CƠ SỞ CỦA ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI “CÂY TRE VIỆT NAM” TRONG TÌNH HÌNH MỚI
Nhân
Trần
Tổng Bí thư Nguyễn Phú
Trọng là người khái quát và đặt tên cho trường phái ngoại giao Việt Nam hiện
đại là “ngoại giao cây tre”. Đây là triết lý ngoại giao của Việt Nam, kim chỉ
nam hành động của người làm đối ngoại và ngoại giao bởi lợi ích quốc gia - dân
tộc là bất biến, còn phương pháp để đạt được và bảo vệ lợi ích đó là vạn biến. Cách
đặt tên cho trường phái ngoại giao Việt Nam hiện đại xuất phát từ một số cơ sở:
Thứ nhất, Tổng Bí thư Nguyễn
Phú Trọng đi sâu phân tích những đặc tính của “cây tre Việt Nam - gốc vững,
thân chắc, cành uyển chuyển”. Cụ thể, đặc trưng đầu tiên là truyền thống
văn hóa và trường phái ngoại giao của người Việt Nam từ khi “nam quốc sơn hà
nam đế cư; tiệt nhiên định phận tại thiên thư”. Trường phái ngoại giao đó chính
là “đem đại nghĩa để thắng hung tàn; lấy trí nhân để thay cường bạo”, luôn lấy
tinh thần khoan dung, hòa hiếu, nhân nghĩa trong ứng xử; mềm dẻo, uyển chuyển,
linh hoạt, cương nhu, biết người, biết mình, biết thời, biết thế trong sách
lược, “trong xưng đế, ngoài xưng vương” để trên hết là “đất nước an toàn là
thượng sách, cốt sao cho dân được an ninh”.
Thứ hai, từ truyền thống quật
cường của dân tộc trong việc giữ vững nền độc lập và chống ngoại xâm. Mặc dù
khoan dung và luôn muốn hòa hiếu, bang giao nhưng nước Nam ta vẫn kiên định và
kiên quyết về nguyên tắc đấu tranh chống giặc ngoại xâm với tinh thần “thà
hy sinh tất cả chứ không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô nệ”.
Thứ ba, từ tư tưởng và phong
cách ngoại giao Hồ Chí Minh trong tổng thể hệ tư tưởng của Người. Tư tưởng và
phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh chính là sự kết tinh giữa truyền thống và văn
hóa của dân tộc, tinh hoa của nhân loại, và thực tiễn hoạt động phong phú của
Người. Điều quan trọng và cốt lõi nhất trong tư tưởng Hồ Chí Minh và được Người
thể hiện bằng việc làm của mình trong suốt toàn bộ cuộc đời “vì nước, vì dân”
chính là “việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm” và “bao nhiêu lợi ích
đều vì dân”. Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, “dân”, “Tổ quốc” và “dân tộc” là một.
Trong hoạt động đối ngoại, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặt và yêu cầu lợi ích
dân tộc là trên hết, “muốn làm gì cũng vì lợi ích của dân tộc mà làm”. Và để
làm được như Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy, cần “dĩ bất biến, ứng vạn biến”. Mặc
dù đề cao lợi ích dân tộc là trên hết, nhưng Người không cực đoan theo đuổi
chủ nghĩa dân tộc vị kỷ, mà Người cho rằng cách mạng Việt Nam gắn liền với cách
mạng thế giới, tinh thần yêu nước và tinh thần quốc tế liên hệ khăng khít với
nhau. Vì lẽ đó, ta vừa ra sức kháng chiến, vừa tham gia phong trào ủng hộ hòa
bình thế giới.
Thứ tư, từ thành quả phát triển
và vị thế quốc tế thực tế của Việt Nam từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam tiến hành
công cuộc đổi mới cho đến nay, trong đó có đóng góp rất lớn của công tác đối
ngoại. Công cuộc đổi mới của Việt Nam đã đưa công tác đối ngoại của đất nước
như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng hình tượng hóa là một bên cánh của con chim,
không thể thiếu cho sự phát triển của Việt Nam. Chính sách hội nhập quốc tế sâu
rộng, toàn diện của Việt Nam gắn sự nghiệp phát triển đất nước với sự phát
triển của khu vực và thế giới. Con thuyền cách mạng Việt Nam phụ thuộc vào
“sóng yên biển lặng” của thế giới, vào bản lĩnh vững vàng, sự kiên định về mục
tiêu và hướng đi của người cầm lái con thuyền đó.
Thứ năm, từ truyền thống đoàn
kết của người Việt Nam tạo nên sức mạnh của dân tộc trong chống ngoại xâm, xây
dựng và phát triển đất nước. Truyền thống này bắt nguồn từ đặc điểm và vị trí
của đất nước, tạo thành cốt cách của con người Việt Nam. Truyền thống đoàn kết
này của người Việt Nam được phát huy ở trong nước và được mở rộng trong quan hệ
quốc tế. Đoàn kết để tạo thành sức mạnh tập thể, muôn người như một, vì lợi ích
quốc gia, dân tộc; đồng thời góp phần vào sự nghiệp chung của nhân dân thế giới
là kiến tạo và bảo vệ hòa bình vì sự phát triển và tiến bộ của nhân loại.
Nền ngoại giao Việt Nam từ
trong lịch sử đến hiện đại và trong thực tiễn hiện nay đều thoát lên những đặc
trưng này. Nói cách khác, trường phái ngoại giao Việt Nam hiện đại hiện thân
cho những đặc trưng và đặc tính của “cây tre Việt Nam”. Những thành tựu của
ngoại giao Việt Nam theo trường phái “ngoại giao cây tre” được phản ánh rõ
nét qua kết quả đạt được từ “ngoại giao vaccine” trong cuộc chống đại dịch
COVID-19; trong những ứng xử giữa những bất ổn và cạnh tranh gay gắt giữa các
cường quốc trong khu vực và trên thế giới. Thành tựu của trường phái “ngoại
giao cây tre” cho đến nay chính là góp phần giữ vững độc lập, chủ quyền, thống
nhất và toàn vẹn lãnh thổ, tạo môi trường hòa bình và thuận lợi để phục vụ phát
triển đất nước; đồng thời có đóng góp tích cực và trách nhiệm vào đảm bảo an
ninh, hòa bình, và phát triển trong khu vực và trên thế giới, góp phần tạo cho
đất nước ta “có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”.
Để “ngoại giao cây tre” trở thành trường phái đối ngoại riêng của Việt Nam trong thời gian tới và phát huy tối đa hiệu quả thì triết lý này phải được quán triệt trong nhận thức và hành động của từng cán bộ làm công tác đối ngoại và cả nền ngoại giao Việt Nam. Trước hết là nắm rõ đường lối, chủ trương và chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước, từ đó linh hoạt và uyển chuyển trong thực hiện. “Ngoại giao cây tre” Việt Nam là lấy lợi ích quốc gia - dân tộc làm gốc, phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến” trong hành động; độc lập và tự chủ trong tư duy và hành động, kiên định trong mục tiêu. Ngoại giao chính là của dân tộc, do dân tộc và vì dân tộc./.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét