Thứ Hai, 16 tháng 12, 2024

 

NHẬN DIỆN ÂM MƯU, HOẠT ĐỘNG CHỐNG PHÁ CỦA   CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH, PHẢN ĐỘNG XUYÊN TẠC SỰ KIỆN LỊCH SỬ CHIẾN THẮNG 30/4/1975

 

Chiến thắng 30/4/1975 là một trong những mốc son lịch sử chói lọi nhất trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam; đã làm thất bại hoàn toàn cuộc chiến tranh xâm lược và ách thống trị thực dân mới của đế quốc Mỹ ở miền Nam, giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước, kết thúc vẻ vang cuộc chiến tranh cứu nước lâu dài nhất, khó khăn nhất và vĩ đại nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của nhân dân ta; góp phần khẳng định chân lý “Đất nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một, sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi…”. 50 năm đã qua đi, giá trị lịch sử và ý nghĩa to lớn của chiến thắng 30/4/1975 vẫn còn nguyên vẹn, đã và đang được toàn Đảng, toàn dân và quân ta biến thành động lực, khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam ngày càng phát triển hùng cường, thịnh vượng.

Thành phố Hồ Chí Minh nhận thức rõ về ý thức, trách nhiệm đối với sự kiện lịch sử, trọng đại này. Sự kiện không chỉ mang tầm vóc quốc gia mà còn có ý nghĩa lan tỏa xa hơn. Sự kiện 30/4/1975 là đỉnh cao của nghệ thuật quân sự Việt Nam (chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử). Đây là một trong những mốc son chói lọi nhất của lịch sử dựng nước và giữ nước. Thời điểm đó, cả đất nước bước vào kỷ nguyên thống nhất, hòa bình, độc lập, tự do và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Sau 50 năm, đất nước tiếp tục bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Từ nhận thức về sự kiện lịch sử trọng đại này, ngay từ những tháng cuối năm 2024, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã chỉ đạo và các đoàn thể Thành phố Hồ Chí Minh phát động và tổ chức các hoạt động kỷ niệm 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2025) sâu rộng đến tất cả các tầng lớp Nhân dân trong và ngoài Thành phố; chỉ đạo hệ thống Mặt trận Tổ quốc các cấp tăng cường vận động các đơn vị, tổ chức và người dân chung tay hỗ trợ, đồng hành cùng xây dựng khu dân cư, phường, xã, thị trấn sạch, xanh và thân thiện môi trường; tiếp tục phối hợp rà soát, thực hiện các nội dung hoạt động chăm lo an sinh xã hội, chính sách xã hội của Thành phố. UBND Thành phố chỉ đạo Sở Văn hóa và Thể thao về thực hiện đầu tư dự án xây dựng Thư viện Thiếu nhi tại khuôn viên Thư viện Khoa học tổng hợp, bổ sung vào danh mục công trình chào mừng kỷ niệm 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Thành phố và các đơn vị có liên quan tổ chức phong trào thi đua đặc biệt của cả hệ thống chính trị và người dân Thành phố thật sự sôi nổi, tạo động lực phấn đấu hoàn thành các nhiệm vụ, mục tiêu, chỉ tiêu, các công trình để xây dựng và phát triển Thành phố.

Trong khi người dân cả nước nói chung và người dân thành phố Hồ Chí Minh nói riêng vui mừng, phấn khởi thi đua lập nhiều thành tích hướng tới chào mừng kỷ niệm 50 năm ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2025), thì vẫn còn không ít những tổ chức phản động lưu vong, phần tử cực đoan, bất mãn chính trị, những kẻ mang trong mình tư tưởng hận thù, tiếc nuối quá khứ hoặc mưu cầu danh lợi vẫn luôn tìm mọi cách xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo cách mạng, lãnh đạo đất nước của Đảng Cộng sản Việt Nam, của Chủ tịch Hồ Chí Minh, phủ nhận những thành quả của cách mạng Việt Nam và sự hy sinh to lớn vì chính nghĩa của dân tộc ta; xuyên tạc, hạ uy tín các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước qua các thời kỳ; bôi nhọ và phủ nhận ý nghĩa lịch sử của ngày toàn thắng 30/4/1975. Kích động tư tưởng, lòng thù hằn dân tộc, gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc; làm mất lòng tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước… Đối tượng chúng hướng tới đa phần là học sinh, sinh viên trong nước và thế hệ trẻ, người Việt Nam đang sinh sống, học tập và làm việc ở nước ngoài.

Vẫn sử dụng những luận điệu không mới mà các thế lực thù địch, phản động thường sử dụng đó là tuyên truyền, gọi ngày giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước là “ngày quốc hận”, “quốc tang”, “tháng 4 đen”… Chúng cố tình xuyên tạc rằng cuộc kháng chiến chống Mỹ của dân tộc ta là “chiến tranh ý thức hệ”, là cuộc “nội chiến” giữa một bên là chính quyền Sài Gòn, được Mỹ và một số nước phương Tây hậu thuẫn và một bên là chính quyền Hà Nội, được Liên Xô cũ, Trung Quốc và nhiều nước xã hội chủ nghĩa giúp đỡ, quân dân Miền Bắc cầm súng sát hại đồng bào ở Miền Nam; cho rằng nếu không có ngày 30/4/1975 thì Miền Nam Việt Nam ngày nay phát triển không hề thua kém Hàn Quốc, vượt xa Thái Lan, Singapore… hòng bóp méo sự thật về cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.

Thủ đoạn, hoạt động phá hoại phổ biến của các tổ chức này là: thành lập các hội nhóm trên mạng xã hội để móc nối, lôi kéo, tài trợ tiền, hướng dẫn chế tạo bom cháy, bom nổ, chỉ đạo số trong nước tiến hành các hoạt động phá hoại, tụ tập biểu tình, gây rối ANTT; may cờ ba sọc số lượng lớn để tán phát tại các thành phố, nơi tập trung đông người; công khai tuyên truyền, kêu gọi, kích động hành vi phá hoại, gây cháy nổ các cơ sở kinh tế, trụ sở cơ quan chính quyền, nơi công cộng trong dịp 30/4… Đây là hoạt động hết sức nguy hiểm, gây mất ổn định tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và có thể gây ra những hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

Cần khẳng định rằng, những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận sự thật lịch sử như trên là hoàn toàn sai trái, hết sức lố bịch với dã tâm xấu xa. Chiến thắng 30/4/1975 đã làm thất bại hoàn toàn cuộc chiến tranh xâm lược và ách thống trị thực dân kiểu mới của Mỹ ở miền Nam, kết thúc vẻ vang cuộc kháng chiến cứu nước lâu dài, khó khăn và vĩ đại nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của Nhân dân ta. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV tháng 12/1976 đánh giá: “Năm tháng sẽ trôi qua, nhưng thắng lợi của Nhân dân ta trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, trí tuệ con người và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại nhất của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc”.

Mỗi chúng ta phải nêu cao tinh thần cảnh giác, nhận diện rõ những luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc, kích động, lôi kéo hoạt động chống đối, khủng bố, phá hoại của các thế lực thù địch, phản động, nhất là trên môi trường không gian mạng. Tuyệt đối không nghe theo và tham gia các hội, nhóm phản động trên mạng, không chia sẻ bài viết, video, hình ảnh sai sự thật, bịa đặt, chống Đảng, Nhà nước. Đồng thời, kịp thời thông tin cho cơ quan Công an khi phát hiện các trường hợp có hoạt động tuyên truyền, xuyên tạc, kích động chống phá trong dịp kỷ niệm sự kiện chiến thắng 30/4 để kịp thời đấu tranh, ngăn chặn, xử lý theo quy định pháp luật

Chiến thắng 30/4/1975 luôn là niềm tự hào của người dân Việt Nam, chiến thắng ấy đã, đang và mãi mãi là sức mạnh tinh thần to lớn giúp cho 'Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”; tiếp tục phát huy mạnh mẽ tinh thần và khí thế hào hùng của Đại thắng mùa Xuân 1975 vào công cuộc đổi mới đất nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo; chung sức, đồng lòng thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

 

KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN “NHỮNG CON SỐ BIẾT NÓI” TRONG BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM

MT

Cùng với những thành tựu trong xây dựng đất nước, Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu trong bảo đảm quyền con người trên các phương diện của đời sống xã hội; trước hết là quyền được sống trong hòa bình, quyền được hưởng phúc lợi, quyền được sống sung túc, quyền được cải thiện từng ngày về điều kiện sống. Thành tựu đó thể hiện qua “những con số biết nói”, không một ai có thể xuyên tạc, phủ nhận!

Cần phải khẳng định sự nghiệp đấu tranh vì độc lập dân tộc, thống nhất và công cuộc phát triển kinh tế-xã hội của Việt Nam không ngoài mục tiêu cao nhất là bảo đảm cuộc sống và các quyền của người dân Việt Nam. Những thành tựu về đảm bảo quyền con người của Việt Nam trong suốt 79 năm thành lập nước và gần 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới, trước tiên là mang lại những lợi ích thiết thực cho mỗi người dân, tiếp đó là tạo dấu ấn về hình ảnh Việt Nam trên trường quốc tế. Bởi vậy, mọi thành quả phát triển của Việt Nam đều là vì con người. “Nhân quyền lớn nhất ở Việt Nam là lo cho 100 triệu dân ấm no và hạnh phúc, dân chủ, cuộc sống bình yên, an ninh, an toàn, an dân, phát huy tối đa yếu tố con người”. Câu nói của Thủ tướng Phạm Minh Chính đã toát lên một cách chân thực nhất quan điểm của Đảng và Nhà nước trong thực hiện cam kết đảm bảo quyền con người ở Việt Nam, luôn nỗ lực để không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình phát triển, bởi đó luôn là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam. Những số liệu cụ thể dưới đây minh chứng cho điều đó và không thể bác bỏ.

Chỉ tính riêng từ năm 2019 đến nay, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) bình quân ở Việt Nam đã tăng 25%, tỷ lệ hộ nghèo giảm 1,5%/năm. Với các giải pháp, chính sách giảm nghèo bền vững được triển khai hiệu quả theo tinh thần “không để ai bị bỏ lại phía sau”, tới hết tháng 9/2024, tỷ lệ hộ nghèo trên toàn quốc là 1,93%, giảm 1%. Xây dựng nhà ở xã hội đạt kết quả tích cực; trong thời gian ngắn, đã huy động trên 6.000 tỉ đồng cho phong trào xóa nhà tạm, nhà dột nát. Đó là những ngôi nhà cấp 4 đạt tiêu chí “3 cứng” (nền-móng cứng, khung-tường cứng, mái cứng). Việt Nam hiện đứng thứ 54/166 quốc gia được xếp hạng về chỉ số phát triển bền vững, tăng 1 bậc so với năm 2023.

Người dân Việt Nam được hưởng lợi từ những tiến bộ xã hội vô cùng đáng ghi nhận, thu nhập bình quân đầu người đã tăng từ khoảng 200 USD lên đến hơn 4.000 USD tới năm 2024. Giáo sư Carl Thayer thuộc Học viện Quốc phòng Australia, Đại học New South Wales, ấn tượng mạnh mẽ với thành công của nền kinh tế Việt Nam, với tốc độ tăng trưởng được dự báo đạt từ 6,1% - 7% trong năm 2024, tỷ lệ đói nghèo đã giảm mạnh. Ông đặc biệt chú ý những thành tựu giúp bảo đảm an sinh xã hội, cải thiện cuộc sống cho người dân Việt Nam như tăng lương cơ sở, lương tối thiểu vùng hằng năm cho người lao động từ giữa năm 2024.

Chuyên gia Kinh tế trưởng của Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) tại Việt Nam, ông Jonathan Pincus, nhận xét: “Phát triển con người luôn là trọng tâm trong chính sách phát triển của Việt Nam ngay từ những ngày đầu và chúng ta đã chứng kiến những thành tựu rất lớn trong khoảng hơn một thập niên qua của Việt Nam, đặc biệt là về tiếp cận giáo dục. Một số chỉ số như sức khỏe cũng đã được cải thiện khá rõ rệt trong thập niên qua”. Tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế của Việt Nam hiện là 94,1%, tăng từ mức 90,9% năm 2000. Theo Báo cáo hạnh phúc thế giới năm 2024 của Liên hợp quốc, chỉ số hạnh phúc của Việt Nam tăng 11 bậc, xếp thứ 54/143.

Trên bình diện quốc tế, Việt Nam là đại diện của châu Á-Thái Bình Dương được bầu làm thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc trong 2 nhiệm kỳ; đã và đang tiếp tục thể hiện rõ nỗ lực và trách nhiệm trong năm thứ hai trên cương vị thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025; tích cực hợp tác với các quốc gia khác trong khu vực để thúc đẩy các quyền cơ bản của con người trên toàn cầu.

Đúc kết về quá trình phát triển con người và đảm bảo quyền con người của Việt Nam, trong thư gửi đến Hội thảo khoa học quốc gia “Con người, quyền con người là trung tâm, mục tiêu, chủ thể và động lực phát triển đất nước” diễn ra tháng 10/2024, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Tô Lâm tái khẳng định: “Thực hiện quan điểm nhất quán và xuyên suốt về quyền con người là yếu tố then chốt tạo nên sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đưa con thuyền cách mạng Việt Nam vượt mọi thác ghềnh, giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác,...”. Đó là những dấu ấn trên hành trình bảo đảm quyền con người ở Việt Nam trong phát triển đất nước, đảm bảo ấm no, hạnh phúc và thịnh vượng cho người dân. Không ai, thế lực nào có thể xuyên tạc, phủ nhận./.

 SỰ VU CÁO TRẮNG TRỢN VỀ TÌNH HÌNH TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM

MT

Ngày 12/12, trang facebook Đài RFA đăng bài: “Báo động tình trạng Việt Nam gia tăng đàn áp các nhóm tôn giáo độc lập”, trong đó đưa thông tin: Ủy ban Tự do Tôn giáo Quốc tế (USCIRF) của Mỹ vừa ra thông cáo báo chí báo động về tình trạng đàn áp đang gia tăng đối với các nhóm độc lập tại Việt Nam bao gồm Phật giáo của người Khmer Krom, Tin Lành của người Thượng, đạo Cao Đài và những nhóm đạo khác. Đây là thông tin không chính xác, cố tình vu cáo Việt Nam đàn áp tôn giáo của USCIRF.

Là đất nước đa tôn giáo, những năm qua, Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn nhất quán quan điểm bảo đảm các tôn giáo hoạt động bình đẳng theo Hiến pháp, pháp luật; mọi người dân được tự do tín ngưỡng tôn giáo. Điều đó được thể hiện rõ trong các văn kiện, nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Cụ thể, Nghị quyết số 25-NQ/TW, ngày 12/3/2003 củaBan Chấp hành Trung ương Đảng (khoá IX) về công tác tôn giáo đã khẳng định: thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo đúng pháp luật. Các tôn giáo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, bình đẳng trước pháp luật. Đảng, Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc. Đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau; đoàn kết đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo. Nghiêm cấm sự phân biệt đối xử với công dân vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo. Đồng thời, nghiêm cấm lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt động mê tín dị đoan, hoạt động trái pháp luật và chính sách của Nhà nước, kích động chia rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc, gây rối, xâm phạm an ninh quốc gia. Đại hội XIII của Đảng đã xác định: “tôn giáo là một nguồn lực xã hội”, khẳng định quan điểm: tiếp tục phát huy vai trò, tác động tích cực của tôn giáo trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Tại Điều 3, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo được Quốc hội (khóa 14) thông qua ngày 18/11/2016 đã quy định rõ trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Đó là: 1. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người; bảo đảm để các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật; 2. Nhà nước tôn trọng, bảo vệ giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của tín ngưỡng, tôn giáo, truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh người có công với đất nước, với cộng đồng đáp ứng nhu cầu tinh thần của Nhân dân; 3. Nhà nước bảo hộ cơ sở tín ngưỡng, cơ sở tôn giáo và tài sản hợp pháp của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo.

Như vậy, với quan điểm nhất quán cùng hệ thống văn bản pháp luật đầy đủ đã tạo hành lang pháp lý, cơ sở để các tôn giáo đăng ký, cấp phép hoạt động. Theo Sách trắng về các tôn giáo Việt Nam được công bố năm 2023, hiện Việt Nam có: trên 26,5 triệu tín đồ tôn giáo (chiếm 27% dân số cả nước), hơn 54.000 chức sắc, 135.000 chức việc và 29.658 cơ sở thờ tự. Ở Việt Nam còn có hàng ngàn nhóm sinh hoạt tôn giáo tập trung, trong đó có các nhóm sinh hoạt tôn giáo tập trung của người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam. Nhà nước Việt Nam đã công nhận 36 tổ chức tôn giáo thuộc 16 tôn giáo khác nhau, như: Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo, Hồi giáo, Tôn giáo Baha'i,v.v. Thực tiễn về hoạt động tôn giáo ở Việt Nam là bức tranh sinh động, được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao, là điều không thể phủ nhận.

Tuy nhiên, trong thông cáo báo chí của USCIRF lại cho rằng Việt Nam đàn áp tôn giáo thông qua việc xét xử 09 người Khmer Krom ở Vĩnh Long hay sự việc hai người Ê-đê đứng đầu nhóm Tin Lành ở Tây Nguyên bị tấn công là không phản ánh đúng bản chất của vụ việc. Bởi, sự thật là: các cơ quan chức năng của tỉnh Vĩnh Long đã bắt giữ, điều tra, xét xử đưa ra xét xử 09 người Khmer Krom là đúng người, đúng tội. Theo cáo trạng, chiều 22/11/2023, Tổ công tác của UBND huyện Tam Bình đến nắm tình hình, giải quyết sự việc xảy ra tại chùa Đại Thọ. Khi Tổ công tác đi vào bên trong khuôn viên chùa làm việc nhưng những người trong chùa không chấp hành. Thực hiện chỉ đạo của Thạch Chanh Đa Ra, các bị cáo còn lại đã khóa cổng chính lại. Sau đó, Thạch Chanh Đa Ra và các bị cáo đã có nhiều lời lẽ to tiếng, khống chế, kéo, đẩy các thành viên Tổ công tác phải vào chánh điện xin lỗi Thạch Chanh Đa Ra. Tổ công tác kháng cự thì bị một số đối tượng dùng vũ lực gây thương tích. Như vậy, những công dân này đã lợi dụng các quyền tự do, dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước và bắt, giữ người trái pháp luật. Hay, khi phát hiện 02 người Ê-đê đứng đầu nhóm Tin Lành ở Tây Nguyên tổ chức sinh hoạt, truyền đạo trái phép, vi phạm pháp luật. Do đó, lực lượng chức năng đến tuyên truyền, giải thích, đề nghị giải tán là đúng quy định của pháp luật, không có chuyện đánh đập, gây thương tích.

Vì thế, việc USCIRF chỉ dựa vào những thông tin phiến diện, không khách quan, chính xác rồi đưa ra thông cáo báo chí nêu trên là sự vu cáo trắng trợn về tình hình tôn giáo tại Việt Nam, cần lên án, đấu tranh, bác bỏ./.


 

 ĐÁNH GIÁ PHIẾN DIỆN CỦA CIVICUS

MT

Kênh tiếng Việt, Đài RFA ngày 04/12 đăng bài: “CIVICUS: Việt Nam không có không gian để xã hội dân sự hoạt động tự do năm thứ bảy liên tiếp”. Theo bài viết, trong báo cáo mới đây của Tổ chức Liên minh Thế giới vì sự tham gia của công dân (CIVICUS), có trụ sở đặt tại Nam Phi đã cho rằng: Việt Nam tiếp tục không có không gian để xã hội dân sự hoạt động tự do và bị xếp vào nhóm các nước thực hiện các quyền tự do cơ bản của công dân như quyền tự do ngôn luận, tự do lập hội cực kỳ hạn chế. Vậy sự thật có đúng như vậy không? Hãy cùng Tre Việt làm rõ.

Cần khẳng định rõ: Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn nhất quán, quan tâm bảo đảm tốt nhất các quyền cơ bản của con người, của công dân và được thể hiện cụ thể trong Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước cũng như các văn kiện, nghị quyết của Đảng; đồng thời, có nhiều chính sách, giải pháp tổ chức triển khai thực hiện trong thực tiễn. Dễ dàng nhận thấy, ở Việt Nam bên cạnh hệ thống tổ chức đảng, tổ chức chính quyền các cấp còn có hệ thống các tổ chức chính trị - xã hội, các hội, đoàn thể nhân dân từ Trung ương đến địa phương, như: Mặt trận Tổ quốc, Hội Cựu Chiến binh, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Hội Nông dân, v.v. Đây là các tổ chức đại diện cho nguyện vọng, lợi ích, tiếng nói của các tầng lớp nhân dân. Ở đó, mọi ý kiến, tâm tư, nguyện vọng,... của nhân dân đều được lắng nghe, tiếp thu, giải đáp kịp thời những vướng mắc, bất cập nảy sinh trong thực tiễn cuộc sống, nhằm tập trung xây dựng, củng cố vững chắc khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng quê hương, đất nước ngày càng giàu đẹp, văn minh; nhân dân có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc. Mọi người dân, không phân biệt già trẻ, gái, trai, dân tộc, tôn giáo,... đều bình đẳng, được tự do đi lại, tự do tín ngưỡng tôn giáo, tự do ngôn luận; được lao động, học tập, cống hiến; được bảo đảm cuộc sống vật chất, tinh thần ngày càng phong phú, đa dạng. Nhờ đó, tạo nên dư luận xã hội tích cực, đồng thuận, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước, chính quyền các cấp. Chính vì thế, các tầng lớp nhân dân đều thấy không cần thiết phải có thêm các tổ chức xã hội dân sự. Hơn nữa, các tầng lớp nhân dân đều nhận thấy rằng: các tổ chức xã hội dân sự đều hoạt động theo kiểu tự do, dân chủ vô tổ chức, vô chính phủ. Do đó, các thế lực thù địch, phản động luôn cổ súy cho trào lưu ra đời, thành lập và thúc đẩy hoạt động của xã hội dân sự. Thông qua đó, để lợi dụng chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ; kích động chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc với âm mưu, thủ đoạn vô cùng xảo quyệt.

Trên thực tế, CIVICUS đã không dựa vào tình hình thực tế, vào những thành tựu trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo đảm nhân quyền,... của Việt Nam để có những đánh giá khách quan. Ngược lại, CIVICUS chỉ dựa vào việc các cơ quan chức năng thực thi pháp luật của Việt Nam bắt giữ, điều tra, xử lý nghiêm minh một số công dân vi phạm pháp luật, rồi suy diễn, quy chụp rằng Việt Nam đàn áp giới bất đồng chính kiến, đưa ra những đánh giá phiến diện, thiếu khách quan, không có cơ sở, như: Việt Nam không có không gian để xã hội dân sự hoạt động tự do là thông tin không đúng sự thật, cần lên án, đấu tranh bác bỏ./.

 

 

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG TRONG TÌNH HÌNH MỚI

                                                                                                              THN

 

Hiện nay, các thế lực thù địch đang ra sức xuyên tạc, đưa ra những quan điểm sai trái với mưu đồ xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, mà trọng tâm là xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng. Bài viết phân tích cơ sở lý luận về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; ý đồ phá hoại của các thế lực thù địch, phản động và tình hình bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; đề xuất giải pháp bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.

1. Cơ sở lý luận về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

Ngày 22/10/2018, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới. Nghị quyết nêu rõ: “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là bảo vệ Đảng, Cương lĩnh chính trị, đường lối của Đảng; bảo vệ nhân dân, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước”. Đó là nội dung cơ bản, hệ trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, trong đó lực lượng tuyên giáo các cấp là nòng cốt; là công việc tự giác, thường xuyên của cả hệ thống chính trị và mỗi cán bộ, đảng viên, trước hết là người đứng đầu. Do đó, cần nhận diện rõ nền tảng tư tưởng của Đảng ta đã được quy định trong Điều lệ Đảng: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa trí tuệ của nhân loại, nắm vững quy luật khách quan, xu thế thời đại và thực tiễn của đất nước để đề ra Cương lĩnh chính trị, đường lối cách mạng đúng đắn, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân”. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011) nêu rõ: “Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc. Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản”.

Cùng với đó, cần phải nhận diện chính xác những nhóm đối tượng đang ra sức chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay, đó là:

Một là, nhóm đối lập về hệ tư tưởng. Đảng ta là hệ tư tưởng vô sản thì những người theo hệ tư tưởng tư sản, kể cả tàn dư phong kiến sẽ quyết liệt chống lại chúng ta.

Hai là, các thế lực thù địch về chính trị luôn chống lại chế độ XHCN của chúng ta, với mục đích làm con đường phát triển đất nước của Đảng chệch hướng, thay đổi thể chế chính trị ở Việt Nam.

Ba là, những người vốn là đảng viên cộng sản nhưng không chịu rèn luyện, tu dưỡng, học tập, nâng cao tư tưởng, đạo đức cách mạng dẫn tới tha hóa về tư tưởng chính trị, xa rời chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, thậm chí là phai nhạt lý tưởng, “tự chuyển hóa, tự diễn biến” trong nội bộ.

Nhận diện các nhóm đối tượng nêu trên cho thấy, việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng dù rất khó khăn, phức tạp và lâu dài, nhưng khó khăn và phức tạp đến đâu cũng phải làm để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Các thế lực thù địch bao gồm cả những người nghiên cứu lý luận, thực tiễn ở các nước trên thế giới trong cuộc đấu tranh ý thức hệ giữa CNXH và chủ nghĩa tư bản. Ngay ở các nước tư bản phát triển, những nhà hoạt động chính trị thuộc giới cầm quyền có tư tưởng tư bản theo kiểu truyền thống và các nhà hoạt động chính trị thuộc giới cầm quyền có tư tưởng XHCN cũng đấu tranh lẫn nhau. Các lực lượng cực đoan người Việt ở nước ngoài luôn lôi kéo, kết hợp với những đối tượng chống đối, bất mãn ở trong nước lập ra các tổ chức để chống phá cách mạng nước ta. Một số cán bộ, đảng viên (trong đó có cả những đảng viên đã từng giữ chức vụ cao trong hệ thống chính trị) suy thoái về tư tưởng chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Nhóm người này không khó để nhận ra, nhưng lại rất khó đấu tranh. Đây là những người phản bội lại lý tưởng cộng sản và nguyên nhân của sự phản bội đó đôi khi lại bắt nguồn từ sự bất mãn, không đồng ý một số vấn đề cụ thể trong chính sách, ứng xử của những cơ quan, đơn vị nơi người đó công tác.

2. Sự phá hoại của các thế lực thù địch, phản động và nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

a) Sự phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng của các thế lực thù địch, phản động

Sau nhiều thập kỷ thực hiện chính sách thù địch, chống phá không đạt hiệu quả, các thế lực phản động ở trong nước và nước ngoài đang thay đổi phương thức hoạt động. Tuy nhiên, mục tiêu của họ vẫn không thay đổi là nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, “phi chính trị hóa”, vô hiệu hóa quân đội, tiến tới xóa bỏ chế độ XHCN ở Việt Nam. Họ tấn công, phủ định, xuyên tạc học thuyết Mác - Lênin, đưa ra các luận điệu cổ vũ cho bạo lực, chiến tranh; phủ định tư tưởng Hồ Chí Minh; phủ nhận vai trò và thành tựu lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ngoài ra, họ còn bôi xấu lãnh đạo Đảng, Nhà nước với nhiều thủ đoạn tinh vi; chống phá chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước.

Phương thức chống phá của họ chủ yếu là sử dụng phương tiện truyền thông đại chúng, đặc biệt là xuất bản báo chí ở nước ngoài, sản xuất băng, đĩa hình chuyển về trong nước; tài trợ cho một số cơ quan báo chí nước ngoài chuyên chống phá Việt Nam… Họ sử dụng internet và truyền thông xã hội để chống phá; lợi dụng  những hạn chế trong quản lý nhà nước để kích động biểu tình trái phép và xuyên tạc đường lối; tổ chức các hội thảo đòi xem xét lại các vấn đề liên quan đến lịch sử… Cách làm của họ âm thầm và lâu dài nhưng tác hại thực sự rất khó lường. Ngang ngược hơn, họ còn đòi bỏ Điều 4 Hiến pháp năm 2013, đòi đa đảng; phá bỏ nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng, đặc biệt là nguyên tắc tập trung dân chủ; vu cáo Đảng chiếm quyền của dân, vi phạm dân chủ, nhân quyền, “độc đoán, đảng trị”; đối lập Đảng với Nhà nước và đối lập Đảng, Nhà nước với nhân dân...

Bên cạnh đó, các thế lực thù địch còn lôi kéo, kích động một bộ phận người dân và cả một số cán bộ hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo vào các mục đích sai trái, bất hợp pháp, gây ảnh hưởng tiêu cực đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội... Đây cũng là những vấn đề cần được nhận diện đầy đủ để có biện pháp, phương hướng xử lý, đấu tranh phù hợp, hiệu quả.

b) Thực trạng công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

Trong những năm qua, công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ở nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, góp phần ngăn chặn và đẩy lùi các âm mưu phá hoại của các thế lực thù địch, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, củng cố và tăng cường niềm của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều hạn chế như: chưa đa dạng hóa các hình thức thông tin, chất lượng thông tin chưa hoàn toàn đáp ứng nhu cầu của người dân; chưa tích cực, chủ động đấu tranh phản bác các thông tin, quan điểm sai trái, thù địch; chưa phát huy vai trò giám sát, phản biện của các cơ quan báo chí, đấu tranh chống tiêu cực, tham nhũng, lãng phí và các tệ nạn xã hội...

Chưa hoàn toàn chủ động định hướng, cung cấp kịp thời để làm chủ thông tin, lấy thông tin tích cực, chính thống đấu tranh chống lại các thông tin sai trái, bịa đặt, vu cáo, phản động trên mạng xã hội, internet. Việc khai thác, phát triển những tiện ích, lợi thế của thông tin điện tử, mạng xã hội… còn hạn chế. Việc giữ gìn và phát huy truyền thống văn hóa dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại chưa được quan tâm đúng mức; chưa làm tốt việc dự báo, định hướng để góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Công tác tuyên truyền, quảng bá hình ảnh Việt Nam ổn định và phát triển, nâng cao uy tín, vị thế và ảnh hưởng của Việt Nam ở khu vực và trên trường quốc tế còn hạn chế. Việc kết hợp đưa thông tin ra nước ngoài và thông tin chính thống từ thế giới vào Việt Nam chưa chặt chẽ, hiệu quả; do đó chưa hạn chế được nhiều tác động tiêu cực của những thông tin, luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực cơ hội, thù địch.

Chưa phát triển nhanh, mạnh, vững chắc với cơ cấu, quy mô hợp lý các loại hình thông tin theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại, chất lượng, hiệu quả, phù hợp xu thế phát triển khoa học và công nghệ, thông tin, truyền thông thế giới, đáp ứng quyền tiếp cận thông tin của nhân dân, phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, ngang tầm khu vực và thế giới… Vẫn còn tình trạng thông tin thiếu cân đối, chưa đảm bảo sự đồng đều về phân bố và khoảng cách hưởng thụ thông tin của nhân dân giữa các vùng, miền.

3. Giải pháp bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới

Một là, tiếp tục làm cho toàn Ðảng, toàn dân, toàn quân nhận thức ngày càng đầy đủ, sâu sắc hơn những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thật sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của đời sống xã hội; xây dựng văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác giáo dục chính trị tư tưởng; đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục đối với các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ, nhằm nâng cao tinh thần, trách nhiệm, khả năng chủ động đấu tranh, phản bác những quan điểm sai trái của các thế lực thù địch.

Hai là, tiếp tục làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn, hoàn thiện hệ thống lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH ở nước ta trong tình hình mới. Hệ thống hóa, phổ biến những thành tựu lý luận mà Đảng ta đã đạt được trên cơ sở vận dụng đúng đắn, sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong công cuộc đổi mới. Tiếp tục khẳng định bản chất và mô hình của thể chế chính trị và bộ máy nhà nước đã được xác định trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011) và Hiến pháp năm 2013. Đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao chất lượng và hiệu quả tuyên truyền về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch theo hướng chủ động, có tính thuyết phục cao, hấp dẫn. Khẩn trương thực hiện nghiêm quy hoạch báo chí đã được phê duyệt. Chủ động tăng cường thông tin tích cực đi đôi với ngăn chặn có hiệu quả, xử lý, xóa bỏ thông tin xấu, độc trên internet, mạng xã hội.

Ba là, tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác kiểm tra, giám sát tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và kiên quyết xử lý kịp thời, nghiêm minh các tổ chức đảng, đảng viên vi phạm Cương lĩnh, Điều lệ Đảng. Siết chặt kỷ cương, kỷ luật trong Đảng. Các cấp ủy và tổ chức đảng, mọi cán bộ, đảng viên phải chấp hành nghiêm kỷ luật phát ngôn; nghiêm cấm để lộ bí mật của Đảng, Nhà nước, lan truyền những thông tin sai lệch hoặc tán phát những đơn thư có nội dung xấu, xuyên tạc, vu khống, kích động. Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác quản lý và sử dụng internet, mạng xã hội. Trong đó, chú trọng xây dựng, hoàn thiện pháp luật và có các giải pháp kỹ thuật phù hợp với sự phát triển nhanh của internet, mạng xã hội. Phát huy trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp, trước hết là người đứng đầu trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch...

Bốn là, tập trung đổi mới nâng cao hiệu quả công tác giáo dục chính trị tư tưởng; hệ thống hoá, phổ biến các thành tựu lý luận trong thời gian qua; nâng cao chất lượng nghiên cứu, học tập nghị quyết để vận dụng vào thực tiễn; đổi mới nội dung, phương thức nâng cao chất lượng và hiệu quả tuyên truyền về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước(6); phát huy vai trò của báo chí trong việc tuyên truyền chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước; xử lý nghiêm khắc, đúng pháp luật đối với đảng viên, cán bộ vi phạm các quy định, Điều lệ Đảng... Bên cạnh “chống”, cần tăng cường biện pháp “xây”,  thực hiện tốt công tác xây dựng Đảng ở cơ sở; giải quyết có hiệu quả khiếu nại, tố cáo; tổ chức thực hiện tốt các nghị quyết của Đảng. Các địa phương sớm kiện toàn tổ chức tuyên giáo, xây dựng đội ngũ cán bộ sẵn sàng “phản ứng nhanh” với những thông tin sai trái, thù địch trên không gian mạng. Tích cực, chủ động cung cấp những thông tin chính thống để định hướng dư luận về chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước...

Năm là, Ban Tuyên giáo các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên cần đẩy mạnh tuyên truyền Chỉ thị số 35-CT/TW của Bộ Chính trị về Đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội ĐBTQ lần thứ XIII của Đảng. Tuyên truyền sâu rộng chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước. Bên cạnh đó, cần đánh giá lại “tâm lý” xã hội hiện nay, trong đó phải phân tích sâu đến từng giai tầng xã hội để đánh giá đúng thực trạng nhận thức, nhu cầu, nguyện vọng của các đối tượng, từ đó có cách thức tổ chức đấu tranh cho phù hợp, đạt hiệu quả cao.

 SỰ PHÁT TRIỂN TƯ DUY CỦA ĐẢNG VỀ BẢO VỆ LỢI ÍCH QUỐC GIA - DÂN TỘC

                                                                                                 HOA SÚNG

Lợi ích quốc gia - dân tộc là một phạm trù được đề cập rộng rãi trong quá trình hoạch định, triển khai chính sách đối nội và đối ngoại của các quốc gia trên thế giới. Các nhà nghiên cứu quan hệ quốc tế đã đưa ra nhiều quan niệm khác nhau về lợi ích quốc gia và lợi ích dân tộc. Trong đó, lợi ích quốc gia là lợi ích chung của cộng đồng những người chung sống trên một đất nước, có chung nguồn gốc, lịch sử, phong tục, tập quán và phần nhiều còn chung cả tiếng nói, chữ viết. Vấn đề lợi ích quốc gia thiên về đại diện của giai cấp cầm quyền trong xã hội, còn lợi ích dân tộc bao hàm tất cả những gì tạo thành điều kiện cần thiết cho sự trường tồn của cộng đồng với tư cách quốc gia - dân tộc có chủ quyền, thống nhất, độc lập, lãnh thổ toàn vẹn tạo nền tảng cho sự phát triển đi lên về mọi mặt của quốc gia - dân tộc theo hướng làm cho đời sống vật chất và tinh thần của cộng đồng người nơi đó ngày càng phong phú, tốt đẹp hơn; từ đó không ngừng nâng cao sức mạnh tổng hợp quốc gia, năng lực cạnh tranh quốc gia trên trường quốc tế, vị trí, vai trò, uy tín quốc tế của quốc gia - dân tộc.

Ở Việt Nam, lợi ích quốc gia gắn liền với lợi ích của giai cấp cầm quyền, đó là lợi ích của giai cấp công nhân, lợi ích đó thống nhất với lợi ích của đại đa số quần chúng nhân dân lao động nên lợi ích quốc gia và lợi ích dân tộc được xem là có chung nội hàm, có thể sử dụng thay thế lẫn nhau. Lợi ích quốc gia - dân tộc của Việt Nam thể hiện rất sinh động cả trong đối nội và đối ngoại, trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.

Trong đối nội, lợi ích quốc gia - dân tộc được biểu hiện ở những quyền và lợi ích hợp pháp của từng tổ chức, cá nhân và cộng đồng người trên cơ sở tuân thủ hiến pháp và pháp luật của Nhà nước. Trong chính sách đối ngoại, lợi ích quốc gia - dân tộc được thể hiện bao chùm đó là bảo vệ vững chắc độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc là tổng thể các hoạt động của Đảng, Nhà nước, các tổ chức, cá nhân đấu tranh bảo vệ những quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các tổ chức, cá nhân trong quan hệ đối ngoại và đối nội. Bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc không ngừng được Đảng, Nhà nước ta nghiên cứu, vận dụng và phát triển trong hoạch định chiến lược bảo vệ Tổ quốc ở các giai đoạn cách mạng với những cách diễn đạt khác nhau.

Mục tiêu bao trùm của bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc là bảo vệ vững chắc “độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”. Tuy nhiên ở từng giai đoạn cách mạng, gắn với thực tiễn, vấn đề tư duy của Đảng về bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc luôn gắn với sự phát triển của đất nước và biến động của tình hình thế giới, được hoàn chỉnh qua các kỳ Đại hội của Đảng. Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa ngày nay lợi ích quốc gia - dân tộc được coi trọng trong từng chủ trương, chính sách phát triển đất nước và hoạt động đối ngoại.

Tại Đại hội XI của Đảng (năm 2011) lần đầu tiên Đảng ta nêu lên mục tiêu đối ngoại “vì lợi ích quốc gia - dân tộc”. Kế thừa, phát triển quan điểm đối ngoại trong Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011), Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XI) xác định mục tiêu bảo vệ Tổ quốc là: Bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc; bảo vệ an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội và nền văn hóa; giữ vững ổn định chính trị, môi trường hòa bình, phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Theo đó, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc là một trong sáu nội dung mục tiêu bảo vệ Tổ quốc.

Đến Đại hội XII (năm 2016) Đảng ta chỉ rõ mục tiêu hoạt động đối ngoại của nước ta phải nhằm “bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng và cùng có lợi”([1]). Đảng ta khẳng định về lợi ích quốc gia - dân tộc đó là: Lợi ích quốc gia và lợi ích dân tộc là thống nhất. Lợi ích quốc gia - dân tộc của Việt Nam là những lợi ích chính đáng, không phải là những lợi ích vị kỷ. Lợi ích quốc gia - dân tộc của Việt Nam được xác định trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi, cùng phấn đấu vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới. Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc nghĩa là đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trước hết và trên hết, luôn nỗ lực đạt được lợi ích quốc gia - dân tộc tới mức cao nhất có thể, lợi ích quốc gia - dân tộc là tiêu chí hàng đầu đánh giá hiệu quả của mọi hoạt động đối ngoại([2]).

Trên cơ sở tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XI) về chiến lược bảo vệ Tổ quốc, tại Hội nghị Trung ương 8 (khóa XIII), Ban chấp hành Trung ương Đảng ban hành Nghị quyết 44-NQ/TW ngày 24/11/2023 về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Trong đó, mục tiêu chung bảo vệ Tổ quốc đó là: Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ thành quả cách mạng, sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá; bảo vệ nền văn hoá và uy tín, vị thế quốc tế của đất nước; bảo vệ an ninh quốc gia, an ninh con người, an ninh kinh tế, an ninh mạng; giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; giữ vững, củng cố, tăng cường môi trường hoà bình để xây dựng, phát triển đất nước; đóng góp tích cực vào gìn giữ hoà bình khu vực, thế giới. Như vậy, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc được Đảng ta khái quát trở thành nội dung bao chùm của mục tiêu bảo vệ Tổ quốc cũng là vấn đề tối thượng cả trong chính sách đội nội và đối ngoại của Việt Nam./.

Tài liệu tham khảo:

1. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr. 153.

2. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 161 - 162, 162.

3. Trần Vi Dân: “Lợi ích quốc gia - dân tộc Việt Nam trong bối cảnh toàn ầu hóa, hội nhập quốc tế”, Trang thông tin điện tử Học viện Chính trị Công an nhân dân, ngày 27-10-2020, http://hvctcand.edu.vn/tin-tuc/tin-tuc-khac/loi-ich-quoc-gia-dan-toc-viet-nam-trong-boi-canh-toan-cau-hoa-hoi-nhap-quoc-te-1802.

4. Đặng Đình Quý: “Lợi ích quốc gia - dân tộc là nguyên tắc tối cao của hoạt động đối ngoại”, Trang thông tin điện tử Đài Tiếng nói Việt Nam, ngày 24-8-2016, https://vov.vn/chinh-tri/loi-ich-

5. Trần Hữu Tiến: “Lợi ích dân tộc”, Tạp chí Lý luận chính trị điện tử, ngày 24-8-2015, http://lyluanchinhtri.vn/home/index.php/tu-dien-mo/item/1092-loi-ich-dan-toc.html


[1] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr. 153.

[2] Đặng Đình Quý: “Lợi í\ch quốc gia - dân tộc là nguyên tắc tối cao của hoạt động đối ngoại”, Trang thông tin điện tử Đài Tiếng nói Việt Nam, ngày 24-8-2016, https://vov.vn/chinh-tri/loi-ich-

 

Chủ Nhật, 15 tháng 12, 2024

 

LỘ TẨY NHỮNG “KHÔI NGUYÊN” NHẬN GIẢI THƯỞNG

Bàn Luận

Trong nội dung được tổ chức VHRN đăng tải trên các diễn đàn mạng cho biết, ngày 18/11/2024, VHRN đã công bố về 3 “khôi nguyên” được “vinh danh” nhận “Giải thưởng nhân quyền Việt Nam năm 2024” là các đối tượng Đỗ Nam Trung, Bùi Văn Thuận, Đặng Đăng Phước. Cũng như các năm trước, những đối tượng được họ vinh danh lần này đều có điểm chung là đang phải chấp hành án phạt tù về các tội danh “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam” theo Điều 117, Bộ luật Hình sự.

Đối với Đỗ Nam Trung (sinh năm 1981, hộ khẩu thường trú đội 1, xã Nghĩa Lâm, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định), ngày 24/3/2022, tại trụ sở TAND tỉnh Nam Định, TAND cấp cao tại Hà Nội đã mở phiên tòa xét xử phúc thẩm và tuyên y án 10 năm tù giam và phạt bổ sung 4 năm quản chế về tội “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa  XHCN Việt Nam” theo điểm a, khoản 1, Điều 117 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Đỗ Nam Trung là người đã từng có nhiều tiền án; trong đó, năm 2015, bị TAND tỉnh Đồng Nai xử phạt 14 tháng tù giam về tội "Lợi dụng các quyền tự do, dân chủ xâm phạm lợi ích hợp pháp của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân”. Sau khi ra tù vào năm 2016, Đỗ Nam Trung đã có hành vi đăng tải 6 video có nội dung xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam, phỉ báng chính quyền nhân dân, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự và nhân phẩm của cá nhân. Hành vi của Đỗ Nam Trung đã đi ngược lại với lợi ích quốc gia, dân tộc, chạy theo những lời kêu gọi, cổ xúy của các thế lực thù địch, phản động nhằm tạo ra sự bất ổn về chính trị tại Việt Nam, gây chia rẽ mối đoàn kết dân tộc, làm giảm lòng tin của nhân dân với chính quyền. Bản thân Đỗ Nam Trung khai báo không thành khẩn, phạm tội nhiều lần và là người biết rõ hậu quả hành vi vi phạm pháp luật của mình nhưng vẫn cố tình hoạt động chống Nhà nước. Do vậy, việc tòa án tuyên phạt 10 năm tù giam và phạt bổ sung 4 năm quản chế sau khi mãn hạn tù đối với Đỗ Nam Trung là hoàn toàn xứng đáng và thể hiện sự nghiêm minh, thượng tôn của pháp luật.

Đối với Bùi Văn Thuận (sinh năm 1981, quê quán ở xã Bảo Hiệu, huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình, đăng ký thường trú tại phường Mai Lâm, thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa), là người đang phải chấp hành bản án 8 năm tù giam và áp dụng hình phạt bổ sung quản chế trong thời hạn 5 năm về tội “Tàng trữ, phát tán thông tin, tài liệu nhằm chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam” theo Điều 117 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Theo cáo trạng của VKSND tỉnh Thanh Hóa, từ năm 2016 đến tháng 8/2021, Bùi Văn Thuận là người đã tạo lập, quản trị và sử dụng tài khoản Facebook “Thuan Van Bui (Cha già dân tộc)” để đăng tải, chia sẻ, phát tán nhiều bài viết có nội dung xúc phạm uy tín, danh dự của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, địa phương; xuyên tạc, bịa đặt, suy luận vô căn cứ về chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước; tuyên truyền, kích động chống phá, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Hành vi của Bùi Văn Thuận đã gây nguy hiểm cho xã hội cần phải xử lý nghiêm khắc và bản án mà TAND tỉnh Thanh Hóa tuyên phạt trong phiên tòa xét xử diễn ra vào hai ngày 17-18/11/2022 là hoàn toàn đúng quy định của pháp luật, đúng người, đúng tội. Đây cũng là bài học cảnh tỉnh cho Bùi Văn Thuận, người từng được xem là có trình độ, nhận thức, đã từng làm việc tại các Trường THPT Dân lập Bình Minh (Hoài Đức, Hà Nội), Trường THPT Dân lập Phương Nam (Hai Bà Trưng, Hà Nội).

Còn đối với Đặng Đăng Phước (sinh năm 1963, trú tổ dân phố 7A, phường Tân Lợi, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk), TAND cấp cao tại Đà Nẵng trong phiên xét xử phúc thẩm ngày 7/10/2023 đã tuyên y án sơ thẩm với bản án 8 năm tù về tội “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam” theo Điều 117, Bộ luật Hình sự. Theo cáo trạng, từ năm 2019 đến tháng 8/2022, Đặng Đăng Phước đã đăng tải, chia sẻ hơn 200 bài viết có nội dung công kích lãnh đạo cấp cao và chính quyền, xuyên tạc tình hình chính trị - xã hội trong nước; công khai thể hiện tư tưởng, quan điểm bất mãn, bôi nhọ, nói xấu lực lượng Công an; lợi dụng các vấn đề đang được xã hội và cộng đồng mạng quan tâm để xuyên tạc tình hình chính trị, kinh tế - xã hội của đất nước. Đồng thời, Đặng Đăng Phước thường xuyên tham gia các hội, nhóm, diễn đàn trên mạng xã hội để ủng hộ hoạt động của các nhóm chống đối như: “No U,” “Phổ biến Hiến pháp”; lôi kéo những đối tượng bất mãn, chống đối trên địa bàn tỉnh tham gia các phiên tòa xét xử một số đối tượng vi phạm pháp luật; căng băng rôn, cản trở hoạt động của các cơ quan chức năng, kích động, gây phức tạp về an ninh trật tự; tụ tập hát những bài hát có nội dung kích động, phá hoại về tư tưởng, xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, phỉ báng chính quyền nhân dân. Những hành động của Đặng Đăng Phước đã vi phạm các quy định của ngành giáo dục, trái với đạo đức nhà giáo, vi phạm pháp luật. Các hành vi đó đã diễn ra trong một thời gian dài. Mặc dù đã được các cơ quan, lực lượng chức năng nhiều lần mời làm việc để tuyên truyền, vận động, giải thích, nhắc nhở nhưng Đặng Đăng Phước không chấp hành. Bản án 8 năm tù giam là hình phạt thích đáng với quá trình vi phạm pháp luật, tuyên truyền chống phá đất nước của Đặng Đăng Phước.

Như vậy, với những hoạt động tuyên truyền chống phá Nhà nước Việt Nam của Đỗ Nam Trung, Bùi Văn Thuận, Đặng Đăng Phước mà tổ chức “VHRN lại “vinh danh” cho họ cái gọi là “Giải thưởng nhân quyền Việt Nam năm 2024” đủ để thấy rõ bản chất của tổ chức này cũng như việc trao “giải thưởng” cũng chỉ là chiêu trò bịp bợm nhằm xuyên tạc về tình hình nhân quyền, can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam cũng như nhằm cổ xuý cho những kẻ đang chấp hành án phạt tù về các hành động chống phá đất nước./.

 

 

 

BẢN CHẤT CỦA CÁI GỌI LÀ

“GIẢI THƯỞNG NHÂN QUYỀN VIỆT NAM”

Hoa Súng

Tổ chức “Mạng lưới nhân quyền Việt Nam” (tiếng Anh: Vietnam Human Rights Network – VHRN)  là một tổ chức tự xung ở Mỹ được lập ra với mục tiêu gia tăng các hoạt động dân chủ, nhân quyền trên thế giới, khoác dưới cái mũ “để thúc đẩy tiến trình cải tiến dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam”. Hằng năm, VHRN đưa ra bản “Báo cáo nhân quyền Việt Nam” với nội dung tuyên truyền, xuyên tạc về tình hình nhân quyền cũng như can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. Từ năm 2002 đến nay, vào dịp cuối năm, VHRN lại công bố cái gọi là “Giải thưởng nhân quyền Việt Nam” để “vinh danh” những cá nhân, tổ chức mà họ cho là đã có “thành tích tranh đấu bất bạo động cho lý tưởng nhân quyền tại Việt Nam”.

Trên thực tế, cá nhân, tổ chức mà họ “vinh danh” để nhận “Giải thưởng nhân quyền Việt Nam” hằng năm đều là những cá nhân, tổ chức đã có các hoạt động vi phạm pháp luật, phạm tội, có hoạt động tuyên truyền chống phá Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, bị toà án các cấp kết án tù giam. Từ năm 2002 đến nay, những tổ chức được VHRN tiến hành “vinh danh” nhận “Giải thưởng nhân quyền Việt Nam” có thể kể đến như: Hội nhà báo độc lập Việt Nam, Bán nguyệt san Tự do ngôn luận của khối 8406, Hội Anh em dân chủ, Mạng lưới blogger Việt Nam... Còn  các cá nhân hoạt động chống phá đất nước Việt Nam dưới danh nghĩa là “tù nhân lương tâm”, “dân oan”, “tù nhân tôn giáo”, “tù nhân chính trị” được tổ chức này “vinh danh” bao gồm: Nguyễn Văn Lý, Lê Quang Liêm, Thích Quảng Độ, Phan Văn Lợi, Nguyễn Vũ Bình, Lê Chí Quang, Nguyễn Đăng Quế, Nguyễn Chính Kết, Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Văn Hải (Hải “Điếu cày”), Trần Khải Thanh Thủy, Nguyễn Công Chính, Cù Huy Hà Vũ, Tạ Phong Tần, Huỳnh Thục Vy, Võ An Đôn, Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Bắc Truyển, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Nguyễn Hữu Vinh, Đặng Đình Mẫn, Phạm Đoan Trang, Lê Công Định, Cấn Thị Thêu, Trịnh Bá Phương, Trịnh Bá Tư, Đinh Thị Thu Thủy, Nguyễn Văn Túc, Nguyễn Tường Thụy, Lưu Văn Vịnh, Trần Đức Thạch... Năm 2023, tổ chức này cũng đã “vinh danh” 3 “khôi nguyên” là đối tượng đang chấp hành án phạt tù về các tội danh tuyên truyền chống phá Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam bao gồm Trần Văn Bang, Y Wô Niê, Lê Trọng Hùng…