Thứ Năm, 23 tháng 6, 2022

 

PHÒNG, CHỐNG “TỰ DIỄN BIẾN”, “TỰ CHUYỂN HÓA” TRONG NỘI BỘ 

          Để xây dựng, chỉnh đốn Đảng thật trong sạch, vững mạnh cần có những giải pháp hữu hiệu phòng, chống “tự diễn biến, “tự chuyển hóa” về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp. Đây là việc rất cấp bách và cần thiết liên quan tới sự tồn vong của Đảng, của Nhà nước và chế độ ta.

          Thực hiện âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng nước ta, các thế lực thù địch đã, đang đẩy mạnh nhiều hoạt động thâm độc, nhằm thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” gây chia rẽ, mất đoàn kết từ bên trong nội bộ Đảng và Nhà nước ta; khi thời cơ đến chúng sử dụng tổng hợp các biện pháp cả vũ trang và phi vũ trang; kết hợp “cả trong và ngoài”, trong đánh ra, ngoài đánh vào để hòng xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, tiến tới xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN), chuyển hóa Việt Nam theo con đường tư bản chủ nghĩa. Đặc biệt, trong thời điểm hiện nay, khi nước ta đang tiến sâu vào hội nhập kinh tế quốc tế thì các thủ đoạn thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” càng được chúng thực hiện ráo riết hơn, thủ đoạn tinh vi và thâm độc hơn.

          “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, có thể hiểu là nguy cơ xảy ra từ bên trong mỗi con người, mỗi tổ chức, mỗi cơ quan, đơn vị. Nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này là do sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống…, sự xa rời mục tiêu lý tưởng của Đảng, sự vô nguyên tắc, mất dân chủ, xem thường pháp luật Nhà nước; đó là hiện tượng chia bè, kéo cánh, quan liêu, trục lợi, tranh quyền tranh chức, đi ngược lại đường lối, chủ trương của Đảng trong một bộ phận cán bộ, đảng viên; là sự thiếu tu dưỡng học tập, rèn luyện hoặc tôn sùng lối sống thực dụng, thích hưởng thụ, thu vén cá nhân hơn là cống hiến… trong một bộ phận cán bộ, đảng viên.

          Thực tế cho thấy, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trước hết và chủ yếu là về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Khi tư tưởng có vấn đề thì trong hoạt động dễ nảy sinh tiêu cực; nếu lĩnh vực tư tưởng chính trị bất ổn thì các lĩnh vực khác khó có khả năng và điều kiện phát triển lành mạnh. Khi tư tưởng chính trị chệch hướng, thì sẽ làm cho nội bộ bị chia rẽ và nguy cơ tự sụp đổ của chế độ chính trị là điều khó tránh khỏi. Trong những năm qua, tùy từng đối tượng và phạm vi tác động mà các thế lực thù địch sử dụng thủ đoạn, nội dung, hình thức và phương pháp thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” khác nhau, nhưng chúng luôn đặt trọng tâm thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” vào cơ quan lãnh đạo của Đảng và Nhà nước.

           Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII chỉ rõ: "Những biểu hiện xa rời mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" có những diễn biến phức tạp"(1). Tình hình đó chứng tỏ nguy cơ "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" hiện nay là vấn đề không thể xem thường, cần phải phân tích làm rõ, có biện pháp khắc phục hiệu quả…. “Các thế lực thù địch tiếp tục thực hiện âm mưu diễn biến hòa bình, gây bạo loạn lật đổ, sử dụng các chiêu bài “dân chủ”,“nhân quyền” hòng làm thay đổi chế độ chính trị ở nước ta”(2).

          Nhận thức rõ tình trạng suy thoái về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên hiện nay và nguy cơ của vấn đề “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đối với sự nghiệp cách mạng, Hội nghị Trung ương khóa XIII đã ra Nghị quyết“Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”. Nghị quyết không những đã tập trung phân tích làm rõ nguyên nhân của tình trạng đó, mà còn xác định rõ mục tiêu, phương châm, giải pháp để khắc phục. Tại Hội nghị cán bộ toàn quốc quán triệt, triển khai Nghị quyết Trung ương khoá XIII, Đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ rõ những biểu hiện sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên, thể hiện ở chỗ: Phai nhạt lý tưởng cách mạng, không kiên định con đường XHCN; dao động, thiếu niềm tin, sa sút ý chí chiến đấu, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh, phụ họa theo những nhận thức sai, quan điểm lệch lạc; không còn ý thức hết lòng vì nước, vì dân, không làm tròn bổn phận, chức trách được giao; không thực hiện đúng các nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt Đảng... Sự suy thoái về đạo đức, lối sống gắn liền với tư tưởng thực dụng, cơ hội, vụ lợi, hám danh, tham nhũng, lãng phí; bè phái, cục bộ, mất đoàn kết; phong cách quan liêu, xa dân, vô cảm trước khó khăn, bức xúc của dân; lối sống xa hoa, hưởng lạc… trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, kể cả cán bộ cao cấp của Đảng, Nhà nước. Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng đó là sự thiếu tu dưỡng, rèn luyện, giảm sút ý chí chiến đấu; sa vào chủ nghĩa cá nhân, quên trách nhiệm, bổn phận trước Đảng, trước dân; ngại khó, ngại khổ, ngại va chạm; bất chấp đạo lý, dư luận; kỷ luật, kỷ cương không nghiêm của một bộ phận cán bộ, đảng viên; nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý không gương mẫu.

          Chúng ta cần nhận thức sâu sắc vấn đề này, có nhiều biện pháp tích cực, thiết thực để xây dựng, chỉnh đốn Đảng, tăng cường mối liên hệ giữa Đảng và nhân dân, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, trong đó nòng cốt là khối liên minh giữa công nhân, nông dân và trí thức. Kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp để nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước là trọng tâm, cấp bách nhất, cần tập trung chỉ đạo chặt chẽ và thường xuyên. Điều đặc biệt chú ý là phải củng cố và xây dựng "thế trận lòng dân", mà nội dung cơ bản là: củng cố sự nhất trí về chính trị - tinh thần trong nhân dân, sự gắn bó giữa nhân dân với Đảng, giữa nhân dân với chế độ chính trị do Đảng lãnh đạo.

          Để nâng cao hiệu quả phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, trong mỗi cán bộ, đảng viên trong nội bộ ta, theo chúng tôi cần thực hiện tốt một số giải pháp cơ bản sau:

          Một là, tổ chức đảng cần gắn việc xây dựng tổ chức mình với giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên. Đây là giải pháp có tính quyết định để ngăn chặn nguy cơ "tự diễn biến", “tự chuyển hóa”. Mỗi tổ chức Đảng phải được xây dựng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức; đặc biệt, chú trọng thực hiện nghiêm túc nguyên tắc "tập trung dân chủ", đẩy mạnh tự phê bình và phê bình. Chú trọng xây dựng tổ chức đảng ở cơ sở; nhất là ở các địa bàn trọng yếu, vùng sâu, vùng xa; tránh để xảy ra mâu thuẫn, mất đoàn kết, chủ động khắc phục những hạn chế, yếu kém trong mỗi tổ chức đảng, không để cho các thế lực thù địch lợi dụng tạo cớ kích động. Chăm lo xây dựng tổ chức đảng, chính quyền các cấp trong sạch, vững mạnh, đủ sức lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành mọi hoạt động của đất nước và của từng địa phương; chăm lo, giải quyết có hiệu quả những bức xúc, khó khăn về đời sống, nguyện vọng chính đáng của nhân dân, như: đất đai, việc làm, tệ nạn xã hội... không để những bức xúc của nhân dân bị dồn nén lâu ngày, không được giải quyết một cách dứt điểm. Kiên quyết đấu tranh với những luận điệu vu cáo, bôi nhọ hình ảnh Đảng nói chung, cán bộ, đảng viên nói riêng, nhất là đối với cán bộ cao cấp của Đảng, hòng hạ uy tín của Đảng; đấu tranh với những luận điệu phủ nhận những thắng lợi có ý nghĩa lịch sử mà công cuộc đổi mới đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng đã mang lại.

          Hai là, tăng cường công tác giáo dục quốc phòng - an ninh, nâng cao cảnh giác cách mạng cho cán bộ, đảng viên về âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch đối với nước ta. Đây là một giải pháp rất quan trọng để mỗi cán bộ, đảng viên dù công tác ở cương vị nào cũng nêu cao trách nhiệm của mình, đồng thời cảnh giác trước mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Chủ động phòng, chống, ngăn ngừa tư tưởng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; bảo vệ an ninh chính trị nội bộ, tạo ra sức mạnh nội sinh trong mỗi cán bộ, đảng viên để tự bảo vệ mình.

          Ba là, các tổ chức đảng, mỗi đảng viên, cấp ủy viên phải dũng cảm tự soi xét lại mình, đơn vị mình, tìm ra được những ưu điểm để phát huy, những sai lầm, yếu kém, khuyết điểm để có kế hoạch, biện pháp sửa chữa. Trên cơ sở nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, khách quan, xác định rõ nguyên nhân, nhất là những nguyên nhân dẫn đến yếu kém, khuyết điểm, để từ đó đề ra các biện pháp cụ thể, thiết thực sửa chữa khuyết điểm, sai lầm. Đặc biệt, vai trò gương mẫu của cán bộ chủ chốt, nhất là người đứng đầu, có vị trí hết sức quan trọng. Cán bộ chủ chốt và người đứng đầu dám nhìn thẳng vào sự thật, gương mẫu tự phê bình và phê bình nghiêm túc không những có tác dụng tích cực lôi cuốn đảng viên, cán bộ trong đơn vị học tập, làm theo, mà sẽ nhận được sự tôn trọng, kính phục của cán bộ, đảng viên và quần chúng trong địa phương, đơn vị. Ngược lại, cán bộ chủ chốt và người đứng đầu không gương mẫu, không nghiêm túc tự phê bình và phê bình, không vui vẻ tiếp thu phê bình, thậm chí có biểu hiện răn đe, trù dập người phê bình, thì người đứng đầu không những tự đánh mất niềm tin yêu, mến phục của đảng viên và quần chúng, mà còn là môi trường thuận lợi cho chủ nghĩa cơ hội phát sinh những nhân tố mất ổn định. Đây là một trong những vấn đề mấu chốt, có tính đột phá, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả đấu tranh phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng; khắc phục những yếu kém, góp phần làm cho Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh, như Nghị quyết Trung ương khóa XIII đã xác định.

          Hơn bao giờ hết, mỗi cán bộ, đảng viên cần nâng cao vai trò tiền phong gương mẫu, khắc phục những hạn chế, yếu kém trong rèn luyện, tu dưỡng phẩm chất đạo đức cách mạng; xây dựng Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, củng cố niềm tin trong Đảng và nhân dân. Với quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, nhất định chúng ta sẽ đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của địch, ngăn chặn đẩy lùi nguy cơ “tự diễn biến, “tự chuyển hóa”, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên; giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; củng cố vững chắc thế trận quốc phòng - an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam trong tình hình mới./.

 

                                                                      BIỂN RỘNG

 

NHẬN DIỆN “TỰ CHUYỂN HÓA” TRONG CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN

 “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là một trong những mục tiêu cơ bản và hết sức nguy hiểm trong chiến lược "diễn biến hòa bình" được chủ nghĩa đế quốc (CNĐQ) sử dụng từ nhiều thập kỷ trước để chống phá các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN). Bằng thủ đoạn chống phá tạo sự chuyển hóa từ bên trong, CNĐQ đã thành công trong việc xóa bỏ chế độ XHCN ở Liên Xô và một số nước Đông Âu. Trong những nguyên nhân dẫn tới sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở Liên Xô và Đông Âu, có nguyên nhân "tự diễn biến", “tự chuyển hóa” của một bộ phận cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng. Những sai lầm trong đường lối chính trị của đảng cộng sản ở các nước đó làm cho CNXH rơi vào trì trệ, khủng hoảng; cộng với đó là sự tấn công nguy hiểm của các thế lực thù địch làm cho tổ chức đảng và một bộ phận cán bộ, đảng viên do bản lĩnh non kém đã "tự diễn biến", chuyển hóa, buông lỏng vai trò lãnh đạo, xa rời nguyên tắc Đảng, thủ tiêu đấu tranh..., dần dần đi vào lập trường của giai cấp tư sản; không có hành động cần thiết trước sự tấn công thâm độc của CNĐQ... làm cho CNXH ở đó nhanh chóng tan rã.

          Hiện nay, với kinh nghiệm thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” làm sụp đổ các nước XHCN trên thế giới trước đây và một số nước ở Bắc Phi - Trung Đông vừa qua, các thế lực thù địch đang ráo riết thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đối với các nước XHCN còn lại, trong đó có Việt Nam. Đặc biệt, chúng lợi dụng việc Đảng ta triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương  (khóa XIII) về xây dựng Đảng; việc sửa đổi Hiến pháp năm 1992, Luật Đất đai… để thực hiện nhiều thủ đoạn thâm độc, xảo quyệt và quyết liệt hơn cả về cường độ, nội dung, đối tượng, hình thức cũng như phương pháp. Mảnh đất màu mỡ nhất để chúng thực hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên, trong nội bộ các tổ chức đảng là tình trạng tiêu cực, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong bộ máy Đảng, Nhà nước chưa được đẩy lùi, ngăn chặn; kỷ luật, kỷ cương trong Đảng, trong các cơ quan Nhà nước và trong xã hội cũng nhiều mặt bị buông lỏng; một bộ phận cán bộ, đảng viên, kể cả một số cán bộ chủ trì… thiếu kiên định, vững vàng, phẩm chất và năng lực hạn chế, thiếu tu dưỡng rèn luyện, chạy theo lợi ích cá nhân…

          Trên thực tế, trong nội bộ các tổ chức đảng, cơ quan Nhà nước hiện nay một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, phai nhạt lý tưởng cách mạng, thiếu niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, vào công cuộc đổi mới xây dựng CNXH. Thậm chí, một số cán bộ, đảng viên trước đây từng giữ cương vị, trọng trách trong các cơ quan đảng, chính quyền, nay có những ý kiến lệch lạc, nhìn nhận, phê phán lịch sử thiếu khách quan, toàn diện; đòi đa nguyên, đa đảng theo mô hình dân chủ phương Tây; cổ xúy cho những mô hình xa rời thực tiễn Việt Nam… Những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị nêu trên, cùng với những yếu kém, bất cập trong công tác quản lý xã hội và phát triển kinh tế chậm được khắc phục dẫn tới tình trạng trong nội bộ Đảng xuất hiện những ý kiến khác nhau về một số vấn đề cơ bản liên quan đến đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, ảnh hưởng tới sự thống nhất về tư tưởng và hành động trong cán bộ, đảng viên, công nhân, nông dân, trí thức; ảnh hưởng tới sự đồng thuận trong xã hội. Tình trạng trên nếu không được khắc phục kịp thời, triệt để sẽ tạo nên quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” cả về tư tưởng và hành động, tạo ra những nguy cơ rất khó lường. Đại hội XIII của Đảng đã cảnh báo: "Trong nội bộ, những biểu hiện xa rời mục tiêu của CNXH, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" có những diễn biến phức tạp". Để chống lại thủ đoạn thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của CNĐQ và các thế lực thù địch, cần giữ vững và tăng cường lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức đảng; tăng cường khả năng đề kháng trong nội bộ. Đẩy mạnh tự phê bình và phê bình theo tinh thần Nghị quyết Trung ương (khóa XIII), xây dựng các tổ chức đảng vững mạnh. Mọi thành viên trong từng tổ chức có khả năng đề kháng tốt chính là cơ sở để ngăn ngừa tác động từ bên ngoài. Mọi âm mưu, thủ đoạn thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của các thế lực thù địch sẽ bị vô hiệu hóa, nếu nội bộ đất nước, nội bộ Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị vững mạnh. Theo đó, đòi hỏi phải kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”. Vì vậy, đề cao cảnh giác, chủ động phòng, chống nguy cơ “tự diễn biến”, "tự chuyển hóa" trong cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng hiện nay là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị.

                                                                       BIỂN RỘNG

 

BÁO CHÍ, TRUYỀN THÔNG GÓP PHẦN

PHÒNG, CHỐNG “TỰ DIỄN BIẾN”, “TỰ CHUYỂN HÓA”

Trong tình hình hiện nay, có thể thấy, xã hội ngày càng khẳng định vai trò quan trọng của các công cụ truyền thông và báo chí như một thứ “siêu quyền lực”. Điều đó không phải không có lý, nhất là trong thời đại thông tin bùng nổ, mạng hóa, số hóa diễn ra vô cùng nhanh chóng trên phạm vi toàn cầu như hiện nay.

          Những năm gần đây ở nước ta, phương tiện truyền thông, báo chí cũng có sự phát triển mạnh mẽ. Tính đến tháng 3-2017, chúng ta đã có 745 cơ quan báo chí, với trên 1000 ấn phẩm được cấp phép hoạt động. Đó là chưa kể đến 67 đài phát thanh, truyền hình, hàng chục báo, tạp chí điện tử và hàng trăm trang thông tin điện tử hoạt động… Việc chúng ta đưa hệ thống VINASAT vào hoạt động càng làm tăng thêm tiện ích của các báo điện tử trên internet. Với số lượng phong phú và tiện ích ngày càng tăng như vậy, truyền thông, báo chí cách mạng đang thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình trong việc tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật nhà nước đến mọi tầng lớp nhân dân; cổ vũ động viên cái tốt, cái tích cực, phê phán cái xấu, cái tiêu cực; là công cụ để định hướng tư tưởng, đấu tranh, phản bác có hiệu quả mọi âm mưu, thủ đoạn trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, góp phần phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ cán bộ, đảng viên và quần chúng…

Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực, truyền thông, báo chí của chúng ta còn nhiều hạn chế, sơ hở.  Một số tạp chí, báo chưa giữ vững tôn chỉ, mục đích, tính chất của báo chí cách mạng, còn cho đăng bài viết thể hiện nhận thức lệch lạc, xa lạ với quan điểm, đường lối của Đảng hoặc phản ánh thái độ bi quan trước cuộc sống, thực tại. Một số tác phẩm văn học, nghệ thuật đăng trên báo chí đi sâu quá nhiều mảng đề tài phản ánh cuộc sống gấp gáp, trần trụi, bế tắc, thậm chí dung tục. Trong bối cảnh kinh tế thị trường, báo chí của chúng ta cũng bị chi phối mạnh mẽ bởi xu hướng thương mại hóa, câu khách, giật gân, không tính đến hậu quả của điều đó. Một số không ít báo, số bài viết về mặt trái, tiêu cực, những vụ án cướp của, giết người, hãm hiếp,… nhiều hơn viết về những mặt tích cực; thậm chí được ưu tiên hơn về diện tích, vị trí trang viết. Đó là chưa kể đến việc quảng cáo tràn lan với những ma-két, lời bình gây phản cảm cho độc giả... Đặc biệt, việc phát triển mạnh mẽ báo điện tử, với việc cập nhật “tức thì” những thông tin chưa được kiểm định, thậm chí là thông tin giả, thông tin thất thiệt, cũng được một số báo đưa lên, đã gây nên những hậu quả khó lường.

Những hạn chế, sơ hở của truyền thông, báo chí vô hình trung là một thứ tài liệu “phản tuyên truyền” tồn tại bên cạnh những nỗ lực tuyên truyền, giáo dục nhằm thức tỉnh quần chúng của Đảng. Nói cách khác, đó cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Có người nói rằng, làm báo là phải trung thực, điều đó là hoàn toàn đúng. Tuy nhiên, trung thực không đồng nghĩa với việc “nói nhiều”, “nói quá”, hoặc tô hồng, hoặc bôi đen sự thật, làm méo mó thông tin, có lợi cho ai đó, nhóm nào đó; như thế không còn là “trung thực”. Cần thấy rằng, nhà báo trung thực còn phải là người có trách nhiệm với xã hội, với công chúng, không phải được giao cho cây bút thì “nói cho sướng”, muốn viết thế nào thì viết.

Do vậy, để truyền thông, báo chí thiết thực góp phần phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, thiết nghĩ, phải có sự chấn chỉnh mạnh mẽ công tác truyền thông, báo chí một cách toàn diện cả về tư tưởng chính trị, đạo đức báo chí và năng lực chuyên môn, nghiệp vụ báo chí.

Từ khi thực hiện Nghị quyết Trung ương (khóa XIII) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, cơ quan báo chí cũng phải nghiêm túc, đi đầu. Tôn chỉ, mục đích hay sự vững vàng về quan điểm, đường lối của tờ báo đến đâu phụ thuộc trước hết ở người đứng đầu cơ quan báo chí (chủ bút), tiếp đó là đội ngũ nhà báo. E rằng, những hạn chế của truyền thông, báo chí đề cập trên đây lại xuất phát từ chính sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức và lối sống của chính nhà báo chúng ta. Nói cách khác là bản thân nhà báo đã bị “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Cần chỉ ra, có hay không ở bản thân mỗi nhà báo sự hoài nghi, băn khoăn về mục tiêu, lý tưởng; về những giá trị của chủ nghĩa xã hội; về những thành tựu của đất nước? Có hay không sự đề cao những giá trị phương Tây, chủ nghĩa thực dụng, lối sống lấy vật chất làm thước đo? Để rồi từ “lòng” không còn “trong”, dẫn đến “bút” không còn “sắc”; để rồi đơn giản trong việc viết, dễ dãi trong việc sửa, thông qua bài trong mỗi khâu biên tập. Như vậy, để tuyền thông, báo chí thực sự góp phần vào phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, thì bản thân mỗi tờ báo phải coi trọng giữ vững phương hướng chính trị, tôn chỉ mục đích của mình, bằng cách đẩy mạnh giáo dục chính trị-tư tưởng, đạo đức và lối sống. Mỗi nhà báo phải coi trọng trau dồi bản lĩnh chính trị, phương pháp, tác phong công tác, đặng góp phần dùng ngòi bút của mình tham gia đấu tranh phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong xã hội.

Để tham gia phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có hiệu quả, cơ quan báo chí cần có sự chỉ đạo chặt chẽ về mặt nội dung các chuyên mục, bài viết; dành tỷ lệ diện tích thích đáng, vị trí đăng trang trọng, cách trình bày “bắt mắt” cho mảng đề tài viết về “người tốt, việc tốt”. Hãy học người Nhật về cách làm báo trước thảm họa sóng thần và động đất vừa qua, truyền thông, báo chí Nhật hầu như không đưa những cảnh tang thương, quá đau lòng mà thiên tai gây ra cho họ, thay vào đó là hình ảnh của những con người biết vượt lên số phận để tồn tại. Dường như báo chí của chúng ta khác họ nhiều quá? Nên chăng, hãy thay đổi cách nghĩ, rằng báo chí không chỉ có chức năng thông tin, định hướng, mà còn có chức năng lớn lao hơn là khởi động tinh thần của dân tộc.

Trên cơ sở nắm vững phương châm kết hợp giữa “xây và chống”, “chống và xây”, để phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, các báo cần chỉ đạo tổ chức vệt bài chống “diễn biến hòa bình” một cách thường xuyên với lực lượng viết hùng hậu. Cần thấy rằng, hiện nay, với mục tiêu gây ra “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta, các thế lực thù địch đang chống phá ta một cách khá bài bản. Chúng tìm cách liên kết, hiệp thông với nhau để tuyên truyền, kích động, nhất là trước những sự kiện chính trị diễn ra trong nước. Do đó, các báo của ta cũng phải hình thành một mặt trận với đúng nghĩa là “một binh chủng”. Binh chủng đó phải có lực lượng dồi dào; động viên được nhiều nhà khoa học có kiến thức rộng, hiểu sâu sắc lý luận và thực tiễn, tâm huyết với báo chí và đặc biệt cần có “máu chiến đấu”. Binh chủng đó phải “thiện chiến”, có lực lượng viết được những bài mang tính lý luận sâu sắc, phản bác có sức thuyết phục những bài báo tuyên truyền, kích động của các thế lực thù địch, nhất là luận điệu của những kẻ được mệnh danh là “có nghề”, “có thâm niên” và có lý luận; đồng thời, có lực lượng tác chiến nhanh, sẵn sàng viết “nóng”, khi bản báo có yêu cầu.

Hiện nay, mạng internet phát triển nhanh, bên cạnh mặt tích cực, thì hệ lụy dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ngày càng rõ rệt. Do vậy, các báo điện tử, trang thông tin điện tử càng thấy rõ trách nhiệm của mình trong việc tham gia đấu tranh phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Báo điện tử cần phát huy rõ ưu thế của mình là thông tin nhanh, nhạy, góp phần sớm định hướng chính trị, tư tưởng, điều chỉnh dư luận xã hội. Song, cũng cần khắc phục chính hạn chế từ ưu điểm đó. Bởi lẽ, thông tin nhanh mà chưa được kiểm chứng, nhất là trước những vấn đề nhạy cảm, dễ gây ra hiểu lầm, cần hết sức thận trọng. Thông tin là “con dao hai lưỡi”. Vì vậy, người làm báo điện tử cũng như bất cứ báo chí nào khác đều phải thấy rõ trách nhiệm trước thông tin của mình đưa ra. Điều này, thời gian qua, các cơ quan quản lý báo chí đều nhắc nhở và có những chế tài xử lý tập thể và cá nhân nhà báo với hình thức nhất định. Tuy nhiên, vì tính chất của báo chí cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng, các cấp quản lý cần có những biện pháp kiên quyết, mạnh tay hơn nữa.

                                                                                     BIỂN RỘNG

 

 

 

NGĂN NGỪA NGUY CƠ "TỰ DIỄN BIẾN", "TỰ CHUYỂN HÓA"

Đại hội XIII của Đảng đã cảnh báo: "Trong nội bộ, những biểu hiện xa rời mục tiêu của CNXH, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" có những diễn biến phức tạp"1. Tình hình đó chứng tỏ nguy cơ "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" hiện nay là vấn đề không thể xem thường; cần phải phân tích làm rõ, có biện pháp khắc phục hiệu quả.

 
V.I. Lê-nin đã từng nhắc nhở và cảnh báo những người Cộng sản rằng, không ai có thể đánh đổ được chúng ta, trừ chính những sai lầm của chúng ta. Lời di huấn trên của Người ngày nay vẫn còn giá trị và mang tính thời sự nóng hổi. Nó đòi hỏi Đảng ta, mỗi cán bộ, đảng viên (CB,ĐV) phải khắc sâu lời dạy trên, để tránh nguy cơ "tự diễn biến", "tự chuyển hóa", dần dần xa rời mục tiêu, lý tưởng, đi vào quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản.

Lịch sử CNXH hiện thực thế giới đã có nhiều bài học cay đắng, nhất là những bài học nóng hổi ở Liên Xô và Đông Âu; nơi mà Đảng Cộng sản, giai cấp công nhân, chế độ XHCN đã từng chiến thắng trước mọi thử thách cam go, ác liệt của chiến tranh, nhưng lại gục ngã trong hoà bình, trước sự tấn công nham hiểm, ác độc của chiến lược "Diễn biến hoà bình" do các thế lực thù địch phát động.

Trong những nguyên nhân dẫn tới sự sụp đổ CNXH ở Liên Xô và Đông Âu, có nguyên nhân "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" của một bộ phận CB,ĐV và tổ chức đảng. Những sai lầm trong đường lối chính trị của Đảng Cộng sản ở các nước đó đã làm cho CNXH lâm vào trì trệ, khủng hoảng; cộng với đó là sự tấn công nguy hiểm của các thế lực thù địch đã làm cho tổ chức đảng và một bộ phận CB,ĐV do bản lĩnh non kém, đã "tự diễn biến", "tự chuyển hóa", buông lỏng vai trò lãnh đạo, xa rời nguyên tắc Đảng, thủ tiêu đấu tranh…, dần dần đi vào lập trường của giai cấp tư sản; không có hành động cần thiết trước sự tấn công thâm độc của chủ nghĩa đế quốc..., làm cho CNXH ở đó nhanh chóng tan rã.

Nhận rõ tính chất nguy hại của "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ, nên những năm qua, trong nhiều kỳ đại hội, hội nghị Trung ương, Đảng ta từng cảnh báo về tình trạng này. Đại hội XIII của Đảng khẳng định: "Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ CB,ĐV gắn với tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí vẫn nghiêm trọng, làm giảm sút niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước"2. Tình trạng đó sẽ làm cho nội bộ tổ chức đảng, tổ chức chính quyền suy yếu; cán bộ thoái hóa... xa dân; đồng thời, làm suy giảm trí tuệ, năng lực tổ chức thực hiện hoạt động lãnh đạo; dẫn đến sai lầm trong việc đề ra chủ trương, quyết sách về kinh tế - xã hội. Tình trạng phân hóa giàu - nghèo ngày càng lớn, cùng với sự phân tầng giai cấp trong xã hội và những mâu thuẫn trong nội bộ được tích tụ từ lâu chưa được giải quyết..., sẽ gây nên những bất bình giữa nhân dân với một bộ phận CB,ĐV và chính quyền; làm xói mòn lòng tin của nhân dân đối với Đảng và với chế độ. Đây là vấn đề không thể xem thường đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng ta; là vấn đề mà các thế lực thù địch có thể lợi dụng trong thực hiện chiến lược "Diễn biến hòa bình", thúc đẩy "tự diễn biến", "tự chuyển hóa", nhằm mục tiêu xoá bỏ chế độ XHCN trên đất nước ta.

Điều đáng quan tâm nhất là, trước sự đổ vỡ của CNXH ở Liên Xô và Đông Âu; những tác động tiêu cực từ mặt trái kinh tế thị trường và sự xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch, một số CB,ĐV đã giao động về mục tiêu, lý tưởng, con đường XHCN, chuyển sang phụ họa, bênh vực cho CNXH dân chủ; công kích các nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nguyên tắc lãnh đạo của Đảng; thậm chí, vô tình hay hữu ý, họ còn tuyên truyền cho chủ nghĩa tư bản. Một số CB,ĐV lợi dụng chức quyền, tham ô, tham nhũng… giầu lên nhanh chóng, đã và đang tham gia vào một bộ phận xã hội có những quan điểm xa lạ với Đảng Cộng sản…

Yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH để đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020, đang đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta phải vượt qua mọi nguy cơ, đẩy lùi thách thức, thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN. Điều đó đòi hỏi mỗi CB,ĐV và tổ chức đảng phải tỉnh táo nhìn thẳng vào những hạn chế, thiếu sót của mình để kịp thời khắc phục đúng như lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: một đảng "không dấu giếm", dám nhìn rõ khuyết điểm của mình, là một đảng mạnh. Để góp phần thực hiện tốt vấn đề đó, chúng ta cần tiến hành nhiều nội dung, biện pháp; kết hợp công tác tư tưởng, tổ chức với công tác chính sách; trong đó, cần thực hiện tốt một số vấn đề sau:

1. Thường xuyên thực hiện tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho đội ngũ CB,ĐV. Nội dung công tác giáo dục chính trị, tư tưởng tập trung vào nâng cao nhận thức về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, nhất là tư duy mới của Đảng về xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đồng thời, làm cho đội ngũ CB,ĐV nhận rõ âm mưu, thủ đoạn chống phá cách mạng nước ta của các thế lực thù địch bằng chiến lược "Diễn biến hòa bình"; trong đó, đội ngũ CB,ĐV là một mục tiêu mà chúng hướng tới. 

2. Tập trung xây dựng đội ngũ CB,ĐV (nhất là cán bộ chủ trì) ngang tầm với yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới. Mỗi CB,ĐV phải  tích cực phấn đấu tu dưỡng, rèn luyện về mọi mặt, nhất là về tư tưởng, chính trị, phẩm chất, đạo đức, lối sống, năng lực công tác; đồng thời, tích cực "làm theo" tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

Mỗi tổ chức đảng cần đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng, chống suy thoái về chính trị, tư tưởng; chống tham nhũng, lãng phí và các biểu hiện tiêu cực khác. Muốn vậy, tinh thần dân chủ phải được "nuôi dưỡng" trong mỗi tổ chức đảng, tổ chức chính trị - xã hội, nhằm đẩy mạnh tự phê bình và phê bình một cách nghiêm túc.

Mỗi tổ chức đảng cần tăng cường giáo dục, quản lý cán bộ, nâng cao chất lượng sinh hoạt đảng, thực hiện tốt các hình thức giám sát của nhân dân và công luận đối với CB,ĐV (nhất là ở nơi cư trú); kiên trì thực hiện việc CB,ĐV kê khai tài sản, đặc biệt là cán bộ, công chức làm những việc dễ phát sinh tiêu cực, có liên quan trực tiếp với công dân, trong các ngành quản lý tài chính, tiền tệ, đất đai, đầu tư, xây dựng, trong các cơ quan bảo vệ pháp luật...; đảm bảo việc kê khai tài sản được thực hiện có nền nếp, thực chất.

Việc đánh giá trách nhiệm cá nhân người đứng đầu cấp ủy và chính quyền các cấp, ngành phải được tiến hành thành nền nếp, nhằm phát hiện kịp thời CB,ĐV vi phạm tư cách, vi phạm đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước. Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm của CB,ĐV mà uốn nắn, nhắc nhở hoặc có các biện pháp xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật. Kiên quyết đấu tranh, loại bỏ những phần tử cơ hội, thoái hóa, biến chất ra khỏi hàng ngũ của Đảng để tăng cường sức chiến đấu và năng lực lãnh đạo của một đảng cầm quyền.

Trong việc nhận xét, đánh giá cán bộ, phải lấy kết quả hoàn thành nhiệm vụ làm thước đo chủ yếu; đồng thời, phải tăng cường thông tin, bổ sung, hoàn thiện quy chế, quy trình đánh giá cán bộ một cách khách quan, dân chủ và khoa học.

3. Tăng cường công tác quy hoạch, đào tạo cán bộ lãnh đạo và chỉ huy, quản lý, tạo nguồn cán bộ (nhất là cán bộ trẻ). Trên cơ sở quy hoạch, tích cực đào tạo, đào tạo lại cán bộ theo chức danh và cán bộ nguồn để nâng cao chất lượng cán bộ. Trong quá trình đào tạo, cần chú trọng bồi dưỡng phẩm chất chính trị, trình độ nghề nghiệp, năng lực thực tiễn, xử lý các tình huống nảy sinh, khắc phục những tiêu cực trong quá trình đào tạo. Bên cạnh đó, khuyến khích phong trào tự học tập, tự nâng cao trình độ của CB,ĐV bằng nhiều hình thức; thực hiện nghiêm túc kế hoạch luân chuyển cán bộ lãnh đạo và quản lý chủ chốt. Đồng thời, phải kiên quyết giữ đúng nguyên tắc: công tác cán bộ là của tập thể cấp ủy; không một cá nhân nào có quyền quyết định về công tác cán bộ; ngăn chặn triệt để mọi biểu hiện và hành động "chạy chức, chạy quyền", vì hệ lụy của nó là làm xói mòn niềm tin của nhân dân đối với Đảng, với chế độ XHCN.

4. Mỗi tổ chức đảng cần gắn việc xây dựng tổ chức mình với giáo dục, rèn luyện đội ngũ CB,ĐV. Đây là giải pháp có tính quyết định để ngăn chặn nguy cơ "tự diễn biến". Mỗi tổ chức đảng phải được xây dựng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức; đặc biệt, chú trọng thực hiện nghiêm túc nguyên tắc "tập trung dân chủ", đẩy mạnh tự phê bình và phê bình. Cần chú trọng xây dựng tổ chức đảng ở cơ sở; nhất là ở các địa bàn trọng yếu, vùng sâu, vùng xa; tránh để xảy ra mâu thuẫn, mất đoàn kết, chủ động khắc phục những hạn chế, yếu kém trong mỗi tổ chức đảng, không để cho các thế lực thù địch lợi dụng tạo cớ kích động. Để thực hiện được điều đó, cần chăm lo xây dựng tổ chức đảng, chính quyền các cấp trong sạch vững mạnh, đủ sức lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành mọi hoạt động của đất nước và từng địa phương; chăm lo giải quyết có hiệu quả những bức xúc, khó khăn về đời sống, những nguyện vọng chính đáng của nhân dân, như: đất đai, việc làm, tệ nạn xã hội... không để những bức xúc của nhân dân bị dồn nén lâu ngày, không được giải quyết một cách dứt điểm và có hiệu quả. Đồng thời, kiên quyết đấu tranh với những luận điệu vu cáo, bôi nhọ hình ảnh Đảng nói chung, CB,ĐV nói riêng, nhất là đối với cán bộ cao cấp của Đảng, hòng hạ uy tín của Đảng; đấu tranh với những luận điệu phủ nhận những thắng lợi có ý nghĩa lịch sử mà công cuộc đổi mới đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng đã mang lại.

Các nội dung, giải pháp trên đây có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tập trung cốt lõi vào vấn đề cán bộ và công tác cán bộ của Đảng. Có được đội ngũ CB,ĐV thực sự là "công bộc" của dân, chăm lo cho dân, cho nước, luôn đặt lợi ích của tập thể, của đất nước lên trên lợi ích của cá nhân, thực sự "chí công vô tư" như lời dạy của Bác Hồ, thì chúng ta sẽ không sợ "tự diễn biến", "tự chuyển hóa", Tổ quốc Việt Nam XHCN mãi mãi sẽ trường tồn.

                                                                    BIỂN RỘNG

 

 

CẦN TIẾP TỤC NÊU CAO TÍNH ĐẢNG TRONG THÔNG TIN BÁO CHÍ

Trong quá trình lãnh đạo sự nghiệp đổi mới đất nước, Đảng ta đã xác định, phát triển kinh tế-xã hội là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt. Trong xây dựng Đảng, vấn đề căn cốt là tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, năng lực quản lý của Nhà nước, chống lạm dụng quyền lực, bởi lạm dụng quyền lực thì sẽ tha hóa quyền lực và dẫn đến tha hóa chế độ xã hội. Vậy nên, nêu cao tính đảng của báo chí trước hết là trách nhiệm chính trị của các tổ chức đảng, chính quyền các cấp. Tất cả bộ máy trong hệ thống chính trị không được ngăn cản báo chí thực hiện vai trò giám sát xã hội, trong thực hiện chính sách công, trong thực thi công vụ và trong đấu tranh chống lợi ích nhóm dưới mọi hình thức. Mọi biểu hiện coi nhẹ, buông lỏng hoặc ngăn chặn vấn đề này, đều là suy giảm tính đảng của báo chí cách mạng.

Mặt khác, đội ngũ nhà báo cách mạng, trước hết là người đứng đầu cơ quan báo chí, cần không ngừng học hỏi nâng cao trình độ và giác ngộ chính trị, cập nhật kiến thức và kỹ năng làm nghề, kỹ năng quản trị cơ quan báo chí trong tình hình mới. Cùng với đó, cần quan tâm đào tạo, phát triển và có chính sách thích đáng cho đội ngũ nhà báo chính luận, để họ đủ năng lực và chuyên tâm viết những tác phẩm phân tích, bình luận, đánh giá các sự kiện và vấn đề thời sự trên các lĩnh vực đời sống kinh tế - xã hội. Thực tế cho thấy, luồng báo chí thông tin sự kiện trên báo chí chúng ta cập nhật khá tốt, nhưng luồng những tác phẩm phân tích, bình luận, đánh giá các sự kiện và vấn đề thời sự góp phần đấu tranh tư tưởng, hướng dẫn dư luận xã hội cần phải nhanh nhạy, sắc bén, kịp thời, thuyết phục hơn nữa.

Khi có chính sách phù hợp, chúng ta sẽ có được đội ngũ nhà báo chính luận ngang tầm, góp phần tiếp tục nêu cao tính đảng hơn nữa của báo chí và qua đó góp phần xây dựng nền báo chí Việt Nam cách mạng, hiện đại, chuyên nghiệp và nhân văn./.

Sự Thật

 

 

MỘT SỐ BIỂU HIỆN CƠ BẢN CỦA TÍNH ĐẢNG TRONG THÔNG TIN BÁO CHÍ

Trước hết, về nội dung, yêu cầu của tính đảng trong hoạt động báo chí, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã có nhiều văn bản đề cập, tựu trung lại có mấy vấn đề quan trọng: 

Một là, tuyên truyền, giáo dục lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. 

Hai là, đấu tranh, phản bác những quan điểm sai trái, thù địch, chống phá sự nghiệp cách mạng của đất nước. 

Ba là, tuyên truyền, giáo dục tinh thần đại đoàn kết dân tộc và đấu tranh bảo vệ khối đại đoàn kết các dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng. 

Bốn là, đấu tranh chống những biểu hiện bảo thủ, lạc hậu, những thói hư tật xấu trong cộng đồng, những rào cản văn hóa trong quá trình phát triển đất nước và hội nhập quốc tế.

Trong bất kỳ thể chế xã hội nào, báo chí dù trực tiếp hay gián tiếp, là phương tiện và phương thức đi đầu trong cuộc đấu tranh chính trị, tư tưởng; do đó, báo chí trong môi trường truyền thông số luôn phải thể hiện là phương tiện và phương thức siêu kết nối công chúng-xã hội, tức là tận dụng khả năng siêu kết nối của nền tảng số để kết nối nguồn lực trí tuệ và cảm xúc của nhân dân vì sự phát triển bền vững, vì lợi ích cộng đồng. Đó là quá trình báo chí, truyền thông đại chúng tham gia can thiệp xã hội, tức là tham gia giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội đã và đang đặt ra. Trong quá trình này, lợi ích chính trị của Đảng, Nhà nước luôn được thể hiện như sợi chỉ đỏ, có tính nguyên tắc. Sức mạnh chính trị, lợi ích chính trị của Đảng, trước hết thể hiện ở niềm tin chính trị của nhân dân. Do đó, báo chí cách mạng cần phải đề cao trách nhiệm chính trị trong xây dựng, kết nối niềm tin từ công chúng và nhân dân. Đảng, Nhà nước đã nêu rõ quan điểm xây dựng “Nhà nước của dân, do dân, vì dân” và thực hiện phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.

LHS

 

BÁO CHÍ CÁCH MẠNG VIỆT NAM THỂ HIỆN TÍNH ĐẢNG, TÍNH NHÂN DÂN SÂU SẮC

Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng của giai cấp công nhân, của toàn thể nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam. Đảng là lực lượng cầm quyền, lãnh đạo toàn dân xây dựng, phát triển đất nước theo cương lĩnh, đường lối và chính sách được hoạch định. Do đó, báo chí thông tin, tuyên truyền cho toàn dân hiểu và thực hiện, để biến quan điểm, chính sách ấy thành hiện thực cuộc sống; đồng thời, báo chí đấu tranh chống những quan điểm sai trái, thù địch, xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng vì nó làm phương hại đến lợi ích của Đảng, Nhà nước và lợi ích của nhân dân, đất nước.

Trên cơ sở nền tảng lý luận Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam công khai thừa nhận tính đảng trong báo chí và đã thiết lập các quan điểm nền tảng cho báo chí hoạt động; đồng thời thiết kế một nền báo chí cách mạng mà cơ quan báo chí là cơ quan ngôn luận của tổ chức trong hệ thống chính trị. Đó là quan điểm nhất quán và là nền tảng, sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong tiến trình phát triển của báo chí cách mạng Việt Nam từ năm 1930 đến nay.

Báo chí cách mạng Việt Nam là một nền báo chí thể hiện rõ tính đảng, đồng thời mang đậm tính nhân dân, vì Đảng lấy lợi ích nhân dân làm mục tiêu phấn đấu, phục vụ nhân dân, vì sự phát triển của dân tộc. Đó cũng là nền báo chí thấm đẫm tính nhân văn, vì quyền và lợi ích chính đáng của công dân, vì sự phát triển con người. Đó cũng là nền báo chí thể hiện đạo đức cao cả, vì hệ giá trị dân tộc và chuẩn mực đạo đức cộng đồng, vì lợi ích công.

Với nhận thức như thế, làm sao có thể phủ nhận tính đảng của báo chí? Mặc dù không ít quan điểm từ phương Tây cho rằng, báo chí của họ đứng ngoài chính trị, đứng trên giai cấp và không can thiệp vào cuộc đấu tranh tư tưởng, nhưng thực tế thì ngược lại. Thậm chí ở Hoa Kỳ, cơ quan báo chí hay hãng truyền thông nào “thân cận” với đảng phái nào thì định hướng thông tin theo và phục vụ lợi ích chính trị của đảng ấy. Trong cuốn “Một nền báo chí không có tự do của chúng ta - 100 năm phê bình truyền thông”, các tác giả đã đấu tranh, chỉ trích nhau và từ đó bộc lộ rõ thêm bản chất nền báo chí Hoa Kỳ. Trong thực tế, rất dễ nhận biết, báo chí Hoa Kỳ và báo chí phương Tây nói chung, khuynh hướng chính trị rất rõ ràng, phục vụ đường lối chính trị của giai cấp thống trị rất quyết liệt.

LHS

 

TÍNH ĐẢNG TRONG THÔNG TIN BÁO CHÍ LÀ HIỂN NHIÊN

Trong giao tiếp hằng ngày, khi chúng ta nghe lại câu chuyện từ ai đó, thì người kể câu chuyện đều có thái độ rõ ràng, khen hay chê, đồng tình hay phản đối, cho dù thái độ ấy có thể không bộc lộ trực tiếp, nhưng các chi tiết câu chuyện thì bộc lộ rõ ràng chủ định của người kể. Nhà văn sáng tạo tác phẩm cũng vậy, hình tượng nhân vật cùng hệ thống chi tiết trong tác phẩm biểu hiện thái độ, quan điểm của tác giả. Nhưng trong văn học lại có chuyện, khi nhân vật-hình tượng nghệ thuật đã “trưởng thành” thì có thể tự “phát tác” mà nhà văn khó "quản trị" được. Còn trong sáng tạo tác phẩm báo chí, toàn bộ chi tiết, số liệu, nhân vật, kể cả ngôn từ, giọng điệu... đều được nhà báo “quản trị” chặt chẽ. Cái đó người ta gọi là tính khuynh hướng. Tính khuynh hướng hình thành một cách tự nhiên trong phản ánh cuộc sống, trong thông tin thực tế về những gì đã và đang diễn ra.

Trong báo chí, phản ánh thực tế bao giờ cũng có những thuộc tính vốn có của nó. Đó là, phản ánh cái khách quan và phản ánh luôn mang tính mục đích, vì lợi ích nào đó; và tất nhiên là người phản ánh, đưa ra thông tin không thể làm hại đến lợi ích của bản thân mình. Phản ánh do đó có tính chọn lọc. Việc chọn lọc này vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật và thể hiện năng lực của chủ thể sáng tạo, tức là “gói được” bức tranh hiện thực trong phạm vi phản ánh và làm nổi bật bản chất sự kiện, vấn đề thông tin.

Những thuộc tính vốn có này, xét cho cùng, cũng trả lời câu hỏi: Phản ánh, thông tin để làm gì, vì lợi ích của ai? Vậy nên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn các nhà báo, khi cầm bút, phải tự trả lời được mấy câu hỏi: Viết cái gì? Viết cho ai? Viết để làm gì? Và cuối cùng mới viết như thế nào? Đây là những câu hỏi nằm lòng mà các nhà báo luôn ghi nhớ, bất kỳ anh ta làm việc ở cơ quan báo chí nào.

Bản chất hoạt động báo chí là hoạt động truyền thông đại chúng, hướng tới và phục vụ đông đảo công chúng, xã hội và vì lợi ích cộng đồng. Mỗi cộng đồng, xã hội đều do một giai cấp, một chính đảng thống trị/cầm quyền/lãnh đạo; sự vận động, phát triển xã hội ấy chịu sự chi phối quan điểm, chính sách của đảng cầm quyền. Chẳng hạn ở Hoa Kỳ, quan điểm/chính sách thời ông D.Trump làm tổng thống khác với thời ông J.Biden làm tổng thống, thậm chí có chính sách bài trừ nhau, mặc dù đều là do giai cấp tư sản thống trị. Báo chí Hoa Kỳ, về cơ bản thông tin theo định hướng chính sách của đảng cầm quyền thông qua quyết sách của tổng thống.

Như vậy, báo chí ý thức tự giác được quá trình thông tin đứng trên lập trường của đảng phái nào, thông tin vì lợi ích giai cấp nào, cái đó người ta gọi là tính giai cấp của báo chí. Khi báo chí nhận thức được rằng, thông tin phục vụ lợi ích của đội tiền phong và đại biểu lợi ích trung thành của giai cấp, của chính đảng - đó gọi là tính đảng. Như vậy, tính đảng là sự biểu hiện tập trung nhất, đậm đặc nhất, tinh túy nhất của tính giai cấp. Đó là nhìn từ phương diện tư tưởng - chính trị.

Còn về lợi ích dân sinh, cần phải xem, lợi ích đó có đáp ứng nhu cầu lợi ích cơ bản, cấp bách của đông đảo nhân dân hay không. Vậy nên, dòng thông tin báo chí thể hiện sâu sắc tính đảng, nếu gắn chặt với tính nhân dân, tính dân tộc, thì báo chí sẽ quy tụ và thể hiện được sức mạnh thực tế. Lợi ích căn bản và cấp bách của nhóm xã hội lớn, được báo chí ủng hộ và bảo vệ, đồng thời báo chí sẽ khơi nguồn, hình thành dư luận xã hội.

Sự Thật

 

Nhận diện hành vi tiêu cực

Liên tục các vụ tiêu cực bị xử lý nghiêm khắc trong thời gian gần đây cho thấy việc phòng, chống sự tha hóa, tiêu cực trong cán bộ, đảng viên đang được Đảng chú trọng hơn, đặc biệt là từ khi Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng được bổ sung thêm chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn phòng, chống tiêu cực.

Các chế tài nghiêm khắc đối với những hành vi tiêu cực là hồi chuông cảnh tỉnh cho những ai cố tình dựa vào địa vị của mình để thực hiện các hành vi tiêu cực nhằm mưu lợi cá nhân.

Việc đẩy mạnh phòng, chống tiêu cực, những biểu hiện "tự diễn biến," "tự chuyển hóa" trong nội bộ cũng là một trong những nhiệm vụ trọng tâm được xác định trong nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng.

Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, thuật ngữ “tiêu cực” dùng để chỉ những hiện tượng không lành mạnh, có tác dụng phủ định, cản trở, không tốt đối với quá trình phát triển của xã hội; trái với tích cực.

Đứng ở những cách tiếp cận khác nhau, thuật ngữ “tiêu cực” có cách hiểu khác nhau, nhưng tựu chung lại, hành vi tiêu cực trái ngược với tích cực, trái ngược với sự tiến bộ, phát triển hoặc cản trở, kìm hãm sự tiến bộ, phát triển.

Hành vi “tiêu cực” trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức có thể hiểu là những thói hư, tật xấu, khuyết điểm, là nhận thức, thái độ, hành vi không lành mạnh, có tác dụng xấu, gây ảnh hưởng xấu đến lợi ích, uy tín của Đảng, Nhà nước, cơ quan, đơn vị và chính cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, làm giảm sút niềm tin của nhân dân, cản trở quá trình phát triển của xã hội.

Khái quát lên, "tiêu cực" trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức là những biểu hiện, hành vi trái với các chủ trương, chính sách, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, kỷ luật của đoàn thể; các chuẩn mực đạo đức, quy tắc ứng xử, truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc, gây ảnh hưởng xấu đến uy tín của Đảng, Nhà nước, làm tha hóa đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, làm giảm sút niềm tin của nhân dân, cản trở quá trình phát triển kinh tế-xã hội.

Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) đã chỉ ra 27 biểu hiện của sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến,” “tự chuyển hóa” trong nội bộ; gồm 3 loại: Suy thoái về tư tưởng chính trị (9 biểu hiện); suy thoái về đạo đức, lối sống (9 biểu hiện); “tự diễn biến,” “tự chuyển hóa” (9 biểu hiện).

Từ 27 biểu hiện này, nhiều cấp ủy, tổ chức đảng thời gian qua đã nhận diện, cụ thể hóa thành hàng trăm hành vi cụ thể để tập trung đấu tranh, ngăn chặn. Các biểu hiện suy thoái này cũng chính là trọng tâm mà Đảng xác định cần tập trung đẩy mạnh đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi hiện nay.

Dưới góc độ hành vi, tiêu cực biểu hiện qua các hành vi hành động hoặc không hành động. Đó là các hành vi vi phạm các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước như vi phạm nghĩa vụ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức; vi phạm những điều cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức không được làm; vi phạm các quy định về nêu gương.

Đó là vi phạm kỷ luật của đoàn thể như vi phạm Điều lệ Công đoàn, Điều lệ Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh…

Đó là vi phạm các chuẩn mực đạo đức, quy tắc ứng xử, tập quán, truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc được cộng đồng thừa nhận như vi phạm kỷ luật lao động, nội quy, quy chế của cơ quan, đơn vị; quan hệ nam nữ bất chính...

Mới đây, tại Quy định số 32-QĐ/TW, ngày 16/9/2021 của Bộ Chính trị Quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, chế độ làm việc, quan hệ công tác của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã nêu rõ phạm vi chỉ đạo của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là “Chỉ đạo công tác phòng, chống tham nhũng; phòng, chống tiêu cực, trọng tâm là suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp của các tổ chức  trong hệ thống chính trị trong phạm vi cả nước. Trực tiếp chỉ đạo xử lý các vụ án, vụ việc tham nhũng hoặc có dấu hiệu tham nhũng nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm; các vụ án, vụ việc tiêu cực khác ngoài tham nhũng ảnh hưởng nghiêm trọng đến danh dự, uy tín, phẩm chất đạo đức, vai trò nêu gương của cán bộ…”

Điều này có nghĩa là suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến,” “tự chuyển hóa” đều là những biểu hiện tiêu cực; phòng, chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp của các tổ chức trong hệ thống chính trị trong phạm vi cả nước là trọng tâm của công tác phòng, chống tiêu cực./.

LHS

Thứ Năm, 16 tháng 6, 2022

 

Lớp phẩm màu dối trá không thể xóa nhòa hiện thực viết bằng máu

Luận điệu "Cách mạng Tháng Tám là cuộc đảo chính của cộng sản Việt Nam" chỉ là sự “nhai lại” những lời gian trá cũ rích từ 74 năm trước, khi Cách mạng Tháng Tám mới thành công của các thế lực thù địch lúc bấy giờ. Theo Từ điển Bách khoa Quân sự Việt Nam xuất bản năm 1995: “Đảo chính là thủ đoạn tranh giành quyền lực thống trị bằng sử dụng áp lực quân sự hoặc các áp lực khác trái với thể chế pháp luật hiện hành, lật đổ chính quyền đương nhiệm một cách bất thường và thiết lập chính quyền nhà nước khác trong khuôn khổ chế độ xã hội cũ”. Việc coi Cách mạng Tháng Tám là “cuộc đảo chính” hòng xuyên tạc trắng trợn bản chất của một cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Trong Nghị quyết tại Hội nghị cán bộ Bắc Kỳ của Đảng Cộng sản Đông Dương, ngày 10 và 11-9-1945, Đảng ta khẳng định: Nhật đầu hàng, điều kiện khách quan và chủ quan đầy đủ cho một cuộc cách mạng chín muồi (nền móng của phát xít hoàn toàn tan rã, đại đa số quần chúng đã nghiêng về cách mạng, đội tiền phong cương quyết và hy sinh).

Cuộc khởi nghĩa hoàn toàn thắng lợi là do kết quả của bao cuộc đấu tranh trong nhiều thập niên đổ máu, chứ không phải một cuộc đảo chính đơn giản. Những luận điệu xuyên tạc trên như lớp phẩm màu dối trá không thể xóa nhòa được lịch sử đấu tranh khốc liệt đã được cả dân tộc Việt Nam viết nên bằng máu.

Về luận điệu không cần chiến tranh, có thể dùng biện pháp khéo léo tránh chiến tranh mà vẫn giữ được độc lập, phát triển thì chính các nhà nghiên cứu nước ngoài cũng nhiều lần bác bỏ. Nhà sử học Pháp Philip Deville đã nhận định: “Trong khi máy bay, xe tăng và binh lính Pháp ùn ùn kéo đến Việt Nam để chuẩn bị xâm lược thì chỉ có một dân tộc cam chịu để mình bị cắt cổ, chỉ có một dân tộc ươn hèn, thực sự phản bội dân tộc mình mới không chuẩn bị gì, không hành động gì để chống lại”.

Hiện thực và bài học lịch sử chứng minh, không thể giành độc lập bằng cách ngồi chờ giặc rủ lòng thương. Trong điều kiện dân tộc Việt Nam bị đọa đày, đau khổ dưới ách áp bức thống trị của chế độ thực dân, phong kiến, các phong trào yêu nước chống thực dân Pháp diễn ra sôi nổi, từ lập trường Cần Vương đến xu hướng tư sản, tiểu tư sản, qua khảo nghiệm của lịch sử đều lần lượt thất bại. Chỉ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, bằng cương lĩnh, đường lối đúng đắn, phù hợp với tình hình trong nước và quốc tế lúc bấy giờ, cách mạng Việt Nam bước sang giai đoạn mới.  Sau này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có đánh giá hết sức khách quan: “Suốt trong 80 năm nước ta bị Pháp chiếm, nhân dân ta từ Nam đến Bắc đã nhiều lần nổi dậy chống giặc ngoại xâm. Nhưng vì bọn vua quan hèn mạt, câu kết với địch, phản nước hại dân, cho nên các cuộc khởi nghĩa đều thất bại. Cách mạng Nga thành công đã thức tỉnh các dân tộc bị áp bức, dạy cho họ cách tổ chức, đấu tranh và giành thắng lợi. Nhờ vậy mà ta có Đảng tiên phong, có Mặt trận dân tộc thống nhất, đoàn kết và lãnh đạo toàn dân, kiên quyết đấu tranh cho độc lập tự do, làm Cách mạng Tháng Tám thắng lợi”.

Bàn luận

 

Vận dụng sáng tạo những bài học lịch sử

Trong một bài viết về Toàn quốc kháng chiến gần đây, Đại tướng Ngô Xuân Lịch, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng cũng chỉ rõ: Chúng ta luôn "quyết tâm bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa", “kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước”; "... hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách về quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc và đối sách xử lý hiệu quả các tình huống và trong quan hệ đối ngoại; bảo đảm không bị động, bất ngờ về chiến lược, góp phần bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa".

Nhận thức sâu sắc những bài học lịch sử của Cách mạng Tháng Tám và các cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc, Đảng, Nhà nước, Quân đội ta đã và đang thực hiện “dĩ bất biến ứng vạn biến” trong bảo vệ Tổ quốc.

“Dĩ bất biến” trong kiên định đường lối, mục tiêu độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, môi trường hòa bình và “ứng vạn biến” bằng sách lược mềm dẻo, phương thức linh hoạt, đối phó hiệu quả với sự biến động phức tạp của tình hình; sự đan xen, chuyển hóa phức tạp giữa đối tác và đối tượng; với mọi âm mưu, thủ đoạn, tình huống của các thế lực thù địch, phản động, nhằm đạt mục tiêu cao nhất. 

Chúng ta cũng xác định vừa hợp tác, vừa đấu tranh, theo tinh thần thêm bạn, bớt thù; giữ cân bằng, tận dụng tối đa quan hệ với các nước lớn, tranh thủ sự ủng hộ quốc tế rộng rãi. Lấy đối ngoại quốc phòng làm công cụ quan trọng giải quyết tranh chấp, bất đồng, bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia; tạo lợi thế chính trị trong mọi biến động của tình hình, đóng góp cho hòa bình, ổn định của khu vực.

 Chúng ta cũng kiên quyết, kiên trì đấu tranh trên cơ sở nắm vững, tận dụng luật pháp quốc tế, giữ vững chủ quyền lãnh thổ, không để xảy ra xung đột, chiến tranh; không để bạo loạn kéo dài, lan rộng; không sử dụng lực lượng vũ trang giải quyết mâu thuẫn nội bộ nhân dân, mắc mưu khiêu khích, tạo cớ cho thế lực thù địch can thiệp quân sự; không để thế lực có tham vọng lãnh thổ lợi dụng hoặc thỏa hiệp với thế lực thù địch…

Bàn luận

 

Muốn hưởng trái hòa bình, phải bảo vệ cây độc lập

Cách đây ít ngày, Nguyễn Linh-một bạn trẻ ham thích dùng mạng xã hội vừa viết bài phê phán các hiện tượng nhận thức lệch lạc vừa quảng bá bán sản phẩm mật ong rừng của quê hương Hà Tĩnh đã có chuyến đi về Bình Dương. Linh bắt gặp hình ảnh trụ sở của một doanh nghiệp bề thế nay chỉ là ngôi nhà hoang nằm chỏng chơ, tường đen sì-dấu tích cuộc đốt phá của những người biểu tình nhân danh “yêu nước” vào mùa hè cách đây 5 năm. 5 năm đã trôi qua mà công ty này vẫn chẳng thể quay lại hoạt động bình thường, tòa nhà bề thế cũng chưa được sửa sang lại.

Đó chỉ là một ví dụ nhỏ cho thấy thiệt hại, sự nguy hiểm của những âm mưu kích động, phá hoại. Ngày nay, chúng ta đang thừa hưởng giá trị của hòa bình-độc lập thực sự là thành quả vĩ đại do Cách mạng Tháng Tám và các cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc đem lại. Đó là khát vọng, là thành quả của dân tộc Việt Nam mà chúng ta phải kiên trì bảo vệ, đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh khi trả lời phỏng vấn nhà báo người Anh Phê-lích Gơ-rin ngày 18-11-1965 đã khẳng định: “Nhân dân Việt Nam rất muốn có hòa bình để xây dựng đất nước. Nhưng muốn có hòa bình thật sự thì phải có độc lập thật sự”; và đấu tranh cho độc lập dân tộc tức là đấu tranh bảo vệ hòa bình. Sự đấu tranh ấy là thường xuyên, liên tục, là trách nhiệm thiêng liêng của mỗi người dân đất Việt nhưng phải đặt trong con đường, mục tiêu, cách thức chung của đất nước, cộng đồng, trong sách lược và chiến lược của Đảng, Nhà nước. Yêu nước mà thiếu sự tỉnh táo, sa bẫy lôi kéo của các thế lực phản động, cơ hội thì chẳng khác gì rút lông ngỗng trên con đường phát triển của đất nước.

Những lời kêu gọi “một cuộc Cách mạng Tháng Tám lần thứ hai” cho thấy những âm mưu phá hoại nền hòa bình, độc lập vĩ đại của đất nước ta vẫn luôn được kẻ thù rắp tâm thực hiện. Nhưng nó chỉ đánh lừa, gây dao động một bộ phận rất ít người suy nghĩ non nớt, lệch lạc. Dân tộc này, đất nước này đã trải qua biết bao hy sinh, biết bao máu và nước mắt để có nền hòa bình, độc lập hôm nay. Cũng chẳng phải ngẫu nhiên mà kỳ nghỉ 2-9 hằng năm giờ đây được nhiều nơi gọi là Tết Độc lập. Từ “Tết” tự thân nó khiến người ta nghĩ đến cái Tết cổ truyền của cả dân tộc. Giá trị độc lập trở thành thiêng liêng, vĩnh hằng, niềm vui độc lập sau 74 năm như lắng sâu hơn, để những người đang sống hôm nay coi như một cái Tết thứ hai của mỗi người dân đất Việt. Theo đó, những kẻ cơ hội chắc sẽ thấy xấu hổ vì nếu họ phát động cái gọi là "cuộc Cách mạng Tháng Tám lần thứ hai" thì mục tiêu của cuộc “cách mạng” ấy là gì, phục vụ ai, đem lại lợi ích cho ai, do ai lãnh đạo? Ai đủ tâm, tầm, trí hơn Đảng Cộng sản Việt Nam-tổ chức của bao triệu người đã hy sinh, phấn đấu vì dân, vì nước từ khi ra đời đến nay? 

Cách đây ít lâu, trả lời báo chí, một đồng chí lãnh đạo Bộ Quốc phòng khẳng định: Chúng ta đã chiến đấu và chiến thắng để giành lại độc lập, tự do, thống nhất Tổ quốc. Chúng ta đánh để có hòa bình, cho nên chúng ta rất coi trọng những yếu tố, nhân tố để có được hòa bình. Thứ nhất, chúng ta giữ hòa bình, hữu nghị với những nước bạn bè. Thứ hai, hòa bình, hữu nghị để tranh thủ nhận được sự ủng hộ của các quốc gia khác trên thế giới đối với sự nghiệp xây dựng đất nước của chúng ta. Thứ ba, kể cả đối với đối tượng đối nghịch, chúng ta bao giờ cũng sẵn sàng hòa bình nếu họ tôn trọng độc lập, chủ quyền của Việt Nam, từ bỏ ý chí xâm lược nước ta. Chủ trương nhất quán của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng xác định nhiệm vụ chung là bảo vệ lãnh thổ, bảo vệ độc lập, bảo vệ chủ quyền của đất nước; bảo vệ lợi ích quốc gia-dân tộc, trong đó tập trung bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ Đảng, bảo vệ nhân dân; bảo vệ hòa bình bền vững cho đất nước. Đây là 3 mục tiêu chung của bảo vệ Tổ quốc và là nhiệm vụ của Bộ Quốc phòng, của quân đội.

Có lẽ, đó cũng chính là tinh thần “Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy” như lời quả quyết của Bác Hồ trong bản Tuyên ngôn Độc lập

NMT

 

CHỦ QUYỀN QUỐC GIA TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG (KỲ CUỐI)

Nhân Trần

Tình hình an ninh mạng, tội phạm công nghệ cao ở Việt Nam

 Thứ nhất, hệ thống mạng thông tin Việt Nam phát triển nhanh, nhưng hạ tầng cơ sở chưa đáp ứng yêu cầu chủ động phòng, chống tội phạm mạng và bảo đảm an ninh, an toàn không gian mạng quốc gia. Việc áp dụng các biện pháp bảo đảm an toàn, an ninh mạng và thông tin mạng quốc gia chưa được các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp chú trọng; chưa có quy trình, thao tác xử lý khi xảy ra sự cố, thậm chí, còn buông lỏng, không áp dụng biện pháp bảo đảm an ninh thông tin, an ninh không gian mạng. Mức độ nhận biết các loại hình tấn công mạng, áp dụng các giải pháp bảo đảm an ninh thông tin, ban hành các quy trình thao tác phản ứng xử lý sự cố thông tin chưa cao.

Thứ hai, hoạt động tấn công mạng nhằm vào hệ thống thông tin Việt Nam diễn ra nghiêm trọng, đòi hỏi phải có hệ thống giải pháp tổng thể, toàn diện, như sử dụng không gian mạng để tấn công nhằm phá hoại, gây đình trệ hệ thống hạ tầng công nghệ thông tin, hoạt động của cơ quan, tổ chức và cá nhân. Mục tiêu tấn công là các hệ thống thông tin quan trọng như: hệ thống điều khiển giao thông đường bộ, đường hàng không, cung cấp điện, nước, điều khiển nông nghiệp công nghệ cao; các sân bay, nhà ga, bến cảng, kho bạc, ngân hàng... Tấn công vào cơ sở dữ liệu của các cơ quan, tổ chức, tập đoàn kinh tế lớn nhằm thu thập, đánh cắp thông tin, dữ liệu. Tháng 7/2016, trang web của Vietnam Airline cũng bị hacker tấn công và hậu quả là trên 400.000 tài khoản của khách hàng thuộc chương trình Bông sen vàng đã bị lộ; trong các ngày 08, 09,10/3/2017, tin tặc đã tấn công, thay đổi giao diện website Cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất, Đà Nẵng, Phú Quốc, Rạch Giá...

Thứ ba, tội phạm sử dụng mạng máy tính gia tăng với mức độ ngày càng nghiêm trọng, nổi lên là lừa đảo chiếm đoạt tài sản thông qua hoạt động kinh doanh đa cấp, thương mại điện tử; gian lận, trộm cắp trong hoạt động thanh toán thẻ và thanh toán điện tử; trộm cắp, mua bán thông tin thẻ tín dụng nhằm chiếm đoạt tài sản; đánh bạc và tổ chức đánh bạc thông qua mạng Internet; trộm cắp tài khoản người dùng mạng xã hội để lừa đảo chiếm đoạt tài sản; truyền bá, phát tán ấn phẩm đồi trụy, tổ chức môi giới mại dâm, phát tán thông tin xuyên tạc, hình ảnh riêng tư để xúc phạm, làm nhục người khác (Năm 2019, các đơn vị chức năng Bộ Công an) đã khởi tố đối với hơn 1.000 bị can; bắt và bàn giao Cảnh sát các nước trên 500 đối tượng hoạt động sử dụng không gian mạng thực hiện hành vi phạm tội). Nhiều vụ chiếm quyền điều khiển máy tính, thiết bị số, truy cập bất hợp pháp vào hệ thống công nghệ thông tin của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, chiếm quyền điều khiển từ xa, thay đổi giao diện Website hoặc cơ sở dữ liệu... nhằm mục đích tống tiền hoặc hạ uy tín của các đơn vị này (trong vụ tấn công bằng mã độc WannaCry năm 2017, Việt Nam có trên 1.900 máy tính bị lây nhiễm mã độc này, trong đó có khoảng 1.600 máy tính của gần 250 cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp). 

Thứ tư, hoạt động sử dụng không gian mạng để xâm phạm an ninh quốc gia của các thế lực thù địch, phản động ngày càng phức tạp và nguy hiểm, tuyên truyền phá hoại tư tưởng, phá hoại nội bộ, kích động biểu tình, bạo loạn, lật đổ chính quyền. thông qua các trang mạng xã hội để liên minh, liên kết, móc nối trong ngoài, tập hợp lực lượng nhằm lật đổ chính quyền đương nhiệm không thân Mỹ tại một số quốc gia, điển hình là phong trào “cách mạng hoa Lài” hay “Mùa xuân Ả Rập” thời gian qua. Triệt để sử dụng mạng xã hội thực hiện âm mưu “diễn biến hoà bình”, đẩy mạnh khoét sâu các mâu thuẫn tồn tại trong xã hội để hô hào, kích động người dân xuống đường biểu tình, kêu gọi các quốc gia khác can thiệp và tập hợp lực lượng nhằm lật đổ chính quyền; tuyên truyền gây mất đoàn kết và phá hoại nội bộ lãnh đạo, gây suy giảm lòng tin của quần chúng nhân dân với Đảng, Nhà nước.

 Thứ năm, công tác quản lý nhà nước về an toàn, an ninh mạng và thông tin mạng quốc gia chưa đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới. Trong những năm qua, Việt Nam đã chứng kiến những bước phát triển kinh tế ngoạn mục, nhờ những quyết sách, định hướng đúng đắn của Đảng, Nhà nước về phát triển, ứng dụng công nghệ thông tin, với những bước đi, lộ trình phù hợp; coi khoa học - công nghệ là một ngành kinh tế mũi nhọn để thúc đẩy kinh tế tri thức, tạo sự chuyển biến trong các chuỗi giá trị từ trong nước để hội nhập với toàn cầu; đồng thời, biết nắm bắt thời cơ, vận hội mới, tranh thủ các thành tựu khoa học - công nghệ tiên tiến để đẩy nhanh hơn tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, ngày càng hội nhập sâu rộng, hiệu quả hơn vào nền kinh tế thế giới, không ngừng nâng cao tiềm lực về quốc phòng, an ninh (Theo số liệu thống kê tính đến tháng 1/2020, Việt Nam có 68,17 triệu người sử dụng Internet, chiếm gần 70% dân số, nằm trong Top 20 quốc gia có tỉ lệ người dùng Internet cao nhất thế giới). Tuy nhiên, sự phát triển của các thiết bị di động thông minh có kết nối mạng đang đặt ra nhiều thách thức đối với công tác quản lý.

 Giải pháp bảo đảm chủ quyền quốc gia trên không gian mạng

Một là, hoàn thiện, nâng cao năng lực bảo đảm an toàn, an ninh mạng và thông tin mạng quốc gia cho các cơ quan, ban, ngành, địa phương; các công trình hạ tầng trọng yếu có kết nối mạng, các tập đoàn kinh tế quan trọng. Kiện toàn bộ máy, tổ chức, nhân sự có kiến thức, đủ năng lực về an toàn, an ninh mạng và thông tin mạng quốc gia tại các cơ quan trung ương và địa phương. Tạo nguồn nhân lực chất lượng cao về an toàn, an ninh thông tin, an ninh mạng, đáp ứng nhu cầu cán bộ an toàn, an ninh mạng và thông tin mạng quốc gia cho các cơ quan nhà nước. (1) Đội ngũ nhân lực về an toàn, an ninh mạng và thông tin mạng quốc gia có khả năng làm chủ công nghệ, hạn chế và tiến tới không phụ thuộc vào công nghệ và thiết bị của nước ngoài. Hoàn thiện hệ thống hạ tầng thông tin, thiết bị công nghệ thông tin bảo đảm an toàn, an ninh mạng và thông tin mạng quốc gia cho các cơ quan trung ương và địa phương; các công trình hạ tầng trọng yếu, các tập đoàn kinh tế quan trọng có kết nối mạng. Các hệ thống thông tin quan trọng quốc gia được xác định, áp dụng các biện pháp bảo vệ tương xứng, liên tục từ giai đoạn thiết kế, xây dựng, phát triển, vận hành và sử dụng. (2) Tập trung được nguồn lực toàn xã hội trong bảo đảm an toàn, an ninh mạng và thông tin mạng quốc gia. (3) Nhà nước bảo đảm kinh phí cho công tác an toàn, an ninh mạng và thông tin mạng quốc gia.

 Hai là, xây dựng môi trường không gian mạng lành mạnh. Nhận thức, năng lực bảo đảm an toàn, an ninh mạng và thông tin mạng quốc gia của toàn xã hội được nâng caoNgười sử dụng có kiến thức cơ bản về bảo mật trong môi trường mạng; thường xuyên được cập nhật về tình hình, mức độ rủi ro mất an toàn thông tin để có thể tự phòng ngừa hiệu quả. Hệ thống mạng thông tin bảo đảm các tiêu chuẩn về bảo mật. Các doanh nghiệp công nghệ thông tin trong nước lớn mạnh, làm chủ thị trường, không bị lệ thuộc vào sản phẩm của nước ngoài. (1) Các loại hình báo chí chính thống giữ vai trò chủ đạo, định hướng dư luận để đủ sức đề kháng đối với các thông tin xấu, độc trên không gian mạng. (2) Huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị và toàn dân trong đấu tranh phản bác, vô hiệu hoá các thông tin xấu, luận điệu phản tuyên truyền trên không gian mạng.

 Ba là, xây dựng lực lượng chuyên trách đủ năng lực, chủ động đối phó với mọi nguy cơ xảy ra trên không gian mạng. Lực lượng chuyên trách bảo đảm an ninh thông tin, an ninh không gian mạng quốc gia trực thuộc Bộ Công an; lực lượng thực hiện nhiệm vụ quốc phòng trên không gian mạng trực thuộc Bộ Quốc phòng; lực lượng bảo đảm an toàn thông tin trực thuộc Bộ Thông tin và Truyền thông đủ năng lực, sẵn sàng, chủ động đối phó với mọi nguy cơ xảy ra trên không gian mạng. (1) Đội ngũ chuyên gia an ninh mạng có năng lực xử lý các sự cố, tình hình an ninh thông tin, an ninh mạng. (2) Hình thành các chuyên ngành đào tạo về an ninh thông tin, an ninh mạng. (3) Hoàn thiện cơ chế, chính sách thu hút các học sinh, sinh viên khá, giỏi theo học chuyên ngành an ninh thông tin, an ninh mạng; thu hút, trọng dụng, đãi ngộ các chuyên gia giỏi làm việc cho các cơ quan nhà nước; (4) nâng cao chất lượng đào tạo tại các trường trọng điểm về an toàn thông tin nhằm đáp ứng yêu cầu của tình hình mới.

 Bốn là, quan hệ hợp tác quốc tế trên lĩnh vực bảo đảm an toàn, an ninh thông tin, an ninh mạng được mở rộng và tăng cường. (1) Mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế với các nước trên thế giới về bảo đảm an toàn, an ninh mạng và thông tin mạng quốc gia, tranh thủ sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế đấu tranh phản bác luận điệu sai trái của các thế lực thù địch chống Việt Nam. (2) Tham gia các công ước, thoả thuận quốc tế về bảo đảm an toàn, an ninh mạng và thông tin mạng quốc gia, phòng, chống tội phạm mạng phù hợp với chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước. (3) Triển khai có hiệu quả, thiết thực các Nghị định thư, thoả thuận hợp tác về phòng chống tội phạm mạng đã ký kết với các nước. Tăng cường hợp tác với các nước có trình độ phát triển cao về công nghệ thông tin để đào tạo nguồn nhân lực, tiếp thu khoa học, công nghệ mới, học hỏi kinh nghiệm bảo đảm an toàn, an ninh mạng và thông tin mạng quốc gia.

 Lời kết: Như phân đã phân tích trong các nội dung trên “Chủ quyền quốc gia trên không gian mạng” được xác định là quyền tối cao, tuyệt đối, đầy đủ và riêng biệt của quốc gia đối với các vùng thông tin do Nhà nước quản lý, kiểm soát trực tiếp hoặc gián tiếp bằng chính sách, pháp luật và năng lực công nghệ phù hợp với luật pháp quốc tế và quy định của Luật pháp quốc tế. Cũng như chủ quyền lãnh thổ, các quốc gia có quyền tối cao, tuyệt đối, hoàn toàn và riêng biệt đối với phạm vi không gian mạng thuộc quyền kiểm soát của mình, tức có chủ quyền quốc gia trên không gian mạng, việc xác định chủ quyền quốc gia trên không gian mạng là quyền kiểm soát, chi phối trên cơ sở chủ quyền, lợi ích quốc gia và luật pháp quốc tế. Thực chất việc quốc gia xác lập chủ quyền không gian mạng là xác lập quyền quản lý, kiểm soát đối với cơ sở hạ tầng không gian mạng và thông tin được tạo ra, lưu trữ, xử lý và truyền đưa trên đó, được thực hiện thông qua xác lập chủ quyền, quyền tài phán theo luật pháp quốc tế đối với cơ sở hạ tầng mạng thuộc sở hữu cả ở trong và ngoài lãnh thổ quốc gia; đồng thời mã hóa thông tin số truyền đưa trên không gian mạng toàn cầu./.