Thứ Bảy, 27 tháng 4, 2024

TRÒ TUYÊN TRUYỀN “THIÊN LỆCH VÀ GIAN DỐI” CỦA VIỆT TÂN

MT

Lợi dụng tình trạng thiên tai xâm nhập mặn, dẫn đến thiếu nước sinh hoạt nghiêm trọng trên địa bàn các tỉnh miền Tây Nam Bộ, ngày 09/4, facebook Việt Tân đăng status “Người miền Tây “khát” nước sạch, chính quyền không có phương án hỗ trợ” rêu rao rằng: “Bất kể sáng tối, già trẻ, lớn bé, người dân thay phiên nhau để chống chọi với cảnh “khát” nước... Không biết chính quyền cứ để tình trạng dân nhận “nước từ thiện” này tới bao giờ? Thời gian qua dân khổ cả nước đều biết, chỉ có chính quyền vẫn im ắng chẳng hé môi, án binh bất động để người dân tự chăm sóc lẫn nhau”.

Đây là chiêu trò tuyên truyền “thiên lệch và gian dối” của Việt Tân để xuyên tạc những nỗ lực tích cực của Chính phủ và chính quyền địa phương các cấp nhằm hỗ trợ người dân các tỉnh miền Tây trước tình trạng thiếu nước sinh hoạt trong thời gian vừa qua.

Chúng ta đã biết, từ đầu năm 2024 đến nay, do ảnh hưởng của hiện tượng El Nino, khiến khu vực đồng bằng sông Cửu Long hầu như không mưa (hụt chuẩn từ 60 – 95%), lại phải trải qua những đợt nắng nóng kéo dài làm bốc hơi một lượng lớn nước trữ trong các kênh, sông, hồ, đồng ruộng. Cùng với đó là hoạt động của các đập thủy điện trên thượng nguồn sông Mê kông (nằm ngoài lãnh thổ Việt Nam), khiến lượng nước đổ về vào tháng ba thấp hơn so với mức trung bình cùng kỳ năm ngoái đến 20%. Ngoài ra, theo số liệu của Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO), từ thập niên 90 của thế kỷ trước đến nay, do ảnh hưởng lâu dài từ biến đổi khí hậu toàn cầu, nên mực nước biển đã dâng cao thêm 10 cm. Trong khi đó, hầu hết diện tích của đồng bằng sông Cửu Long chỉ cao hơn mực nước biển chưa đầy 02 m, khiến khu vực này phải hứng chịu ảnh hưởng tiêu cực từ nước biển dâng.

Trước thực trạng thiếu nước sinh hoạt trên, để hỗ trợ cho cho người dân, từ ngày 01/04, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã ban hành Chỉ thị số 11/CT-TTg yêu cầu tăng cường thực hiện các biện pháp phòng, chống nắng nóng, hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn. Trên cơ sở đó, các địa phương, nhất là khu vực đồng bằng sông Cửu Long đã chỉ đạo cơ quan chức năng xác định các khu vực có nguy cơ xảy ra thiếu nước sinh hoạt để chủ động tổ chức triển khai giải pháp bảo đảm cấp nước sinh hoạt cho nhân dân, không để người dân thiếu nước sinh hoạt, huy động lực lượng, phương tiện vận chuyển nước để cung cấp cho người dân.

Cụ thể là, ngày 06/04, tỉnh Tiền Giang công bố tình huống khẩn cấp về thiên tai xâm nhập mặn, thiếu nước sinh hoạt trên địa bàn huyện Tân Phú Đông, Tỉnh đã mở 60 vòi nước công cộng miễn phí cho người dân đến lấy nước sinh hoạt. Công ty Cổ phần cấp thoát nước Bến Tre đã huy động máy bơm dã chiến công suất 300.000 m3/ngày tại đập tạm Thành Triệu (Châu Thành), để bơm nước ngọt vào khu vực kênh rạch phục vụ sản xuất và nguồn nước cho nhà máy xử lý phục vụ sinh hoạt. Công ty Cổ phần cấp nước sinh hoạt Châu Thành (Tiền Giang) đã lập các điểm cấp nước ngọt miễn phí cho dân tại những vùng nhiễm mặn bằng xe bồn. Tương tự, từ ngày 22/03, phường Mỹ Đức (thành phố Hà Tiên) đã phối hợp với Xí nghiệp Điện nước thành phố Hà Tiên tổ chức ba bồn chứa nước để cấp nước công cộng cho người dân, v.v. Đó là những việc làm, hành động cụ thể để minh chứng cho thấy Chính phủ và chính quyền các cấp đã có “phương án hỗ trợ người dân” kịp thời và được triển khai thực hiện một cách đồng bộ, tích cực và hiệu quả. Tự nó đã vạch trần những tuyên truyền “thiên lệch và gian dối” của Việt Tân khi chỉ nhìn vào dòng chữ “xe chở nước sạch từ thiện” của số ít doanh nghiệp và một vài cá nhân mà phủ nhận những nỗ lực hỗ trợ người dân của Chính phủ và các địa phương để kích động, phá hoại. Hành động đó cần lên án và đấu tranh bác bỏ./.

  

 THỰC TIỄN CHUYẾN THĂM BÁC BỎ MỌI XUYÊN TẠC

MT

Nhận lời mời của Ủy viên trưởng Ủy ban thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa Triệu Lạc Tế, Chủ tịch Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Vương Đình Huệ đã có chuyến thăm chính thức nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa từ ngày 07/4 - 12/4 và thành công tốt đẹp. Với hơn 40 hoạt động chính thức cấp cao và nhiều hoạt động phong phú diễn ra tại các thành phố: Bắc Kinh, Thượng Hải và tỉnh Vân Nam đã góp phần củng cố tin cậy chính trị giữa hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước; thống nhất những định hướng chiến lược cho quan hệ song phương Việt Nam - Trung Quốc.

Chuyến thăm chính thức Trung Quốc của Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ diễn ra trong bối cảnh quan hệ hai Đảng, hai nước thời gian qua đạt được nhiều tiến triển tích cực, nhất là sau chuyến thăm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đến Trung Quốc (tháng 11/2022) và chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đến Việt Nam (tháng 12/2023). Đồng thời, tiếp tục khẳng định quan điểm rõ ràng, nhất quán về đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta với nước láng giềng Trung Quốc; mong muốn hai bên cụ thể hóa, triển khai các nhận thức chung, các cam kết và thỏa thuận của lãnh đạo cao nhất hai Đảng, hai Nhà nước, đóng góp tích cực cho sự phát triển quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện, xây dựng Cộng đồng chung chia sẻ tương lai có ý nghĩa chiến lược Việt Nam - Trung Quốc, vì lợi ích của nhân dân hai nước, vì hòa bình, ổn định, phát triển ở khu vực và trên thế giới.

Tuy nhiên, ngày 08/4, trang facebook Đài RFA đăng bài: “Chuyến đi sống còn vào Trung Nam Hải của Vương Đình Huệ”; trong đó, suy diễn, xuyên tạc cho rằng: “Có vẻ như chuyến đi của Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ đến Trung Quốc dù là để thắt chặt các mối quan hệ giữa hai Đảng Cộng sản nhưng thực sự số phận của ông Huệ đang nằm trong cuộc đối thoại ngoại giao này” hay: “ đây như là một cuộc hẹn được sắp đặt trước, gấp rút và được ngoại giao hóa bề mặt bằng một lời mời,...”, v.v. Song chính kết quả, sự thành công của chuyến thăm đã bác bỏ mọi xuyên tạc; đồng thời, cho thấy: các thế lực thù địch, phản động chưa bao giờ và sẽ không bao giờ từ bỏ dã tâm chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta, nhất là trong khoảng thời gian từ nay đến đầu năm 2026, khi Đảng ta đẩy mạnh triển khai các mặt công tác chuẩn bị cho đại hội đảng các cấp tiến tới Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV. Một trong những thủ đoạn của chúng là triệt để lợi dụng các trang mạng xã hội để phát tán, đăng tải, chia sẻ các tài liệu, bài viết có nội dung xuyên tạc công tác nhân sự trong đại hội; nói xấu, bôi nhọ uy tín, danh dự của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước,... nhằm kích động sự hoài nghi, chia rẽ nội bộ, gây hoang mang trong dư luận mà bài viết được đăng tải trên trang facebook Đài RFA vừa qua là điển hình. Vì vậy, chúng ta cần hết sức bình tĩnh, tỉnh táo để nhận diện và kiên quyết đấu tranh vạch trần âm mưu, thủ đoạn chống phá của chúng, bảo vệ vững chắc thành quả của cách mạng./.

 

“TRÒ HỀ” LỐ BỊCH CỦA VĂN BÚT HOA KỲ

MT

Ngày 11/4/2004, tổ chức phi chính phủ Văn bút Hoa Kỳ (PEN America) thông báo sẽ trao giải thưởng về tự do viết lách năm 2024 cho nhà báo Phạm Đoan Trang - người đang phải thụ án tù chín năm tại Việt Nam với cáo buộc tội Tuyên truyền chống Nhà nước. Lợi dụng việc này, trang facebook Đài Á Châu Tự Do (RFA), trích dẫn phát biểu của bà Suzanne Nossel (Giám đốc điều hành của PEN America) để tung hô, cổ súy cho chiến tích của “nữ chúa trong làng zân chủ”, rằng: “Bà đã hy sinh sức khỏe và tự do của bản thân để tìm kiếm công lý. Bất chấp những đàn áp của Chính phủ đối với các hoạt động xã hội và bất đồng chính kiến, các câu chữ mạnh mẽ của bà tiếp tục khích lệ mọi người trên khắp Việt Nam và toàn thế giới”!.

Có thể thấy rằng, việc PEN America trao giải thưởng về “tự do viết lách năm 2024” cho Phạm Đoan Trang - đối tượng đang phải chấp hành bản án 09 năm tù giam vì tội “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, theo quy định tại Điểm a, b, c, Khoản 1, Điều 88, Bộ luật Hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) là hành động không phù hợp. Đây là “trò hề” của PEN America khi cố tình “vinh danh”, cổ súy cho đối tượng vi phạm pháp luật Việt Nam và đang phải chấp hành án phạt tù trong trại giam.

Cần khẳng định, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí là một trong những quyền tự do dân chủ về chính trị rất quan trọng đã được quy định trong các quy định của quốc tế. Mặc dù luật pháp quốc tế có những quy định về quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, nhưng đó không phải là quyền tự do một cách tuyệt đối; trong khi thực hiện các quyền tự do này thì lại phải chịu một số hạn chế nhất định, mà hạn chế đó là vì lý do an ninh quốc gia, trật tự công cộng, đạo đức xã hội và quyền tự do của người khác. Không có nền báo chí nào, dù là của phương Đông hay phương Tây, cổ vũ cho cái gọi là tự do vô hạn độ. Ngay tại nước Mỹ, nơi được mệnh danh là “thiên đường” tự do, nhưng nếu báo chí mà cổ động để lật đổ chế độ Mỹ xem, chắc chắn báo chí sẽ không còn tồn tại. Gần đây nhất, một tờ tạp chí của Mỹ - quốc gia được mệnh danh là bình đẳng, tự do, bác ái, chỉ một bức tranh biếm họa người đứng đầu tôn giáo Mohamed, Tòa soạn đó lập tức bị tẩy chay. Trong khi đó, Phạm Thị Đoan Trang đang chịu án tù ở Việt Nam mà PEN America lại trao Giải thưởng này, đó là điều rất phi lý và không có giá trị.

Vì lẽ đó, việc giải thưởng về “tự do viết lách năm 2024” là “trò hề” lố bịch. “Trò hề” này cần bị lên án và đấu tranh bác bỏ./.

             MỘT BÁO CÁO KHÔNG KHÁCH QUAN VỀ NHÂN QUYỀN                                                   CỦA CƠ QUAN LIÊN HỢP QUỐC

MT

Trong thời gian qua, quá trình xây dựng báo cáo quốc gia theo Cơ chế rà soát định kỳ phổ quát (UPR)  chu kỳ IV của Việt Nam đã được tiến hành một cách nghiêm túc, toàn diện, có sự tham gia đầy đủ của các bên liên quan, cũng như các cơ quan Liên hợp quốc tại Việt Nam. Tuy nhiên, báo cáo riêng của cơ quan Liên hợp quốc đã không được xây dựng một cách minh bạch, tương xứng với những thiện chí hợp tác và quá trình xây dựng báo cáo quốc gia của Việt Nam; hoàn toàn không thể hiện đúng thực tiễn và tinh thần hợp tác giữa Việt Nam và Liên hợp quốc, các ưu tiên hợp tác mà Việt Nam và các cơ quan Liên hợp quốc đã nhất trí.

Thực tiễn minh chứng, ngay mở đầu Tuyên ngôn độc lập ngày 02/9/1945 tại quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ ta, trịnh trọng tuyên bố trước toàn thể quốc dân đồng bào và bạn bè quốc tế rằng: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Lời nói bất hủ, mở đầu cho Tuyên ngôn độc lập không chỉ là tư tưởng lớn về độc lập, tự do của dân tộc, mà còn là tư tưởng cơ bản về quyền con người của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta. Nó được tiếp tục bổ sung, phát triển cùng với tiến trình của cách mạng Việt Nam. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (1991) đã đề ra mục tiêu: xây dựng một xã hội do nhân dân lao động làm chủ; con người được giải phóng khỏi áp bức bóc lột, bất công; có điều kiện phát triển toàn diên cá nhân. Nhận thức và quan điểm về quyền con người đã được Đảng, Nhà nước ta phát triển và hoàn thiện dần trong tiến trình đổi mới. Đại hội IX (năm 2001) của Đảng khẳng định: “Chăm lo cho con người, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mọi người; tôn trọng và thực hiện các điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia”. Ngoài các văn kiện trên, Nghị quyết các Đại hội của Đảng và trực tiếp là các Chỉ thị số 12-CT/TW, ngày 12/7/1992, của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa VII, Chỉ thị số 41/2004/CT-TTg, ngày 2/12/2004, của Thủ tướng Chính phủ, Chỉ thị số 44-CT/TW, ngày 20/7/2010, của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa X),… cũng đã thể hiện sâu sắc quan điểm, đường lối của Đảng ta về vấn đề quyền con người.

Quyền con người còn được thể hiện rõ trong các bản Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992 và 2013. Mỗi Hiến pháp đều ghi nhận cốt lõi những điều khoản về Nhân quyền trong Hiến pháp. Riêng Hiến pháp 2013 có 11 chương, 120 Điều; trong đó, chương về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân là chương có Điều luật nhiều nhất, gồm 36 Điều (từ Điều 14 đến Điều 49). Và để triển khai trong thực tiễn, tính từ năm 2014 đến hết tháng 11/2019, Quốc hội đã sửa đổi, bổ sung, ban hành mới hơn 100 văn bản Luật, pháp lệnh liên quan đến việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân phù hợp với Hiến pháp 2013. Trong số đó có những Luật cơ bản, quan trọng, như: Bộ luật Hình sự 2015, Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, Bộ luật Dân sự 2015, Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam 2015, Luật Trưng cầu dân ý 2015, Luật Tín ngưỡng tôn giáo 2016, Luật Trẻ em 2016, Luật Báo chí 2016, Luật Tiếp cận thông tin 2016, Luật An ninh mạng 2018, Luật Đặc xá 2018,… Trong năm 2019, Quốc hội tiếp tục thông qua nhiều Luật liên quan đến quyền con người, quyền công dân như: Luật Thi hành án hình sự, Bộ Luật lao động, Luật Xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam, v.v.

Việc hoàn thiện khung pháp luật về quyền con người, quyền công dân nói trên đã phản ánh đúng bản chất của chế độ ta, đó là xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân. Tăng cường cơ chế dân chủ, công khai để mọi cá nhân trong xã hội đều có thể tham gia xây dựng, quản lý xã hội, giám sát các hoạt động của cơ quan nhà nước cũng như tạo ra khuôn khổ pháp lý để các cơ quan nhà nước hoạt động tốt hơn, phục vụ tốt hơn nhu cầu của mọi tầng lớp Nhân dân.

Bởi vậy, nội dung báo cáo riêng của cơ quan Liên hợp quốc tại Việt Nam theo Cơ chế rà soát định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ IV đưa ra nhiều nội dung sai sự thật, không được kiểm chứng, đánh giá không khách quan, không cân bằng, không phản ánh chính xác và đầy đủ tình hình, nỗ lực cũng như thành tựu của Việt Nam trong bảo vệ và thúc đẩy quyền con người, cần đấu tranh bác bỏ./.

                   
SỰ XUẤT HIỆN CỦA ĐƯỜNG LỐI NGOẠI GIAO HIỆN ĐẠI MANG ĐẬM BẢN SẮC “CÂY TRE VIỆT NAM”

                                                     

                                                                                    Nhân Trần

“Ngoại giao cây tre” là thuật ngữ mô tả phong cách ngoại giao Việt Nam hiện đại do Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng khái quát và đặt tên. Thuật ngữ ngoại giao “cây tre Việt Nam” được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đề cập lần đầu tiên tại Hội nghị ngoại giao lần thứ 29 với chủ đề “Nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế - Thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XII” ngày 22/8/2016. Trong bài phát biểu chỉ đạo tại hội nghị, Tổng Bí thư đã nêu rõ bài học kiên trì về nguyên tắc, linh hoạt về sách lược trong công tác ngoại giao. “Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, hoạt động đối ngoại đã làm nên nhiều thành tích vẻ vang, xây dựng nên một trường phái ngoại giao độc đáo, mang đậm bản sắc “cây tre Việt Nam” - mềm mại mà cứng cỏi, nhân ái mà quật cường, biết nhu biết cương, biết thời biết thế, biết mình biết người, thể hiện tâm hồn và khí phách của dân tộc Việt Nam”. Tại Hội nghị đối ngoại toàn quốc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng ngày 14/12/2021, Tổng Bí thư tiếp tục nhấn mạnh, làm sâu sắc thêm trường phái ngoại giao mang bản sắc “cây tre Việt Nam”. Trên cơ sở vận dụng sáng tạo những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, kế thừa và phát huy truyền thống, bản sắc đối ngoại, ngoại giao và văn hóa dân tộc, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa thế giới và tư tưởng tiến bộ của thời đại, chúng ta đã xây dựng nên một trường phái đối ngoại và ngoại giao rất đặc sắc và độc đáo của thời đại Hồ Chí Minh, mang đậm bản sắc “cây tre Việt Nam”, “gốc vững, thân chắc, cành uyển chuyển”. Tại Hội nghị ngoại giao lần thứ 32 với chủ đề “Phát huy vai trò tiên phong, xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại, vững mạnh, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng” ngày 19/12/2023, Tổng Bí thư chỉ đạo ngành ngoại giao tiếp tục phát triển nền ngoại giao hiện đại, vững mạnh toàn diện, mang đậm bản sắc “cây tre Việt Nam”. Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, đúc kết thực tiễn từ lịch sử, tiếp thu sáng tạo tinh hoa thế giới, Tổng Bí thư đã đúc kết thành đường lối, sách lược trong cuốn sách “Xây dựng và phát triển nền đối ngoại, ngoại giao Việt Nam toàn diện, hiện đại, mang đậm bản sắc “cây tre Việt Nam”.

Khi phân tích về lý do lấy cây tre làm biểu tượng cho trường phái ngoại giao của Việt Nam, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã đưa ra các lý do bao gồm “gốc”, “thân”, “cành” và “đặc tính” của cây tre. Trong lý do về “gốc” đầu tiên, Tổng Bí thư cho rằng gốc của loài cây này thường quyện vào làm một mang ý nghĩa của sự đoàn kết. Và “gốc có vững thì thân mới chắc; cành mới tốt tươi, xum xuê, uyển chuyển được”. Về “thân”, Tổng Bí thư cho rằng đây là biểu tượng của sự hòa hiếu, bang giao nhưng quật cường, khiêm tốn mà không khoa trương. Về “cành”, Tổng Bí thư luận giải đó là sự linh hoạt, sáng tạo, mềm dẻo, uyển chuyển trong biện pháp, sách lược triển khai cụ thể. Về “đặc tính” thì đó là biểu tượng cho sự dễ thích nghi, vượt qua sóng gió, bão tố, phong ba của loài cây này, vững chãi vì “sống kết thành bụi, thành lũy, thành rừng”.

Ngoài ra, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng còn khái quát các bài học cho nền ngoại giao “cây tre Việt Nam”: Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại; xử lý hài hòa mối quan hệ giữa lợi ích quốc gia - dân tộc và nghĩa vụ, trách nhiệm quốc tế. Kiên định nguyên tắc và linh hoạt về sách lược. Xây dựng sự đoàn kết, đồng thuận trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân. Bài học về công tác xây dựng tổ chức bộ máy và công tác cán bộ. Bài học về sự lãnh đạo thống nhất, tuyệt đối của Đảng, sự quản lý tập trung của Nhà nước./.

 

Ý NGHĨA CỦA ĐƯỜNG LỐI “NGOẠI GIAO CÂY TRE” TRONG ỨNG PHÓ VỚI THÁCH THỨC AN NINH PHI TRUYỀN THỐNG HIỆN NAY

 Nhân Trần

 Trong bối cảnh toàn cầu hóa ngày càng mạnh mẽ, Việt Nam phải đối diện với nhiều thách thức, trong đó nổi lên là những vấn đề an ninh phi truyền thống. Trước những thách thức này, ngoại giao Việt Nam tiếp tục thực hiện sứ mệnh mới, góp phần tạo dựng và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, bảo vệ vững chắc Tổ quốc.

Ứng phó thách thức an ninh phi truyền thống

Toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ không chỉ đem tới cơ hội mà còn đưa đến những thách thức, đe dọa đối với độc lập, chủ quyền của nhiều quốc gia, dân tộc. Quan niệm về an ninh quốc gia vì thế được mở rộng về phạm vi, không còn bị giới hạn ở những vấn đề thuộc về an ninh quân sự. Từ đó, thuật ngữ “an ninh phi truyền thống” đã xuất hiện để mô tả những biến đổi của môi trường an ninh quốc tế. Các mối đe dọa của an ninh phi truyền thống thường tập trung vào hai nhóm chính: Một là nhóm các quá trình hiện tượng tự nhiên và xã hội (an ninh môi trường, an ninh kinh tế, an ninh lương thực, an ninh nguồn nước…); hai là nhóm các hành vi tiêu cực do cá nhân hoặc tổ chức thực hiện ảnh hưởng bất lợi đến xã hội (tội phạm xuyên quốc gia, tội phạm công nghệ cao…).

Đối mặt với những thách thức này, Đảng ta chủ động đề ra những quan điểm và đường lối, chiến lược ứng phó. Tại Hội nghị đối ngoại toàn quốc lần thứ nhất năm 2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã đúc kết: “Hơn 90 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, trên cơ sở vận dụng sáng tạo những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, kế thừa và phát huy truyền thống, bản sắc đối ngoại, ngoại giao và văn hóa dân tộc, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa thế giới và tư tưởng tiến bộ của thời đại, chúng ta đã xây dựng nên một trường phái đối ngoại và ngoại giao rất đặc sắc và độc đáo của thời đại Hồ Chí Minh, mang đậm bản sắc “Cây tre Việt Nam - gốc vững, thân chắc, cành uyển chuyển”.

Bài học và ý nghĩa của đường lối “ngoại giao cây tre”

Có thể thấy, đường lối “ngoại giao cây tre” của Đảng có những nét đặc trưng đó là: Kiên định trong mục tiêu - Nhân văn trong cốt cách - Chủ động trong tinh thần - Linh hoạt trong hành động - Đoàn kết trong cộng đồng. Giải quyết các vấn đề an ninh phi truyền thống, đòi hỏi phải có nhiều biện pháp từ những lĩnh vực khác nhau, như chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đặc biệt là ngoại giao. Với yêu cầu đó, đường lối “ngoại giao cây tre” tiếp tục phát huy giá trị, bài học ý nghĩa của mình trong ứng phó với các thách thức an ninh phi truyền thống.

Một là, bài học về sự kiên định, nhất quán. Các vấn đề biến đổi khí hậu, an ninh lương thực, an ninh năng lượng, an ninh kinh tế, an ninh mạng… sẽ dẫn tới vấn đề về thất nghiệp, đói nghèo, bất bình đẳng, mất trật tự an toàn xã hội. Tiếp đó là những hệ lụy tiêu cực, làm cho xã hội bị phân hóa và khiến cho các quốc gia ngày càng xa rời mục tiêu phát triển bền vững. Trong khi đó, Việt Nam luôn hướng tới mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Để vươn tới mục tiêu đó, chúng ta phải kiên định với con đường tiến lên xã hội chủ nghĩa, kiên định với nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên định với chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Bởi chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là học thuyết duy nhất từ trước đến nay bàn về mục tiêu, con đường, lực lượng, phương thức và điều kiện bảo đảm để đấu tranh, xóa bỏ mọi áp bức, bóc lột, bất công. Điều đó phù hợp với nguyện vọng của nhân dân ta từ ngàn đời nay. Thách thức an ninh phi truyền thống còn tạo ra nhiều vấn nạn tội phạm, như lợi dụng sự phát triển của công nghệ thông tin và phương tiện đại chúng, các thế lực thù địch thực hiện âm mưu chống phá Đảng và Nhà nước. Để ứng phó, chúng ta cần phải kiên quyết, kiên trì trong hành động đấu tranh phản bác các quan điểm, luận điệu sai trái, thù địch. Có như vậy, nền tảng tư tưởng của Đảng được bảo vệ, nền độc lập, tự do của dân tộc không bị xâm phạm.

Hai là, bài học kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Thực tế cho thấy, sự tồn tại của mọi quốc gia đều gắn liền với môi trường khu vực và quốc tế. Câu chuyện ứng phó với thách thức an ninh phi truyền thống không chỉ là vấn đề của một quốc gia. Để giải quyết vấn đề này, Việt Nam không thể tách rời cộng đồng quốc tế. Để tăng gấp bội “thực lực” ứng phó với các vấn đề nan giải mà toàn thế giới đang phải đối mặt như biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh, đói nghèo…, chúng ta luôn phải giương cao ngọn cờ kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế. Ở đây, sức mạnh dân tộc là tổng hợp những lợi thế, những nguồn lực nội sinh của dân tộc, bao gồm toàn bộ các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Còn sức mạnh thời đại là yếu tố bên ngoài, bao gồm các xu thế chính trị, kinh tế - xã hội trên thế giới như: Hòa bình, hợp tác và phát triển, cách mạng khoa học công nghệ, xu thế phát triển bền vững... Bên cạnh đó, sức mạnh của thời đại còn là sức mạnh của cộng đồng quốc tế ngày càng đồng thuận trong việc kiến tạo, củng cố một trật tự thế giới dân chủ, công bằng, bình đẳng. Quan điểm về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại của Đảng xuất phát từ quan điểm của Mác về giải quyết mâu thuẫn, về mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại giữa yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài. Theo đó, sức mạnh dân tộc đóng vai trò quyết định thì sức mạnh thời đại giữ vai trò tạo điều kiện thuận lợi trong công cuộc ứng phó với các vấn đề mới của xã hội.

Ba là, bài học về tinh thần trách nhiệm, dấn thân. Chính tinh thần chủ động, tích cực trong đường lối “ngoại giao cây tre” đã mang tới bài học trong việc ứng phó với các vấn đề toàn cầu, chúng ta phải thúc đẩy đổi mới, sáng tạo và “cách mạng không ngừng”, “cách mạng triệt để”. Bởi thách thức an ninh phi truyền thống là những thách thức lớn, mang tính thời đại và dài hạn. Chúng ta cần phải chủ động, nhanh chóng xây dựng kế hoạch hợp tác với các quốc gia trên toàn thế giới sẵn sàng ứng phó với những thách thức an ninh phi truyền thống, không để bị động bất ngờ trong mọi tình huống.

Bốn là, lấy văn hóa làm nền tảng cho chiến lược phát triển. Trong cuộc chiến với các mối đe dọa từ an ninh phi truyền thống, điều quan trọng nhất chúng ta cần phải có là nguồn lực nội sinh vững chắc. Gốc của sức mạnh nội sinh chính là văn hóa, là bản sắc dân tộc.

Biến thách thức thành cơ hội

Như đã thấy, đường lối ngoại giao Việt Nam được bạn bè quốc tế trân trọng và đánh giá cao là bởi ngoại giao lấy cái gốc là văn hóa dân tộc và mang trong mình nội hàm văn hóa dân tộc. Chính “Văn hóa soi đường cho quốc dân đi”. Văn hóa tạo ra sự tôn trọng và tình cảm gắn bó giữa các dân tộc, từ đó thiết lập nên những mối quan hệ hữu nghị bền chặt, dài lâu. Văn hóa tạo nên một xã hội văn minh, tiến bộ. Hướng tới một thế giới tiến bộ hơn, các quốc gia, trong đó có Việt Nam phải cùng nhau phát triển, cùng nhau ứng phó với các thách thức mới, cùng nhau xóa nhòa sự cách biệt.

Thấm nhuần giá trị văn hóa dân tộc, chúng ta có thể biến những thách thức thành cơ hội, khó khăn thành bàn đạp để đất nước ngày càng phồn vinh và văn minh. Thế giới đang biến đổi với ngày càng nhiều thách thức an ninh phi truyền thống. Điểm tựa vững chắc cho Việt Nam trong quan hệ đối ngoại ngày nay chính là nền tảng tư tưởng của Đảng, với chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, đã được cụ thể hóa thành đường lối “ngoại giao cây tre”. Cây tre mang hình ảnh biểu tượng của sự kiên định nhất quán, gắn liền với sự thích ứng linh hoạt và chứa đựng sức mạnh bền bỉ từ cội nguồn dân tộc.

Điểm đặc sắc của “ngoại giao cây tre” là thông điệp về nền ngoại giao dựa trên nền tảng văn hóa dân tộc “tre xanh xanh tự bao giờ, chuyện ngày xưa đã có bờ tre xanh”. Đó là bản sắc, là sức mạnh cội rễ, là sự giản dị chân thành, là tinh thần kiên cường của đất nước văn hiến ngàn năm. Không chỉ là cơ sở làm nên thành tựu, vị thế của riêng Việt Nam trên trường quốc tế, “ngoại giao cây tre” cũng trở thành trường phái ngoại giao mà các quốc gia đang phát triển khác có thể tham khảo, để xây dựng chính sách đối ngoại ứng phó với các thách thức an ninh phi truyền thống, đồng thời chung tay góp phần tạo dựng thế giới trên tinh thần hữu nghị, hợp tác, cùng phát triển./.

 KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN NỀN NGOẠI GIAO “CÂY TRE VIỆT NAM”

Nhân Trần

Thấy gì từ thủ đoạn đánh tráo khái niệm

Năm 2023 đánh dấu những cột mốc quan trọng của ngoại giao Việt Nam, được dư luận tiến bộ toàn cầu ghi nhận, đánh giá cao. Hai dấu ấn nổi bật là việc nâng cấp quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ lên đối tác chiến lược toàn diện và tiếp tục làm sâu sắc, nâng tầm mối quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Trung Quốc vững chắc, ổn định, bền vững lâu dài và hiệu quả... Truyền thông quốc tế đã dành thời lượng lớn phản ánh, phân tích, bình luận về hai chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình và Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden đến Việt Nam. Dư luận tích cực bày tỏ sự ủng hộ, đánh giá cao thành tựu ngoại giao và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Những dấu ấn và thành tựu ngoại giao của Việt Nam là kết quả vận dụng đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta và hoạt động ngoại giao nhân dân theo trường phái ngoại giao “cây tre Việt Nam”.

Trong bối cảnh tình hình thế giới diễn biến phức tạp, khó lường; các quốc gia, dân tộc yêu chuộng hòa bình đứng trước những thách thức mang tính thời đại về bảo vệ độc lập, chủ quyền và thể chế chính trị. Sự cạnh tranh lợi ích gay gắt giữa các cường quốc tác động sâu sắc, toàn diện đến đường lối, chiến lược, sách lược ngoại giao của các nước. Trong bối cảnh đó, việc chủ động thích nghi, lựa chọn chính nghĩa trong các mối quan hệ đa phương và song phương không chỉ là giải pháp giữ vững hòa bình, ổn định cho quốc gia, dân tộc, mà còn góp phần thúc đẩy xu thế hòa bình, hữu nghị, hợp tác, phát triển trong môi trường toàn cầu. “Chủ động thích nghi” để không phải “bị động chống đỡ”; “chọn chính nghĩa” thay vì “chọn bên” là những biểu hiện sinh động và cụ thể của trường phái ngoại giao mang đậm bản sắc “Cây tre Việt Nam”. Tính tất yếu và chính nghĩa của ngoại giao “Cây tre Việt Nam” đã được chứng minh trên thực tế. Ngoại giao “Cây tre Việt Nam” đã góp phần khẳng định, không ngừng nâng cao cơ đồ, tiềm lực, vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Thực tiễn sinh động ấy là hiện thực khách quan, không thể xuyên tạc, phủ nhận.

Tuy nhiên, bên cạnh đại đa số thông tin tích cực, trên không gian mạng xuất hiện không ít thông tin sai lệch. Một số phương tiện truyền thông phát tiếng Việt ở hải ngoại và nhiều tài khoản trên các nền tảng mạng xã hội mang tư tưởng thù địch ra sức xuyên tạc, phá hoại trường phái ngoại giao “Cây tre Việt Nam”. Họ cố tình đánh tráo khái niệm “Cây tre Việt Nam” bằng những thuật ngữ mang tính kích động, chống phá, như: “Ba phải”, “hai mặt”, “đu dây”, “hai mang”. Bằng kiểu ngụy biện, suy diễn, quy chụp, võ đoán, “hớt váng”, “cắt ngọn” họ rêu rao rằng, Việt Nam đang theo đuổi chính sách ngoại giao đi ngược xu thế thời đại, “không giống ai”. Họ gán ghép khiên cưỡng những cuộc xung đột vũ trang, đảo chính, nội chiến đang xảy ra ở nhiều khu vực trên thế giới để so sánh, quy chụp đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta là “đu dây”, sớm muộn cũng nhận kết cục “thảm bại”. Đáng tiếc là những luận điệu mang tư tưởng thù địch này lại được một số đối tượng người Việt ở hải ngoại tự xưng là “nhà nghiên cứu”, “nhà phản biện”, “nhà dân chủ”, “nhà đấu tranh”, “học giả” cổ xúy, tung hô bằng những hình thức gọi là “bàn tròn”, “bình luận”, “góc nhìn” nhằm gây nhiễu thông tin, lèo lái dư luận. Một số đối tượng lên giọng kiểu bề trên, kẻ cả, lộng ngôn chỉ trích, bôi nhọ, hạ bệ lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta; phủ nhận đường lối, chính sách đối ngoại và thành tựu ngoại giao “Cây tre Việt Nam”.

Tính tất yếu không thể phủ nhận

Theo dõi những thông tin xuyên tạc trên không gian mạng, chúng ta dễ dàng nhận ra bộ mặt thật của những đối tượng thù địch chống phá đất nước. Không phải họ không hiểu bản chất vấn đề, mà họ đã cố tình “cắt ngọn”, “hớt váng” để đánh tráo khái niệm.

Chúng ta đều biết, thuật ngữ ngoại giao “Cây tre Việt Nam” được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đề cập tại Hội nghị ngoại giao lần thứ 29 với chủ đề “Nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế - Thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XII”, diễn ra tại Hà Nội, ngày 22/8/2016. Trong bài phát biểu chỉ đạo tại hội nghị, Tổng Bí thư Đảng ta đã nêu rõ bài học kiên trì về nguyên tắc, linh hoạt về sách lược trong công tác ngoại giao. “Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, hoạt động đối ngoại đã làm nên nhiều thành tích vẻ vang, xây dựng nên một trường phái ngoại giao độc đáo, mang đậm bản sắc “Cây tre Việt Nam” - mềm mại mà cứng cỏi, nhân ái mà quật cường, biết nhu biết cương, biết thời biết thế, biết mình biết người, thể hiện tâm hồn và khí phách của dân tộc Việt Nam”.

Tại Hội nghị đối ngoại toàn quốc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng, diễn ra tại Hà Nội ngày 14/12/2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tiếp tục nhấn mạnh, làm sâu sắc thêm trường phái ngoại giao mang bản sắc “Cây tre Việt Nam”. Trên cơ sở vận dụng sáng tạo những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác - Lênin, kế thừa và phát huy truyền thống, bản sắc đối ngoại, ngoại giao và văn hóa dân tộc, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa thế giới và tư tưởng tiến bộ của thời đại, chúng ta đã xây dựng nên một trường phái đối ngoại và ngoại giao rất đặc sắc và độc đáo của thời đại Hồ Chí Minh, mang đậm bản sắc “Cây tre Việt Nam - gốc vững, thân chắc, cành uyển chuyển”. Tại Hội nghị ngoại giao lần thứ 32 với chủ đề “Phát huy vai trò tiên phong, xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại, vững mạnh, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng”, diễn ra tại Hà Nội ngày 19/12/2023, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã phát biểu chỉ đạo ngành ngoại giao tiếp tục phát triển nền ngoại giao hiện đại, vững mạnh toàn diện, mang đậm bản sắc “Cây tre Việt Nam”.

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, đúc kết thực tiễn từ lịch sử, tiếp thu sáng tạo tinh hoa thế giới, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã đúc kết đường lối, sách lược ngoại giao “Cây tre Việt Nam” trong cuốn sách “Xây dựng và phát triển nền đối ngoại, ngoại giao Việt Nam toàn diện, hiện đại, mang đậm bản sắc “Cây tre Việt Nam” do Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật phát hành tháng 11/2023.

Tất cả tài liệu, văn bản liên quan đến trường phái ngoại giao “Cây tre Việt Nam” đều thể hiện rõ tính khoa học, lịch sử, văn hóa, khẳng định tính tất yếu khách quan trong đường lối, chính sách, chiến lược đối ngoại, ngoại giao của Việt Nam. Việc sử dụng cụm từ “Cây tre Việt Nam” là cách nói khái quát, hình tượng, đúc kết lịch sử, có sự bổ sung, phát triển tư duy lý luận và giải pháp để phù hợp, thích ứng với xu thế thời đại và đòi hỏi từ thực tiễn. Đó cũng chính là sự thể hiện sinh động việc quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng về công tác đối ngoại. Tất cả những vấn đề đó đều được công khai, minh bạch, phổ biến sâu rộng trên các phương tiện truyền thông. Trong quan hệ hợp tác với các nước, chúng ta cũng thể hiện rõ lập trường quan điểm, chính sách đối ngoại độc lập tự chủ của Việt Nam. Bảo đảm cho “gốc vững, thân chắc, cành uyển chuyển” trong ngoại giao chính là tổng hòa các chiến lược, sách lược, giải pháp mang tính khoa học, tư duy biện chứng, thể hiện tính tất yếu khách quan. Hiểu về ngoại giao “Cây tre Việt Nam” không thể là kiểu tư duy “cắt ngọn”, “hớt váng”, “chặt khúc” mà cần có tư duy hệ thống, khái quát, tổng hợp. Ngoại giao “Cây tre Việt Nam” hoàn toàn không phải và không thể là giải pháp “thức thời” theo kiểu “đu dây”, “hai mặt”, “hai mang” như những luận điệu đả kích, xuyên tạc của các thế lực thù địch./.

CƠ SỞ CỦA ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI “CÂY TRE VIỆT NAM”   TRONG TÌNH HÌNH MỚI

Nhân Trần

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là người khái quát và đặt tên cho trường phái ngoại giao Việt Nam hiện đại là “ngoại giao cây tre”. Đây là triết lý ngoại giao của Việt Nam, kim chỉ nam hành động của người làm đối ngoại và ngoại giao bởi lợi ích quốc gia - dân tộc là bất biến, còn phương pháp để đạt được và bảo vệ lợi ích đó là vạn biến. Cách đặt tên cho trường phái ngoại giao Việt Nam hiện đại xuất phát từ một số cơ sở:

Thứ nhất, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đi sâu phân tích những đặc tính của “cây tre Việt Nam - gốc vững, thân chắc, cành uyển chuyển”. Cụ thể, đặc trưng đầu tiên là truyền thống văn hóa và trường phái ngoại giao của người Việt Nam từ khi “nam quốc sơn hà nam đế cư; tiệt nhiên định phận tại thiên thư”. Trường phái ngoại giao đó chính là “đem đại nghĩa để thắng hung tàn; lấy trí nhân để thay cường bạo”, luôn lấy tinh thần khoan dung, hòa hiếu, nhân nghĩa trong ứng xử; mềm dẻo, uyển chuyển, linh hoạt, cương nhu, biết người, biết mình, biết thời, biết thế trong sách lược, “trong xưng đế, ngoài xưng vương” để trên hết là “đất nước an toàn là thượng sách, cốt sao cho dân được an ninh”.

Thứ hai, từ truyền thống quật cường của dân tộc trong việc giữ vững nền độc lập và chống ngoại xâm. Mặc dù khoan dung và luôn muốn hòa hiếu, bang giao nhưng nước Nam ta vẫn kiên định và kiên quyết về nguyên tắc đấu tranh chống giặc ngoại xâm với tinh thần “thà hy sinh tất cả chứ không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô nệ”.

Thứ ba, từ tư tưởng và phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh trong tổng thể hệ tư tưởng của Người. Tư tưởng và phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh chính là sự kết tinh giữa truyền thống và văn hóa của dân tộc, tinh hoa của nhân loại, và thực tiễn hoạt động phong phú của Người. Điều quan trọng và cốt lõi nhất trong tư tưởng Hồ Chí Minh và được Người thể hiện bằng việc làm của mình trong suốt toàn bộ cuộc đời “vì nước, vì dân” chính là “việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm” và “bao nhiêu lợi ích đều vì dân”. Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, “dân”, “Tổ quốc” và “dân tộc” là một. Trong hoạt động đối ngoại, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặt và yêu cầu lợi ích dân tộc là trên hết, “muốn làm gì cũng vì lợi ích của dân tộc mà làm”. Và để làm được như Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy, cần “dĩ bất biến, ứng vạn biến”. Mặc dù đề cao lợi ích dân tộc là trên hết, nhưng Người không cực đoan theo đuổi chủ nghĩa dân tộc vị kỷ, mà Người cho rằng cách mạng Việt Nam gắn liền với cách mạng thế giới, tinh thần yêu nước và tinh thần quốc tế liên hệ khăng khít với nhau. Vì lẽ đó, ta vừa ra sức kháng chiến, vừa tham gia phong trào ủng hộ hòa bình thế giới.

Thứ tư, từ thành quả phát triển và vị thế quốc tế thực tế của Việt Nam từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam tiến hành công cuộc đổi mới cho đến nay, trong đó có đóng góp rất lớn của công tác đối ngoại. Công cuộc đổi mới của Việt Nam đã đưa công tác đối ngoại của đất nước như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng hình tượng hóa là một bên cánh của con chim, không thể thiếu cho sự phát triển của Việt Nam. Chính sách hội nhập quốc tế sâu rộng, toàn diện của Việt Nam gắn sự nghiệp phát triển đất nước với sự phát triển của khu vực và thế giới. Con thuyền cách mạng Việt Nam phụ thuộc vào “sóng yên biển lặng” của thế giới, vào bản lĩnh vững vàng, sự kiên định về mục tiêu và hướng đi của người cầm lái con thuyền đó.

Thứ năm, từ truyền thống đoàn kết của người Việt Nam tạo nên sức mạnh của dân tộc trong chống ngoại xâm, xây dựng và phát triển đất nước. Truyền thống này bắt nguồn từ đặc điểm và vị trí của đất nước, tạo thành cốt cách của con người Việt Nam. Truyền thống đoàn kết này của người Việt Nam được phát huy ở trong nước và được mở rộng trong quan hệ quốc tế. Đoàn kết để tạo thành sức mạnh tập thể, muôn người như một, vì lợi ích quốc gia, dân tộc; đồng thời góp phần vào sự nghiệp chung của nhân dân thế giới là kiến tạo và bảo vệ hòa bình vì sự phát triển và tiến bộ của nhân loại.

Nền ngoại giao Việt Nam từ trong lịch sử đến hiện đại và trong thực tiễn hiện nay đều thoát lên những đặc trưng này. Nói cách khác, trường phái ngoại giao Việt Nam hiện đại hiện thân cho những đặc trưng và đặc tính của “cây tre Việt Nam”. Những thành tựu của ngoại giao Việt Nam theo trường phái “ngoại giao cây tre” được phản ánh rõ nét qua kết quả đạt được từ “ngoại giao vaccine” trong cuộc chống đại dịch COVID-19; trong những ứng xử giữa những bất ổn và cạnh tranh gay gắt giữa các cường quốc trong khu vực và trên thế giới. Thành tựu của trường phái “ngoại giao cây tre” cho đến nay chính là góp phần giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, tạo môi trường hòa bình và thuận lợi để phục vụ phát triển đất nước; đồng thời có đóng góp tích cực và trách nhiệm vào đảm bảo an ninh, hòa bình, và phát triển trong khu vực và trên thế giới, góp phần tạo cho đất nước ta “có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”.

Để “ngoại giao cây tre” trở thành trường phái đối ngoại riêng của Việt Nam trong thời gian tới và phát huy tối đa hiệu quả thì triết lý này phải được quán triệt trong nhận thức và hành động của từng cán bộ làm công tác đối ngoại và cả nền ngoại giao Việt Nam. Trước hết là nắm rõ đường lối, chủ trương và chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước, từ đó linh hoạt và uyển chuyển trong thực hiện. “Ngoại giao cây tre” Việt Nam là lấy lợi ích quốc gia - dân tộc làm gốc, phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến” trong hành động; độc lập và tự chủ trong tư duy và hành động, kiên định trong mục tiêu. Ngoại giao chính là của dân tộc, do dân tộc và vì dân tộc./. 

 

NHỮNG LUẬN ĐIỆU PHIẾN DIỆN, XUYÊN TẠC

VỀ NGÀY HỘI TÒNG QUÂN BẢO VỆ TỔ QUỐC

THN

Cứ mỗi dịp xuân về, khi các địa phương tổ chức ngày hội tòng quân thì trên không gian mạng lại xuất hiện các thông tin sai trái, bôi nhọ việc tham gia nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ Công an (NVQS, CA), đả kích môi trường quân ngũ.

Đây là luận điệu nhằm bôi nhọ hình ảnh, truyền thống của người chiến sĩ Quân đội và Công an, tạo dư luận xấu, gây tâm lý hoang mang, lo lắng. Từ đó, tác động đến giới trẻ, nhất là những người trong độ tuổi thực hiện NVQS, CA, gieo rắc tâm lý tiêu cực, thoái thác về trách nhiệm, nghĩa vụ của công dân với Tổ quốc.

Những luận điệu xuyên tạc chúng đưa ra các bài viết, status đăng dòng trạng thái của thanh niên thực hiện nghĩa vụ NVQS, CA năm 2024 với những luận điệu quen thuộc như: “Trong khi các nước quan tâm chăm lo đào tạo cho thanh niên lập nghiệp, làm ăn kinh tế thì chỉ có Việt Nam mới bắt ép người dân đi NVQS, CA”; “sao không để thanh niên lập nghiệp, làm giàu chính đáng lại bắt đi nghĩa vụ”; “chỉ con nhà nghèo mới bị bắt đi nghĩa vụ”... Thậm chí có những hình ảnh, video được cắt ghép, dàn dựng để bóp méo sự thật, xuyên tạc về đạo đức, tác phong và hoạt động của cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội, Công an nhằm kích động một số người nhẹ dạ, cả tin, thiếu hiểu biết chia sẻ, lan tỏa trên mạng xã hội, làm nóng vấn đề. Trên mạng xã hội, các trang tin phản động ở nước ngoài và nhiều page được lập nhằm mục đích chia sẻ các bài viết về cách thức, thủ đoạn để trốn tránh NVQS, CA như tìm cách làm sai lệch tình trạng sức khỏe, khai gian thông tin của mình, lợi dụng tiểu xảo để không đủ tiêu chí khi khám sức khỏe và kiểm tra lý lịch…

Đây là những luận điệu phiến diện hòng làm cho thanh niên Việt Nam nói chung và thanh niên nhập ngũ thực hiện nghĩa vụ Quân sự, Công an nói riêng dao động tư tưởng, hoài nghi dẫn đến phai nhạt lý tưởng, trốn tránh thực hiện nghĩa vụ. Không những thế, những người thiếu bản lĩnh khi tiếp nhận thông tin trên sẽ mất niềm tin vào thế hệ trẻ, không tin tưởng vào chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và chủ trương, chính sách của QĐND, CAND.  Từ đó, tạo luồng tư tưởng “tự diễn biến” khiến cho công dân đến tuổi nhập ngũ hoang mang, buông lỏng về trách nhiệm, nghĩa vụ của bản thân với Tổ quốc, làm phụ huynh không muốn cho con em mình thực hiện NVQS,CA. Cùng với luận điệu sai trái trên là mưu đồ hòng gây mất ANCT, TTATXH khi các đối tượng phản động kích động người dân biểu tình, chống phá, kích động các quân nhân đào ngũ, chống đối việc thực hiện nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc./.

                     ÂM MƯU, HOẠT ĐỘNG CỦA BPSOS TRONG LĨNH VỰC                     TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO TẠI VIỆT NAM

THN

Một trong những chiêu bài đang được các thế lực thù địch, tổ chức phản động lưu vong sử dụng là móc nối, liên kết với các tổ chức phi chính phủ quốc tế lập các dự án về dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo nhằm mục đích bôi nhọ, tạo hình ảnh, dư luận xấu để hạ uy tín Đảng, Nhà nước Việt Nam trên trường quốc tế, đồng thời lấy cớ kích động thành phần cực đoan, quá khích ở trong nước phá hoại, gây phức tạp về an ninh, trật tự.

Đây là tổ chức mang danh nghĩa “hoạt động đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam” do Nguyễn Đình Thắng làm chủ tịch, tổ chức này đã thành lập “Ban điều hành” gồm 3 cấp: Hội đồng quản trị, đội ngũ điều hành, quản lý các chi nhánh, phạm vi hoạt động tại Mỹ và một số nước lân cận Việt Nam; móc nối, tuyển mộ nhân viên và các tình nguyện viên ở một số nước. Ban đầu, tổ chức này hoạt động chủ yếu ở lĩnh vực “cứu trợ thuyền viên”, “người tị nạn”, “chống buôn người” ở Việt Nam sang nước khác.

Tuy nhiên, nhiều năm qua, BPSOS đã được sự chống lưng của một số tổ chức, chính khách phương Tây thiếu thiện chí với Việt Nam, biến tổ chức này thành một tổ chức khủng bố, lấn sân sang nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đó có lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo tại Việt Nam. Nguyễn Đình Thắng đã cầm đầu, phân công nhiệm vụ cho các thành viên cốt cán trong tổ chức tiến hành các hội thảo, hội luận trên mạng xã hội, tuyên truyền xuyên tạc về tình hình tự do tôn giáo ở trong nước, thường xuyên phỏng vấn nghị sỹ, quan chức nước ngoài về tự do tôn giáo tại Việt Nam; cử đại biểu tham dự các buổi nghị luận, phiên điều trần của Quốc hội các nước Mỹ, phương Tây. Đặc biệt, tháng 1/2024, khi Mỹ tổ chức Hội nghị thượng đỉnh về tự do tôn giáo quốc tế, BPSOS đã cử đại diện tham dự phát biểu tố cáo Việt Nam “vi phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo”, tiến hành livestream hội nghị; tổ chức hội nghị, hội luận bên lề Hội nghị do Mỹ tổ chức nhằm vận động chính giới phương Tây tiếp tục gây sức ép đối với Việt Nam, gây sức ép yêu cầu Bộ Ngoại giao Mỹ đưa Việt Nam vào danh sách các nước cần đặc biệt quan tâm về tôn giáo (CPC). Từ hoạt động của BPSOS cho thấy:

Thứ nhất, các thế lực thù địch chưa bao giờ từ bỏ mục tiêu can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam, đặc biệt đối với lĩnh vực có tính nhạy cảm như tín ngưỡng, tôn giáo. Thực tế cho thấy, họ luôn lợi dụng con bài tự do tôn giáo để nuôi dưỡng, dung túng cho những tổ chức phản động lưu vong, hỗ trợ những thành phần chống đối trong nước tìm cách tác động, xuyên tạc tình hình tín ngưỡng, tôn giáo tại Việt Nam hòng gây sức ép, hạ uy tín Việt Nam trên trường quốc tế. Họ dựa trên những báo cáo sai lệch để xuyên tạc tình hình thực tế tín ngưỡng, tôn gio trong nước, trực tiếp can thiệp việc xử lý số đối tượng lợi dụng tôn giáo để chống phá ở Việt Nam.

Thứ hai, bản chất của BPSOS là núp bóng danh nghĩa một tổ chức phi chính phủ hoạt động với mục đích “từ thiện, trợ giúp người tị nạn” nhưng bản chất BPSOS cũng là một tổ chức phản động lưu vong luôn tìm cách phá hoại sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc của Việt Nam. Tổ chức BPSOS đã đề ra mục tiêu sẽ lôi kéo, tập hợp lực lượng trong nước hình thành khoảng 1.000 “cộng đồng” (thực chất là các hội, nhóm xã hội dân sự) với đa dạng thành phần (các dân tộc, tôn giáo, công nhân, công chức, trí thức...), tiến hành các hoạt động chống phá Việt Nam nhằm chuyển hóa thể chế chính trị, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Cho đến nay, với “Dự án khảo sát tôn giáo Việt Nam”, BPSOS càng cho thấy quyết tâm chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam thông qua lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo để tập hợp lực lượng từ bên trong với sự hỗ trợ, hà hơi tiếp sức của thế lực thù địch bên ngoài.

Thứ ba, điểm cốt yếu của “Dự án khảo sát tôn giáo Việt Nam” là muốn triển khai rộng rãi bắt buộc tổ chức BPSOS phải tham khảo, khảo sát thông tin từ cá nhân, tổ chức tôn giáo trong nước. BPSOS đã lập ra các tài khoản mạng xã hội, gmail để chức sắc, tín đồ có thể gửi hình ảnh, thông tin, từ đó tập hợp trở thành những “báo cáo” nhào nặn thành “chứng cứ” làm cơ sở cho Bộ Ngoại giao Mỹ sử dụng. Chính vì vậy, cần nhận thức rõ âm mưu, ý đồ của tổ chức BPSOS để người dân trong nước có “đề kháng”, không cung cấp những thông tin sai trái, thiếu căn cứ liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo cho các tổ chức, cá nhân có ý đồ xấu; lên án, phê phán bản chất của BPSOS với những thủ đoạn, ý đồ lợi dụng tôn giáo để chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta

Đoàn kết tín ngưỡng, tôn giáo là truyền thống được các tôn giáo ở nước ta gìn giữ, phát huy, tạo nên sức mạnh trong xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và góp phần bảo vệ giá trị văn hóa của dân tộc. Những âm mưu, hoạt động của BPSOS với cái gọi là “Dự án khảo sát tôn giáo Việt Nam” càng lộ tẩy dã tâm phá hoại khối đại đoàn kết tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam, gây nên những bất ổn chính trị trong nước, tạo cơ hội cho các thế lực thù địch bên ngoài can thiệp./.

 

                                           QUÁN TRIỆT VÀ THỰC HIỆN QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG                                                    VỀ BẢO VỆ TỔ QUỐC “TỪ SỚM, TỪ XA”

                                                                                              Mặt Trời

Quan điểm của Đảng về bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa” là tổng thể các tư tưởng, hành động của Đảng, Nhà nước và Nhân dân diễn ra từ trước, nhằm sớm phát hiện, ngăn chặn, đẩy lùi, triệt tiêu những âm mưu, hành động chống phá chế độ, xâm phạm chủ quyền, lãnh thổ, lợi ích quốc gia - dân tộc, không để Tổ quốc bị động, bất ngờ, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Quan điểm này thể hiện tầm nhìn chiến lược, tính chủ động, sáng tạo của Đảng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; là sự kế thừa bài học, kế sách “giữ nước từ khi nước chưa nguy” của tổ tiên trong lịch sử dựng nước và giữ nước. Hiện nay, cần tiếp tục quán triệt, triển khai thực hiện hiệu quả trong thực tiễn, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, trong đó tập trung vào một số nội dung:

 Một là, chủ động nghiên cứu, phân tích, dự báo chính xác tình hình thế giới, khu vực, trong nước. Đây là nội dung quan trọng hàng đầu, cơ sở khoa học để Đảng, Nhà nước hoạch định đường lối, chính sách quốc phòng, an ninh, đối ngoại, bảo vệ Tổ quốc. Trước bối cảnh thế giới, khu vực diễn biến phức tạp, tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây bất ổn, khó dự báo, thì việc nâng cao năng lực xử lý thông tin, dự báo, tham mưu chiến lược, chủ động nắm chắc tình hình, kịp thời phát hiện, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động là hết sức cần thiết, góp phần giữ vững ổn định chính trị, xã hội, tạo môi trường, hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn, phục vụ có hiệu quả nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và mở rộng quan hệ đối ngoại của đất nước. Quan điểm này, không chỉ thể hiện trí tuệ, tầm nhìn chiến lược, sắc sảo của Đảng trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, mà còn là một trong những đột phá tư duy, nhận thức về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế diễn ra sâu rộng. Theo đó, các cơ quan tham mưu chiến lược Bộ Quốc phòng phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, địa phương, lực lượng liên quan thực hiện đồng bộ các biện pháp nâng cao chất lượng nắm, nghiên cứu, dự báo tình hình chiến lược; tập trung vào những động thái, chuyển dịch các chiến lược an ninh, quốc phòng, đối ngoại,… của các nước lớn; kịp thời phát hiện, đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi và làm thất bại mọi mưu đồ chống phá của các thế lực thù địch cả bên trong và bên ngoài biên giới, lãnh thổ, bảo vệ vững chắc Tổ quốc, tích cực tham gia bảo vệ nền hòa bình khu vực và thế giới.

Hai là, tập trung xây dựng tiềm lực, lực lượng, thế trận quốc phòng vững mạnh. Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: “Tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số lực lượng tiến thẳng lên hiện đại, tạo tiền đề vững chắc phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội, Công an cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại”. Xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu, chất lượng ngày càng cao; xây dựng dân quân tự vệ vững mạnh, rộng khắp có số lượng phù hợp, coi trọng lực lượng dân quân tự vệ biển và dân quân tự vệ các địa bàn trọng điểm. Tổ chức, triển khai đồng bộ, thống nhất việc xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội gắn với xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững mạnh. Thực hiện tốt nội dung này, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, cả hệ thống chính trị cần tiếp tục xây dựng các tiềm lực: chính trị - tinh thần, kinh tế, quân sự, khoa học - công nghệ và đối ngoại vững mạnh, phục vụ đầy đủ, kịp thời nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong thời bình và sẵn sàng huy động cho chiến tranh. Kết hợp phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại với tăng cường quốc phòng, an ninh và giữa quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hóa, xã hội và đối ngoại; xây dựng hệ thống hạ tầng kinh tế, quốc phòng, kỹ thuật,… vững chắc, nâng cao hiệu quả hoạt động các khu kinh tế - quốc phòng, tập trung vào địa bàn chiến lược, trọng điểm về quốc phòng, an ninh, biên giới, biển, đảo. Thường xuyên củng cố, xây dựng và phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân” trong nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân.

Ba là, phát huy sức mạnh tổng hợp để bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”. Quan điểm về phát huy sức mạnh tổng hợp bảo vệ Tổ quốc của Đảng được Đại hội XIII nhấn mạnh: “Phát huy cao nhất sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị kết hợp với sức mạnh thời đại, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế để bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc”. Đây là nét đặc trưng trong truyền thống dựng nước và giữ nước của dân tộc, là quan điểm cơ bản của Đảng và Nhà nước ta, nhằm động viên, quy tụ, phát huy cao độ sức mạnh của các nhân tố chính trị - tinh thần, tư tưởng, văn hóa, quốc phòng, an ninh, kinh tế, đối ngoại; sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân và cả hệ thống chính trị, tạo sức mạnh tổng hợp to lớn để bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong mọi tình huống. Đó còn là sự kết hợp chặt chẽ sức mạnh bên trong với sức mạnh bên ngoài, sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế. Phát huy vai trò của các cơ quan báo chí, truyền thông tuyên truyền sâu rộng, liên tục để nhân dân thế giới và kiều bào Việt Nam ở nước ngoài hiểu rõ, hiểu đúng về đường lối, quan điểm của Việt Nam, từ đó ủng hộ, giúp đỡ, huy động sức mạnh từ bên ngoài để bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”.

Bốn là, có phương thức, kế sách bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”. Đảng ta xác định: “Có kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa. Nỗ lực phấn đấu để ngăn ngừa xung đột. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển”. Sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc phải được chủ động tiến hành, lấy phòng ngừa, ngăn chặn nguy cơ chiến tranh, xung đột là chính; phương thức bảo vệ Tổ quốc là kiên quyết, kiên trì đấu tranh, không chỉ ngăn chặn chiến tranh xâm lược từ bên ngoài mà phải: “phát hiện sớm và xử lý kịp thời những yếu tố bất lợi, nhất là những yếu tố nguy cơ gây đột biến; đẩy mạnh đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch”, không để hình thành các tổ chức chính trị đối lập trong nước, mục tiêu cao nhất là phải bảo vệ vững chắc chủ quyền, lãnh thổ của Tổ quốc, giữ cho được môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Trước hết, cần tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị lực lượng vũ trang và cấp ủy, chính quyền từ Trung ương đến địa phương đối với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc; tập trung hoàn thiện, phát huy hiệu quả hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách về quốc phòng, an ninh. Tiếp tục triển khai thực hiện toàn diện, đồng bộ Chiến lược quốc phòng, Chiến lược quân sự, Chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia, Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng, Chiến lược an ninh mạng quốc gia và các chiến lược quốc phòng, an ninh chuyên ngành. Chủ động nghiên cứu, xây dựng chương trình, kế hoạch, tổ chức quán triệt và triển khai thực hiện nội dung các chiến lược phù hợp với từng cấp, từng ngành, từng địa phương, từng đối tượng, quyết tâm  bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong mọi tình huống.

Năm là, đẩy mạnh công tác đối ngoại, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Tiếp tục phát huy vai trò tiên phong của đối ngoại trong việc tạo lập và giữ vững môi trường hoà bình, ổn định, phát huy tối đa nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước, nâng cao vị thế, uy tín của đất nước”. Lần đầu tiên, Đảng ta cũng nêu rất rõ đối ngoại gồm ba trụ cột: Đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước, đối ngoại Nhân dân. Đây là ba kênh đối ngoại Trung ương - lực lượng nòng cốt đấu tranh ngoại giao, tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế cả về vật chất, tinh thần trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc; nâng cao uy tín, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế trong công cuộc xây dựng, đổi mới đất nước. Đối ngoại quốc phòng là bộ phận quan trọng của đối ngoại quốc gia, Đảng ta xác định: Lấy đối ngoại quốc phòng làm công cụ quan trọng giải quyết tranh chấp, bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia - dân tộc; tạo lợi thế chính trị trong mọi biến động của tình hình, đóng góp cho hòa bình, ổn định của khu vực. Mục tiêu của đối ngoại quốc phòng là, thiết lập và phát triển quan hệ về quốc phòng với tất cả các nước trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, nhằm huy động các nguồn lực bên ngoài vào củng cố quốc phòng, an ninh, xây dựng lực lượng vũ trang, giữ vững môi trường hòa bình, tạo điều kiện thuận lợi cho công cuộc xây dựng, đổi mới đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn quan hệ hợp tác song phương với các đối tác, đặc biệt là đối tác chiến lược, đối tác toàn diện và các đối tác quan trọng khác, tạo thế đan xen lợi ích và tăng độ tin cậy. Chủ động, tích cực tham gia các cơ chế đa phương về quốc phòng, an ninh theo tư duy mới về bảo vệ Tổ quốc và hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên Hợp quốc./.  

                   QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VỀ “CHỦ ĐỘNG NGĂN NGỪA CÁC NGUY 

                                       CƠ CHIẾN TRANH, XUNG ĐỘT TỪ SỚM, TỪ XA”

                                                                                                    Mặt Trời

“Chủ động ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa” là truyền thống của dân tộc, nhằm “giữ nước từ lúc nước chưa nguy”. Tinh thần đó tiếp tục được Đảng kế thừa, vận dụng với nhiều giải pháp chiến lược đồng bộ và toàn diện. Vấn đề này lần đầu tiên được Đảng ta đưa vào Văn kiện chính thức của Đại hội XII: “Có kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa”. Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định tinh thần đó và nhấn mạnh: “Chủ động ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa; phát hiện sớm và xử lý kịp thời những yếu tố bất lợi, nhất là những yếu tố, nguy cơ gây đột biến” và “có kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa”. Qua đó đã khẳng định quyết tâm và chủ trương nhất quán của Đảng là kiên quyết và kiên trì bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa một cách chủ động, nhưng không nhất thiết phải tiến hành chiến tranh, xem đó là “thượng sách” để giữ nước.

Hiện nay, quan điểm này có sự nhấn mạnh tinh thần “chủ động”. Đó là “chủ động ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa”; “phải chuyển mạnh sang việc “chủ động phòng ngừa” là chính; phải “nỗ lực phấn đấu để ngăn ngừa xung đột, chiến tranh và giải quyết các tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình phù hợp với luật pháp quốc tế”; phải “Chủ động chuẩn bị về mọi mặt, sẵn sàng các phương án bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và giữ vững an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội trong mọi tình huống”. Nếu trước đây Đảng nhấn mạnh đến “các nhân tố bên trong có thể gây ra đột biến”, thì nay không loại trừ “nhân tố bên ngoài”, khi nhấn mạnh “nhất là các nhân tố có thể gây đột biến” bao gồm cả “nhân tố bên trong” và “nhân tố bên ngoài”. Điều này cho thấy sự phát triển tư duy lý luận của Đảng về sự chủ động bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong tình hình quốc tế có nhiều biến động, khó dự báo; đất nước đã hội nhập quốc tế sâu, rộng, nên đứng trước không chỉ những vận hội lớn để phát triển, mà sẽ còn phải đương đầu với các thách thức gay gắt, những “nhân tố bên ngoài” có thể gây đột biến, dẫn đến nguy cơ bùng nổ xung đột, chiến tranh.

Khẳng định quan điểm chủ động ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa có ý nghĩa thực tiễn rất quan trọng, gửi đi thông điệp hòa bình, thể hiện khát vọng mong muốn hòa bình của dân tộc Việt Nam, một dân tộc đã phải trải qua các cuộc chiến tranh với nhiều đau thương, mất mát để có được nền độc lập như ngày nay. Dân tộc đó không cần chiến tranh, mà cần một môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Đồng thời, có ý nghĩa chỉ đạo toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, nỗ lực phấn đấu hiện thực hóa chủ trương “giữ cho trong ấm, ngoài yên” để bảo vệ vững chắc Tổ quốc từ sớm, từ xa, từ lúc đất nước còn chưa nguy, bằng những giải pháp đồng bộ, toàn diện:

Thứ nhất, tập trung xây dựng đất nước vững mạnh về mọi mặt, theo tinh thần “kinh tế phải vững, quốc phòng phải mạnh, thực lực phải cường, lòng dân phải yên, chính trị - xã hội ổn định, cả dân tộc là một khối thống nhất”. Đó chính là xây dựng yếu tố nội lực, bên trong đủ khả năng ngăn ngừa, đẩy lùi các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa. Thực hiện yêu cầu đó, phải “phát triển kinh tế - xã hội là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần; bảo đảm quốc phòng, an ninh là trọng yếu, thường xuyên”; phấn đấu thực hiện thắng lợi các mục tiêu đến năm 2025: đưa nước ta trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp; đến năm 2030: là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao và đến năm 2045: trở thành nước phát triển, thu nhập cao, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị thực sự trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; kiên quyết, kiên trì đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí; đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; giữ vững vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc; không ngừng củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc làm chỗ dựa vững chắc cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Thứ hai, thường xuyên chăm lo xây dựng tiềm lực quốc phòng và an ninh đủ mạnh, thế trận quốc phòng và an ninh vững chắc ngay từ thời bình để bảo vệ Tổ quốc trong mọi tình huống. Xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại, phấn đấu từ năm 2030 sẽ xây dựng quân đội hiện đại. Bước đi đó hoàn toàn phù hợp với yêu cầu của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện cuộc cách mạng Công nghiệp lần thứ Tư và phù hợp với tiềm lực kinh tế của đất nước trong giai đoạn mới. Cùng với đó, xây dựng, phát triển nền công nghiệp quốc phòng, công nghiệp an ninh hiện đại, lưỡng dụng, vừa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc vừa góp phần quan trọng phát triển kinh tế - xã hội nhằm tự đảm bảo một phần quan trọng vũ khí, trang bị kỹ thuật cho Quân đội và Công an thực hiện nhiệm vụ. Xây dựng và củng cố vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân; trong đó, coi trọng việc phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân”. Đồng thời, cụ thể hóa và thực hiện có hiệu quả sự kết hợp hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, chiến lược bảo vệ Tổ quốc; trong các lĩnh vực, các vùng, miền, địa bàn chiến lược và trong từng nhiệm vụ, chương trình, kế hoạch. Theo đó, phải kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại với quốc phòng, an ninh và giữa quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hóa, xã hội và đối ngoại trong quá trình xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với nền an ninh nhân dân; chăm lo “xây dựng và củng cố các tuyến phòng thủ biên giới, biển, đảo.

Thứ ba, triển khai đồng bộ, sáng tạo, hiệu quả hoạt động đối ngoại; thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, tăng đối tác, giảm đối tượng, thêm bạn, bớt thù đối với cách mạng Việt Nam. Đây cũng là một phương thức chủ động ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa có hiệu quả. Thực tiễn cho thấy, công tác đối ngoại, hoạt động ngoại giao có vai trò ngày càng lớn trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Thông qua các hoạt động đối ngoại, chúng ta có thể làm cho bạn bè trên thế giới hiểu rõ khát vọng hòa bình của dân tộc ta, hiểu rõ chủ trương, đường lối xây dựng nền quốc phòng toàn dân của nhân dân ta là nền quốc phòng với mục đích tự vệ. Qua đó, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế đối với quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta liên quan đến hoạt động đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, biển, đảo của Tổ quốc. Việc thực hiện tốt công tác đối ngoại sẽ kịp thời tháo gỡ những căng thẳng có nguy cơ dẫn đến xung đột, chiến tranh. Mặt khác, thông qua hoạt động đối ngoại với phương châm bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi, còn giúp chúng ta tạo thế đan cài lợi ích, tăng độ tin cậy với các nước; qua đó, có thể sớm nắm bắt được tình hình liên quan đến quốc phòng, an ninh của đất nước để chủ động dự báo, tham mưu, đề xuất với Đảng, Nhà nước có đối sách và biện pháp xử lý các tình huống một cách phù hợp, hiệu quả. Trong thời gian tới, để chủ động phòng ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa. Đẩy mạnh đối ngoại song phương và nâng tầm đối ngoại đa phương; coi trọng phát triển quan hệ hợp tác, hữu nghị truyền thống với các nước láng giềng; đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn quan hệ hợp tác song phương với các đối tác chiến lược, đối tác toàn diện và các đối tác quan trọng khác. Đồng thời, nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại quốc phòng, an ninh. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hành động can thiệp của các thế lực thù địch vào công việc nội bộ, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh quốc gia và ổn định chính trị đất nước.

Thứ tư, nâng cao năng lực dự báo chiến lược về quốc phòng, an ninh, đối ngoại để tham mưu chính xác cho Đảng, Nhà nước sớm có đối sách chủ động ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa. Việc dự báo chính xác tình hình sẽ góp phần quan trọng để các cơ quan chiến lược tham mưu với Đảng, Nhà nước có các biện pháp giữ thế chủ động chiến lược, hóa giải những nguy cơ bùng nổ thành xung đột, chiến tranh. Đây là một biện pháp cực kỳ quan trọng, nhất là trong bối cảnh tình hình quốc tế hiện nay có nhiều biến động, bất trắc, khó dự báo. Điều đó đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan ngoại giao trong nghiên cứu, nắm chắc âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, các tình huống chiến lược có thể xảy ra để tham mưu chính xác cho Đảng, Nhà nước có đối sách thích hợp, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống./.  

  1.         PHƯƠNG HƯỚNG XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN                                                               TRONG TÌNH HÌNH MỚI

Mặt Trời

Lực lượng vũ trang nhân dân (bao gồm Quân đội nhân dân, Công an nhân dân, Dân quân tự vệ) là lực lượng nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc. Để giữ vững và phát huy vai trò là nòng cốt của lực lượng vũ trang nhân dân trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc. Hiện nay Đảng xác định phương hướng: “Xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. Đến năm 2025, cơ bản xây dựng Quân đội, Công an tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ” thực hiện tốt vai trò nòng cốt trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân. Tập trung xây dựng các cấp ủy, tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên trong quân đội và công an tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và Nhân dân; kiên định mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng, nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong mọi tình huống.

Trên thực tiễn, từ Đại hội VII (năm 1991), Đảng xác định phương hướng xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Quán triệt và thực hiện phương hướng đó, trong công cuộc đổi mới, Quân đội nhân dân, Công an nhân dân Việt Nam đã có sự trưởng thành khá vững chắc, được xây dựng vững mạnh toàn diện theo đúng kế hoạch, lộ trình để từng bước tiến lên hiện đại. Trước sự tác động của cách mạng công nghiệp lần thứ Tư, nhiều nước trong khu vực và trên thế giới tăng cường đầu tư cho quốc phòng, an ninh và những diễn biến mới của tình hình đã tạo áp lực không nhỏ đối với nước ta về tăng cường quốc phòng, an ninh, hiện đại hóa vũ khí trang bị cho Quân đội nhân dân, Công an nhân dân nhằm bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Vì vậy, Đại hội XIII xác định phương hướng nêu trên là đúng đắn, phù hợp với khả năng của nền kinh tế và trình độ khoa học - công nghệ của đất nước; vừa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ an ninh quốc gia cả trước mắt và lâu dài; đồng thời, đáp ứng sự mong mỏi, nguyện vọng chính đáng của cán bộ, chiến sĩ Quân đội, Công an và Nhân dân ta.

Quán triệt và thực hiện Nghị quyết số 05-NQ/TW ngày 17/01/2022 của Bộ Chính trị Về tổ chức quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030 và những năm tiếp theo”; Nghị quyết số 230-NQ/QUTW ngày 02/4/2022 “Về lãnh đạo thực hiện tổ chức quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030 và những năm tiếp theo”. Tập trung thực hiện có hiệu quả đề án điều chỉnh cơ cấu, tổ chức Quân đội nhân dân phù hợp với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, phù hợp với nghệ thuật quân sự và vũ khí trang bị; bảo đảm cơ cấu đồng bộ, hợp lý giữa các thành phần, có lực lượng thường trực hợp lý, lực lượng dự bị động viên hùng hậu; cân đối giữa các quân chủng, binh chủng; tổ chức hợp lý, chất lượng cao. Kiên quyết giảm đầu mối trung gian; phân định rõ vị trí, chức năng của các cơ quan, đơn vị; khắc phục sự chồng chéo về nhiệm vụ. Ưu tiên, bảo đảm đủ quân số cho các đơn vị cơ sở trực tiếp làm nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu ở các địa bàn trọng điểm về quốc phòng, an ninh, tuyến biên giới, biển, đảo. Tập trung xây dựng lực lượng dự bị chiến lược thuộc một số binh chủng. Với lực lượng bộ binh tổ chức theo hướng tăng cường sức mạnh tác chiến và khả năng cơ động cao, sẵn sàng xử lý các tình huống xảy ra. Coi trọng xây dựng, củng cố các lực lượng đặc thù đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ tác chiến trong tình hình mới. Tổ chức quy hoạch, sắp xếp lại hệ thống các học viện, nhà trường quân đội theo hướng rút gọn đầu mối; đổi mới nội dung, chương trình đào tạo, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin; nâng cao chất lượng và kết hợp chặt chẽ giữa huấn luyện với hoạt động thực tiễn chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu. Sắp xếp lại các doanh nghiệp, nhà máy sản xuất, cơ sở sửa chữa quốc phòng và điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ, tổ chức biên chế các đơn vị kinh tế - quốc phòng cho phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ. Bên cạnh đó, tiếp tục thực hiện nghiêm Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” gắn với thực hiện Nghị quyết 847-NQ/QUTW và thực hiện Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh “Bộ đội cụ Hồ” thời kỳ mới bằng những hình thức, biện pháp, cách làm sáng tạo, phù hợp; tạo động lực tinh thần mạnh mẽ trong toàn quân.

Đối với Công an nhân dân phải tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng; tập trung xây dựng lực lượng công an nhân dân vững mạnh toàn diện. Tiếp tục quán triệt và thực hiện nghiêm Nghị quyết số 22-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 15/3/2018 “Về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy Bộ Công an tinh, gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”; bảo đảm “Bộ tinh, tỉnh mạnh, huyện toàn diện, xã bám cơ sở”, gần dân, sát dân, sâu sát cơ sở, tăng cường cho cơ sở, cho lực lượng trực tiếp đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo vệ vững chắc an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội. Tích cực thực hiện phong trào “Công an nhân dân học tập, thực hiện 6 điều Bác Hồ dạy”, phong trào thi đua “vì an ninh Tổ quốc” gắn với Cuộc vận động “Công an nhân dân chấp hành nghiêm điều lệnh, xây dựng nếp sống văn hóa vì nhân dân phục vụ” theo đúng phương châm “chủ động, nêu gương, kỷ cương, trách nhiệm, hiệu quả”, sẵn sàng “vì nước quên thân, vì dân phục vụ”.

Cùng với xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân, Đảng còn nhấn mạnh: “Xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu và dân quân tự vệ vững mạnh, rộng khắp trên các vùng miền, trên biển. Quan tâm xây dựng lực lượng bảo đảm trật tự, an toàn xã hội cơ sở đáp ứng đòi hỏi của nhiệm vụ giữ gìn an ninh, trật tự ở cơ sở. Xây dựng lực lượng dân quân tự vệ, lực lượng dự bị động viên, lực lượng bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội cơ sở là sự cụ thể hóa quan điểm của Đảng về sức mạnh tổng hợp và lực lượng toàn dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; phản ánh sâu sắc tính chất toàn dân, toàn diện của nền quốc phòng toàn dân gắn chặt với nền an ninh nhân dân; đồng thời, thể hiện sự tư duy sáng tạo, bước đột phá của Đảng, đáp ứng yêu cầu khách quan về xây dựng lực lượng, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Đây là cơ sở để xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, thực hiện tốt nhiệm vụ quốc phòng, an ninh là “trọng yếu, thường xuyên” hiện nay./.