|
CHỐNG
SUY THOÁI VÀ “TỰ CHUYỂN HÓA”
|
|
Thực tế
“diễn biến hòa bình” ở nửa sau thế kỷ XX đã gây ra những tổn thất to lớn đối
với CNXH và phong trào độc lập dân tộc ở nhiều nước, nhiều khu vực trên thế
giới, nhất là đối với các nước XHCN thuộc Liên Xô (trước đây) và Đông Âu. Đối
với nước ta, “diễn biến hòa bình” đã và đang là nguy cơ đe dọa độc lập dân
tộc và công cuộc xây dựng CNXH. Nguy cơ này được đề cập đến từ Đại hội Đảng
toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII và tiếp tục được chỉ rõ trong Nghị quyết Đại
hội Đảng toàn quốc lần thứ XI. Một trong những nguy cơ hiện hữu của “diễn
biến hòa bình” từ bên trong mà Đảng ta chỉ rõ là: “Trong nội bộ, những biểu
hiện xa rời mục tiêu của CNXH, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có những diễn
biến phức tạp…”.
“Tự diễn
biến”, “tự chuyển hóa” về bản chất là quá trình suy thoái từ bên trong của
lực lượng cách mạng, một mặt do tác động khách quan từ âm mưu, thủ đoạn “diễn
biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch, mặt khác từ
nguyên nhân chủ quan của một bộ phận thoái hóa trong chủ thể, trong đó nguyên
nhân chủ quan có ý nghĩa quyết định. Do vậy, phòng, chống “tự diễn biến”, “tự
chuyển hóa” thực chất là phòng ngừa, triệt tiêu nguyên nhân chủ quan có ý
nghĩa quyết định đối với sự tồn vong của chế độ XHCN ở nước ta.
“Tình
trạng một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ, đảng viên có chức, có
quyền… suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, phai nhạt lý
tưởng, sa vào chủ nghĩa cơ hội, thực dụng, cá nhân ích kỷ, tham nhũng, lãng phí,
tùy tiện, vô nguyên tắc…” - như Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) chỉ ra, là
những biểu hiện cụ thể của một bộ phận thoái hóa, cũng là những biểu hiện cụ
thể của nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trong. Do vậy, phải
tiến hành đồng thời đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” và phòng, chống “tự
diễn biến”, “tự chuyển hóa”, trong đó phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển
hóa” trong nội bộ có vai trò quyết định thắng lợi của cuộc đấu tranh chống
“diễn biến hòa bình”, bảo đảm sự tồn vong của chế độ XHCN ở nước ta.
Phòng,
chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” cần được tiến hành chủ động, kiên trì,
đồng bộ trên các lĩnh vực: Chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an
ninh, đối ngoại… Trong bài viết này, chúng tôi xin đề cập, làm rõ một số nội
dung về phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên lĩnh vực chính trị,
kinh tế. Trong phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên lĩnh vực
chính trị, việc đấu tranh bảo vệ, giữ vững nền tảng tư tưởng của Đảng là điều
kiện tiên quyết. Toàn Đảng cần kiên trì tiến hành cuộc đấu tranh phê phán hệ
tư tưởng tư sản, tư tưởng xã hội - dân chủ, chủ nghĩa tự do mới, chủ nghĩa
thực dụng mới, tư tưởng dân chủ tư sản...; kiên quyết bảo vệ Cương lĩnh,
đường lối chính trị của Đảng, đặc biệt là mục tiêu, lý tưởng, kiên định con
đường chúng ta đã lựa chọn, phát triển đường lối đổi mới theo định hướng
XHCN. Đấu tranh bảo vệ nguyên tắc tổ chức và hoạt động, mối quan hệ giữa các
thiết chế quyền lực của nhà nước XHCN; có biện pháp thiết thực củng cố và
phát triển mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước với các thành tố trong hệ thống
chính trị và nhân dân. Phê phán, bác bỏ các quan điểm tư tưởng và ý đồ thực
hiện chủ nghĩa đa nguyên chính trị, chế độ đa đảng đối lập, cơ chế “tam quyền
phân lập” của nhà nước tư sản ở Việt Nam. Phát hiện kịp thời “ngọn cờ” đối
lập do chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch tạo dựng, những phần tử cơ
hội, phản bội trong bộ máy lãnh đạo Đảng, Nhà nước, LLVT; xử lý kịp thời,
nghiêm minh theo pháp luật các hoạt động chống đối, tập hợp lực lượng đối
lập...
Một yếu
tố quan trọng là nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý điều
hành của bộ máy chính quyền các cấp; xử lý đúng đắn các mâu thuẫn, những lợi
ích thiết thân của các tầng lớp nhân dân, không để tích tụ tâm lý bất bình
trong xã hội, trong tâm trạng bức xúc của quần chúng đối với các cơ quan công
quyền. Khi xuất hiện những “điểm nóng” mâu thuẫn, xung đột xã hội cần giải
quyết, xử lý đúng đắn, kịp thời, vừa “đạt lý” (trên cơ sở pháp luật) vừa
“thấu tình” (hài hòa theo văn hóa, truyền thống, đạo lý dân tộc).
Trong nội
bộ hệ thống chính trị XHCN, cùng với đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng, phải
tăng cường đấu tranh chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối
sống, phai nhạt lý tưởng CNXH, thực dụng, cá nhân ích kỷ, tham nhũng, lãng
phí, tùy tiện, vô nguyên tắc…; chặn đứng nguy cơ thoái hóa về chính trị, tư
tưởng. Trên lĩnh vực kinh tế: Xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, vững
mạnh, “dân giàu, nước mạnh” là nền tảng vật chất quyết định thắng lợi của sự
nghiệp xây dựng CNXH ở Việt
Phòng,
chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên lĩnh vực kinh tế, cần giải quyết
tốt mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và giữ vững phẩm chất đạo đức, tư
cách của người cán bộ cách mạng, nhất là đối với cán bộ có chức, có quyền,
chủ trì lãnh đạo, quản lý kinh tế, không để chủ nghĩa thực dụng, “chủ nghĩa đồng
tiền” chi phối các quan hệ xã hội, hoặc để xảy ra tình trạng tham ô, tham
nhũng, thất thoát lớn tài sản của tập thể, của Nhà nước…liên quan đến trách
nhiệm, phẩm chất, năng lực của cán bộ chủ trì.
BIỂN RỘNG
|
Chủ Nhật, 26 tháng 5, 2019
TRUNG QUỐC CẦN CHẤM DỨT NGAY HÀNH ĐỘNG
XÂM PHẠM CHỦ QUYỀN BIỂN ĐẢO VIỆT
NAM
Trong thời gian vừa qua, các đội tàu đánh bắt nghêu của Trung Quốc hoạt động ở Biển
Đông được xem là có những tác động phá hoại nghiêm trọng môi trường biển. Cụ
thể là vùng biển gần khu vực đá Bông Bay, đảo Bạch Quy thuộc quần đảo Hoàng Sa
của Việt Nam. Đáng chú ý, từ ngày 22 đến ngày 26/4/2019 Trung Quốc đã tổ
chức đua thuyền buồm cúp Ty Nam tại khu vực đảo Duy
Mộng thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam.
Những sự việc trên
đây của Trung Quốc đã đã xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền Việt Nam đối với quần
đảo Hoàng Sa. Đó là hành động trái với Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản
chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển giữa Việt Nam và Trung Quốc, tinh thần
Tuyên bố về Ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC); gây phức tạp tình hình và
không có lợi cho việc duy trì môi trường hòa bình, ổn định và hợp tác ở Biển
Đông.
Việc khai thác
các nguồn tài nguyên ở Biển Đông cần tuân thủ các quy định của luật pháp quốc
tế như đã được nêu trong công ước LHQ về luật Biển (UNCLOS) 1982, đặc biệt là tôn
trọng chủ quyền, quyền chủ quyền của các quốc gia ven biển, tuân thủ các quy
định về bảo vệ môi trường sinh thái biển.
Quan điểm của
Việt Nam về chủ quyền và các vấn đề liên quan khác ở Biển Đông là rõ ràng, nhất
quán và đã được khẳng định nhiều lần. "Việt Nam có đầy đủ cơ sở pháp lý và
bằng chứng lịch sử khẳng định chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường
Sa theo quy định của luật pháp quốc tế”. Do vậy Trung Quốc cần dừng ngay các
hoạt động xâm phạm và tôn trọng chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo
Hoàng Sa và Trường Sa, không tái diễn hoạt động nói trên, không có hoạt động
gia tăng căng thẳng, làm phức tạp tình hình ở khu vực.
|
|
ĐỨC BÁCH
|
Thứ Ba, 21 tháng 5, 2019
LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC
65 năm đã trôi qua, với
chừng đó thời gian không phải là quá ngắn để cho mỗi chúng ta có thể chiêm
nghiệm về những thành quả đã đạt được từ chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy
năm châu, chấn động địa cầu” (07-5-1954). Cũng chừng đó thời gian, bản
thân mỗi người dân Việt đã ý thức được tinh thần dân tộc, lòng quả cảm và tự
hào về truyền thống, nét đẹp trong tinh thần của người dân Việt. Khi nghĩ về nó
thật hạnh phúc và tự hào biết bao! Chúng ta kiêu hãnh, tự hào vì chiến thắng
Điện Biên Phủ - một trận chiến được xếp vào trong 10 trận chiến lớn nhất của
lịch sử thế giới. Chúng ta tự hào bởi trận đánh này khẳng định cho cả thế
giới biết được những sức mạnh, sự linh hoạt, sáng tạo lên đến tầm nghệ thuật
của quân và dân Việt Nam.
Ấy vậy mà, vẫn còn đó một bộ
phận những con người mang trong mình dòng máu Việt nhưng lại có những lời nói,
việc làm không thể chấp nhận được. Với nhiều luận điệu xảo trá, xuyên tạc mang
đậm tính chủ quan phiến diện, chúng đã chà đạp lên lịch sử vinh quang của dân
tộc, tung hô và cổ súy cho những luận điệu phản động. Bất chấp lịch
sử, chúng cho rằng “Chiến dịch Điện Biên Phủ là do Đảng Cộng sản
Trung Quốc tiến hành”, hòng xóa sạch công lao của Đảng Cộng sản Việt
Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong chiến dịch Điện
Biên Phủ lịch sử.
Những nhà nghiên cứu, nhà báo, nhà sử học,
nhà văn… trên khắp thế giới đều nhìn nhận thành quả Điện Biên Phủ là
do người Việt Nam tạo ra. Nguyên nhân cơ bản quyết định thắng lợi là
do sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, do sự hy sinh
của toàn dân tộc vì độc lập, tự do của Tổ quốc… dưới sự lãnh đạo
của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nói đến Điện Biên Phủ là
nói đến nhân dân Việt Nam anh hùng. Trong Chiến thắng đó, chúng ta trân
trọng cảm ơn sự giúp đỡ tình nghĩa của các chuyên gia Trung Quốc và
nhân dân yêu chuộng hòa bình thế giới. Nhưng đó không phải là nhân tố quyết
định. Nếu những kẻ cố tình quên sự thật lịch sử để đưa ra những luận điệu
ngu xuẩn thì hãy nghe chính những người Pháp dũng cảm thừa nhận thất
bại tại Điện Biên Phủ như sau:
Việt Nam có đường lối chính trị và quân sự đúng đắn, có Lãnh tụ vĩ đại
lãnh đạo, có Tổng Chỉ huy tài giỏi. Trong cuốn sách “Thời
điểm của sự thật”, tướng Na-va, Tổng Chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp tại
Việt Nam, đã thừa nhận sự thất bại của Pháp ở Điện Biên Phủ
là bởi đối thủ (Việt Minh) có một đường lối đấu tranh giải
phóng dân tộc thống nhất, chặt chẽ và xuyên suốt lãnh đạo cuộc kháng chiến: “Ở
Việt Minh, không có những chủ trương chính trị và những chủ trương quân sự riêng
rẽ mà là những chủ trương chính trị - quân sự thống nhất. Những chủ trương đó
được quyết định bởi một ủy ban trung ương mà người tổng chỉ huy đồng
thời là bộ trưởng quốc phòng là một ủy viên. Kế hoạch quân sự được
đặt trong một tổng thể mà tất cả mọi việc đều hướng vào nhiệm vụ bảo đảm cho sự
thành công”. Trong cuốn sách “Cuộc
chiến tranh mười nghìn ngày”, tác giả Michael Maclear đã phân tích sâu
sắc và thuyết phục, đưa ra bức tranh toàn cảnh khá chân thực, trong đó nêu ra
một trong những nguyên nhân thắng lợi của Việt Nam chống thực dân Pháp xâm
lược, đó là Việt Nam có Tổng Chỉ huy rất tài giỏi. Michael Maclear viết: “Đối
với ông Giáp, cảm giác khi gặp thì người ta thấy ông là một con người giống
Na-pô-lê-ông về dáng vóc và kiến thức. Ông ta là một chiến lược gia có tài, với
chủ trương chạy đua thời gian, trước mắt phải diệt tốt, đợi thời cơ sẽ diệt xe…
Ông thua nhiều trận nhưng ông ta lại chẳng bao giờ thua một cuộc chiến tranh
nào”. Điều đó cũng được tướng Na-va viết trong cuốn sách “Đông Dương hấp hối”, thể
hiện rõ sự khâm phục đối với “đối thủ đáng kính trọng”, “một lãnh tụ chính trị
duy nhất: Hồ Chí Minh và một lãnh tụ quân sự duy nhất - Giáp…”. Tướng De
Castries: “Tôi thừa nhận Tướng Giáp rất sành sỏi binh nghiệp và
khôn ngoan. Tướng Giáp không chỉ tài giỏi hơn tôi, mà còn hơn cả Tướng Cogny và
Tướng Navarre. Tôi hân hạnh được làm đối thủ của Tướng Giáp, được làm kẻ chiến
bại trực tiếp của một người tài giỏi như Tướng Giáp. Tôi ngưỡng mộ và kính
phục Ông”!
Đó còn là ý chí “quyết chiến, quyết thắng” của quân và dân Việt
Nam được tác giả
Gi-uyn Roa viết trong cuốn sách “Trận
Điện Biên Phủ”, xuất bản năm 1963 tại Pa-ri (Pháp); trong đó có
đoạn: “Bất chấp hàng tấn bom đạn đã được ném xuống đường giao thông, con đường
bảo đảm cho quân lính đối phương tiếp nhận được vũ khí, trang bị ấy không bao
giờ bị cắt đứt. Đừng nghĩ là sự viện trợ của Trung Quốc đã đánh bại tướng Na-va
mà chính là những chiếc xe đạp Pơ-giô của Pháp thồ được từ 200 đến 300
ki-lô-gam, điều khiển bởi những con người ăn không đủ no và ngủ ngay trên những
tấm ni lông trải trên mặt đất. Tóm lại, tướng Na-va không bị đánh bại bởi các
phương tiện chiến tranh mà bởi trước hết là sự thông minh và ý chí quyết thắng
của đối phương”. Trong cuốn sách “Đông Dương đỏ”, xuất bản tại Pa-ri, năm 1975, tướng
Xa-lăng của Pháp thừa nhận: Quân đội nhân dân Việt Nam đã “trở thành bộ máy
chiến tranh không gì sánh kịp”. Sức mạnh cơ bản của “bộ máy chiến tranh” đó
không phải là sức mạnh của đội quân nhà nghề, không phải nằm ở vũ khí, trang
bị, mà là ở chính trị - tinh thần, ở ý chí quyết tâm bảo vệ sự sinh tồn của dân
tộc trước thế lực ngoại xâm.
Như vậy, sự nhìn nhận, đánh
giá trên càng làm sáng tỏ sự lãnh đạo tài tình của Đảng ta, của
Chủ tịch Hồ Chí Minh và tài thao lược của Đại tướng Võ Nguyên Giáp; đồng thời, tôn
lên ý nghĩa to lớn, giá trị trường tồn của chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ.
Ngày nay, cụm từ “Điện Biên Phủ - Hồ Chí Minh” được coi như một biểu tượng của
sự khát vọng độc lập, tự do của nhân loại trong đấu tranh để xóa bỏ mọi sự xâm
lược, nô dịch, áp bức, bất công. Vì thế mọi luận điệu xuyên tạc Chiến
thắng lịch sử Điện Biên Phủ là do nước ngoài không phải của con người Việt
Nam cần phải lên án và bác bỏ./.
HN
NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP PHÒNG CHỐNG "DIỄN BIẾN HÒA BÌNH "TRÊN LĨNH VỰC TƯ TƯỞNG VĂN HÓA THỜI GIAN TỚI
(1) Tổ chức nghiên cứu tổng hợp, xử lý thông tin, tuyên
truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm phòng, chống “diễn biến hòa
bình” trong cán bộ, chiến sĩ và nhân dân
-
Tổ chức nghiên cứu, đánh giá, dự báo âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực
thù địch
-
Tổ chức tuyên truyền, giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ và các tầng lớp nhân dân
-
Tổ chức hoạt động báo cáo viên, tuyên truyền miệng về nhiệm vụ phòng, chống
“DBHB” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hoá trong Quân đội
-
Tổ chức các cuộc hội thảo, tọa đàm, trao đổi
kinh nghiệm về phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng,
văn hóa trong Quân đội
(2) Tổ chức
đấu tranh công khai trên báo chí, các phương tiện thông tin đại chúng,
internet, mạng xã hội
- Các cơ quan báo chí, truyền hình Quân đội
+
Bám sát nhiệm vụ chính trị, tình hình thực tiễn... đa dạng hoá các hình thức
tuyên truyền;
+
Tiếp tục duy trì, phát huy có hiệu quả hoạt động các chuyên trang, chuyên mục
về phòng, chống “diễn biến hòa bình”, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của Cơ quan.
+
Cơ quan báo chí, tờ tin các cơ quan, đơn vị trực thuộc Quân ủy Trung ương – Bộ
Quốc phòng mở chuyên mục về phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư
tưởng, văn hóa; tăng số lượng bài
viết theo yêu cầu, nhiệm vụ.
+
Hằng tuần, Ban biên tập cơ quan báo chí, lựa
chọn, sử dụng, đăng phát lại, biên tập, chuyển thể nội dung một số bài viết
chuyên sâu trong các chuyên trang, chuyên mục về phòng, chống “diễn biến hòa
bình”, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” cung
cấp cho cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo của QUTW
bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng làm
nội dung định hướng tuyên truyền, đấu tranh trên các phương tiện truyền
thông, Internet, mạng xã hội.
-
Tổ chức các hội nghị, tập huấn, bồi dưỡng lực lượng nòng cốt, chuyên sâu viết
đấu tranh bằng nhiều hình thức (hằng năm tổ
chức tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ viết bài, tuyên truyền đấu tranh cho đội ngũ phóng viên, biên tập viên,
cộng tác viên tích cực, học viên các học viện, nhà trường quân đội).
(3) Quản lý chặt chẽ tình hình chính trị nội bộ; kịp thời nắm, đánh giá tình
hình, định hướng tư tưởng, dư luận trong cán bộ, chiến sĩ và nhân dân
- Các cơ quan, đơn vị:
+ Rà soát,
bổ sung, sửa đổi, xây dựng, ban hành các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý
chặt chẽ tình hình chính trị nội bộ, các biểu hiện "tự diễn biến",
"tự chuyển hóa" trong nội bộ cơ quan, đơn vị; xử lý kịp thời, nghiêm
minh các biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong
nội Quân đội; chủ động nắm, quản lý, đánh giá, dự báo tình hình tư tưởng, định
hướng cho bộ đội, không để bị động, bất ngờ.
+ Tăng cường kiểm soát, quản lý,
trao đổi, cung cấp thông tin và nắm hoạt động của cán bộ, chiến sĩ quân đội
trên báo chí, truyền thông, Internet, mạng xã hội; không để sơ hở, bị các thế
lực thù địch lợi dụng xuyên tạc, chống phá quân đội.
+ Xây dựng Quy chế phối hợp của
các cơ quan chức năng, cơ quan báo chí, đơn vị kỹ thuật trong thực hiện quy
trình xử lý các thông tin xấu độc trên báo chí, truyền thông, Internet, mạng xã
hội liên quan đến quân đội.
+ Phát huy
hiệu quả kênh thông tin báo cáo của các cơ quan, đơn vị, địa bàn và các phần mềm kỹ thuật
phục vụ hoạt động của Lực lượng 47 trong nắm tình hình tư tưởng, dư luận xã hội
và hoạt động của cán bộ, chiến sĩ trên báo chí, truyền thông, Internet, mạng xã
hội, để có biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo, định hướng kịp thời.
(4) Sử dụng các giải pháp kỹ thuật trong phòng, chống “diễn
biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa
- Đẩy mạnh
việc nghiên cứu, ứng dụng công nghệ
thông tin, trí tuệ nhân tạo trong phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh
vực tư tưởng, văn hóa và đấu tranh chống quan điểm sai trái trên Internet, mạng
xã hội.
- Hoàn thiện, đưa vào khai thác,
sử dụng các phần mềm quản lý kết quả đấu tranh và hỗ trợ hoạt động đấu tranh
trên Internet, mạng xã hội thực hiện các chiến dịch truyền thông chủ động4.
(5) Phát huy sức mạnh tổng hợp, chỉ đạo đồng bộ, thống nhất; xây dựng, hoàn
thiện quy chế, quy định; phối hợp chặt chẽ với các tổ chức, các lực lượng trong
phòng,
chống "diễn biến hòa bình" trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa
- Phát huy sức mạnh tổng hợp, chỉ đạo đồng bộ, thống
nhất; xây dựng, hoàn thiện quy chế, quy định; phối hợp chặt chẽ các lực lượng
trong và ngoài Quân đội.
- Đưa nội
dung phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư
tưởng, văn hóa và đấu tranh trên Internet, mạng xã hội là
một nội dung trọng tâm trong chương trình phối hợp của Tổ công tác Bộ Quốc
phòng trong phối hợp thực hiện nhiệm vụ quân sự,
quốc phòng và phát triển kinh tế - xã hội với thành
phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh; chương trình phối hợp giữa
Tổng cục Chính trị với Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Hội đồng lý luận Trung
ương trong
tuyên truyền nhiệm vụ quân sự, quốc phòng.
- Cơ quan Thường trực Ban
Chỉ đạo bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng các cơ quan, đơn
vị, phối hợp với cơ quan tuyên giáo, công an, đoàn thanh niên và một số tổ chức
chính trị xã - hội khác trên địa bàn xây dựng chương trình (quy chế) phối hợp,
trao đổi kinh nghiệm phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng,
văn hóa và đấu tranh chống quan điểm sai trái trên Internet, mạng xã hội, thực
hiện chế độ cung cấp, trao đổi thông tin hằng tuần, chế độ hội nghị hằng tháng.
(6) Tăng cường
hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Ban Chỉ đạo bảo vệ nền
tảng tư tưởng của Đảng, cơ quan giúp việc cấp ủy
đảng các cấp
a) Công tác
lãnh đạo, chỉ đạo kiện toàn tổ chức và hoạt động của Ban Chỉ đạo
- Rà soát, kiện toàn, đổi tên Ban
chỉ đạo 94 QUTW thành Ban Chỉ đạo của QUTW bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
- Đổi tên Ban Chỉ đạo 94 các cơ
quan, đơn vị trực thuộc QUTW thành Ban Chỉ đạo của (quân khu, quân đoàn, quân
chủng, binh chủng…) về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
b) Sử dụng cơ quan giúp việc Ban
Chỉ đạo bảo
vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội
- Ban Chỉ
đạo bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng cấp trực
thuộc QUTW đến cấp sư đoàn; đảng ủy quân sự, đảng ủy biên phòng tỉnh, thành phố
trực thuộc Trung ương sử dụng cơ quan Tuyên huấn làm cơ quan Thường trực; sử
dụng cán bộ các ngành tuyên huấn, bảo vệ an ninh, dân vận, quân báo, trinh sát,
công nghệ thông tin tham gia tổ thư ký giúp việc cơ quan Thường trực và Ban Chỉ
đạo.
c) Thành lập
bộ phận chuyên trách, kiêm nhiệm thực hiện nhiệm vụ bảo vệ nền
tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch
trong Quân đội.
d) Bảo đảm trang bị, dịch vụ
(7) Kiện toàn, nâng cao chất lượng hoạt động của lực lượng đấu tranh chống
quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị trên Internet, mạng xã hội
-
Tiếp tục thực hiện chủ trương tổ chức Lượng lượng 47 kiêm nhiệm ở các loại hình
cơ quan, đơn vị (theo Chỉ thị số 47 ngày 08/01/2016 của Chủ nhiệm TCCT).
- Kiện toàn, rà soát, điều chỉnh lực lượng phù
hợp; sửa đổi, bổ sung Quy chế hoạt động, hoàn thiện các văn bản lãnh đạo, chỉ
đạo, cơ chế, chính sách động viên, khuyến khích, bảo vệ người tham gia đấu
tranh bảo đảm đồng bộ, hiệu quả.
-
Đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền, đấu tranh trên Internet, mạng xã hội.
-
Xây dựng cơ chế, chính sách, vận dụng các hình thức thi, tuyên truyền nhằm
khuyến khích, động viên cán bộ, chiến sĩ tích cực viết tin, bài, quay video clip,
chụp ảnh, sáng tác, biên tập, tuyển chọn nhiều tin bài tích cực ca ngợi bản chất truyền
thống tốt đẹp và hoạt động của cán bộ, chiến sĩ quân đội.
- Hằng năm và theo yêu cầu nhiệm vụ tổ chức tập
huấn, bồi dưỡng kỹ năng nghiệp vụ phòng, chống “diễn biến hòa bình”
trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa cho cán bộ cơ quan chức năng; bộ
phận chuyên sâu; tổ thư ký giúp việc Ban Chỉ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng
từ cấp Quân ủy Trung ương - Bộ Quốc phòng đến cấp trên cơ sở.
- Triển khai đánh giá hiệu quả thử
nghiệm “Ứng dụng hệ thống truyền thông chủ động phục vụ nhiệm vụ đấu tranh trên không
gian mạng trong quân đội”, đề xuất xây dựng thành dự án để triển khai thực hiện
phục vụ hoạt động của Lực lượng 47.
4 (1) Phần mềm quản lý danh tiếng (Reputa): kiểm soát thông tin tích cực,
tiêu cực liên quan đến quân đội; đánh giá xu hướng dư luận trên báo chí, mạng
xã hội; chia sẻ, nhân rộng “ngân hàng comment” bằng trí tuệ nhân tạo (Rô bốt ảo); (2) Phần mềm quản lý kết quả đấu tranh trên báo điện tử, blog các cơ quan, đơn
vị; (3) Phần mềm quản lý hành vi người dùng Facebook...
DÒNG MÁU
LẠC HỒNG TẠO NÊN NHÂN CÁCH
BÀI HỌC CHO
TƯƠNG LAI
Một trong 9 biểu hiện “tự diễn
biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ mà Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII chỉ ra
là: “Hạ thấp, phủ nhận những thành quả cách mạng; thổi phồng khuyết điểm của
Đảng, Nhà nước. Xuyên tạc lịch sử, bịa đặt, vu cáo các lãnh tụ tiền bối và lãnh
đạo Đảng, Nhà nước”. Mỗi cán bộ, đảng viên và người dân cần hết sức tỉnh táo để
phát hiện, ngăn chặn.
Không chỉ cán bộ, đảng viên mà mỗi
người dân yêu nước Việt Nam cũng cần phải có tiếng nói đúng với lương tâm và lẽ
phải. Quá khứ không chỉ là lịch sử mà còn là hành trang, là sức mạnh tinh thần,
là dòng máu Lạc Hồng tạo nên nhân cách của mỗi người dân đất Việt. Nếu quên tổ
tiên, quên công lao của thế hệ đi trước, quên những hy sinh cao cả vì độc lập,
tự do của dân tộc thì không thể là người Việt Nam chân chính. Phẫn nộ với ý
kiến cho rằng “không cần chiến tranh sau này đất nước vẫn giàu mạnh”, nhà sử
học người Mỹ gốc Việt Nguyễn Mạnh Quang đã viết: “Trừ phi không biết hoặc thuộc
loại phản quốc, khi có một nước khác đến ngồi trên đầu làm chủ, không có một
người dân tử tế nào bằng lòng chờ cho có ngày bọn thực dân tự động trả lại cơ
đồ ông cha mình cả. Nếu theo luận điệu ươn hèn như trên, thì những công lao và
sự hy sinh của hàng triệu anh hùng nghĩa sĩ trong các lực lượng nghĩa quân
kháng chiến của nhân dân ta trong đại cuộc đánh đuổi giặc Pháp ngoại xâm từ năm
1858 đến 1954 đều là vô ích hay sao! Và hàng triệu anh hùng nghĩa sĩ đã ngã
xuống trong cuộc chiến 1954-1975 để đòi lại miền Nam trong tay Mỹ, đem lại
thống nhất cho đất nước cũng là vô ích hay sao! Ðưa ra luận điệu này là tỏ ra
vô ơn với hàng triệu anh hùng nghĩa sĩ đã ngã xuống cho Tổ quốc Việt Nam được
trường tồn”.
Trên thực tế, đã có rất nhiều tiếng
nói từ những người ở phía bên kia chiến tuyến sau này thừa nhận sai lầm của họ
và ghi nhận chiến thắng vĩ đại của cả dân tộc cũng như chiến công của những
người cộng sản. Tướng Nguyễn Hữu Có, phó thủ tướng kiêm tổng trưởng quốc
phòng Việt Nam cộng hòa, sau này trả lời phóng vấn Báo Pháp luật TP Hồ Chí
Minh, nói: “Chiến thắng 30-4 rất vĩ đại, là chiến thắng của sức mạnh toàn
dân tộc Việt Nam… Không còn chiến tranh, không còn bom rơi đạn nổ trên quê
hương mình là điều lớn nhất mà việc kết thúc chiến tranh mang lại”. Cựu thủ
tướng Việt Nam cộng hòa Nguyễn Cao Kỳ nhận xét về việc gọi ngày 30-4 là
“quốc hận” và đòi “phục quốc”: “Thống nhất xứ sở là nhiệm vụ lịch sử của mỗi
một người con Việt Nam nhưng chúng tôi đã không làm được. Những người anh em
phía bên kia đã làm được, phải chấp nhận đó là lịch sử và đất nước đã được
thống nhất rồi. Vậy mà còn quay ra nói phục quốc? Nước Việt Nam có mất cho Tây…
đâu mà phục quốc?”.
Ngay cả những người Mỹ đương đại
cũng luôn nhìn lịch sử với sự tôn trọng để rút ra bài học cho tương lai. Trong
bài thuyết trình “Cuộc chiến đã qua đi: Hồi ức và bài học lịch sử” trình
bày tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP Hồ Chí Minh năm 2018,
Giáo sư D.G.Faust, Hiệu trưởng Trường Đại học Harvard nói: “Lịch sử soi
rọi những sự mù quáng và tàn bạo đã làm nên chiến tranh. Nó giúp chúng ta hình
dung và đấu tranh cho hòa bình”.
Chúng ta cũng có thể tham khảo được
nhiều bài học từ nước Nga. Sau khi Liên Xô tan rã, đã xuất hiện nhiều tiếng nói
phủ nhận những thành tựu thời Xô viết, xét lại Cách mạng Tháng Mười, coi đó như
một cuộc đảo chính man rợ, coi chế độ Xô viết như chủ nghĩa phát xít… Thế nhưng
sau đó, chính quyền từ thời Tổng thống Nga Putin đã nhanh chóng bác bỏ những
quan điểm sai trái trên, tiếp tục đề cao các giá trị truyền thống tốt đẹp thời
Xô viết, coi đó là niềm tự hào chung để cố kết dân tộc Nga, tăng thêm sức mạnh.
Phê phán những quan điểm sai trái, một bài báo từ hãng thông
tấn Sputnik của Nga khẳng định: Không có chính quyền dân chủ nào được
lập nên trên đầu mũi súng và không có nền dân chủ nào lại xúi giục những người
anh em trong cùng một đất nước bắn giết lẫn nhau, dối trá và phỉ báng lịch sử
của mình.
Sự dối trá, hèn hạ phỉ báng lịch sử,
khơi gợi hận thù để lặp lại sai lầm, kích động mâu thuẫn… không chỉ là hành
động vô luân, vô ơn với tiền nhân, với người hy sinh vì hòa bình, độc lập,
thống nhất mà còn là sự phá hoại tương lai của dân tộc. Chúng ta phải kiên
quyết lên án, xóa bỏ những tư tưởng ấy để “mở nền thái bình muôn thuở”, “dập
tắt chiến tranh muôn đời”.
TV
TỰ DO BÁO CHÍ Ở VIỆT NAM
-SỰ THẬT KHÔNG THỂ PHỦ
NHẬN
Ngày 04/5/2019 trên VOA
Tiếng Việt và một số trang mạng chống cộng cực đoan có đăng bài phóng vấn
Nguyễn Văn Hải (có biệt danh là Hải “điếu cày”) - một kẻ vi phạm pháp luật Việt
Nam và đã bị luật pháp Việt Nam xử lý theo quy định, sau khi được hưởng lượng
khoan hồng của Nhà nước Việt Nam, Hải “điều cày” đã “vinh dự” được quan thày
tạo điều kiện sang định cư tại xứ sở “Cờ hoa tự do” - Mỹ. Tại bài phỏng vấn
này, VOA và Hải “điếu cày” cho rằng: ở Việt Nam không có tự do báo chí và Nhà
nước Việt Nam “tìm mọi cách áp đặt
những rào cản, luật lệ để khống chế truyền thông tự do”(!).
Cần nói ngay rằng, tự do
báo chí ở Việt Nam là một hiện thực khách quan không thể phủ nhận. Nhà nước
Việt Nam đảm bảo cho các công dân thực hành tốt quyền tự do báo chí theo quy
định của luật pháp quốc tế và pháp luật Việt Nam. Ai cũng biết rằng tự do báo
chí là quyền cơ bản của con người được luật pháp công nhận. Chất lượng bảo đảm
quyền tự do báo chí là thước đo thực hành dân chủ, là “gương mặt” thể hiện
trình độ khoa học, pháp luật và văn hóa của mỗi quốc gia. Thực chất tự do báo
chí là tự do thực hành chân lý và tuân thủ pháp luật. Mọi hành động lợi dụng tự
do báo chí vi phạm quyền con người, quyền công dân, lợi ích của các cá nhân, tổ
chức và đất nước, phục vụ cho những mưu đồ xấu, vi phạm dân chủ, đạo đức và
thuần phong mỹ tục, pháp luật nhất thiết phải bị nghiêm trị. Khoản 2, Điều 29,
Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền Liên hợp quốc chỉ rõ: “Trong khi thực hiện các
quyền và quyền tự do cho cá nhân mọi người chỉ phải tuân thủ các hạn chế do
luật định nhằm mục đích duy nhất là bảo đảm việc thừa nhận, tôn trọng đối với
các quyền và quyền tự do của những người khác, đáp ứng được những đòi hỏi chính
đáng về đạo đức, trật tự công cộng, phúc lợi chung trong một xã hội dân chủ”.
Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị của Liên hợp quốc, tại Khoản
3, Điều 19 chỉ rõ: “Việc hành xử quyền tự do phát biểu quan điểm đòi hỏi đương
sự phải có các bổn phận, trách nhiệm đặc biệt. Quyền này chỉ có thể bị giới hạn
bởi pháp luật vì nhu cầu:
a. Tôn trọng các quyền tự
do và thanh danh của người khác; b. Bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng,
sức khỏe công cộng hay đạo lý”.
Việt Nam thừa nhận quyền tự
do báo chí đã được quy định trong Tuyên ngôn, Công ước của Liên hợp quốc. Khoản
2, Điều 14, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, năm
2013 ghi rõ: “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy
định của pháp luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc
gia, trật tự an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”; Điều 25,
khẳng định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông
tin, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”.
Tại Điều 10, Luật Báo chí năm 2016, quy định, công dân có quyền tự do ngôn luận
trên báo chí. Điều 13 của Luật cũng quy định rõ: Nhà nước tạo điều kiện thuận
lợi để công dân thực hiện các quyền này và để báo chí phát huy đúng vai trò của
mình; báo chí, nhà báo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và được Nhà nước bảo
hộ; không ai được lạm dụng quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo
chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và
công dân; báo chí không bị kiểm duyệt trước khi in, truyền dẫn và phát sóng.
Nhà nước Việt Nam không chấp nhận báo chí tự do “ngoài vòng pháp luật”. Những
cá nhân, tổ chức lợi dụng báo chí để “tự do” xuyên tạc sự thật, bôi nhọ lịch
sử, kích động gây rối an ninh trật tự, chia rẽ, gây hận thù, truyền bá chủ
nghĩa ly khai, can thiệp vào công việc nội bộ đất nước, tung ra những thông
tin, hình ảnh khiêu dâm, kích dục độc hại không phù hợp với thuần phong mỹ tục
của dân tộc,… sẽ bị nghiêm trị. Như vậy, luật pháp quốc tế cũng như pháp luật
Việt Nam và các quốc gia khác đều thừa nhận quyền tự do báo chí, tự do ngôn
luận trên báo chí của mọi tổ chức, cá nhân. Tuy nhiên, đó không phải là quyền
“tự do tuyệt đối”. Khi thực hiện quyền này, con người phải chịu những hạn chế
nhất định nhằm bảo vệ lợi ích chung của xã hội, nhà nước, của người dân. Trên
thực tế, Nguyễn Văn Hải (Hải “điếu cày”) đã có những hành vi vi phạm pháp luật
như nêu trên và đã bị luật pháp trừng trị đích đáng.
Hiện nay, Việt Nam có gần
19 ngàn nhà báo được cấp thẻ, làm việc ở trên 800 cơ quan báo chí, với đủ các
loại hình từ truyền thống đến hiện đại, hằng ngày, hằng giờ chuyển tải thông
tin trong nước và quốc tế một cách khách quan, trung thực, đáp ứng đầy đủ nhu
cầu người dân trong cuộc sống. Báo chí Việt Nam còn là diễn đàn, phương tiện
phản biện xã hội tích cực; là phương tiện kiểm tra, giám sát thực thi pháp
luật, công cụ bảo vệ lợi ích xã hội và quyền, nghĩa vụ của người dân; tham gia
có hiệu quả trong đấu tranh, ngăn chặn sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo
đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, xây dựng xã hội dân chủ, văn
minh, tiến bộ, đất nước giàu mạnh. Cùng với đó, qua internet, người
dân Việt Nam còn được tiếp nhận những thông tin nhiều chiều từ CNN, BBC, TV5,
NHK, DW, Australia Network, KBS, Bloomberg, AFP, AP, Reuters, Kyodo, v.v. Nhiều
tổ chức và chuyên gia quốc tế đánh giá: Việt Nam là quốc gia có tốc độ phát
triển internet hàng đầu khu vực, đặc biệt là mạng xã hội.
Đó là những minh chứng sinh
động cho việc bảo đảm quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận trên báo chí ở Việt
Nam; đồng thời, bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc, vu cáo Nhà nước Việt Nam vi
phạm tự do báo chí, tự do ngôn luận của VOA và Hải “điếu cày”.
MT
Thứ Ba, 14 tháng 5, 2019
QUAN ĐIỂM PHÒNG CHỐNG "DIỄN BIẾN HÒA BÌNH"
TRÊN LĨNH VỰC TƯ TƯỞNG VĂN HÓA THỜI GIAN TỚI
- Phòng, chống “diễn biến
hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa trong Quân đội là một nội dung cơ
bản, hệ trọng trong xây dựng Quân đội về chính trị; là nhiệm vụ quan trọng của
Quân đội, trong đó cơ quan chính trị, cán bộ chính trị, lực lượng chuyên trách,
kiêm nhiệm giữ vai trò nòng cốt; là công việc tự giác, thường xuyên của cấp ủy,
tổ chức Đảng, tổ chức chỉ huy, tổ chức quần chúng và mọi cán bộ, chiến sĩ trong
đơn vị; trước hết là cán bộ chủ trì, chủ chốt các cấp.
- Thường xuyên quán triệt sâu
sắc, vận dụng cụ thể hóa và tổ chức thực hiện đúng quan điểm, đường lối, chủ
trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, nghị quyết, chỉ thị, mệnh
lệnh của Quân ủy Trung ương, Thủ trưởng Bộ Quốc phòng về nhiệm vụ phòng, chống
“DBHB” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa trong tình hình mới.
- Chủ động dự báo, cảnh
giác, nhạy bén, sáng tạo, thường xuyên, kiên trì, kiên quyết, hiệu quả.
- Gắn kết chặt chẽ giữa “xây” và
“chống”, “xây” là cơ bản, “chống” phải quyết liệt hiệu quả. Kết hợp giữa nhiệm
vụ trước mắt và nhiệm vụ lâu dài; giữa chủ động ngăn chặn, phòng ngừa với chủ
động tiến công; giữa giữ vững sự ổn định bên trong với làm thất bại tác động
chuyển hóa từ bên ngoài, coi chủ động ngăn chặn, phòng ngừa, giữ vững sự ổn
định bên trong là chính, chủ động tiến công làm thất bại tác động chuyển hóa từ
bên ngoài là quan trọng.
- Đổi mới nội dung, phương pháp, đa
dạng hóa hình thức, coi trọng tính thiết thực, hiệu quả. Kết hợp chặt chẽ giữa
vận động giáo dục thuyết phục với kiên quyết xử lý nghiêm minh theo kỷ luật
Đảng, pháp luật Nhà nước, kỷ luật của Quân đội đối với các đối tượng vi phạm.
MỤC TIÊU PHÒNG CHỐNG "DIỄN BIẾN HÒA BÌNH" TRÊN LĨNH VỰC TƯ TƯỞNG VĂN HÓA THỜI GIAN TỚI
* Mục tiêu chung : Nâng cao nhận
thức của cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp,
cán bộ, chiến sĩ và nhân dân về âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá của các
thế lực thù địch; yêu cầu nhiệm vụ của quân đội trong phòng, chống “diễn biến
hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa; củng cố niềm tin, nâng cao bản lĩnh
chính trị, tinh thần cảnh giác cách mạng của cán bộ, chiến sĩ và các tầng lớp
trong xã hội, góp phần giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân
đội. Chủ động tổ chức đấu tranh có hiệu quả với hoạt động chống phá của các thế
lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa; bảo vệ vững chắc trận địa tư
tưởng, văn hóa của Đảng trong Quân đội; ngăn chặn, đẩy lùi, hạn chế tác động
tiêu cực, tiến tới vô hiệu hóa hoạt động chống phá của các thế lực thù địch đối
với Đảng, Nhà nước, Quân đội.
* Mục tiêu cụ thể:
- Cán bộ, chiến sĩ
toàn quân có bản lĩnh chính trị vững
vàng, tinh thần cảnh giác cách mạng, niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, mục
tiêu, lý tưởng chiến đấu của Quân đội; nhận thức đầy đủ những vấn đề cơ bản về âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống
phá của các thế lực thù địch; chủ động, tự giác chia sẻ, lan tỏa thông tin tích
cực, đấu tranh phản bác thông tin tiêu cực trên Internet, mạng xã hội. Lực
lượng nòng cốt trong công tác phòng, chống “diễn biến hòa
bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa
có khả năng dự báo, đánh giá đúng tình hình, đề xuất kịp thời các biện pháp tổ
chức đấu tranh và tham gia đấu tranh có hiệu quả với những thủ đoạn chống phá
của các thế lực thù địch.
- Xây dựng chi bộ, đảng bộ trong sạch vững mạnh, đơn
vị vững mạnh toàn diện, góp phần
ngăn chặn có hiệu quả những biểu hiện suy
thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, không để xảy ra "tự diễn
biến", "tự chuyển hóa" trong Quân đội; ngăn chặn, đẩy lùi sự xâm
nhập của văn hóa tư tưởng xấu độc vào đơn vị. Tuyệt đại đa số cán bộ, chiến sĩ
phân biệt rõ đúng, sai, đối tượng, đối tác; vững vàng trước mọi hoạt động chống
phá của các thế lực thù địch.
- Coi trọng nâng cao năng lực và phát
huy có hiệu quả vai trò của cơ quan chính trị và cán bộ chính trị, nhất là cơ
quan báo chí, cán bộ tuyên huấn, giảng viên, nhà khoa học, đội ngũ văn nghệ sĩ
trong đấu tranh công khai trước các thông tin, quan điểm sai trái của các thế
lực thù địch.
-
Phát hiện kịp thời, tổ chức chặn lọc, xử lý, đấu tranh phản bác hiệu quả thông
tin xấu độc trên Internet, mạng xã hội; điều tra, xác minh, kết luận, đề xuất
xử lý kịp thời mọi quân nhân có dấu hiệu "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" về tư tưởng chính
trị, đạo đức, lối sống và tham gia mạng xã hội trái quy định.
- Hoàn thiện quy chế, quy định, duy trì nền nếp
chế độ hoạt động, để phát huy hiệu quả vai trò, trách nhiệm của các tổ chức,
lực lượng. Cơ
quan thường trực, nhóm chuyên gia, bộ phận chuyên sâu và Lực lượng 47 cấp trực
thuộc Bộ Quốc phòng được trang bị đủ công nghệ, dịch vụ phục vụ nhiệm vụ phòng, chống
“DBHB” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hoá.
- Đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền miệng, cộng tác viên, phóng viên, biên
tập viên, báo chí… được cung cấp tài liệu tự bồi dưỡng và tổ chức có hiệu quả
hoạt động tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức về nhiệm vụ quân đội phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên
lĩnh vực tư tưởng, văn hóa.
PHÁT
HUY TRUYỀN THỐNG BỘ ĐỘI TRƯỜNG SƠN,
BINH
ĐOÀN 12 - TỔNG CÔNG TY XÂY DỰNG TRƯỜNG SƠN
PHẤN
ĐẤU HOÀN THÀNH XUẤT SẮC NHIỆM VỤ ĐƯỢC GIAO
Sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
của nhân dân ta giành thắng lợi, đầu tháng 7/1975, Quân ủy Trung ương giao
nhiệm vụ cho Bộ đội Trường Sơn chuyển sang làm nhiệm vụ xây dựng kinh tế.
Đầu năm 1976, Bộ Quốc phòng quyết định thống
nhất Bộ đội Trường Sơn và Bộ Tư lệnh Công binh thành Bộ Tư lệnh Công trình. Đến
tháng 3/1976, Bộ Quốc phòng ra quyết định thành lập Tổng cục Xây dựng kinh tế
thay cho Bộ Tư lệnh Công trình.
Tháng 10/1977, Thủ tướng Chính phủ quyết định
thành lập Binh đoàn 12 và Binh đoàn 14 trực thuộc Tổng cục Xây dựng kinh tế
trên cơ sở lực lượng chủ yếu của Bộ đội Trường Sơn và được tăng cường thêm lực
lượng của các đơn vị trong toàn quân chuyển sang làm kinh tế. Đến năm 1979,
Tổng cục Xây dựng kinh tế và Binh đoàn 14 giải thể, Binh đoàn 12 chuyển về trực
thuộc Bộ Quốc phòng, là đơn vị kế thừa truyền thống của Bộ đội Trường Sơn anh
hùng. Nhiệm vụ chủ yếu của Binh đoàn là xây dựng cầu đường chiến lược, chiến
dịch phục vụ nhiệm vụ xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc; trước mắt làm nhiệm
vụ phục vụ chiến đấu ở mặt trận Tây Nam và biên giới phía Bắc.
Phát huy truyền thống Bộ đội Trường Sơn trong
kháng chiến chống Mỹ, bước vào mặt trận mới xây dựng kinh tế đất nước kết hợp
với quốc phòng, với tinh thần cách mạng tiến công, cán bộ, chiến sĩ, công nhân
và viên chức quốc phòng Binh đoàn 12 lại có mặt ở những nơi khó khăn, vùng sâu,
vùng xa, trải rộng trên địa bàn 21 tỉnh, thành phố trong nước và 5 tỉnh của
nước bạn Lào.
Những năm đầu, nhiệm vụ chủ yếu
của Binh đoàn là xây dựng cơ bản đường Hồ Chí Minh dọc theo Đông Trường Sơn từ
Nghệ An đến Bình Phước với tổng chiều dài 1.920km, góp phần quy hoạch lại dân
cư, phát triển kinh tế các địa phương dọc Trường Sơn và Tây Nguyên. Đồng thời,
năm 1978, trước yêu cầu phòng thủ đất nước ở phía Bắc, Binh đoàn đưa 5 sư đoàn
làm nhiệm vụ xây dựng Quốc lộ 279, đường vành đai chiến lược nối thông các tỉnh
biên giới phía Bắc, từ Quảng Ninh đến Lai Châu dài hơn 1.000km. Đây là con
đường vành đai chiến lược nối liền 7 tỉnh biên giới phía Bắc và nối với các
đường trục dọc, góp phần bảo đảm cơ động lực lượng, phương tiện làm nhiệm vụ
bảo vệ Tổ quốc. Cùng với nhiệm vụ xây dựng cầu, đường bộ, Binh đoàn 12 còn xây
dựng 6 tuyến đường sắt, tham gia xây dựng hàng loạt công trình trọng điểm của
Nhà nước.
Hơn 10 năm sau giải phóng hoàn toàn miền Nam,
thống nhất đất nước, một số đơn vị thuộc Binh đoàn 12 đã xây dựng cơ bản 9
tuyến đường của bạn Lào với tổng chiều dài hơn 360km, 36 cầu vĩnh cửu; giúp bạn
xây dựng một số công trình kinh tế, văn hóa ở 4 tỉnh (12 trạm xá, 7 trường học
và nhiều trụ sở làm việc của các cấp chính quyền); huy động hàng ngàn chuyến xe
vận chuyển giúp bạn hàng ngàn tấn lương thực. Ở trong nước, từ năm 1977 đến năm
1988, Binh đoàn 12 đã mở mới, sửa chữa nâng cấp được trên 5.500 km đường (trong
đó có trên 500km đường nhựa); 5.147m cầu, 31.758m cống bê tông, đào đắp hàng
chục triệu mét khối đất đá. Tên tuổi của Binh đoàn 12 gắn liền với nhiều công
trình trọng điểm của Nhà nước, góp phần phát triển kinh tế, xã hội, củng cố
quốc phòng, an ninh.
Đầu năm 1989, thực hiện sự
chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế của cả nước, theo quyết định của Nhà nước và
Bộ Quốc phòng, Tổng Công ty xây dựng Trường Sơn được thành lập trên cơ sở tổ
chức biên chế và các lực lượng của Binh đoàn 12, là doanh nghiệp kinh tế - quốc
phòng, tự hạch toán, tự trang trải và trực thuộc Bộ Quốc phòng. Từ đây, cùng
với phiên hiệu Binh đoàn 12, đơn vị còn mang tên Tổng Công ty xây dựng Trường
Sơn.
Đây là thời kỳ Binh đoàn 12 - Tổng Công ty xây
dựng Trường Sơn đứng trước những khó khăn, thử thách mới trong sự cạnh tranh
gay gắt, quyết liệt của cơ chế thị trường. Kế thừa và phát huy truyền thống vẻ
vang của Bộ đội Trường Sơn anh hùng và kinh nghiệm qua hơn 10 năm làm kinh tế
kết hợp với quốc phòng (1977 - 1989), với đội ngũ cán bộ lãnh đạo, chỉ huy, cán
bộ kỹ thuật có kinh nghiệm thực tiễn và bản lĩnh chính trị vững vàng đã giúp
cho Tổng Công ty từng bước vượt qua giai đoạn đầu đầy khó khăn, thử thách của
thời kỳ chuyển sang nền kinh tế thị trường. Để duy trì sự ổn định và phát
triển, Đảng uỷ và chỉ huy Tổng Công ty đã đề ra nhiều chủ trương, giải pháp
đúng đắn nhằm đổi mới toàn diện, phát huy hiệu quả trong quản lý, chỉ huy, điều
hành, nâng cao chất lượng sản xuất, kinh doanh và thực hiện nhiệm vụ quân sự,
quốc phòng.
Qua 30 năm (1989 - 2019) phát triển
trưởng thành, với nhiệm vụ xây dựng kinh tế kết hợp với quốc phòng, tự hạch
toán kinh doanh; giá trị sản xuất không ngừng tăng trưởng (bình quân 15%/năm);
thực hiện đầy đủ nghĩa vụ nộp ngân sách với Nhà nước. Có thể khẳng
định, Binh đoàn 12 - Tổng Công ty xây dựng Trường Sơn hiện nay là một trong
những tổng công ty mạnh trong lĩnh vực xây dựng công trình giao thông cầu
đường, xây dựng thủy điện, thủy lợi; có đủ khả năng xây dựng các công trình
trọng điểm, các công trình có quy mô lớn trong nước và quốc tế.
Với thành tích xây dựng kinh tế - quốc phòng
thời kỳ đổi mới (từ năm 1990 đến nay), Binh đoàn 12 - Tổng Công ty xây dựng
Trường Sơn và nhiều tập thể, cá nhân thuộc Binh đoàn được Đảng, Nhà nước, Quân
đội tặng nhiều phần thưởng, danh hiệu cao quý.
Quá trình xây dựng, phấn đấu và trưởng thành,
Binh đoàn 12 - Tổng Công ty xây dựng Trường Sơn luôn tuyệt đối trung thành với
Đảng, với Tổ quốc và nhân dân; đoàn kết, chủ động, sáng tạo, tự lực, tự cường,
vượt qua khó khăn, phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, xứng đáng
là đơn vị kế tục và phát huy truyền thống vẻ vang của Bộ đội Trường Sơn anh
hùng./.
HOA SÚNG
XÂY DỰNG ĐƯỜNG HỒ CHÍ
MINH PHỤC VỤ
SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HÓA,
HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC
Đường Hồ Chí Minh nằm ở phía Tây đất nước, có
vị trí quốc phòng và an ninh quan trọng, có sự đa dạng về điều kiện tự nhiên và
tài nguyên đất, rừng và các khu bảo tồn thiên nhiên, khoáng sản. Xuất phát từ
nhu cầu cấp thiết cần có một tuyến đường hoàn chỉnh, thống nhất, xuyên suốt
nhằm đáp ứng cho hoạt động phát triển kinh tế, thực hiện công cuộc công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước, từ năm 1996, Chính phủ đã giao Bộ Giao thông vận
tải nghiên cứu quy hoạch tuyến đường để hình thành trục dọc đường bộ thứ hai ở
phía Tây đất nước với tên gọi ban đầu là Xa lộ Bắc Nam (nay là đường Hồ Chí
Minh).
Ngày 1/4/1997, Chính phủ đã có Quyết định số
195/QĐ-TTg về việc thành lập Ban Chỉ đạo Nhà nước về công trình Xa lộ Bắc Nam.
Trên cơ sở nghiên cứu và đề xuất của Bộ Giao
thông vận tải, ý kiến của Hội đồng thẩm định Nhà nước về các dự án đầu tư và
báo cáo kết luận của Ban chỉ đạo Nhà nước về công trình Xa lộ Bắc Nam, ngày
24/9/1997, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 789/QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch
tổng thể Xa lộ Bắc Nam với điểm đầu tại Hoà Lạc (Hà Tây, nay là Hà Nội), điểm
cuối tại ngã tư Bình Phước (Thành phố Hồ Chí Minh), tổng chiều dài xấp xỉ
1.800km, cơ bản bám theo hướng tuyến của các quốc lộ 21A, 15A, 15B, 14 và 13.
Đồng thời, Chính phủ đã giao cho Bộ Giao thông vận tải phối hợp với Bộ Quốc
phòng nghiên cứu nhánh phía Tây từ Khe Gát (Quảng Bình) đến Thạnh Mỹ (Quảng
Nam).
Trong quá trình nghiên cứu lập
dự án, có nhiều ý kiến của các bộ, ngành, địa phương và cán bộ lão thành cách
mạng bày tỏ nguyện vọng đặt tên cho con đường là “đường Hồ Chí Minh” để xứng
đáng với vai trò và tầm vóc của tuyến đường trong sự nghiệp đấu tranh giải
phóng dân tộc cũng như trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Đường Hồ Chí Minh từ lâu đã là tên gọi rất quen thuộc không những được nhân dân
cả nước mà các nước trên thế giới biết đến. Việc lấy tên công trình là “đường
Hồ Chí Minh” còn có ý nghĩa giáo dục sâu sắc về truyền thống đấu tranh dựng
nước và giữ nước cho các thế hệ hôm nay và mai sau.
Ngày 3/12/2004, Quốc hội đã ban
hành Nghị quyết số 38/2004/QH11 về chủ trương đầu tư xây dựng đường Hồ Chí Minh
là công trình trọng điểm quốc gia với tổng chiều dài toàn tuyến là 3.167km
(trong đó tuyến chính dài 2.667km, tuyến nhánh phía Tây dài 500km); điểm đầu là
Pác Bó (tỉnh Cao Bằng), điểm cuối là Đất Mũi (tỉnh Cà Mau). Căn cứ vào Nghị
quyết của Quốc hội, xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải, ngày
15/2/2007, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 242/QĐ-TTg phê duyệt quy
hoạch tổng thể đường Hồ Chí Minh.
Ngày 5/4/2000, tại bến phà Xuân Sơn, huyện Bố
Trạch, tỉnh Quảng Bình, Thủ tướng Chính phủ đã phát lệnh khởi công xây dựng;
đến ngày 21/3/2008, Hội đồng nghiệm thu Nhà nước các công trình xây dựng đã
tiến hành nghiệm thu chất lượng công trình xây dựng đường Hồ Chí Minh giai đoạn
1 (đoạn từ Thạch Quảng tới Ngọc Hồi).
Không phải đến khi nghiệm thu cấp Nhà nước
đường Hồ Chí Minh mới được đưa vào khai thác, mà ngay từ năm 2003, rất nhiều
tuyến trên đường Hồ Chí Minh sau khi nghiệm thu cơ sở đã phát huy hiệu quả, tạo
ra diện mạo mới cho nhiều vùng quê từ Đông Trường Sơn sang Tây Trường Sơn và từ
Bắc chí Nam. Đối với các tỉnh Tây Nguyên, đường Hồ Chí Minh có ý nghĩa cực kỳ
quan trọng cả về kinh tế, xã hội và quốc phòng, an ninh. Đường Hồ Chí Minh trở
thành trục giao thông chính, nối thông phía Bắc Tây Nguyên với các tỉnh miền
Trung và liên thông sang nước bạn Lào và Campuchia.
Đường Hồ Chí Minh là một công trình to lớn,
mang theo ý nguyện của Đảng, mong ước của nhân dân, là một công trình có tính
chiến lược đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Đến nay, mặc
dù chưa hoàn thành 100%, nhưng đường Hồ Chí Minh đã và đang phát huy hiệu quả
thực tế. Trong những năm tới, nhất là khi hoàn thành nối thông toàn tuyến từ
Pác Bó (Cao Bằng) đến Đất Mũi (Cà Mau), đường Hồ Chí Minh sẽ càng đóng góp to
lớn hơn, làm nên những “kỳ tích” mới trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
HOA SÚNG
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)


