thế bố trí lực lượng Hải quân, cùng với các lực lượng khác, hình thành thế trận phòng thủ vững chắc, có trọng điểm; kịp thời phát hiện âm mưu, ngăn chặn xung đột vũ trang, không để bị động, bất ngờ. Sử dụng lực lượng Hải quân làm nòng cốt, cùng với lực lượng Cảnh sát biển, Bộ đội Biên phòng và các lực lượng khác; kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị và trên các lĩnh vực nhằm ngăn chặn, đánh bại các hành động xâm phạm chủ quyền, xâm chiếm đảo đá, bãi cạn, bảo vệ các mục tiêu trên biển, không để xung đột kéo dài, lan rộng. Khi xung đột vũ trang phát triển thành chiến tranh xâm chiếm biển, đảo tổ chức thế trận phòng thủ liên hoàn bờ - biển - đảo; sử dụng lực lượng Hải quân làm nòng cốt, cùng với lực lượng Cảnh sát biển, các quân, binh chủng, quân khu ven biển; vận dụng linh hoạt các biện pháp, phương thức tác chiến, phòng thủ giữ đảo, tiến công tiêu diệt địch với quy mô phù hợp, phá hủy phương tiện, vũ khí, trang bị của địch. Tích cực đấu tranh trên các lĩnh vực, chống bao vây, phong tỏa, cấm vận, phá hoại kinh tế; giữ vững các đảo, quần đảo và vùng biển trọng yếu; làm thất bại chiến tranh xâm chiếm biển, đảo.

Trong phòng, chống xung đột vũ trang, xung đột vũ trang phát triển thành chiến tranh xâm lấn biên giới: Dựa vào khu vực phòng thủ các cấp, thế bố trí của lực lượng cơ động và các lực lượng khác, hình thành thế trận phòng thủ biên giới vững chắc; kịp thời phát hiện âm mưu, hành động gây xung đột vũ trang biên giới, không để bị động, bất ngờ. Sử dụng lực lượng khu vực phòng thủ địa phương, lấy Bộ đội địa phương, Bộ đội Biên phòng làm nòng cốt, cùng với các lực lượng khác; kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh pháp lý, ngoại giao và đấu tranh trên các lĩnh vực khác, ngăn chặn, đánh bại các hành động xâm phạm chủ quyền, xâm lấn biên giới, không để xung đột kéo dài, lan rộng. Khi xung đột vũ trang phát triển thành chiến tranh xâm lấn biên giới dựa vào thế trận khu vực phòng thủ địa phương các cấp; tổ chức lực lượng tại chỗ đánh địch rộng khắp trên các khu vực biên giới, sát thưong, tiêu hao, ngăn chặn, tiến công tiêu diệt địch. Nắm vững thời cơ, sử dụng lực lượng cơ động của quân khu (của Bộ khi cần thiết), tiến hành các trận đánh, chiến dịch phản công, tiến công, sát thương lớn, tiêu diệt bộ phận quan trọng, đánh bại địch trên vùng biên giới trọng điểm, bảo vệ các mục tiêu trọng yếu; kết hợp chặt chẽ tác chiến với các hoạt động đấu tranh, kiên quyết đánh bại chiến tranh xâm lấn biên giới.

Trong phòng, chống chiến tranh xâm lược quy mô lớn: Kịp thời phát hiện ý đồ chiến tranh xâm lược; nhanh chóng chuyển đất nước từ thời bình sang thời chiến; chuyển hóa thế trận quốc phòng toàn dân thành thế trận chiến tranh nhân dân. Sử dụng lực lượng vũ trang ba thứ quân làm nòng cốt, phát huy vai trò của lực lượng tại chỗ (Bộ đội Biên phòng, bộ đội địa phương, dân quân tự vệ ở địa bàn đất liền, biên giới và Hải quân, Cảnh sát biển ở chiến trường trên biển); kết hợp chiến tranh nhân dân địa phương với chiến tranh bằng các binh đoàn chủ lực cùng lực lượng rộng rãi toàn dân, sử dụng mọi loại vũ khí, trang bị hiện có, phù hợp với cách đánh của ta. Toàn bộ hoạt động này đặt dưới sự lãnh đạo của Quân ủy Trung ương, chỉ đạo của Bộ Quốc phòng; vận dụng kết hợp các loại hình tác chiến chiến lược; đánh địch rộng khắp, trên các môi trường (đất liền, biển, đảo, vùng trời, không gian mạng), cả bên trong và bên ngoài, trên biên giới và trong nội địa, cả phía trước và phía sau, sát thương lớn sinh lực, tiêu diệt từng bộ phận quan trọng quân địch, giữ vững mục tiêu, địa bàn chiến lược trọng yếu, bảo vệ nhân dân, buộc địch sa lầy, suy yếu. Nắm vững thời cơ, mở các chiến dịch, chiến dịch chiến lược, kết hợp với đấu tranh trên các lĩnh vực, vừa đánh, vừa đàm; vừa tác chiến vừa củng cố, bảo toàn tiềm lực, lực lượng; đánh bại ý chí xâm lược, kết thúc chiến tranh trên thế thắng, trong điều kiện có lợi./.

Thứ Hai, 19 tháng 2, 2024

 

ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI CỦA VIỆT NAM ĐÚNG HAY SAI?

HÃY ĐỂ THỰC TẾ PHÁN XÉT

Hướng Dương

 

Vẫn có những luận điệu cho rằng trong bối cảnh phức tạp trên thế giới hiện nay, Việt Nam đang ngả theo nước này, chạy theo nước kia để được an toàn, phát triển. Chuyện đó sẽ không xảy ra. Nhận xét ấy nếu không xuất phát từ những kẻ không hiểu gì về lịch sử thì cũng là chiêu trò chọc gậy bánh xe nhằm phá hoại đất nước. "Đài Á châu tự do" đã thực hiện một clip gần 10 phút đưa ra nhiều bình luận thiếu thực tế trước chuyến thăm nước ngoài của lãnh đạo cấp cao Việt Nam. Rất nhiều phỏng đoán vô căn cứ đã được đưa ra: “Việt Nam ngả nghiêng phe này, nước kia”. Nếu cứ tư duy theo lối suy diễn áp đặt này thì chúng sẽ trả lời ra sao khi thực tế lại cho thấy hầu hết nguyên thủ của tất cả các nước lớn trên thế giới đều đã đến Việt Nam. Thậm chí nhiều lãnh đạo các nước còn chọn Việt Nam là điểm công du đối ngoại đầu tiên sau khi nhậm chức để đưa ra thông điệp mong muốn tăng cường hợp tác?

 XUYÊN TẠC ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI CỦA VIỆT NAM –

LUẬN ĐIỆU GIẢ DỐI KHÔNG THỂ ĐỔI TRẮNG THAY ĐEN

Hướng Dương

Xuyên tạc các chủ trương lớn của Việt Nam, trong đó có hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế, những giọng điệu bôi nhọ, những hành động chống phá càng trở nên phổ biến. Từ tụ tập gây sức ép nhằm cản trở nỗ lực mở rộng quan hệ đa phương trong các chuyến công du nước ngoài của lãnh đạo cấp cao cho đến bóp méo thông tin trong các lĩnh vực như kinh tế, quyền con người… tạo nên những hình ảnh sai lệch về Việt Nam. Hay đưa ra những thông tin trái ngược với đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước nhằm gây hoang mang trong nhân dân. Tuy nhiên, thực tế khác hẳn những luận điệu xuyên tạc như các thế lực thù địch. Vị thế và vai trò của Việt Nam ngày càng được khẳng định trên thế giới. Nhìn vào lịch sử dân tộc, cùng với những cuộc chiến đấu bảo vệ độc lập dân tộc, chủ quyền đất nước, ông cha ta đã tạo dựng nên những truyền thống và bản sắc riêng, rất độc đáo của nền ngoại giao và hoạt động đối ngoại.

Trong hàng nghìn năm, đối ngoại đã được sử dụng để phòng ngừa, ngăn chặn chiến tranh, hoặc để sớm kết thúc chiến tranh trong vị thế có lợi nhất. Trong những năm tháng cách mạng, mặt trận ngoại giao đã luôn đóng vai trò trọng yếu góp phần tạo nên những thắng lợi hết sức cho sự nghiệp đối nội xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Khi hòa bình lập lại, đối ngoại đã trở thành một mặt trận, tạo lối, mở đường, từng bước phá thế, bị bao vây, cấm vận, khơi thông quan hệ với nhiều đối tác, mở ra cục diện mới cho công cuộc đổi mới, hội nhập, xây dựng và bảo vệ đất nước. Những thành tựu hơn 35 năm đổi mới đã khẳng định sự đúng đắn của việc xây dựng nên một trường phái đối ngoại và ngoại giao của riêng Việt Nam: Kiên định, nhưng linh hoạt, vừa đảm bảo vai trò, vị thế của đất nước nhưng vẫn xử lý hài hòa được các mối quan hệ với các đối tác, đảm bảo những điều kiện nhất cho phát triển đất nước.

 


THỰC HƯ THỦ ĐOẠN ĐÒI “CHUYỂN ĐỔI THỂ CHẾ CHÍNH TRỊ” CỦA VIỆT NAM

Hoằng Tháo

Trong các thời kỳ lịch sử, nhất là sau khi chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, với những thủ đoạn hết sức tinh vi, xảo quyệt, các thế lực thù địch đã tăng cường chống phá cách mạng Việt Nam. Trong đó có âm mưu đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, đòi chuyển đổi thể chế chính trị ở Việt Nam.      

Sự nguy hại khôn lường của âm mưu đòi chuyển đổi thể chế chính trị Việt Nam

Từ bên ngoài, các thế lực thù địch sử dụng một khối lượng khổng lồ các phương tiện thông tin, truyền thông, nhất là sử dụng các trang mạng xã hội để thực hiện các chiến dịch chống phá tư tưởng quy mô lớn đối với Việt Nam. Các thế lực thù địch đưa ra luận điệu: Các cương lĩnh, đường lối cách mạng của Đảng chứng tỏ sự “chuyên quyền”, “độc đoán”, “đảng trị”. Chúng đổ lỗi cho Đảng trước nguy cơ tụt hậu về kinh tế của đất nước so với những nước trong khu vực; từ đó, chúng cho rằng, trong thời đại ngày nay, nếu tiếp tục đi theo con đường xã hội chủ nghĩa là sai lầm. Chúng “khuyên” chúng ta đi theo mô hình “xã hội dân chủ”, thực hiện “chính trị đa nguyên”, “đa đảng đối lập”, xóa bỏ Điều 4 trong Hiến pháp năm 2013 về hiến định quyền lãnh đạo của Đảng, vì chúng cho rằng “đa nguyên, đa đảng sẽ khơi dậy sự sáng tạo của toàn dân, tốt hơn cho sự phát triển của xã hội”(!). Đây là một luận điệu hết sức nguy hiểm và thâm độc vì họ cố tình đánh đồng giữa vấn đề đa nguyên, đa đảng với dân chủ và phát triển. Với những người có nhận thức chính trị không vững vàng có thể dễ dàng bị đánh lừa bởi luận điệu này, từ đó, cổ xúy cho việc thiết lập cơ chế đa nguyên, đa đảng tại Việt Nam. Như vậy, luận điệu “muốn thực sự dân chủ và phát triển”, phải thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập thực chất là đòi hỏi Đảng Cộng sản Việt Nam phải “từ bỏ vị thế lãnh đạo”, “chuyển đổi thể chế chính trị”, với mục tiêu thâm độc là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, thực hiện “đa nguyên chính trị”, chuyển hóa chế độ xã hội chủ nghĩa sang các chế độ xã hội khác.

Kiên quyết, kiên trì giữ vững “linh hồn, mạch sống” của Đảng

Trong bối cảnh hiện nay, việc nhận diện và kịp thời đập tan các âm mưu, thủ đoạn tinh vi, nham hiểm của các thế lực thù địch, phản động đòi đa nguyên, đa đảng chính là vấn đề cốt tử để bảo vệ tính chính danh, bản chất cách mạng, vị thế, sứ mệnh cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội Việt Nam. Do đó, cần chú trọng nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và toàn xã hội về âm mưu, thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị chống phá, bác bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng. Đồng thời, nâng cao tinh thần cảnh giác của cán bộ, đảng viên và nhân dân để kịp thời phát hiện, tẩy chay, không tiếp tay cho kẻ xấu lan truyền thông tin, nhất là trên không gian mạng. Trên cơ sở đó, thống nhất nhận thức trong toàn xã hội về phương châm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng. Trọng tâm của công tác này là tiếp tục làm cho toàn Ðảng, toàn dân, toàn quân nhận thức ngày càng đầy đủ hơn, sâu sắc hơn những nội dung cơ bản và giá trị lý luận và thực tiễn to lớn của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; làm cho Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thật sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của đời sống xã hội.

Bảo vệ đường lối cách mạng, khoa học của Đảng

Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (03/02/1930) và trải qua các thời kỳ lãnh đạo cách mạng, cương lĩnh, đường lối, quan điểm của Đảng luôn bị các thế lực thù địch về chính trị và ý thức hệ chống phá, xuyên tạc, phủ định. Những năm cuối thập niên 1930, trước sự chống phá của bọn Trotsky, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ đã viết tác phẩm “Tự chỉ trích”. Năm 1939, trong ý kiến gửi các đồng chí ở trong nước, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc nhấn mạnh: Đối với bọn Trotsky, không thể có thỏa hiệp nào, một nhượng bộ nào. Phải dùng mọi cách để lột mặt nạ chúng làm tay sai cho chủ nghĩa phát xít, phải tiêu diệt chúng về chính trị.

Sau sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu, trước âm mưu phủ định chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, đòi chấm dứt vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, thực hiện đa nguyên chính trị và đa đảng đối lập của các thế lực thù địch, phản động, Đảng Cộng sản Việt Nam đã kiên quyết, dứt khoát bác bỏ những quan điểm sai trái đó, kiên định Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên trì con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; hoạch định và không ngừng bổ sung, phát triển đường lối đổi mới và thông qua “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội”. Thực tiễn sinh động của cách mạng Việt Nam đã chứng tỏ, đối với Việt Nam không còn con đường nào khác để có độc lập dân tộc thực sự và tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Cần nhấn mạnh rằng, đây là sự lựa chọn của chính lịch sử, sự lựa chọn đã dứt khoát từ năm 1930 với sự ra đời của Đảng ta.

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Cương lĩnh đầu tiên của Đảng, Luận cương chính trị tháng 10/1930, Chính cương Đảng Lao động Việt Nam và đường lối cách mạng dân tộc dân chủ là ngọn cờ soi sáng bước đường tranh đấu của dân tộc Việt Nam giành độc lập, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và bước đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội; thì Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Cương lĩnh 1991 cũng như Cương lĩnh bổ sung, phát triển 2011) và đường lối đổi mới toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế đã đưa Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng kinh tế-xã hội, trở thành nước đang phát triển, có thu nhập trung bình và đã đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử.

Sợi chỉ đỏ xuyên suốt đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nêu trong bài viết “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”: Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là đường lối cơ bản, xuyên suốt của cách mạng Việt Nam và cũng là điểm cốt yếu trong di sản tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bằng kinh nghiệm thực tiễn phong phú của mình kết hợp với lý luận cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh đã đưa ra kết luận sâu sắc rằng, chỉ có chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản mới có thể giải quyết triệt để vấn đề độc lập cho dân tộc, mới có thể đem lại cuộc sống tự do, ấm no và hạnh phúc thực sự cho tất cả mọi người, cho các dân tộc. Điều đó là cơ sở để khẳng định, không có lý do gì để Đảng và dân tộc Việt Nam rẽ sang con đường tư bản chủ nghĩa hay một con đường phát triển nào khác, trao quyền quản lý đất nước cho những thế lực cơ hội, phản động.

Khẳng định nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam

Thực tiễn lịch sử hơn 90 năm lãnh đạo cách mạng Việt Nam cho thấy, ngay từ khi mới ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam được nhân dân tin tưởng giao phó trọng trách trở thành lực lượng lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Điều đó không phải là do mong muốn chủ quan của Đảng, mà chính là sự giao phó của lịch sử, của cách mạng Việt Nam thông qua quá trình sàng lọc, lựa chọn một cách đúng đắn. Dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, trong thế kỷ 20, Đảng đã lãnh đạo toàn thể dân tộc giành được những thắng lợi vĩ đại:

Một là, thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và việc thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - nhà nước dân chủ nhân dân ở Đông Nam Á, mở ra kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc - kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Hai là, thắng lợi của các cuộc kháng chiến oanh liệt giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, đánh thắng chủ nghĩa thực dân cũ và mới, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, thực hiện thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, góp phần quan trọng vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

Ba là, thắng lợi của sự nghiệp đổi mới và từng bước đưa đất nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Với những thắng lợi giành được, nước ta từ một nước thuộc địa nửa phong kiến đã trở thành một quốc gia độc lập, tự do, phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa, có quan hệ quốc tế rộng rãi, có vị thế ngày càng quan trọng trong khu vực và trên thế giới. Nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội. Đất nước ta từ một nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu đã bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hoá. Với những thành quả đạt được chúng ta tự hào về dân tộc ta-một dân tộc anh hùng, thông minh và sáng tạo; tự hào về Đảng ta - Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện - một lòng một dạ chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân.

Đặc biệt, sau gần 40 năm tiến hành sự nghiệp đổi mới, Việt Nam đã làm được kỳ tích, đưa nền kinh tế tăng gấp 15 lần cả về quy mô và thu nhập bình quân trên đầu người, tăng 21 hạng về quy mô nền kinh tế và tăng 54 hạng về thu nhập đầu người trên bảng xếp hạng các quốc gia. Thực tiễn phong phú, sinh động đó đã chứng tỏ, sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng, lập nên nhiều kỳ tích trên đất nước Việt Nam. Ở Việt Nam, không có một lực lượng chính trị nào khác, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm, uy tín và khả năng lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đưa sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Như vậy, luận điệu của các thế lực thù địch, phản động cho rằng, đa đảng thì có dân chủ và một đảng thì mất dân chủ, thực ra là một trò “lập lờ đánh lận con đen” nhằm cổ vũ cho việc thiết lập cơ chế đa nguyên, đa đảng tại Việt Nam. Không phải có nhiều đảng thì dân chủ hơn, ít đảng thì ít dân chủ hơn, mỗi nước có hoàn cảnh, điều kiện lịch sử cụ thể khác nhau, điều quan trọng là xã hội có phát triển không, nhân dân có được hưởng cuộc sống ấm no, hạnh phúc không và đất nước có ổn định để ngày càng phát triển đi lên không? Đó là tiêu chí quan trọng nhất. Và cũng không nhất thiết cứ kinh tế thị trường thì phải đa đảng và ở Việt Nam chưa thấy sự cần thiết khách quan phải có chế độ đa đảng, ít nhất cho đến bây giờ./. 

 

Ở VIỆT NAM KHÔNG BAO GIỜ CHẤP NHẬN ĐA ĐẢNG

                                                                                                LHS

Gần đây, các thế lực thù địch, phản động đang ráo riết, quyết liệt chống phá cách mạng Việt Nam, trong đó có phủ nhận, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, với luận điểm ”ở Việt Nam không có đa nguyên, đa đảng thì không có dân chủ”. Các thế lực thù địch, phản động đã và đang kêu gọi Việt Nam cần phải có ”đa đảng đối lập”. Có thể khẳng định: Đây là luận điểm tuyên truyền của các thế lực thù địch nhằm hướng tới mục đích hàng đầu là làm suy yếu, đi đến phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, là mưu đồ hết sức thâm độc, nguy hiểm, trắng trợn của chúng.

Thực tiễn ở Việt Nam, đi lên chủ nghĩa xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là nguyện vọng và sự lựa chọn đúng đắn của Nhân dân ta. Và chắc chắn khẳng định rằng ở Việt Nam không cần và không chấp nhận chế độ đa đảng vì những lý do sau:

Thứ nhất, dưới góc độ lý luận: Cơ sở lý luận cho việc thực hiện đa nguyên, đa đảng xuất phát từ chủ nghĩa đa nguyên - một trường phái triết học xã hội tư sản do nhà triết học Đức  Chiristian Woiff (1679 - 1754) đề xuất vào đầu thế kỷ XVIII. Chủ nghĩa đa nguyên là một học thuyết phi Mácxít với luận điểm phủ nhận sự phân chia xã hội thành giai cấp, phủ nhận đấu tranh giai cấp; chủ trương xây dựng một cơ chế quản lý xã hội theo nguyên tắc đa lực lượng, đa đảng phái và các tổ chức đảng phái quan hệ với nhau theo nguyên tắc hiệp thương. Vì vậy, nếu áp dụng luận điểm này vào xây dựng chủ nghĩa xã hội sẽ làm hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản - đội tiên phong của giai cấp công nhân (ở Việt Nam còn đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam) và đi ngược lại với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

Thứ hai, xuất phát từ thực tiễn cách mạng của Việt Nam: Vào đầu thế kỷ XX qua sự “sàng lọc” dữ dội của lịch sử, dân tộc Việt Nam, Nhân dân Việt Nam đã lựa chọn Đảng Cộng sản Việt Nam là tổ chức chính trị duy nhất dẫn dắt dân tộc ta đi đến độc lập, tự do và hạnh phúc. Trước sự bế tắc của nhiều phong trào, tư tưởng đấu tranh giải phóng dân tộc ở Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, thì dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin (do Nguyễn Ái Quốc nghiên cứu, tìm tòi và truyền bá vào cách mạng Việt Nam) và được sự chuẩn bị chín muồi về chính trị, tư tưởng, tổ chức, Đảng Cộng sản Việt Nam đã ra đời (03/02/1930) để lãnh đạo cách mạng Việt Nam - đây là một tất yếu lịch sử và đã chấm dứt thời kỳ cách mạng Việt Nam khủng hoảng về đường lối, mở ra một thời kỳ mới cho lịch sử dân tộc.

Sau khi ra đời, gắn bó máu thịt với nhân dân, được nhân dân đồng tình ủng hộ và tin tưởng tuyệt đối, chỉ trong vòng 15 năm, Đảng ta đã lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, tiến hành ba cao trào cách mạng: Cao trào cách mạng (1930 - 1931) với đỉnh cao là phong trào Xô Viết - Nghệ Tĩnh; Cao trào cách mạng đòi dân sinh, dân chủ (1936 - 1939) và Cao trào cách mạng giải phóng dân tộc (1939 - 1945). Đến năm 1945, khi thời cơ cách mạng chín muồi, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo toàn thể dân tộc Việt Nam làm nên thắng lợi của cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945 “long trời, lở đất” thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vào ngày 02/9/1945.

Giai đoạn 1945 - 1975, phát huy truyền thống đoàn kết, yêu nước của toàn dân tộc, Đảng đã lãnh đạo nhân dân lần lượt đánh bại mọi âm mưu, kế hoạch xâm lược của kẻ thù, đặc biệt là thắng lợi trong Chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954 với đỉnh cao là Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” chúng ta đã chiến thắng thực dân Pháp xâm lược; tiếp theo đó, trên cơ sở đường lối đúng đắn, sáng tạo của Đảng, với sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, quân và dân ta đã lần lượt đánh bại các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thu giang sơn về một mối vào ngày 30/4/1975. Với chiến thắng này, lịch sử và nhân dân Việt Nam một lần nữa đã lựa chọn Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng chính trị duy nhất có sứ mệnh lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Giai đoạn này, bên cạnh Đảng Cộng sản Việt Nam cũng song song tồn tại 02 đảng khác là Đảng Dân chủ Việt Nam (ra đời năm 1944) và Đảng Xã hội Việt Nam (ra đời năm 1946). Tuy nhiên, cả 02 đảng này chưa bao giờ đối lập với Đảng Cộng sản Việt Nam, mà đều ủng hộ, thừa nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, cho đến năm 1988 đã tuyên bố tự giải tán.

Từ sau năm 1975 đến nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng, cả nước chung tay khắc phục hậu quả nặng nề của chiến tranh để lại, tập trung khôi phục kinh tế xã hội; chiến đấu bảo vệ biên giới, bảo vệ độc lập, chủ quyền lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc. Đặc biệt, đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (12/1986) đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước, đã đưa nước ta đến nay vươn lên trở thành nước đang phát triển, có thu nhập trung bình; văn hoá, xã hội tiếp tục phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện; công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị có bước đột phá; chính trị, xã hội ổn định, độc lập, chủ quyền được giữ vững; vị thế và uy tín của đất nước ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế.

Những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử của cách mạng Việt Nam cho đến nay chính là cơ sở thực tiễn thuyết phục nhất, là minh chứng hùng hồn nhất để khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố quan trọng quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Thực tiễn đó khẳng định một chân lý ở Việt Nam, không có một lực lượng chính trị nào khác, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm, uy tín và khả năng lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đưa sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Thứ ba, có phải chỉ thực hiện đa đảng mới có dân chủ? Lý luận Mác - Lênin đã khẳng định: Dân chủ là phạm trù có tính lịch sử và giai cấp. Do đó, dân chủ xuất hiện khi có nhà nước, mỗi nền dân chủ phải gắn với một nhà nước nhất định và dân chủ còn phụ thuộc vào trình độ phát triển văn hóa, kinh tế, xã hội trong từng giai đoạn nhất định, Lênin khẳng định: ... Bất cứ nền dân chủ nào, xét đến cùng, cũng đều phục vụ sản xuất và xét đến cùng, đều do các quan hệ sản xuất trong một xã hội nhất định quyết định. Như vậy, thể chế một đảng lãnh đạo hoàn toàn không đồng nghĩa với mất dân chủ, và cũng không phải dân chủ phát triển chỉ khi gắn với thể chế đa đảng. Hiện nay, nhiều nước tư bản thực hiện chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Các đảng có thể thay phiên nhau cầm quyền ở một quốc gia trong một khoảng thời gian nhất định. Nhưng xét đến cùng, các đảng đó đều là đảng của giai cấp tư sản, đại diện cho lợi ích của giai cấp tư sản. Do đó, nền dân chủ đó là nền dân chủ tư sản, nền dân chủ chỉ dành cho một bộ phận thiểu số, một số ít người trong xã hội. Như vậy, có thể khẳng định: Không phải chỉ có thực hiện đa đảng mới có dân chủ; không phải có nhiều đảng thì dân chủ hơn, ít đảng thì ít dân chủ hơn.

Thứ tư, ở Việt Nam hiện nay, nếu thực hiện đa đảng sẽ rất có thể dẫn đến tình trạng các đảng tranh giành ảnh hưởng lẫn nhau, làm cho đất nước hỗn loạn, chính trị mất ổn định, khối đại đoàn kết dân tộc sẽ bị phá vỡ. Đó chính là thời cơ để các thế lực thù địch tấn công, lợi dụng. Như vậy, vì sự ổn định và phát triển của đất nước, vì sự phát triển của nền dân chủ và hạnh phúc của nhân dân, thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đất nước Việt Nam, Nhân dân Việt Nam không cần đa đảng và không chấp nhận đa đảng./.

 

DÂN CHỦ KHÔNG CÓ NGHĨA LÀ ĐA NGUYÊN, ĐA ĐẢNG

                                                                                                    Mặt Trời

Thời gian qua, các thế lực thù địch luôn cho rằng, Việt Nam không có dân chủ vì thực hiện chế độ nhất nguyên, nhất đảng. Trong khi đó, các tổ chức nhân danh dân chủ phương Tây đã và đang tìm cách cổ suý “tiêu chuẩn nhân quyền” kiểu phương Tây vào Việt Nam, đồng thời tung tin bịa đặt với các luận điệu cho rằng: “Việt Nam thiếu dân chủ, không có dân chủ, hạn chế quyền riêng tư của công dân”, “Việt Nam vi phạm nghiêm trọng quyền con người”, “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước và toàn xã hội tức là theo chế độ đảng trị, bằng “đảng chủ”; “một đảng cầm quyền thì không thể có dân chủ, chỉ dẫn đến độc tài, độc trị”; “chế độ một đảng lãnh đạo, độc quyền là trái với nguyên tắc nhà nước pháp quyền”; “chế độ nhất nguyên chính trị, một đảng cầm quyền ở Việt Nam là “vừa đá bóng, vừa thổi còi”...

Đây là những luận điệu phản khoa học, hết sức nguy hiểm bởi nó cố tình đánh đồng giữa vấn đề đa nguyên, đa đảng với dân chủ, phát triển của đất nước, dân tộc. Thực chất luận điệu trên là muốn phủ nhận vai trò lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội, tiến tới thực hiện chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập để đi đến xóa bỏ định hướng XHCN ở nước ta. Vấn đề mấu chốt trong học thuyết “dân chủ, nhân quyền kiểu phương Tây cần áp dụng đối với Việt Nam” là xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam với cách mạng Việt Nam. Như vậy, chiêu bài dân chủ thực chất là các thế lực thù địch nhằm phá hoại Đảng, Nhà nước và định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

Trên thế giới hiện nay có ba chế độ dân chủ: Dân chủ tư sản, dân chủ nhân dân, dân chủ xã hội chủ nghĩa. Mỗi chế độ dân chủ nói trên đều có những thiết chế khác nhau, nhưng đều có những yếu tố chung về sự bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của công dân; bầu cử tự do và theo nhiệm kỳ bầu ra các cơ quan, người lãnh đạo đất nước; quyền lực của nhà nước được chia làm ba nhánh lập pháp, hành pháp và tư pháp. Mỗi cơ quan trên có chức năng riêng; hiến pháp và pháp luật được xem là tối thượng; các quyền con người, quyền và nghĩa vụ công dân được tôn trọng và bảo đảm.

Chế độ dân chủ sau Cách mạng Tháng Tám ở Việt Nam là chế độ dân chủ Nhân dân hướng theo con đường xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa. Một trong những đặc trưng của chế độ dân chủ ở Việt Nam là do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo và cầm quyền. Tuy nhiên, vai trò cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam phải tuân thủ nguyên tắc Hiến định: Đảng Cộng sản Việt Nam - đội tiên phong của giai cấp công nhân, Nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, Nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội; Đảng gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình; các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng và Nhà nước Việt Nam ngày càng hoàn thiện các quan điểm về dân chủ, nhân quyền, coi nỗ lực thể chế hóa, luật hóa quan điểm dân chủ, nhân quyền là yêu cầu bức thiết của phát triển. Năm 1998, Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị về xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, khẳng định “phải phát huy quyền làm chủ của dân, thu hút nhân dân tham gia quản lý nhà nước, khắc phục tình trạng suy thoái, quan liêu, mất dân chủ và nạn tham nhũng”. Sau đó, Chính phủ ban hành Nghị định số 79/2003/NĐ-CP kèm theo Quy chế thực hiện dân chủ ở xã quy định về nội dung, phương thức, trách nhiệm của chính quyền cấp xã trong việc thực hiện quyền dân chủ của Nhân dân. Năm 2007, Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XI thông qua Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn... Đây là các bước đi thống nhất, đồng bộ về chủ trương kết hợp hành động cụ thể tạo điều kiện “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”.

Vấn đề một đảng hay nhiều đảng lãnh đạo, cầm quyền không phải là vấn đề mới và vấn đề này phụ thuộc vào nhiều yếu tố khách quan và chủ quan. Về khách quan, vấn đề này phụ thuộc vào điều kiện và hoàn cảnh lịch sử của mỗi nước, mỗi đảng khi lên lãnh đạo, cầm quyền. Về chủ quan, nó phụ thuộc tương quan so sánh lực lượng giữa các giai cấp, các bộ phận trong một xã hội, mà mỗi nước có thể có một đảng hoặc nhiều đảng. Đảng là tổ chức chính trị của giai cấp, mang tính chất giai cấp, là sự liên kết tự nguyện của những người cùng chí hướng và cùng quyền lợi. Bản chất của đảng chính trị chính là bản chất giai cấp mà đảng ấy đại diện. Lịch sử hiện đại đã chứng minh rằng, trình độ dân chủ và sự phát triển của đất nước không tỷ lệ thuận với sự gia tăng của số lượng đảng phái chính trị. Trong xã hội có sự phân chia giai cấp, mỗi giai cấp khác nhau có đảng khác nhau, thậm chí trong cùng một giai cấp cũng có thể có nhiều đảng khác nhau. Những đảng của cùng một giai cấp sẽ có cùng bản chất của giai cấp, có lợi ích gắn liền với giai cấp sinh ra nó, chúng chỉ khác nhau về hình thức tổ chức, phương thức hoạt động và những mục tiêu cụ thể mà không đối lập về bản chất. Những đảng của các giai cấp khác nhau hoặc đối lập nhau thì không chỉ khác nhau về tôn chỉ, mục đích, phương cách hoạt động, nguyên tắc tổ chức mà còn đối lập về bản chất của đảng. Như vậy, sự đa đảng cũng có nhiều sắc thái khác nhau. Có hiện tượng đa đảng nhưng vẫn nhất nguyên chính trị, có hiện tượng đa đảng đồng thời là đa nguyên chính trị. Quan điểm một đảng thì mất dân chủ, cản trợ sự phát triển, còn đa đảng đồng nghĩa với dân chủ, phát triển là luận điệu sai trái. Cho đến nay chưa có cơ sở khoa học nào chứng minh điều này. Bởi đất nước có dân chủ hay phát triển không phụ thuộc vào chế độ một đảng hay đa đảng mà phụ thuộc vào đảng cầm quyền đó có mang bản chất cách mạng, tiên phong hay không, có bảo vệ quyền và lợi ích cho đa số nhân dân lao động hay chỉ cho một bộ phận thiểu số người trong xã hội đó.

Thực tiễn cho thấy, dân chủ và sự phát triển của một nước không tỷ lệ thuận với số lượng các đảng mà quốc gia đó có. Vì thực tiễn nhiều quốc gia trên thế giới hiện nay, đa đảng nhưng vẫn mất dân chủ, vẫn là những nước nghèo, kém phát triển. Trong khi, nhiều quốc gia chỉ có một đảng lãnh đạo nhưng dân chủ được bảo đảm, kinh tế-xã hội phát triển, đời sống nhân dân được bảo đảm, nhân dân cảm thấy hạnh phúc, ấm no và có vị thế trên thế giới. Vấn đề thuộc về bản chất của các đảng, lợi ích xã hội mà nó đại diện, bảo vệ; uy tín và năng lực tập hợp, liên kết, lãnh đạo các lực lượng xã hội cùng thực hiện mục tiêu chung của quốc gia - dân tộc. Nếu một đảng chỉ phục vụ cho lợi ích riêng của đảng mình, giai cấp mình thì đảng đó khó có thể được các giai tầng khác chấp thuận làm lực lượng lãnh đạo xã hội, lãnh đạo đất nước. Một đảng đại diện cho lợi ích của giai cấp, của nhân dân và dân tộc, vì dân vì nước mà hành động, chắc chắn sẽ được nhân dân suy tôn, ủy thác làm lãnh đạo. Điều đó là bằng chứng hùng hồn, là minh chứng khẳng định đa nguyên, đa đảng không phải là cứu cánh cho dân chủ và sự phát triển. Điển hình như hiện nay, Armenia có khoảng 40 đảng, Hà Lan có 25 đảng, Na Uy có 23 đảng... nhưng rõ ràng chúng ta không thể kết luận Armenia dân chủ hơn Hà Lan hay Na Uy. Trên thế giới hiện nay có hơn 30 quốc gia, vùng lãnh thổ theo chế độ một đảng. Điều đó cho thấy rằng, chế độ chính trị do một đảng cầm quyền không phải là đặc điểm chỉ có ở các nước xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản lãnh đạo và không phải các nước theo chế độ một đảng không bảo đảm dân chủ, đất nước không phát triển.

Ngay trong chủ nghĩa tư bản, có những thời kỳ một số quốc gia và vùng lãnh thổ theo chế độ một đảng duy nhất cầm quyền vẫn bảo đảm dân chủ và phát triển mạnh mẽ. Điển hình như vào cuối những năm 1980, Singapore, Hàn Quốc theo chế độ một đảng duy nhất cầm quyền nhưng đất nước vẫn phát triển mạnh mẽ và ngược lại, ở một số quốc gia đa đảng vẫn không thực hiện tốt dân chủ. Đồng thời, trong hệ thống chính trị đa đảng, tại một giai đoạn chính trị nhất định cũng chỉ có một đảng thực chất cầm quyền và thậm chí ngay cả trường hợp khi liên minh đảng cầm quyền để thành lập chính phủ, đảng nào chiếm số ghế nhiều hơn trong nghị viện sẽ có quyền quyết định trong các chính sách phát triển của đất nước. Ở một số quốc gia khác mặc dù có nhiều đảng nhưng chỉ có hai đảng luân phiên cầm quyền là Đảng Cộng hoà và Đảng Dân chủ. Những đảng này đại diện cho giai cấp tư sản thì tất yếu phải hướng đến phục vụ cho lợi ích của giai cấp tư sản chứ không thể là một “chính quyền của tất cả mọi người”.

Trải qua hơn 90 năm ra đời và lãnh đạo, Đảng ta đã luôn khẳng định được vị trí, vai trò không thể thay thế đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Những thành tựu to lớn và ý nghĩa lịch sử kết tinh sức sáng tạo của Đảng và Nhân dân Việt Nam đã khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế của thời đại; khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đồng thời, đó cũng là minh chứng rõ nét rằng bản chất của một nền dân chủ không phụ thuộc vào chế độ đa đảng hay một đảng và đối với Việt Nam dưới sự lãnh đạo duy nhất của Đảng ta, nền dân chủ trong xã hội không những không bị mất đi, không bị hạn chế mà còn được bảo đảm, được phát huy sâu rộng trong thực tế./.

 

PHỦ NHẬN LUẬN ĐIỂM “ĐA NGUYÊN CHÍNH TRỊ,
ĐA ĐẢNG ĐỐI LẬP” ĐỐI VỚI VIỆT NAM

                                                                                              Mặt Trời

Năm 1930 Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời chấm dứt sự khủng hoảng về đường lối và tổ chức lãnh đạo của các phong trào yêu nước, mở ra một thời kì mới của đất nước - thời kỳ đấu tranh cách mạng có sự lãnh đạo của Đảng. Từ khi ra đời đến nay, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, đánh đuổi mọi kẻ thù xâm lược, giải phóng dân tộc, thống nhất nước nhà. Bước vào công cuộc đổi mới, Đảng tiếp tục lãnh đạo đất nước tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội và đạt được nhiều thành tựu to lớn. Thực tiễn đã chứng minh rằng, vai trò lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định cho mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đó là một sự thật không thể phủ nhận. Trong khi toàn Đảng, toàn dân ta đang đoàn kết một lòng, nỗ lực phấn đấu, khơi dậy khát vọng xây dựng một đất nước Việt Nam cường thịnh, thì các thế lực thù địch vẫn không ngừng xuyên tạc, chống phá. Một trong những luận điệu chống phá cơ bản của chúng là đòi Việt Nam phải thực hiện “đa nguyên chính trị, đang đảng đối lập”.

“Đa nguyên chính trị” là một khuynh hướng xã hội học - triết học xuất hiện từ đầu thế kỷ XVIII. Khuynh hướng này tuyệt đối hóa sự đa dạng đối kháng của các đảng phái, tổ chức chính trị khác nhau trong xã hội. “Đa nguyên chính trị” tất yếu gắn với “đa đảng đối lập”, bởi một hệ thống chính trị đa đảng là hệ quả tất yếu từ “đa nguyên chính trị”. Ngày nay, khẩu hiệu đòi “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” trở thành công cụ tư tưởng để các thế lực thù địch lợi dụng chống phá các nhà nước xã hội chủ nghĩa và các trào lưu tiến bộ trên thế giới. Chúng cho rằng, chế độ chỉ có một đảng lãnh đạo là độc tài, là mất dân chủ, là nguyên nhân dẫn đến mọi sự trì trệ, tiêu cực của xã hội. Chỉ có “đa nguyên, đa đảng” mới có thể mang lại một nền “dân chủ thực sự”. Tính nguy hiểm của thủ đoạn này biểu hiện ở một số khía cạnh như sau:

Thứ nhất, đây là một luận điểm mang nặng tính chất mị dân, dễ gây nên sự ngộ nhận, mơ hồ, lẫn lộn về nhận thức, sự dao động tư tưởng trong một bộ phận nhân dân, thậm chí ngay cả một số cán bộ, đảng viên. Điều này rất có thể sẽ dẫn đến sự chia rẽ về chính trị, tư tưởng trong xã hội, cùng với đó là sự hoài nghi, xói mòn niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng ta.

Thứ hai, mưu đồ chực chất của “đa nguyên, đa đảng” là nhằm hạn chế, từ đó dần dần thủ tiêu sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với xã hội, xóa bỏ nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Một khi đạt được mưu đồ đó, các thế lực phản động sẽ ngóc đầu dậy, tranh thủ kiếm chác lợi ích cho bản thân mình.

Thứ ba, nếu mất cảnh giác trước luận điệu đòi “đa nguyên, đa đảng”, hệ quả tất yếu sẽ là đất nước hỗn loạn, mất ổn định, nền kinh tế đổ vỡ, văn hóa suy đồi… Đất nước khi ấy không thể có được nền độc lập thực sự, mà sẽ bị xâu xé, bị chi phối bởi các nước lớn. Mọi thành quả cách mạng của nhân dân ta đã giành được, đánh đổi bằng bao nhiêu hi sinh, mất mát, sẽ bị tiêu tan.

Cần khẳng định rằng, “đa nguyên, đa đảng” cũng có yếu tố tích cực của nó, song thực chất “đa nguyên, đa đảng” không hề đồng nhất với “dân chủ thật sự”. Bởi lẽ “dân chủ” là một giá trị xã hội, được hình thành và bảo đảm bởi nhiều yếu tố, điều kiện khác nhau. Trong bất kỳ xã hội nào, dù nhất nguyên hay đa nguyên, một đảng hay đa đảng, nhưng nếu đảng cầm quyền và nhà nước quan tâm đến thể chế bảo đảm quyền lực thực tế của nhân dân, chăm lo cho nhân dân, tôn trọng nhân dân… thì xã hội đó mới có “dân chủ thật sự”. Ở Việt Nam, trong Cương lĩnh của Đảng và Hiến pháp của Nhà nước đều thể hiện rõ quan điểm “mọi quyền lực thuộc về Nhân dân”, “Nhân dân lao động là người chủ đất nước”... Dân chủ ở Việt Nam hiện nay là dân chủ xã hội chủ nghĩa, một nền dân chủ hướng về đông đảo quần chúng nhân dân, rất khác biệt so với nền dân chủ tư bản chủ nghĩa, vốn chỉ hướng đến bảo vệ lợi ích cho giai cấp tư sản. Chính vì vậy, không thể vì một vài hạn chế, một vài hiện tượng mất dân chủ ở một số nơi rồi cố tình phủ nhận bản chất tốt đẹp của chế độ ta.

Sự ra đời của một thể chế chính trị hay một đảng phái chính trị phải do nhu cầu của thực tế xã hội, phải xuất phát từ nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Sự thành lập của một đảng phái không thể chỉ để “làm phong phú, đa dạng thêm ý thức hệ tư tưởng” như một số kẻ rêu rao, mà tự thân nó phải làm tròn bổn phận của mình, với tư cách là một lực lượng chính trị, để mang lại lợi ích cho dân tộc, cho đất nước. Thực tế cho thấy, ở Việt Nam hiện nay không hề có một nhu cầu nào như vậy. Đảng Cộng sản Việt Nam chính là lực lượng đại diện duy nhất cho lợi ích của toàn dân tộc, ngoài lợi ích của giai cấp, của dân tộc và của nhân dân, Đảng ta không có lợi ích nào khác. Nhu cầu về đảng đối lập thực chất chỉ để phục vụ cho lợi ích nhỏ nhen, thấp hèn của một nhóm người chỉ vì bản thân mà bất chấp.

Như vậy, Việt Nam là một đất nước thường xuyên bị kẻ thù nhòm ngó. Xuyên suốt lịch sử, dân tộc ta đã phải đoàn kết để dựng nước và giữ nước. Do đó, tinh thần đại đoàn kết đã trở thành truyền thống quý báu của dân tộc ta. Đảng Cộng sản Việt Nam chính là hiện thân cao nhất cho tinh thần đại đoàn kết ấy. Việt Nam không thực hiện chế độ đa đảng không phải vì chúng ta bảo thủ hoặc mất dân chủ như các thế lực thù địch cố tình xuyên tạc, mà đó là yêu cầu khách quan, là vì sự ổn định và phát triển của đất nước. “Đa nguyên, đa đảng” không phù hợp với hoàn cảnh nước ta và chắc chắn không thể được nhân dân ta chấp nhận./.