Thứ Tư, 30 tháng 8, 2023

 

CÓ PHẢI KHÔNG ĐI VỚI NƯỚC NÀY ĐỂ CHỐNG NƯỚC KIA “LÀ ĐI NGƯỢC LẠI XU THẾ CỦA THỜI ĐẠI, TỰ TRÓI BUỘC MÌNH, KHÔNG PHÙ HỢP VỚI THỰC TẾ, CẦN PHẢI THAY ĐỔI”?

Nhân Trần      

 Một là, có phải xu thế thời đại hiện nay là liên minh với nước này để chống nước khác? Thời đại hiện nay là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới mở bằng Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, là thời đại toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế. Xét về bản chất, toàn cầu hóa là quá trình tăng lên mạnh mẽ các mối liên hệ, sự ảnh hưởng lẫn nhau, phụ thuộc lẫn nhau của tất cả các quốc gia, các khu vực trên thế giới. Toàn cầu hóa từ một xu thế đã trở thành một quá trình hiện thực của sự vận động và phát triển của xã hội loài người. Song hành và đối ngược với quá trình toàn cầu hóa là phong trào chống toàn cầu hóa (nội dung cốt lõi là chống lại mặt trái của toàn cầu hóa). Những người ủng hộ toàn cầu hóa liên kết với nhau và những người chống toàn cầu hóa cũng liên kết với nhau. Hai nhóm người này đấu tranh với nhau, căn nguyên của cuộc đấu tranh này chính là những bất đồng về lợi ích mà quá trình toàn cầu hóa đem lại cho mỗi nhóm. Trong đó, có nhóm được hưởng lợi và nhóm bị thiệt thòi. Cuộc đấu tranh này chính là nhằm phân chia lại lợi ích của các lực lượng trong quá trình toàn cầu hóa. Trong cuộc đấu tranh đó, tất yếu có sự liên kết tự nhiên của những lực lượng, những nhóm người có cùng lợi ích, chủ yếu ở góc độ kinh tế. Nó không phải là liên minh/liên kết quân sự giữa các quốc gia với nhau hay giữa quân đội của các quốc gia với nhau. Sự liên kết (tập hợp) lực lượng ở đây, nếu có, chỉ là để chống hoặc ủng hộ toàn cầu hóa chứ không phải là liên minh với nước này để chống nước kia hay ngược lại. Vì trong nội bộ mỗi nước, kể cả các nước nhỏ lẫn siêu cường, cũng đều vấp phải cuộc đấu tranh giữa hai lực lượng này khi phải quyết định lựa chọn xu hướng phát triển cho đất nước mình. Cuộc đấu tranh này chi phối từ dân thường đến các cấp lãnh đạo của mỗi quốc gia. Cho nên, nói rằng đi với nước này để chống nước kia “là đi ngược lại xu thế của thời đại” là cách hiểu phiến diện, không đầy đủ, không đúng về bản chất của toàn cầu hóa và chống toàn cầu hóa, không nắm được bản chất, xu hướng và quy luật vận động, phát triển của xã hội loài người trong giai đoạn hiện nay. Hiện nay, thế giới bước vào một giai đoạn phát triển mới mà ở đó hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, song đang đứng trước nhiều trở ngại, khó khăn; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, xung đột cục bộ tiếp tục diễn ra dưới nhiều hình thức, phức tạp và quyết liệt hơn, làm gia tăng rủi ro đối với môi trường kinh tế, chính trị, an ninh quốc tế. Chính trong bối cảnh ấy mà Việt Nam liên minh quân sự với nước nào, nhất là liên minh với nước lớn, để chống nước khác mới là không thực tế và rất nguy hiểm.

Hai là, có phải không liên minh quân sự “là tự trói buộc mình, không phù hợp với thực tế, cần phải thay đổi?” Trước hết, cần phải thống nhất rằng, liên minh quân sự không đồng nhất với quan hệ hợp tác quốc tế về quân sự, quốc phòng. Khi tham gia liên minh, các nước sẽ nằm trong một khối quân sự chung, với những mục tiêu cụ thể, dùng các biện pháp quân sự để tranh giành lợi ích, xung đột chống đối thủ chung. Các nước trong liên minh sẽ phải đặt dưới sự chỉ huy, lãnh đạo của một quốc gia, thường là nước lớn và tuân thủ các nguyên tắc của liên minh, cho dù không hoàn toàn phù hợp với mình. Và chính điều này đã tạo ra sự ràng buộc giữa các nước, làm cho mỗi nước không còn độc lập, tự chủ về những vấn đề của đất nước mình. Việt Nam chủ trương không tham gia liên minh quân sự nhưng chủ động và tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng và toàn diện cả kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và quốc phòng, an ninh. Đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ hợp tác quốc phòng - an ninh với tất cả các nước trong khu vực, trao đổi thông tin tình báo, hợp tác tuần tra chung biên giới trên bộ, trên biển (Việt Nam - Campuchia, Việt Nam - Thái Lan, Việt Nam - Trung Quốc...); hợp tác chống tội phạm xuyên quốc gia, mua bán người và ma túy... Hiện nay, Việt Nam đang tham gia vào các sáng kiến nhằm thúc đẩy hợp tác quốc phòng - an ninh nội khối như hợp tác công nghiệp quốc phòng ASEAN; sử dụng nguồn lực và khả năng quân đội các nước khu vực trong hỗ trợ nhân đạo và cứu trợ thảm họa; xác định các biện pháp khả thi cũng như cơ chế tăng cường hợp tác giữa các tổ chức quốc phòng ASEAN. Trong khuôn khổ hợp tác, hằng năm, Việt Nam tham gia đầy đủ các hội nghị như: Hội nghị người đứng đầu quân đội ASEAN (ACDFIM), Hội nghị Tư lệnh Lục quân ASEAN (ACAMM), Hội nghị Tư lệnh Hải quân ASEAN (ANCM) và Hội nghị Tư lệnh Không quân ASEAN (AACC), Hội nghị không chính thức những người đứng đầu tình báo quốc phòng các nước ASEAN (AMIIM). Hoạt động đối ngoại quốc phòng đa phương của Việt Nam đã đóng góp vào giữ vững mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, bảo vệ các lợi ích quốc gia của Việt Nam trên trường quốc tế và khu vực; góp phần củng cố và duy trì hòa bình, ổn định, tạo môi trường thuận lợi cho thực hiện nhiệm vụ trung tâm phát triển kinh tế đất nước, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh quốc gia, bảo vệ các lợi ích quốc gia của Việt Nam trên trường quốc tế và khu vực; góp phần nâng cao vị thế và uy tín của Quân đội ta. Như vậy, trong điều kiện hòa bình hiện nay, “không liên minh quân sự”, “không liên kết với nước này để chống nước khác “không phải là “tự trói buộc mình”, mà nó giúp chúng ta độc lập, tự chủ, không bị chi phối, áp đặt bởi yếu tố bên ngoài, tức là không bị “người khác trói mình”. 

Ba là, trên bình diện quan hệ quốc tế, Việt Nam hiện là nước thành viên của phong trào không liên kết, cho nên chủ trương không liên minh với nước này để chống nước kia là phù hợp với mục tiêu và nguyên tắc của phong trào. Phong trào không liên kết được thành lập vào năm 1961, đến nay có 120 nước thành viên, 17 nước quan sát viên, trở thành tổ chức có số lượng thành viên lớn thứ hai thế giới sau Liên hợp quốc. Không liên kết là một tập hợp lực lượng của các nước đang phát triển, với mục tiêu chính là thúc đẩy lợi ích của các nước đang phát triển; đóng góp vào duy trì hòa bình, độc lập dân tộc; chung sống hòa bình giữa các quốc gia và chung tay xây dựng một thế giới tốt đẹp, công bằng cho mọi người dân. Việt Nam chính thức tham gia phong trào không liên kết năm 1976 và từ đó đến nay luôn tích cực hoạt động, có nhiều đóng góp đối với Phong trào vì các mục tiêu hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội và phát triển. Việt Nam luôn đóng góp vào việc giữ vững các nguyên tắc của phong trào, tăng cường đoàn kết để cùng nhau phấn đấu vì những mục tiêu cao cả của phong trào, đặc biệt là nguyên tắc tôn trọng bình đẳng chủ quyền, không can thiệp vào công việc nội bộ, không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ giữa các quốc gia và giải quyết tranh chấp một cách hòa bình. Với việc không liên kết với nước này để chống nước kia, Việt Nam luôn thể hiện là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, hợp tác và phát triển. Và đây cũng là thành tựu đóng góp cho “đối ngoại tiếp tục là một điểm sáng trong những thành tựu chung của cả nước”, góp phần tạo dựng môi trường thuận lợi cho xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nâng cao vị thế của nước ta./.

 

BÁC BỎ LUẬN ĐIỆU PHỦ NHẬN TÍNH TRUNG LẬP CỦA ĐỐI NGOẠI QUỐC PHÒNG VIỆT NAM

Nhân Trần

Gần đây, khi lần thứ tư Việt Nam ban hành sách trắng quốc phòng, các thế lực thù địch, các phần tử cơ hội chính trị trong và ngoài nước đưa ra những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận đường lối đối ngoại quốc phòng của Việt Nam nhằm xuyên tạc đường lối, chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ của Đảng và Nhà nước ta. Các phần tử phản động, cơ hội chính trị cho rằng, Việt Nam theo đuổi chính sách đối ngoại quốc phòng độc lập, tự chủ là “bảo thủ”, “tự mình cô lập mình”, là “tự tách ra khỏi dòng chảy của thế giới bên ngoài”; trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, Việt Nam cần tham gia các liên minh quân sự để tăng cường khả năng bảo vệ chủ quyền đất nước; để tránh đưa Việt Nam vào thế “tự cô lập” mình. Từ đó, các phần tử phản động ra sức xuyên tạc việc thực hiện chính sách đối ngoại quốc phòng là không phù hợp với thực tế, cần phải thay đổi nếu không sẽ không thể bảo vệ được độc lập, chủ quyền của đất nước. Mục đích chống phá của các thế lực thù địch nhằm xuyên tạc, chống phá đường lối, chính sách đối ngoại quốc phòng độc lập, tự chủ của Đảng và Nhà nước ta, chống phá cách mạng Việt Nam; gây hoang mang, dao động, làm suy giảm niềm tin vào chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách đối ngoại quốc phòng của Nhà nước, gây khó khăn cho Việt Nam trong các quan hệ quốc tế. Vì vậy, khẳng định tính độc lập, tự chủ của đối ngoại quốc phòng Việt Nam là nhiệm vụ cấp bách nhằm góp phần phản bác những quan điểm sai trái, xuyên tạc nói trên.

Chủ trương nhất quán của Việt Nam là đẩy mạnh đối ngoại quốc phòng độc lập, tự chủ theo hướng phát triển sâu, rộng cả về phạm vi và mức độ hợp tác; chủ động, tích cực tham gia các cơ chế đa phương về quốc phòng, an ninh theo tư duy mới về bảo vệ Tổ quốc nhằm góp phần phát huy sức mạnh nội tại, củng cố sức mạnh quân sự, quốc phòng, tranh thủ tối đa ngoại lực để bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Trong quan hệ đối ngoại quốc phòng, Việt Nam nhất quán chính sách quốc phòng 4 không: Không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế. Tuy nhiên, tùy theo diễn biến của tình hình và trong những điều kiện cụ thể, Việt Nam sẽ cân nhắc phát triển các mối quan hệ quốc phòng, quân sự cần thiết với mức độ thích hợp trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau, các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, hợp tác cùng có lợi, vì lợi ích chung của khu vực và cộng đồng quốc tế nhằm phát huy sức mạnh của mọi nguồn lực để bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Chính sách 4 không quy định tính chất độc lập, tự chủ của đối ngoại quốc phòng Việt Nam, nhằm chủ trương thực hiện kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa. Nỗ lực phấn đấu để ngăn ngừa xung đột, chiến tranh và giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, phù hợp với luật pháp quốc tế. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển. Việt Nam luôn chú trọng thúc đẩy mở rộng quan hệ hợp tác và không coi nhẹ sức mạnh bạo lực, không mơ hồ, ảo tưởng về một nền hòa bình không dựa trên sức mạnh tự bảo vệ; không dựa trên liên minh quân sự hoặc “chiếc ô” bảo vệ của nước khác. Khẳng định chân lý về tính tất yếu của bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng, Đảng ta, Nhà nước ta không một phút lơ là, mất cảnh giác trong củng cố sức mạnh toàn diện quân đội. Việc mở rộng đối ngoại quốc phòng, trong đó có việc mua sắm vũ khí, trang bị hiện đại, với mục đích tự vệ chính đáng cho thấy bản chất tự vệ, tính chính nghĩa và phù hợp của chủ trương xây dựng quân đội của Đảng ta. Đồng thời với hiện đại hóa quân đội phù hợp với chiến tranh hiện đại thì nâng cao chất lượng nhân tố chính trị - tinh thần luôn được đặt lên hàng đầu trong xây dựng quân đội ta.

Hiện nay, thế giới đang trải qua những biến động to lớn, diễn biến rất nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, xung đột cục bộ tiếp tục diễn ra dưới nhiều hình thức, phức tạp và quyết liệt hơn, làm gia tăng rủi ro đối với môi trường kinh tế, chính trị, an ninh quốc tế” [4]. Trong khi đó “Chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa cường quyền nước lớn, chủ nghĩa thực dụng trong quan hệ quốc tế gia tăng; các vấn đề an ninh truyền thống, đặc biệt là tranh chấp chủ quyền biển, đảo diễn ra căng thẳng, phức tạp, quyết liệt, tiềm ẩn nguy cơ xung đột. Do đó, tính độc lập, tự chủ của đối ngoại quốc phòng Việt Nam là rất cần thiết để phát huy sức mạnh dân tộc, tận dụng và khai thác triệt để sức mạnh của thời đại trong đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc và trong xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trong bối cảnh ấy càng cần đến sự nhất quán và tính độc lập, tự chủ trong đối ngoại quốc phòng để không rơi vào chiêu bài dụ dỗ, mua chuộc, lợi dụng lôi kéo của các bên, để Việt Nam có khả năng tự quyết định vận mệnh dân tộc mình mà không trông chờ vào bất cứ thế lực bên ngoài nào.

Thực tiễn tình hình thế giới những năm qua và gần đây cho thấy rõ, cái phải trả cho việc liên minh với nước này để chống nước kia, của việc chọn bên là vô cùng đắt, thậm chí một nước nhỏ có thể trở thành “con tốt” trong tay các nước lớn. Cho nên, đường lối đối ngoại quốc phòng độc lập, tự chủ là đặc biệt quan trọng trong bối cảnh khu vực hiện nay. Trong một thế giới đầy biến động, cạnh tranh chiến lược và nhiều sự lựa chọn, Việt Nam không chọn bên mà chọn chính nghĩa, sự công bằng, công lý và lẽ phải trên cơ sở các nguyên tắc của luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên hợp quốc, bình đẳng, tất cả cùng có lợi, cùng thắng, đó là quan điểm nhất quán, xuyên suốt và công khai của Đảng, Nhà nước ta trong thực hiện chính sách đối ngoại quốc phòng. Với việc kiên định nguyên tắc đó, chúng ta sẽ có đủ bản lĩnh, trí tuệ để xử lý đúng đắn các quan hệ đối ngoại mà không nhất thiết phải liên kết với nước này để chống nước kia. Chúng ta có thể chọn bạn, nhưng dứt khoát không chọn bên, đó là quan điểm nhất quán và cũng phù hợp với xu thế chung của thế giới đương đại.

Để thực hiện thắng lợi đường lối quốc phòng độc lập, tự chủ đòi hỏi phải tiếp tục phát huy cao độ tính chính nghĩa, tự vệ, khơi dậy lòng yêu nước, tự hào, tự tôn dân tộc, tinh thần đoàn kết, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; qua đó nhân lên sức mạnh chính nghĩa của nền quốc phòng, của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Cùng với đó, công tác đối ngoại quốc phòng cần cung cấp thông tin kịp thời, phản bác sắc sảo các luận điệu xuyên tạc, những thông tin thất thiệt, thổi phồng, bóp méo, xuyên tạc, suy diễn tiêu cực, gây ảnh hưởng đến hình ảnh việt Nam trên trường quốc tế, để bạn bè thế giới hiểu đầy đủ về đối ngoại quốc phòng của Việt Nam. Đẩy mạnh hoạt động đối ngoại quốc phòng độc lập, tự chủ trong cả quan hệ song phương và đa phương là phương cách đúng đắn để tiếp tục cụ thể hóa quan điểm thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại, nhằm tăng đối tác, giảm đối tượng, thêm bạn, bớt thù; tiếp tục khẳng định lập trường của Đảng, Nhà nước ta đối với sự nghiệp quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc./.

 

MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CHÍNH SÁCH QUỐC PHÒNG CỦA VIỆT NAM

Nhân Trần

Đến nay, Việt Nam đã 4 lần công bố Sách trắng quốc phòng, trong đó thể hiện rõ mục tiêu tạo lập, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách để xuyên tạc, phủ nhận một cách vô căn cứ. Vì vậy, đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá chính sách quốc phòng Việt Nam là nhiệm vụ quan trọng hiện nay.

Những năm qua, cùng với quan điểm, đường lối quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc được thể hiện nhất quán trong các văn kiện, nghị quyết của Đảng, Việt Nam đã công bố Sách trắng quốc phòng, trong đó nêu rõ chủ trương 4 không, thể hiện rõ sự công khai, minh bạch tính chất của nền quốc phòng Việt Nam là hòa bình và tự vệ; phương châm nhất quán là kiên quyết, kiên trì đấu tranh giải quyết mọi tranh chấp, bất đồng bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế; tích cực, chủ động ngăn ngừa, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, chủ động bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Đồng thời, tăng cường hợp tác quốc phòng với các nước để nâng cao khả năng bảo vệ đất nước và giải quyết các thách thức an ninh chung; tăng cường sự hiểu biết và xây dựng lòng tin của các quốc gia khác với Việt Nam. Tuy nhiên, bất chấp sự thật, các thế lực thù địch đã không từ thủ đoạn nào để công kích, xuyên tạc chính sách quốc phòng Việt Nam. Họ cho rằng, chính sách quốc phòng nói chung, chủ trương “bốn không” của Đảng, Nhà nước ta nói riêng đã lỗi thời, lạc hậu, không còn phù hợp với tình hình thực tiễn; “không liên minh quân sự”, “không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế” là Việt Nam đã “từ bỏ bạo lực cách mạng trong bảo vệ đất nước”, là “tự trói tay, chân mình”, “tự cô lập mình”, đi ngược lại xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, tước đi cơ hội hợp tác với các nước lớn để tăng cường sức mạnh quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Đặc biệt, trước diễn biến phức tạp của tình hình thế giới và khu vực Biển Đông, các thế lực thù địch cho rằng, với chính sách quốc phòng hiện nay thì Việt Nam không thể giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Do đó, chỉ có liên minh quân sự với các cường quốc thì Việt Nam mới giữ được chủ quyền, bảo vệ được lợi ích quốc gia - dân tộc.

Cần khẳng định rõ, những luận điệu trên hoàn toàn vô căn cứ, xuyên tạc trắng trợn chính sách quốc phòng của Việt Nam. Bởi, quan điểm nhất quán xuyên suốt của Đảng, Nhà nước ta là bảo vệ Tổ quốc bằng sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, sức mạnh dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại. Trong đó, sức mạnh bên trong của đất nước, của chế độ chính trị, nền kinh tế và tiềm lực quốc gia là nhân tố quyết định. Điều 4, Luật Quốc phòng năm 2018 xác định: Thực hiện đối ngoại quốc phòng phù hợp với đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; chống chiến tranh dưới mọi hình thức; chủ động và tích cực hội nhập, mở rộng hợp tác quốc tế, đối thoại quốc phòng, tạo môi trường quốc tế thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Sách trắng Quốc phòng Việt Nam 2019 nêu rõ: Việt Nam không chấp nhận quan hệ hợp tác quốc phòng dưới bất kỳ điều kiện áp đặt hoặc sức ép nào. Việt Nam tăng cường hợp tác quốc phòng đa phương nhằm góp phần bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ chủ quyền quốc gia. Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: Nỗ lực phấn đấu để ngăn ngừa xung đột, chiến tranh và giải quyết các tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình phù hợp với luật pháp quốc tế. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển của Tổ quốc.

Trên thực tế, Việt Nam luôn nỗ lực thực thi đúng chính sách quốc phòng đã đề ra, tích cực thực hiện cam kết trở thành quốc gia thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, góp phần duy trì hòa bình, ổn định trong khu vực và trên thế giới. Đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ hợp tác quốc phòng với hơn 100 nước trên thế giới, trong đó có 05 nước Ủy viên Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc và tất cả các nước lớn trên nhiều lĩnh vực. Đặc biệt, Quân đội nhân dân Việt Nam đã cử hơn 510 lượt cán bộ, nhân viên với 03 lượt bệnh viện dã chiến và đội công binh số 1 đến thực hiện nhiệm vụ tại Phái bộ Nam Sudan, Cộng hòa Trung Phi và Trụ sở Liên hợp quốc, được Liên hợp quốc cùng cộng đồng quốc tế đánh giá cao, tạo uy tín, vị thế, đưa Việt Nam trở thành Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020 - 2021 với 192/193 phiếu tán thành. Đây là minh chứng thể hiện rõ mong muốn, thiện chí của Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam trong thực thi chính sách quốc phòng mà không một thế lực nào có thể xuyên tạc, phủ nhận. Để đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, sự xuyên tạc chính sách quốc phòng Việt Nam trong tình hình hiện nay, cần thực hiện tốt những biện pháp cơ bản sau:

Thứ nhất, tang cường công tác thông tin, tuyên truyền, nâng cao nhận thức và làm rõ tính đúng đắn của chính sách quốc phòng Việt Nam. Đây là vấn đề quan trọng hàng đầu, cần tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa, bằng nhiều nội dung, hình thức, biện pháp phong phú, sáng tạo; trong đó, chú trọng thông tin, tuyên truyền về quan điểm, đường lối quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Tập trung làm rõ cơ sở khoa học, khẳng định tính chính nghĩa, hòa bình và tự vệ của chính sách quốc phòng Việt Nam. Đẩy mạnh công tác nghiên cứu, đánh giá, dự báo chính xác tình hình, kịp thời cung cấp thông tin chính thống về hoạt động quân sự, quốc phòng; những vấn đề phức tạp, nhạy cảm trong nước, khu vực và quốc tế, nhằm nâng cao nhận thức, hiểu biết, cách tiếp cận đúng cho nhân dân, kiều bào ta ở nước ngoài và cộng đồng quốc tế về chính sách quốc phòng Việt Nam. Thông qua đó, không ngừng củng cố lòng tin của các quốc gia về đất nước, con người Việt Nam yêu chuộng hòa bình. Đồng thời, nâng cao hiệu quả hoạt động của Ban chỉ đạo 35 các cấp; phát huy vai trò của các tổ chức, lực lượng, nhất là lực lượng nòng cốt, chuyên sâu ở các cơ quan, đơn vị để hình thành mạng lưới sâu rộng, hùng hậu tham gia đấu tranh làm thất bại mọi thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch đối với chính sách quốc phòng Việt Nam.

Thứ hai, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Thực tiễn cho thấy, một trong những mục tiêu của các thế lực thù địch là phá hoại đường lối đối ngoại và chính sách quốc phòng độc lập, tự chủ của Đảng và Nhà nước ta; phủ nhận, hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng; chức năng quản lý Nhà nước đối với hoạt động quân sự, quốc phòng, tiến tới phi chính trị hóa lực lượng vũ trang, tạo tiền đề cho chuyển hóa thể chế chính trị ở Việt Nam. Để làm thất bại mưu đồ của chúng, vấn đề tiên quyết đối với nước ta hiện nay là phải giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và sự nghiệp quốc phòng, an ninh. Tiếp tục nghiên cứu bổ sung, hoàn thiện cơ chế, phương thức lãnh đạo của Đảng và hệ thống luật pháp của Nhà nước về quốc phòng, an ninh, đối ngoại, đảm bảo đồng bộ, thống nhất, tạo hành lang pháp lý cho việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc và mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế về quốc phòng. Đồng thời, chủ động đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn đòi đa nguyên, đa đảng, phi chính trị hóa lực lượng vũ trang của các thế lực thù địch.

Thứ ba, làm rõ chủ trương huy động mọi nguồn lực, tăng cường sức mạnh quốc phòng, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Hiện nay, vấn đề mà các thế lực thù địch tập trung công kích nhiều nhất là chính sách quốc phòng 4 không của Việt Nam và hô hào đòi chúng ta phải liên minh, liên kết với nước ngoài. Song, thực tiễn lịch sử đã minh chứng, chúng ta luôn giành thắng lợi trước mọi kẻ thù xâm lược và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì đã biết phát huy cao độ ý chí tự lực, tự cường, sức mạnh nội lực của toàn thể dân tộc. Vì vậy, để đấu tranh với các luận điệu xuyên tạc, cần làm cho mọi người hiểu rõ chủ trương tăng cường sức mạnh quốc phòng phải dựa trên sức mạnh tổng hợp của cả nước, của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý, điều hành thống nhất của Nhà nước; kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước và sức mạnh quốc tế. Đồng thời, xây dựng và phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân” của nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân tạo thành sức mạnh tổng hợp để bảo vệ Tổ quốc.

Thứ tư, tích cực, chủ động hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng, kiến tạo môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng, phát triển đất nước. Đây là nhiệm vụ quan trọng và kế sách giữ nước từ sớm, từ xa bằng biện pháp hòa bình; đồng thời, phản bác luận điệu tự cô lập mình của các thế lực thù địch. Do đó, cần tiếp tục phát huy vai trò tiên phong của đối ngoại trong việc tạo lập và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, huy động các nguồn lực bên ngoài để phát triển, nâng cao vị thế và uy tín của đất nước. Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế với chiến lược đối ngoại linh hoạt, mềm dẻo, có nguyên tắc, tăng đối tác, giảm đối tượng, tạo thế đan xen lợi ích chiến lược giữa nước ta với các nước, nhất là các nước lớn, các đối tác chiến lược, các nước láng giềng và các nước trong khu vực; tránh xung đột, đối đầu, tránh bị cô lập, lệ thuộc. Tích cực củng cố tình hữu nghị, đoàn kết quốc tế, thúc đẩy quan hệ, hợp tác quốc phòng, củng cố lòng tin chiến lược giữa Việt Nam với các nước, nâng cao vị thế, uy tín của đất nước và Quân đội ta trên trường quốc tế./.

 

VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ VIỆT NAM TRONG SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC

                                                                                                                             Mặt Trời

            Ngày 20/10/1930, Hội Phụ nữ Giải phóng (tiền thân của Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam hiện nay) được thành lập. Hoạt động xuyên suốt của Hội luôn hướng tới mục đích vì sự bình đẳng, phát triển của phụ nữ; chăm lo bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của phụ nữ. Với mục đích đó, từ ngày thành lập đến nay, Hội đã tập hợp rộng rãi các tầng lớp phụ nữ, động viên, khuyến khích chị em phát huy truyền thống và phẩm chất tốt đẹp, đoàn kết, sáng tạo, tự tin, đấu tranh giải phóng phụ nữ, giải phóng dân tộc, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng. Trải qua các giai đoạn lịch sử khác nhau, phụ nữ Việt Nam luôn nêu cao phẩm chất “Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang”, lập nên nhiều chiến công to lớn, vinh dự được Chủ tịch Hồ Chí Minh khen ngợi: “Non sông gấm vóc Việt Nam do Phụ nữ ta, trẻ cũng như già, ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp, rực rỡ”.

Trong cách mạng Tháng Tám năm 1945, cùng với nhân dân cả nước, hàng triệu phụ nữ Việt Nam đã đứng lên đánh đổ chế độ thực dân, phong kiến, lập nên chính quyền dân chủ nhân dân, tạo bước ngoặt lịch sử trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, đưa phụ nữ Việt Nam từ vị trí người nô lệ, làm thuê trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, phụ nữ cả nước đã hăng hái tham gia phục vụ chiến đấu, góp phần vào chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, kết thúc oanh liệt 9 năm trường kỳ kháng chiến.

Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, suốt 21 năm chiến đấu gian khổ, phụ nữ Việt Nam đã cùng nhân dân cả nước thể hiện rõ ý chí quyết tâm đánh giặc ngoại xâm. Trên chiến trường miền Nam, nơi tuyến đầu của Tổ quốc, chị em đã tham gia làm giao liên, liên lạc; xây dựng cơ sở cách mạng trong lòng địch, nuôi giấu cán bộ, bám đất, bám dân, kiên cường chiến đấu. Nhiều chị em đã tham gia Đội quân tóc dài, các đội: “Nữ du kích”, “Nữ biệt động”, lập nên những chiến công hiển hách. Cùng với phụ nữ miền Nam, phụ nữ miền Bắc đã tích cực tham gia phong trào “Ba đảm đang”, thi đua sản xuất và công tác thay cho nam giới đi chiến đấu; đảm đang công việc gia đình, khuyến khích chồng, con yên tâm chiến đấu; phục vụ chiến đấu khi cần thiết. Chị em không chỉ làm tốt nhiệm vụ chiến đấu, phục vụ chiến đấu và đảm nhiệm phần lớn công việc sản xuất, mà còn vận động các mẹ, các chị động viên chồng con lên đường đánh Mỹ. Hàng vạn phụ nữ đã tình nguyện tham gia thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến. Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước có sự đóng góp to lớn của phụ nữ hai miền Nam - Bắc.           

Từ sau năm 1975, đất nước hoàn toàn thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, phụ nữ Việt Nam đã cùng chung sức khắc phục hậu quả chiến tranh, tập trung xây dựng đất nước. Vào thời kỳ này, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam đã phát động phong trào thi đua “Người phụ nữ mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” với bốn nội dung: Thi đua lao động sản xuất, tiết kiệm, chấp hành chính sách của Đảng, Nhà nước; sẵn sàng phục vụ chiến đấu và chiến đấu tốt, động viên con, em đi chiến đấu, thực hiện tốt chính sách hậu phương quân đội; tổ chức tốt cuộc sống gia đình, nuôi dạy con theo 5 điều Bác Hồ dạy; đoàn kết, tương trợ, học tập, giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ. Hàng triệu phụ nữ đã đạt danh hiệu “Người phụ nữ mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.

Trong công cuộc đổi mới hiện nay, phụ nữ càng có thêm cơ hội đóng góp sức mình vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; những phẩm chất cao quý của phụ nữ Việt Nam càng tiếp tục tỏa sáng. Các tầng lớp phụ nữ trong cả nước đã năng động, sáng tạo, tích cực phấn đấu và có những đóng góp  quan trọng trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị, mở rộng quan hệ quốc tế, tăng cường quốc phòng-an ninh của đất nước. Đánh giá vai trò phụ nữ Việt Nam, Nghị quyết số 11-NQ/TW của Bộ chính trị khóa X “Về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” đã khẳng định: “Phụ nữ giữ vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của xã hội. Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, qua mọi thời kỳ, phụ nữ luôn là lực lượng hùng hậu, có nhiều đóng góp to lớn vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng quốc gia độc lập, tự cường, đấu tranh chống giặc ngoại xâm, giữ gìn nền độc lập của dân tộc”.     

Thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu phụ nữ toàn quốc lần thứ X, các cấp Hội Phụ nữ đã tập trung quán triệt sâu sắc tinh thần nghị quyết của Đại hội cho mọi cán bộ, hội viên phụ nữ cả nước và triển khai thực hiện nghiêm túc; đồng thời, tăng cường vận động phụ nữ cùng nhân dân cả nước tích cực tham gia kiềm chế lạm phát, ngăn chặn suy giảm kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội, tổ chức nhiều hoạt động thiết thực về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; đẩy mạnh phong trào thi đua “Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc”.

Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang tạo môi trường thuận lợi cho công tác phụ nữ và phong trào hoạt động của phụ nữ; đồng thời, cũng đặt ra nhiều khó khăn, thách thức đòi hỏi phải nỗ lực phấn đấu nhiều hơn để nắm bắt cơ hội và vượt qua thử thách. Để đưa phong trào phụ nữ phát triển, phát huy tốt vai trò của phụ nữ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, các cấp Hội phụ nữ cần tập trung thực hiện tốt một số nội dung chủ yếu:

Tập hợp, đoàn kết các tầng lớp phụ nữ; động viên chị em tích cực tham gia phong trào thi đua “Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc” gắn với Cuộc vận động “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 11 của Bộ Chính trị “Về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, cùng 6 nhiệm vụ trọng tâm của Hội. Các hoạt động của Hội phải gắn với nhiệm vụ chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước, của địa phương, đáp ứng nhu cầu chính đáng và lợi ích của đông đảo các tầng lớp phụ nữ; chú trọng đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động của Hội, đa dạng hóa các hình thức hoạt động, nhằm thu hút và phát huy sức mạnh tổng hợp của phụ nữ.

Đẩy mạnh các hoạt động xoá đói, giảm nghèo, dạy nghề, giới thiệu việc làm, hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế gia đình; đặc biệt, quan tâm đến phụ nữ khu vực giải tỏa đất, phụ nữ mất việc làm do ảnh hưởng của suy giảm kinh tế đất nước nhằm giúp chị em phát triển sản xuất, kinh doanh, tự tạo việc làm, tăng thu nhập, ổn định đời sống, góp phần đảm bảo an sinh xã hội, ngăn chặn suy giảm kinh tế. Tiếp tục vận động phụ nữ tích cực tham gia Cuộc vận động ủng hộ xây dựng, sửa chữa “Mái ấm tình thương”, giúp phụ nữ nghèo, phụ nữ đơn thân, phụ nữ khuyết tật có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn ổn định cuộc sống.

Tổ chức tốt các hoạt động phối hợp thực hiện nhiệm vụ quốc phòng- an ninh; trong đó, phối hợp với Bộ Quốc phòng tiến hành tổng kết 5 năm thực hiện chương trình phối hợp giữa Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam với Quân đội nhân dân Việt Nam, xây dựng chương trình phối hợp giai đoạn 2019- 2022 và tiếp tục thực hiện có hiệu quả chương trình phối hợp với Bộ đội Biên phòng. Vận động phụ nữ tích cực tham gia các hoạt động giữ gìn trật tự, an toàn xã hội, phòng chống tội phạm, tham gia dân quân, tự vệ; động viên chồng, con thực hiện nghĩa vụ quân sự, góp phần giữ gìn an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Đẩy mạnh các hoạt động “Đền ơn đáp nghĩa”, thực hiện chính sách hậu phương quân đội, ủng hộ xây dựng nhà tình nghĩa, giúp đỡ thương binh, gia đình liệt sĩ, gia đình có công với cách mạng, Mẹ Việt Nam anh hùng, với truyền thống đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”.

Tăng cường phổ biến, giáo dục pháp luật, giáo dục truyền thống, phẩm chất đạo đức phụ nữ Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Gắn nội dung xây dựng người phụ nữ “Có sức khoẻ, tri thức, kỹ năng nghề nghiệp, năng động, sáng tạo, có lối sống văn hoá, có lòng nhân hậu” với việc xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc và các chuyên đề giáo dục về phòng chống tệ nạn xã hội, phòng chống buôn bán phụ nữ, trẻ em; phòng chống bạo lực gia đình, phòng chống HIV/AIDS, bảo vệ môi trường “Xanh, sạch, đẹp”, vệ sinh an toàn thực phẩm. Xây dựng tổ chức Hội ngày càng vững mạnh. Tập trung các hoạt động hướng về cơ sở; tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ, năng lực cho đội ngũ cán bộ Hội; đặc biệt là cán bộ Hội cơ sở.

Đẩy mạnh hoạt động giám sát việc thực hiện luật pháp, chính sách về bình đẳng giới, việc thực hiện các luật pháp, chính sách đối với lao động nữ và trẻ em, kịp thời phát hiện các vụ việc vi phạm đến quyền lợi, nhân phẩm của phụ nữ, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng cho phụ nữ. Thực hiện tốt những nhiệm vụ trên đây là điều kiện cơ bản để phong trào phụ nữ có những bước tiến mới, phát huy đầy đủ vai trò của phụ nữ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa./.

 

GIÁ TRỊ CỦA BẢN TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP DỐI VỚI SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC HIỆN NAY

                                                                                                          Mặt Trời

          Năm tháng qua đi, nhưng bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa vẫn sống mãi trong lòng bao thế hệ người Việt Nam không chỉ bởi giá trị lịch sử, pháp lí mà còn bởi giá trị nhân văn về quyền con người và quyền dân tộc. Ngày 2/9/1945, tại quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã long trọng đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa - Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á. Tuyên ngôn độc lập là một văn kiện bất hủ, khẳng định một chân lý thiêng liêng: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã trở thành một nước tự do và độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”. Đây là linh hồn của Tuyên ngôn, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc. Phát huy tinh thần của Tuyên ngôn độc lập, dưới sự lãnh đạo của Đảng, dân tộc Việt Nam đã phát huy sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân, đánh thắng các thế lực ngoại xâm, giành lại độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, đưa dân tộc Việt Nam tiến lên phía trước, sánh vai với các cường quốc năm châu trên thế giới theo đúng tâm nguyện của Người. Điều đó thể hiện sự nhạy bén của Đảng trong nhận thức và vận dụng đúng đắn, sáng tạo quy luật dựng nước đi đôi với giữ nước; xây dựng chủ nghĩa xã hội đi đôi với bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa phù hợp với điều kiện thực tế của cách mạng Việt Nam. Ngày nay, chúng ta tiến hành sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong bối cảnh quốc tế và trong nước có nhiều biến đổi to lớn, sâu sắc. Quán triệt và kiên định tinh thần cơ bản của Tuyên ngôn độc lập, Đảng ta vẫn nhất quán khẳng định bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, giữ vững hoà bình, ổn định chính trị, bảo đảm an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội; chủ động ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu và hành động chống phá của các thế lực thù địch đối với sự nghiệp cách mạng. Nhờ đó, hơn 30 năm đổi mới toàn diện, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, nổi bật là đã giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ vững chắc sự lãnh đạo của Đảng, chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm an ninh quốc gia, giữ vững ổn định chính trị - xã hội, phục vụ đất nước hội nhập và phát triển. 74 năm thực hiện Tuyên ngôn độc lập không chỉ khẳng định ý nghĩa lý luận sâu sắc mà còn làm sáng tỏ thêm giá trị thực tiễn to lớn, tính thời sự và tầm vóc thời đại. Tư tưởng của Tuyên ngôn vẫn mãi là ngọn đuốc soi đường cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa ngày nay, đó là:

Độc lập dân tộc - mục tiêu trọng yếu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Độc lập dân tộc là quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm của tất cả các dân tộc. Từ quyền con người ghi trong Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ, Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền cách mạng Pháp năm 1791, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trịnh trọng nhắc lại “Tất cả mọi ngư­ời đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm đ­ược; trong những quyền ấy, có quyền đ­ược sống, quyền tự do và quyền mư­u cầu hạnh phúc” và khái quát quyền con người thành chân lý về quyền cơ bản của các dân tộc: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”. Độc lập dân tộc, theo Hồ Chí Minh, là đất nước thực sự thoát khỏi tình cảnh nô lệ, thực sự được tự do, có chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, nhân dân được sống trong hòa bình và thực sự được hưởng thụ các giá trị nhân văn, dân chủ, công bằng và bình đẳng. Độc lập dân tộc là khát vọng lớn nhất, là vấn đề sống còn đối với mỗi quốc gia, dân tộc; là nguyện vọng chính đáng của mỗi người dân; là mục tiêu, động lực của cuộc đấu tranh giải phóng đất nước khỏi ách đô hộ, áp bức, bóc lột của kẻ thù xâm lược; là mục tiêu hàng đầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Quán triệt, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, xuất phát từ những điều kiện và nhân tố mới như sự điều chỉnh chiến lược của các thế lực thù địch nhằm chống phá các nước xã hội chủ nghĩa và Việt Nam, coi trọng xâm lược bằng phương thức vũ trang sang xâm lược bằng phương thức phi vũ trang, “diễn biến hoà bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” bên trong là chủ yếu; từ thực tiễn bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, Đảng ta đã không ngừng bổ sung, phát triển tư duy lý luận về bảo vệ Tổ quốc lên tầm cao mới. Theo đó, vấn đề độc lập dân tộc ở mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn cách mạng được xác định với những nội hàm ngày càng mở rộng và bao quát hơn trên cơ sở giá trị cốt lõi và tư tưởng chính trị xuyên suốt là độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị. Ngày nay, chúng ta vẫn không ngừng đấu tranh cho độc lập, tự chủ, giữ vững chủ quyền quốc gia và quyền tự quyết, thể hiện trong các vấn đề liên quan tới việc lựa chọn con đường phát triển của đất nước, việc hoạch định và triển khai chính sách đối nội và đối ngoại vì hòa bình và lợi ích quốc gia, dân tộc. Độc lập dân tộc hiện nay không chỉ xác định trong biên giới quốc gia, mà còn thể hiện thông qua vai trò, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, trong việc hợp tác giải quyết các vấn đề có tính toàn cầu và đấu tranh, bảo vệ lợi ích của quốc gia, dân tộc bên ngoài biên giới lãnh thổ. Đảng ta đã giải quyết thành công mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế, nhất là về mối quan hệ giữa hai mặt hợp tác và đấu tranh, giữa lợi ích quốc gia và lợi ích quốc tế, giữa sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại. Và nhiệm vụ bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ hiện nay không chỉ là chống chiến tranh xâm lược, bảo vệ vùng đất, vùng trời, vùng biển của Tổ quốc mà còn gắn liền với việc bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; ngăn chặn và đẩy lùi các nguy cơ, thách thức, xử lý có hiệu quả mọi tình huống liên quan đến quốc phòng, an ninh quốc gia, bảo đảm môi trường hòa bình, ổn định cho sự phát triển của đất nước.

Bảo vệ quyền con người là nền tảng và động lực của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tuyên ngôn độc lập bên cạnh sứ mệnh khai sinh, đưa dân tộc Việt Nam bước vào một kỷ nguyên mới còn là bản tuyên ngôn nhân quyền về cuộc đấu tranh vì quyền bình đẳng thiêng liêng giữa các dân tộc và mỗi người Việt Nam. Trong Tuyên ngôn độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi từ khẳng định quyền con người đến quyền của dân tộc: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra có quyền bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”. Thông qua chân lý đó, Hồ Chủ tịch muốn khẳng định rằng, nhân dân Việt Nam hoàn toàn tán đồng và có chung ý tưởng với nhân loại về quyền bình đẳng, quyền sống và quyền mưu cầu hạnh phúc của con người. Từ ngày lập quốc đến nay, tôn trọng và bảo vệ quyền con người luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm thực hiện, thể hiện nhất quán trong từng chủ trương và chính sách phát triển; mỗi bước phát triển về chính trị, kinh tế - xã hội đều gắn với việc đảm bảo quyền con người, quyền công dân. Chúng ta đã tham gia đầy đủ vào các cơ chế bảo vệ nhân quyền của Liên Hợp quốc như Công ước quốc tế về quyền trẻ em; Công ước quốc tế về chống tra tấn; chăm sóc bảo vệ người cao tuổi; tham gia tích cực các hoạt động chống chiến tranh, bảo vệ hòa bình, môi trường sinh thái, tôn trọng quyền tự quyết của các dân tộc.

Bước vào thời kỳ đổi mới, Đảng ta luôn nhất quán con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển; tôn trọng và bảo vệ quyền con người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích của dân tộc, đất nước và quyền làm chủ của nhân dân. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chỉ rõ Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện. Sự kiện Việt Nam được bầu làm thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp quốc nhiệm kỳ 2014 - 2016 thể hiện rõ quan điểm của Đảng và Nhà nước ta coi quyền con người là giá trị và nguyện vọng chung của nhân loại, thể hiện chính sách nhất quán, tôn trọng, bảo đảm quyền con người và chủ trương tăng cường đóng góp và thúc đẩy hợp tác quốc tế của Việt Nam trên lĩnh vực này; là sự ghi nhận của cộng đồng quốc tế đối với Việt Nam trong việc bảo đảm quyền của người dân. Trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta chủ trương chọn lọc, kế thừa các giá trị của nền văn minh nhân loại, trong đó có kinh tế thị trường, nhà nước pháp quyền, dân chủ và quyền con người trên cơ giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và vai trò lãnh đạo của Đảng, quyền làm chủ của nhân dân. Việt Nam không chấp nhận mô hình dân chủ, nhân quyền phương Tây, không sao chép mô hình “đa nguyên, đa đảng” của các nước tư bản chủ nghĩa; kiên quyết đấu tranh với các âm mưu, hoạt động lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền để chống phá cách mạng Việt Nam.

Xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, là quyền và nghĩa vụ thiêng liêng, cao cả của mỗi người dân Việt Nam. Tuyên ngôn độc lập đã khẳng định một cách đanh thép rằng: “Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”. Điều đó không chỉ khẳng định quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và mỗi người dân Việt Nam đối với sự nghiệp bảo vệ độc lập, tự do của dân tộc mà còn là lời hiệu triệu, kêu gọi, cổ vũ, động viên đồng bào, chiến sĩ cả nước quyết tâm chiến đấu giành tự do, độc lập cho dân tộc. Thực hiện tư tưởng đó, trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, Đảng đã huy động được sự đồng lòng, nhất trí, tập hợp được đông đảo nhân dân kết thành một khối thống nhất vùng lên đánh bại kẻ thù xâm lược, giải phóng dân tộc, thu non sông về một mối. Nối tiếp truyền thống và thành quả cách mạng, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm chăm lo xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, chú trọng đến cộng đồng người Việt Nam định cư ở nước ngoài phấn đấu vì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; xây dựng thế trận lòng dân; kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với nền an ninh nhân dân để bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Do đó, hơn 30 năm đổi mới, mặc dù luôn phải đối mặt với không ít khó khăn, thách thức, thậm chí có những lúc tưởng chừng như không thể vượt qua, nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự đóng góp công sức, trí tuệ của cả hệ thống chính trị, của mỗi công dân, chúng ta không chỉ bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa mà còn xây dựng đất nước ngày càng phát triển, “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”.

Năm tháng qua đi, nhưng bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa vẫn sống mãi trong lòng bao thế hệ người Việt Nam không chỉ bởi giá trị lịch sử, pháp lí mà còn bởi giá trị nhân văn về quyền con người và quyền dân tộc. Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay, trân trọng và phát huy những giá trị của lịch sử là nền tảng tư tưởng, là cơ sở lý luận và thực tiễn vững chắc để tiếp tục đạt được những thắng lợi và thành công trong giai đoạn cách mạng mới theo tinh thần của Tuyên ngôn độc lập./.

 

Ý NGHĨA LỊCH SỬ TO LỚN KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN CỦA BẢN TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP NGÀY 02/9/1945                                        

                                                                                                                   Mặt Trời

          Ngay sau khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã soạn thảo “Tuyên ngôn độc lập” và ngày mùng 2 tháng 9 năm 1945 tại Quảng trường Ba Đình - Hà Nội, trước cuộc mít tinh của hàng chục vạn người đủ các tầng lớp ở cả trong nước và nước ngoài, Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu thay mặt Chính phủ lâm thời trịnh trọng đọc Tuyên ngôn độc lập, tuyên bố với toàn thể quốc dân và thế giới: Nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời - nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á.

Tuyên ngôn độc lập là một văn kiện lịch sử, một văn bản pháp lý quan trọng bậc nhất của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Với hệ thống lập luận ngắn gọn, chặt chẽ, lý lẽ sắc bén, giọng văn hùng hồn, chứa đựng những nội dung bất hủ, một cơ sở pháp lý vững chắc không chỉ có giá trị lịch sử, khẳng định mạnh mẽ chủ quyền quốc gia của dân tộc Việt Nam trước toàn thế giới, mà còn có ý nghĩa thời đại sâu sắc mở ra thời kỳ mới của dân tộc ta trên con đường phát triển đi lên chủ nghĩa xã hội. Tuyên ngôn độc lập cũng là áng văn chính luận giàu chất trí tuệ, chứa đựng những tư tưởng cao đẹp, giàu giá trị nhân bản. Không khô khan, lý trí mà giàu cảm hứng, không bi lụy, cảm thương, mà có giọng điệu hùng tráng quyết đoán, uyển chuyển, thuyết phục. Bản Tuyên ngôn độc lập khẳng định quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm của nhân dân Việt Nam được hưởng tự do, độc lập mà tự mình giành lại từ tay đế quốc, thực dân: “Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn tám mươi năm nay, một dân tộc đã dũng cảm đứng về phía Đồng minh chống phát xít Nhật; dân tộc đó phải được tự do, dân tộc đó phải được độc lập và sự thật đã thành một nước tự do độc lập”.

Không phải ngẫu nhiên Chủ tịch Hồ Chí Minh mở đầu Tuyên ngôn độc lập của mình bằng những lý lẽ bất hủ của tổ tiên người Mỹ và người Pháp được trích dẫn trong hai bản tuyên ngôn nổi tiếng của họ. “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Người lại viện dẫn từ bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng tư sản Pháp năm 1791: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được”. Cách lập luận này vừa khéo léo lại vừa cương quyết. Khéo léo vì Bác cho người đọc thấy rõ sự tôn trọng của mình đối với bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ và bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng Pháp năm 1791. Bản Tuyên ngôn chính thức chỉ ra một chính quyền cách mạng mới của nhân dân Việt Nam được xây dựng và trưởng thành theo đúng ý nguyện của mọi tầng lớp nhân dân và cả dân tộc Việt Nam.          

Tuyên ngôn độc lập khẳng định ý chí sắt đá không gì lay chuyển nổi và đồng thời là triết lý nhân sinh vĩnh hằng của dân tộc Việt Nam được Chủ tịch Hồ Chí Minh phát hiện, khẳng định: “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Tuyên ngôn độc lập là sản phẩm của sự kết hợp các giá trị của truyền thống anh hùng, bất khuất và ý chí độc lập dân tộc của Việt Nam với sứ mệnh cao cả của giai cấp vô sản được đề cập trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản mà Mác, Ăngghen viết năm 1848. Nó thể hiện rõ nét cách mạng Việt Nam là một bộ phận hữu cơ của cách mạng thế giới và giai cấp vô sản Việt Nam là một bộ phận không thể tách rời của giai cấp vô sản thế giới có sứ mệnh lịch sử cao cả và vĩ đại là giải phóng dân tộc và nhân loại.

Bản Tuyên ngôn độc lập là thể hiện lòng trung thành tuyệt đối với chủ nghĩa Mác - Lênin của Đảng Cộng sản Việt Nam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bản Tuyên ngôn còn cho thấy Chủ tịch Hồ Chí Minh có tầm nhìn chiến lược về sự phát triển của đất nước, có những dự báo thiên tài về tương lai của cách mạng cũng như quá trình hội nhập sâu rộng của Việt Nam vào phong trào cách mạng thế giới. Bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam), do Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp soạn thảo và công bố trước toàn thể nhân dân Việt Nam và thế giới cho thấy trí tuệ sắc sảo và lỗi lạc của Người. Đây là kết quả của một quá trình tư duy khoa học độc đáo và thiên tài của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Điều đó càng khẳng định rõ ràng và nhất quán một chân lý hết sức giản dị nhưng có tầm khái quát cao là: Tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh cũng như trí tuệ sắc sảo của Người mãi mãi soi sáng đường chúng ta đi.

Gần tám mươi năm đã trôi qua, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Tuyên ngôn độc lập ngày 2/9/1945 đã trở thành sức mạnh to lớn của toàn dân tộc Việt Nam vượt qua mọi khó khăn, thách thức, thực hiện lời thề thiêng liêng trong ngày Lễ độc lập: “Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”. Ngày nay, trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực còn nhiều diễn biến rất phức tạp, khó lường, tác động trực tiếp đến nước ta, tạo ra cả thời cơ và thách thức. Toàn Đảng, toàn dân ta đã và đang tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh; bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.

 

QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ RA ĐỜI CỦA CHIẾN LƯỢC          “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH”

                                                                                                                    Mặt Trời

          Sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, trước sự lớn mạnh của Liên Xô và sự ra đời của một loạt nước xã hội chủ nghĩa, hệ thống xã hội chủ nghĩa hình thành và không ngừng lớn mạnh, phong trào cách mạng thế giới phát triển nhanh chóng. Đế quốc Mỹ coi Liên Xô là đối thủ chính trên con đường thực hiện giấc mộng bá chủ thế giới. Tổng thống Mỹ H.S.Truman đề ra “chiến lược ngăn chặn”, sử dụng thủ đoạn cứng rắn, coi trọng thủ đoạn quân sự để “ngăn chặn” sự “bành trướng” của Liên Xô và sự phát triển mở rộng của chủ nghĩa cộng sản. Tuy nhiên, chiến lược ngăn chặn không có hiệu quả cao; nhiều người trong chính giới Mỹ tỏ ra thức thời hơn, muốn tìm một phương thức khác có thể chống chủ nghĩa xã hội hiệu quả hơn. G.Kennan, đại diện lâm thời sứ quán Mỹ ở Liên Xô, ngày 22/12/1946 đã đề nghị với Chính phủ Mỹ dùng các biện pháp chống Liên Xô toàn diện hơn, bao gồm bao vây quân sự, phong tỏa kinh tế, lật đổ chính trị.

Tình hình thế giới từ cuối những năm 40 của thế kỷ XX trở đi càng chứng tỏ chính sách đối ngoại của Mỹ dựa trên sức mạnh quân sự với nền tảng độc quyền hạt nhân đã bị phá sản. Tháng 01/1961, Kennedy nhậm chức Tổng thống Mỹ và đưa ra chiến lược “phản ứng linh hoạt” thay thế chiến lược “trả đũa ồ ạt” của Tổng thống Eisenhower trước đó. Chủ trương của Kennedy đối với địch thủ Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu là vừa phải giữ thái độ cứng rắn bằng sức mạnh quân sự, vừa có thái độ mềm dẻo bằng các biện pháp hòa bình, để “giải phóng” các nước này, đưa các nước này trở lại “thế giới tự do”. Với chính sách “mũi tên và cành ô liu”, nước Mỹ đẩy mạnh chạy đua vũ trang, mặt khác cũng tăng cường thực hiện “diễn biến hòa bình”.

Tháng 01/1969, Richard Nixon lên nhậm chức Tổng thống và đã điều chỉnh chiến lược toàn cầu theo hướng giảm bớt sự đối đầu căng thẳng, tăng cường đối thoại hòa bình giữa Mỹ và các đối thủ. Richard Nixon thay thế chiến lược “phản ứng linh hoạt” của thời Kennedy, B.Johnson bằng chiến lược “răn đe thực tế” với chính sách “cây gậy và củ cà rốt”. Tuy vẫn coi trọng răn đe hạt nhân, nhưng đã giảm bớt lực lượng quân sự ở nước ngoài; tạo thế cân bằng giữa các nước lớn; tăng cường tiếp xúc hòa bình với các nước xã hội chủ nghĩa, lấy hòa hoãn thay dần cho “chiến tranh lạnh”; qua tiếp xúc, hòa hoãn để thẩm thấu tư tưởng và văn hóa, tác động vào kinh tế, phá hoại quốc phòng, an ninh, gieo rắc hạt giống chống phá chủ nghĩa xã hội từ bên trong.

Sang thập kỷ 80 của thế kỷ XX, thế giới có những biến chuyển lớn. Trọng điểm cạnh tranh quốc tế đã dần dần chuyển từ chạy đua vũ trang sang phát triển và cạnh tranh về sức mạnh tổng hợp quốc gia, trong đó lấy khoa học công nghệ làm tiên phong, kinh tế làm cơ sở và quân sự làm hậu thuẫn. Nắm bắt được xu thế phát triển mới, chủ nghĩa tư bản đã nhanh chóng ứng dụng khoa học - kỹ thuật hiện đại vào phát triển kinh tế và trang bị quân sự. Chủ nghĩa tư bản hiện đại đạt được sự ổn định và có mặt phát triển. Trong khi đó, nhiều nước xã hội chủ nghĩa lâm vào khủng hoảng. Lợi dụng cơ hội đó, chủ nghĩa đế quốc càng coi trọng chiến lược “diễn biến hòa bình”, lấy đó làm đòn tấn công chính chống phá Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa.

Tổng thống Mỹ R.Reagan, từ đầu nhiệm kỳ thứ hai (1985-1988) đã chuyển hướng chiến lược đối ngoại của Mỹ, lấy “diễn biến hòa bình” làm biện pháp chính đối với các nước xã hội chủ nghĩa. R.Reagan đề xuất cuộc “cách mạng dân chủ” với nội dung chính là dựa vào sức mạnh tổng hợp quốc gia của Mỹ, tăng cường quan hệ kinh tế, văn hóa, đẩy mạnh tuyên truyền tư tưởng... vào các nước xã hội chủ nghĩa để chuyển hóa các nước này; coi đây như là một cuộc “thập tự chinh Đông tiến giành tự do” của chủ nghĩa đế quốc, tấn công toàn diện vào các nước xã hội chủ nghĩa thông qua “diễn biến hòa bình”.

Cuối những năm 80 của thế kỷ XX, chủ nghĩa đế quốc đã hoàn chỉnh chiến lược “diễn biến hòa bình”. Năm 1988, cựu Tổng thống Mỹ R.Nixon cho xuất bản cuốn sách “1999-chiến thắng không cần chiến tranh”. Nixon cho rằng, nhìn về tương lai, trong những năm còn lại của thế kỷ XX, nếu muốn sử dụng lại bất cứ một chính sách nào đã thất bại trong quá khứ đều không thể chấp nhận được; "ngăn chặn" đã lỗi thời, mà phải thực hiện một chiến lược mới - chiến lược “diễn biến hòa bình”.

Tháng 5/1989, Tổng thống Mỹ George H.W.Bush đưa ra chiến lược “vượt trên ngăn chặn”, trong đó, linh hồn là “diễn biến hòa bình”. Bush cho rằng, cuộc đọ sức mang tính lịch sử giữa hai chế độ tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa đã đi vào giai đoạn cuối cùng. Mục tiêu, biện pháp của chiến lược “vượt trên ngăn chặn” là lợi dụng chính sách cải tổ của các nước xã hội chủ nghĩa, thực hiện “diễn biến hòa bình”, lợi dụng hòa hoãn để tác động mọi mặt, làm cho các nước xã hội chủ nghĩa đi chệch hướng xã hội chủ nghĩa, dẫn đến sụp đổ, tan rã. Reagan coi Đông Âu là trọng điểm và Liên Xô là then chốt của “diễn biến hòa bình”./.

Thứ Hai, 28 tháng 8, 2023

 

BÁC BỎ LUẬN ĐIỆU “THAM NHŨNG, THA HÓA, BIẾN CHẤT LÀ CÁI “PHỔ BIẾN” VÀ “TẤT YẾU” CỦA CHẾ ĐỘ ĐỘC ĐẢNG”

 Nhân Trần      

Nhằm mục tiêu làm suy giảm niềm tin của Nhân dân với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa, các thế lực thù địch xuyên tạc rằng: “tham nhũng, tha hóa, biến chất là cái “phổ biến” và “tất yếu” của chế độ độc đảng”. Đây là luận điệu hoàn toàn méo mó về lý luận, lệch lạc về thực tiễn, không thể lừa dối được ai. Lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc Việt Nam có nhiều thời kỳ phát triển rực rỡ nhưng hiếm thấy thời kỳ nào vị thế của dân tộc lại có được như bây giờ. Qua 36 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện, đem đến sức vóc mới, tiếp sức cho chúng ta tiến những bước vững chắc trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Thành công đó là minh chứng hùng hồn về sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và sự tin tưởng tuyệt đối của toàn dân, toàn quân ta với Đảng để đồng lòng, chung sức xây dựng đất nước Việt Nam ngày càng vững mạnh, hùng cường.

Nhưng với mưu đồ chính trị, các thế lực thù địch đã và đang tìm mọi cách chống phá Đảng và chế độ ta. Khi các chiêu bài đòi “đa nguyên, đa đảng” đã hoàn toàn thất bại, họ lại dùng những thủ đoạn khác để thực hiện âm mưu đó. Trong lúc Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta kiên quyết đẩy mạnh công tác đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng tham nhũng, tha hóa, biến chất trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và từng bước đạt được những thành công, thì những thế lực chống đối lại đưa ra luận điệu: “tham nhũng, tha hóa, biến chất là cái “phổ biến” và “tất yếu” của chế độ độc đảng”. Đây vẫn là thủ đoạn xảo trá quen thuộc “lấy bé xé ra to”, lấy hiện tượng quy thành bản chất để phủ định tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Bác Hồ và Nhân dân ta đã lựa chọn. Song, chúng ta có đầy đủ lý lẽ và chứng cứ thực tiễn để bác bỏ luận điệu này.

Thứ nhất, Đảng và Nhà nước ta nhận thức rõ sự nguy hại và đánh giá đúng thực trạng, tình hình tham nhũng, tha hóa, biến chất trong một bộ phận cán bộ, đảng viên. Tham nhũng và sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, tha hóa, biến chất là những hiện tượng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Tham nhũng là một trong những biểu hiện của suy thoái, tha hóa, biến chất và nó là hiện tượng nghiêm trọng nhất. Sinh thời, khi nói về sự nguy hại của tham nhũng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gọi đó là “giặc nội xâm” và Người yêu cầu phải kiên quyết đấu tranh chống kẻ địch nguy hiểm này cùng với các căn bệnh khác như tha hóa, thoái hóa, biến chất. Còn Đảng ta xác định, tham nhũng cùng với tha hóa, biến chất là một trong những “nguy cơ lớn” đe dọa sự tồn vong của chế độ ta.

Nhận rõ sự nguy hại của tình trạng tham nhũng, tha hóa, biến chất của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, tại các kỳ đại hội Đảng, nhất là những đại hội gần đây, Đảng ta đã luôn đặc biệt chú trọng đến nhiệm vụ phòng, chống các tệ nạn này. Văn kiện Đại hội X của Đảng nêu rõ: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, bệnh cơ hội, giáo điều, bảo thủ, chủ nghĩa cá nhân và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức còn diễn ra nghiêm trọng”1. Đại hội XI của Đảng nhận định: “Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí còn nghiêm trọng”2. Đại hội XII của Đảng xác nhận: “Tình trạng tham nhũng, lãng phí vẫn còn nghiêm trọng với biểu hiện ngày càng tinh vi, phức tạp,... Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi”3. Đại hội XIII của Đảng tiếp tục nhấn mạnh: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, chủ nghĩa cá nhân, “lợi ích nhóm”, bệnh lãng phí, vô cảm, bệnh thành tích ở một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi”4.

Những đánh giá của Đảng ta là rất nghiêm túc, khách quan, khoa học, đúng thực chất mức độ và tác hại của các hiện trạng tiêu cực vẫn đang diễn biến phức tạp. Có thể thấy rằng, việc xác định một bộ phận không nhỏ là sự đánh giá định tính nhưng rất chính xác (không nhỏ nghĩa là đã có con số đáng kể, có lớn nhưng chưa phải số đông, đáng kể nhưng vẫn là thiểu số, không phải đa số). Số liệu cụ thể cho thấy, năm 2022, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã thi hành kỷ luật đối với 38 tổ chức đảng, 166 đảng viên; đề nghị Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư kỷ luật 19 tổ chức đảng, 43 đảng viên. Từ đầu nhiệm kỳ XIII đến nay đã thi hành kỷ luật 67 cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý, trong đó có 07 Ủy viên Trung ương Đảng, 06 nguyên Ủy viên Trung ương Đảng. Với số lượng 67 trường hợp bị xử lý trong hàng nghìn cán bộ do Trung ương quản lý cũng như 07 trường hợp kỷ luật trong hàng trăm Ủy viên Trung ương thì không thể coi đó là “phổ biến”.

Thứ hai, Đảng và Nhà nước ta kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, suy thoái, tha hóa, biến chất trong đội ngũ cán bộ, đảng viên và đã đạt được những kết quả tích cực. Nhận thức rõ tham nhũng, tha hóa, biến chất trong một bộ phận cán bộ, đảng viên sẽ làm suy yếu Đảng, suy giảm quyền lực của Nhà nước và sói mòn lòng tin của Nhân dân, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình chung của đất nước, Đảng và Nhà nước có quyết tâm chính trị cao trong việc phòng, chống các biểu hiện tiêu cực này. Bởi vậy, việc phòng, chống tham nhũng, tha hóa, biến chất trong đội ngũ cán bộ, đảng viên trở thành nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách của công tác xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước và hệ thống chính trị.

Tại Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (năm 1994), Đảng ta đã xác định nạn tham nhũng và các tệ nạn xã hội khác là một trong bốn nguy cơ đối với Đảng. Các nhiệm kỳ tiếp theo, Đảng ta ban hành nhiều nghị quyết liên quan đến công tác phòng, chống tham nhũng, suy thoái, thoái hóa, biến chất. Đại hội XII của Đảng xác định nhiệm vụ trọng tâm: “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”5. Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí, với quyết tâm chính trị cao hơn, hành động mạnh mẽ, triệt để hơn, hiệu quả hơn. Kết hợp chặt chẽ giữa tích cực phòng ngừa với chủ động phát hiện, xử lý nghiêm minh, kịp thời những hành vi tham nhũng, lãng phí, bao che, dung túng, tiếp tay cho tham nhũng, can thiệp, cản trở việc chống tham nhũng, lãng phí, không có vùng cấm, không có ngoại lệ”6.

Cụ thể hóa các quan điểm, chủ trương của Đảng, Nhà nước đã ban hành hệ thống các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo công tác phòng, chống các tệ nạn này; các cơ quan chuyên trách được kiện toàn, đẩy mạnh hoạt động và phát huy hiệu quả. Cùng với những giải pháp quyết liệt trong nước, Việt Nam đã tham gia ký kết nhiều văn bản pháp lý quốc tế về phòng, chống tham nhũng. Với quyết tâm chính trị cao của Đảng và Nhà nước, sự vào cuộc tích cực của cả hệ thống chính trị và sự đồng thuận, hưởng ứng của nhân dân, công tác phòng, chống tham nhũng, tha hóa, biến chất đã đạt được những kết quả tích cực. Trả lời phỏng vấn Thông tấn xã Việt Nam nhân dịp đầu năm mới 2023, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: năm 2022, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã được Trung ương lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, có nhiều điểm mới, đạt nhiều kết quả cụ thể, được cán bộ, đảng viên, nhân dân và dư luận quốc tế đồng tình ủng hộ, đánh giá cao. Tổng Bí thư cũng chỉ rõ: trước một số ý kiến cho rằng, nếu quá tập trung vào chống tham nhũng sẽ làm “nhụt chí”, “chùn bước” những người dám nghĩ, dám làm, sẽ làm “chậm sự phát triển đất nước”, nhưng thực tế đã chứng minh, chính nhờ làm tốt công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, chúng ta giữ vững ổn định chính trị xã hội, phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội, mở rộng quan hệ đối ngoại, củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân và bạn bè quốc tế.

Thứ ba, tình trạng tham nhũng, tha hóa, biến chất về nhân cách là “quốc tế nạn” chứ không phải ở chế độ một đảng cầm quyền. Chúng ta biết, quy luật của tự nhiên và xã hội luôn có sự phát triển không đồng đều. Trong một khu rừng, cùng một loại cây hoặc muông thú đều có cá thể mạnh, yếu và khuyết tật; trong một cây rất tươi tốt cũng có cành mục, cành khô; trong đời sống xã hội bao giờ cũng có người tốt và kẻ xấu và tham nhũng, suy thoái, tha hóa nhân cách cũng vậy, ở chế độ nào cũng có, nhưng không thể là cái “phổ biến”, mà chỉ là hiện tượng mang tính xã hội, tồn tại ở tất cả các quốc gia khi quyền lực nhà nước bị thao túng, lợi dụng để trục lợi và được coi là “quốc tế nạn” ở mọi thể chế chính trị, là căn bệnh nan y đã có từ rất lâu trong lịch sử loài người. Như vậy, chế độ một đảng cầm quyền không phải là nguyên nhân sinh ra tệ tham nhũng, suy thoái, tha hóa, biến chất. Theo Tổ chức Minh bạch Quốc tế, tham nhũng là tệ nạn rất nhức nhối, xuất hiện ở nhiều quốc gia, trong đó nhiều nhất lại là ở các quốc gia có chế độ đa đảng do giai cấp tư sản lãnh đạo. Nhiều quốc gia không phải đảng cộng sản cầm quyền, như: Hàn Quốc, Malaysia, Colombia, Brazil, Ukraine,… tham nhũng xảy ra rất nghiêm trọng. Ngay cả Nghị viện châu Âu (EP) cũng vừa vướng vào bê bối tham nhũng, cụ thể: giới chức Bỉ ngày 11/12/2022 đã bắt 04 cá nhân với cáo buộc nhận tiền và quà từ một quốc gia vùng Vịnh. Trong số 04 người này có nghị sĩ Hy Lạp Evakaili là một trong 14 phó chủ tịch EP và Francisco Giogi, cố vấn của EP. Vừa qua, cựu nghị sĩ Ukraine Kostiantyn Zhevago bị bắt ở Pháp vì bị cáo buộc tham ô gần 200 triệu USD ở quê nhà; tháng 7/2022, Thủ tướng Anh Boris Johnson buộc phải từ chức vì bê bối về nhân cách, v.v.

Những luận chứng, luận cứ trên đã khẳng định: “tham nhũng, tha hóa, biến chất” là một hiện tượng mang tính xã hội, ở chế độ xã hội nào cũng có, không thể quy thành bản chất của chế độ độc đảng. Vì thế, luận điệu: tham nhũng, tha hóa, biến chất là cái “phổ biến” và “tất yếu” của chế độ độc đảng - một cách nhìn méo mó về lý luận, lệch lạc về thực tiễn, cần kiên quyết bác bỏ. Với sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, sự quyết liệt trong điều hành của Nhà nước, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, cùng sự đồng thuận của nhân dân, chúng ta hoàn toàn tin tưởng cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tha hóa, biến chất nhất định sẽ đạt nhiều thắng lợi, sự nghiệp cách mạng của chúng ta nhất định thành công./.

 

PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VIỆC THÀNH LẬP BAN CHỈ ĐẠO CẤP TỈNH VỀ PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG, TIÊU CỰC

 Nhân Trần      

Những luận điệu suy diễn, xuyên tạc vô căn cứ

Lợi dụng việc Hội nghị Trung ương 5 khóa XIII thảo luận và thống nhất chủ trương thành lập Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, các đối tượng xấu đã đăng tải, chia sẻ trên mạng xã hội nhiều thông tin, luận điệu xuyên tạc, sai trái nhằm mục đích chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ, gây phân tâm trong dư luận. Sau 6 ngày làm việc khẩn trương, nghiêm túc và với tinh thần trách nhiệm cao, Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đã hoàn thành toàn bộ nội dung chương trình đề ra và bế mạc vào chiều ngày 10/5. Hội nghị đã tập trung nghiên cứu, đánh giá, thảo luận và quyết nghị nhiều vấn đề quan trọng  như: Tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa XI về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới; tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; cho ý kiến về Đề án xây dựng tổ chức cơ sở đảng và đảng viên… Đặc biệt, Hội nghị đã thảo luận và thống nhất chủ trương thành lập Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 5, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cho biết, Ban Chấp hành Trung ương đã bàn và thống nhất rất cao về chủ trương thành lập Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, coi đây là việc làm cần thiết, đúng đắn, phù hợp với tình hình thực tế hiện nay. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng khẳng định, nghiêm túc tổ chức, hoạt động theo đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn như nêu trong Đề án chắc chắn sẽ góp phần tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện quyết liệt, đồng bộ từ Trung ương đến địa phương, tạo sự chuyển biến tích cực, mạnh mẽ hơn nữa trong công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Tuy nhiên, ngay sau khi Hội nghị Trung ương 5 thông qua chủ trương thành lập Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, trên một số diễn đàn Internet, mạng xã hội, các đối tượng xấu, phần tử phản động đã đăng tải, chia sẻ nhiều thông tin tiêu cực, sai trái, xuyên tạc, suy diễn chủ trương của Đảng nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta, gây phân tâm trong xã hội.

Luận điệu mà các đối tượng này đưa ra đó là: “Tham nhũng tại Việt Nam như một con virus ăn sâu vào tế bào của Đảng Cộng sản, từ trên xuống dưới”; việc thành lập Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực chứng tỏ công tác chống tham nhũng ở Việt Nam “không hiệu quả”, “không có chuyển biến”; “Việt Nam chống tham nhũng loay hoay như con kiến đa cành”… Một số đối tượng thì đặt ra những câu hỏi theo kiểu “lập lờ đánh lận con đen” như: “thành lập Ban chỉ đạo cấp tỉnh/thành có giúp xóa được tham nhũng?”, “việc trao quyền cho Bí thư tỉnh làm Trưởng Ban Chỉ đạo cấp tỉnh phải chăng là sai lầm khi tập trung quyền lực quá nhiều cho Bí thư tỉnh?”… Cá biệt, có đối tượng còn đưa ra luận điệu xuyên tạc, suy diễn vô căn cứ rằng, chính quyền sinh ra tham nhũng rồi lại thành lập Ban chỉ đạo phòng, chống tham nhũng thực sự chỉ để “làm khổ người dân”. Đây rõ ràng là những luận điệu suy diễn, xuyên tạc vô căn cứ nhằm bôi nhọ Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam, xuyên tạc chủ trương, quyết tâm chống tham nhũng của Đảng, Nhà nước ta.

Chủ trương của Đảng được hiện thực hóa bằng những bước tiến trong công tác phòng chống tham nhũng

Trước hết cần khẳng định rằng, tham nhũng không phải là “sản phẩm riêng” của Việt Nam hay của một nước nào mà nó diễn ra ở tất cả các quốc gia trên thế giới, là một vấn nạn mang tính toàn cầu. Tham nhũng là một hiện tượng xã hội tiêu cực có tính lịch sử, xuất hiện gắn liền với sự xuất hiện chế độ tư hữu và sự xuất hiện nhà nước. Tham nhũng luôn song hành cùng quyền lực. Do đó, tham nhũng tồn tại ở mọi chế độ xã hội với những biểu hiện và mức độ khác nhau, tùy thuộc bối cảnh chính trị, kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia, mỗi vùng lãnh thổ trong từng giai đoạn phát triển. Ở Việt Nam, Đảng ta khẳng định tham nhũng là “quốc nạn”, là “giặc nội xâm” và lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt vấn đề phòng, chống tham nhũng. Đảng ta xác định phòng, chống tham nhũng là một trong những nội dung cốt lõi, trọng tâm của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Chính vì vậy, đây không chỉ là nhiệm vụ của Trung ương Đảng, Bộ Chính trị mà còn là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị, của tất cả các cơ quan, đoàn thể, địa phương. Trong bối cảnh tình trạng tham nhũng, tiêu cực, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ vẫn chưa bị đẩy lùi và còn có chiều hướng diễn biến phức tạp, chủ trương thành lập Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng là hoàn toàn đúng đắn và cần thiết vào lúc này, thể hiện quyết tâm cao hơn trong công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng.

Vấn đề tham nhũng, tiêu cực không phải chỉ ở cấp Trung ương mà xảy ra từ cấp xã đến huyện, tỉnh. Do đó, việc thành lập Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực không chỉ để khắc phục tình trạng “trên nóng, dưới lạnh” mà còn được xem như là “cánh tay nối dài của Trung ương” nhằm giải quyết một cách kịp thời những vấn đề còn bức xúc trong dân, những vấn đề còn tồn đọng, tiêu cực, tham nhũng ở địa phương. Đồng thời, giúp cho công tác đấu tranh chống tham nhũng liền mạch, chặt chẽ, thống nhất theo hệ thống từ Trung ương đến địa phương. Kể từ khi được thành lập năm 2006, đặc biệt là từ khi Hội nghị Trung ương 5 khóa XI (năm 2012) quyết định tổ chức lại Ban Chỉ đạo về phòng, chống tham nhũng trực thuộc Bộ Chính trị, do Tổng Bí thư làm Trưởng Ban đến nay, công tác phòng, chống tham nhũng ở nước ta đã có bước tiến mạnh, đột phá, đạt được nhiều kết quả rất quan trọng. Tham nhũng từng bước được kiềm chế, ngăn chặn, góp phần quan trọng vào công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, giữ vững ổn định chính trị và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Trong nhiệm kỳ Đại hội XII, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật hơn 87.000 cán bộ, đảng viên, trong đó có trên 32.000 đảng viên bị kỷ luật liên quan đến tham nhũng; đã thi hành kỷ luật hơn 110 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý (27 Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng; 4 Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị; hơn 30 sĩ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang). Năm 2021, năm đầu tiên thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật đối với 618 đảng viên do tham nhũng, cố ý làm trái. Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã xử lý nhiều cán bộ cấp cao vi phạm liên quan đến tham nhũng, tiêu cực, trong đó có 32 trường hợp thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý. Từ đầu năm 2022 đến nay, các cơ quan tố tụng cả nước đã khởi tố, điều tra 1.264 vụ/2.038 bị can, truy tố 742 vụ/1.594 bị can, xét xử sơ thẩm 737 vụ/1.567 bị cáo về các tội tham nhũng, kinh tế, chức vụ. Trong đó, đã khởi tố, điều tra nhiều vụ án lớn, đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp; đã khởi tố 8 cán bộ diện Trung ương quản lý. Điều đó cho thấy, công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đang đi đúng hướng và được thực hiện rất quyết liệt, hiệu quả với quyết tâm chính trị cao nhất.

Thêm cánh tay nối dài của Trung ương về phòng chống tham nhũng

Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về phòng, chống tham nhũng được thành lập lần này sẽ hoạt động trên các quy định, quy chế cụ thể. Phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là một lĩnh vực khó, nhạy cảm và cần quyết tâm chính trị rất cao nên thành phần Ban Chỉ đạo phải gồm những người đứng đầu ở cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, tổ chức hữu quan giữ vai trò trọng yếu ở địa phương. Trưởng Ban Chỉ đạo phải chịu trách nhiệm trước Đảng bộ, chính quyền và nhân dân địa phương về công tác phòng, chống tham nhũng ở địa phương. Nếu người đứng đầu các địa phương thể hiện sự quyết tâm, quyết liệt trong phòng, chống tham nhũng, tiêu cực thì công tác này sẽ đi vào thực chất, làm trong sạch bộ máy, củng cố niềm tin trong nhân dân. Ngược lại, nếu người đứng đầu không xứng đáng, không làm được thì sẽ có cơ quan có thẩm quyền xử lý. Qua phân tích, đánh giá, có thể thấy rõ rằng, những luận điệu suy diễn, xuyên tạc chủ trương thành lập Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực vừa được Hội nghị Trung ương 5 khóa XIII thông qua của một số cá nhân, tổ chức thực chất là nhằm bôi nhọ, hạ thấp danh dự, uy tín của Đảng, Nhà nước Việt Nam; phủ nhận quyết tâm, nỗ lực chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng, Nhà nước ta. Chủ trương thành lập Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã nhận được sự đồng thuận rất cao. Đây là việc làm cần thiết, đúng đắn, phù hợp với tình hình thực tế và chắc chắn sẽ góp phần tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện quyết liệt, đồng bộ từ Trung ương đến địa phương, tạo sự chuyển biến tích cực, mạnh mẽ hơn nữa trong công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta theo đúng tinh thần “trên dưới đồng lòng, dọc ngang thông suốt”./.

 

PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG LÀ “ĐẤU ĐÁ NỘI BỘ, TIÊU DIỆT PHE CÁNH” 

                                                                                                  Nhân Trần

Thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lợi dụng những vấn đề được dư luận xã hội quan tâm để tung ra các luận điệu sai trái, xuyên tạc trên các phương tiện truyền thông xã hội, nhất là về cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng ta. Chúng rêu rao rằng, “đấu tranh, phòng, chống tham nhũng, xử lý cán bộ, đảng viên là “đấu đá nội bộ, phe cánh”, “thanh trừng phe phái”, nhằm làm giảm sút uy tín của Đảng đối với nhân dân. Do đó, mỗi cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân cần phải luôn tỉnh táo, nhận thức đúng đắn, nhận diện rõ âm mưu, thủ đoạn trên, đồng thời phải tích cực đấu tranh phòng ngừa và phản bác những luận điệu sai trái để bảo vệ Đảng, bảo vệ Tổ quốc.

 “Bệnh tham nhũng” trong cán bộ, đảng viên được Chủ tịch Hồ Chí Minh diễn đạt trong một thuật ngữ chung nhất là “tham ô”. Người cho rằng: “Tham ô là hành động xấu xa nhất, tội lỗi, đê tiện nhất trong xã hội. Tham ô là trộm cắp của công, chiếm của công làm của tư. Nó làm hại đến sự nghiệp xây dựng đất nước; hại đến công việc cải thiện đời sống của nhân dân; hại đến đạo đức cách mạng của người cán bộ và công nhân”. Đó là “giặc nội xâm”, là loại giặc “vô hình, vô cảm”, là “kẻ địch trong người, trong nội bộ” vô cùng nguy hiểm. Nó “luôn luôn lẩn lút trong mình ta”, “khó thấy, khó biết”; đó là “một cuộc chiến đấu khổng lồ” để “chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi”.

Để phòng, chống tham nhũng, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, cần phải có sự lãnh đạo, chỉ đạo tập trung, thống nhất của Đảng và Chính phủ; cần xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện rộng rãi trong cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân; phải làm cho quần chúng nhân dân khinh ghét, xa lánh tham ô, lãng phí; kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”; mỗi cán bộ, đảng viên phải nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân…

Hội nghị giữa nhiệm kỳ khoá VII (năm 1994), Đảng ta xác định tham nhũng và tệ quan liêu là một trong bốn nguy cơ, thách thức lớn, cản trở công cuộc đổi mới đất nước. Hội nghị Trung ương 6 (lần 2) khóa VIII khẳng định: “Tình trạng tham nhũng, quan liêu, lãng phí của một bộ phận cán bộ, đảng viên có chiều hướng phát triển nghiêm trọng hơn”; Đại hội IX của Đảng nhấn mạnh: “Nạn tham nhũng diễn ra nghiêm trọng, kéo dài gây bất bình trong nhân dân và là một nguy cơ đe dọa sự sống còn của chế độ ta”. Đại hội X của Đảng tiếp tục khẳng định: “Tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, sách nhiễu dân trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên diễn ra nghiêm trọng, kéo dài chưa được ngăn chặn, đầy lùi... Đó là một nguy cơ lớn liên quan đến sự sống còn của Đảng, của chế độ”.

Đại hội XI của Đảng chỉ rõ: “Tham nhũng, lãng phí, quan liêu, những tiêu cực và tệ nạn xã hội chưa được ngăn chặn, đẩy lùi mà còn tiếp tục diễn biến phức tạp... làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, đe dọa sự ổn định, phát triển của đất nước”; Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khoá XI “Một số vấn đề cấp bách về công tác xây dựng Đảng hiện nay” xác định, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực là một trong 9 biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống.

Đại hội lần thứ XII của Đảng nhận định: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện tự diễn biến, tự chuyển hóa trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức; sự tồn tại và những diễn biến phức tạp của tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí”.

Đại hội XIII của Đảng đánh giá: “Tham nhũng, lãng phí trên một số lĩnh vực, địa bàn vẫn còn nghiêm trọng, phức tạp với những biểu hiện ngày càng tinh vi, gây bức xúc trong xã hội. Tham nhũng vẫn là một trong những nguy cơ đe dọa của Đảng và chế độ ta”.

Việc chống tham nhũng càng được cụ thể hóa hơn bằng những phiên họp thường xuyên, liên tục của Ban Chỉ đạo Trung ương về việc phòng chống tham nhũng do đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trưởng ban chỉ đạo phòng chống nhằm làm trong sạch bộ máy nhà nước, xây dựng uy tín của Đảng với nhân dân, đưa đất nước lên tầm cao mới, hiện đại hóa, công nghiệp hóa. Như vậy, việc kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là quan điểm nhất quán, xuyên suốt của Đảng ta, xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng đặt ra; từ vị thế, uy tín của Đảng trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng; từ đòi hỏi Đảng ta phải không ngừng trong sạch, vững mạnh, đủ sức chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam đến bến bờ vinh quang. Việc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực không làm cho nội bộ mất đoàn kết, không phải giữa các “phe cánh”, mà góp phần quan trọng vào việc thực hiện thắng lợi Cương lĩnh, Điều lệ của Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng; tăng cường đoàn kết, gắn bó máu thịt giữa Đảng với Nhân dân; thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển; giữ vững ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội; xây dựng, phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; giữ vững, củng cố niềm tin vững chắc của cán bộ, đảng viên, các tầng lớp nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng./.