Thứ Tư, 6 tháng 7, 2022

 

THÀNH LẬP BAN CHỈ ĐẠO PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG CẤP TỈNH LÀ ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CỦA THỰC TIỄN

Đại hội XIII của Đảng, Kết luận Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII, Quy định số 32-QĐ/TW ngày 16/9/2021 của Bộ Chính trị và nhiều Kết luận của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực (Ban Chỉ đạo Trung ương) thời gian gần đây đã nhấn mạnh trọng tâm phải đẩy mạnh phòng và đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực trong cả hệ thống chính trị. Trong đó, tập trung gắn phòng, đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực với phòng và chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp của các cấp ủy, tổ chức đảng trong hệ thống chính trị. Đi liền cùng đó là phải tạo chuyển biến mạnh mẽ trong công tác phát hiện, xử lý tham ô, tham nhũng, tiêu cực tại địa phương, cơ sở; khắc phục tình trạng trên nóng, dưới lạnh…

Sau 5 năm thực hiện Kết luận số 10-KL/TW ngày 26/12/2016 của Bộ Chính trị khóa XII về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 khoá X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí (Kết luận 10), công tác phòng, đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực đã có những bước tiến tích cực; tham nhũng từng bước được kiềm chế, ngăn chặn… Tuy nhiên, không thể phủ nhận rằng, tình trạng cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức nhũng nhiễu, tiêu cực, gây phiền hà cho người dân và doanh nghiệp vẫn chưa được ngăn chặn kịp thời. Tại các cấp, vẫn còn những vụ việc tham nhũng nghiêm trọng, những biểu hiện tiêu cực trá hình có tổ chức, rất tinh vi, phức tạp, không chỉ gây bức xúc trong dư luận mà còn đe dọa vai trò lãnh đạo của Đảng và sự tồn vong của chế độ. Trong khi đó, một số nhiệm vụ, giải pháp đã nêu trong Kết luận số 10-KL/TW tuy đã được triển khai thực hiện, song vẫn còn chậm và hiệu quả chưa cao…

Vì thế, ngày 6/4/2022, Bộ Chính trị khóa XIII đã ban hành Thông báo Kết luận số 12-KL/TW về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực (Kết luận 12). Trong đó, những yêu cầu được nêu trong Kết luận 12 là phải khẩn trương rà soát, bổ sung, hoàn thiện thể chế phòng ngừa tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; cơ chế kiểm soát quyền lực trong các lĩnh vực, hoạt động dễ phát sinh tham nhũng, tiêu cực; các quy định và chế tài xử lý đối với tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống… Đồng thời, cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu các cấp phải nêu cao tinh thần trách nhiệm, quyết liệt, đi đầu, trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện công tác phòng, đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực; đảng viên phải gương mẫu hơn quần chúng, cán bộ phải gương mẫu hơn nhân viên, cán bộ giữ chức vụ càng cao càng phải gương mẫu. Đi liền cùng đó là sửa đổi, bổ sung Luật Đất đai, Luật Phòng, chống tham nhũng, Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, Luật Thanh tra, Luật Thực hành dân chủ ở xã, phường, thị trấn, Luật Tiếp công dân và các dự án luật khác liên quan trực tiếp đến phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực… để tiếp tục đẩy mạnh, tạo chuyển biến rõ rệt hơn nữa trong phát hiện, xử lý tham nhũng ở địa phương, cơ sở; để xử lý nghiêm những trường hợp nhũng nhiễu, vòi vĩnh, gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp.

Vì thế, trên tinh thần vừa kế thừa kinh nghiệm của Ban Chỉ đạo Trung ương, vừa xuất phát từ yêu cầu nhiệm vụ về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực tại địa phương và nhất là để bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện, thống nhất của Ban Chỉ đạo Trung ương đối với việc thực hiện các nhiệm vụ phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, việc thành lập Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực (Ban Chỉ đạo cấp tỉnh) không chỉ được xem là “cánh tay nối dài của Trung ương” để sâu sát hơn, kịp thời hơn trong việc giải quyết những vấn đề còn tồn đọng, bức xúc trong dân ở các địa phương mà còn thiết thực làm cho công tác đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực được chỉ đạo, tiến hành thống nhất, liền mạch, chặt chẽ theo hệ thống từ Trung ương đến địa phương.

Việc Trung ương quyết định thành lập Ban Chỉ đạo cấp tỉnh mà Bí thư tỉnh ủy, thành ủy làm Trưởng Ban Chỉ đạo phòng chống tham nhũng cấp tỉnh theo Quy định 67-QĐ/TW ngày 2/6/2022 về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy, chế độ làm việc, quan hệ công tác của Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng, tiêu cực tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là thể hiện chủ trương đẩy mạnh chống tham nhũng, tiêu cực quyết liệt, không ngừng, không nghỉ; là thể hiện quyết tâm không khoan nhượng, không bao che với các hiện tượng tham nhũng, tiêu cực; đồng thời, bảo đảm cho công tác phòng, đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực được thực hiện thông suốt, đồng bộ từ Trung ương đến địa phương trên tinh thần "trên dưới đồng lòng, dọc ngang sáng suốt” để đạt được hiệu quả cao nhất.

Theo TS. Nguyễn Đình Quyền - nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp của Quốc hội thì chủ trương lập Ban Chỉ đạo cấp tỉnh là cần thiết và thực tế đã và đang được triển khai trên cả nước. Ban Chỉ đạo Trung ương và Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là một trong những thiết chế rất đặc thù của hệ thống chính trị Việt Nam. Việc từ Trung ương đến địa phương đều có cơ quan thực thi nhiệm vụ phòng và đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực không chỉ góp phần làm tốt hơn việc kiểm soát quyền lực chính trị, kiểm soát trách nhiệm công vụ đối với hoạt động phòng, đấu tranh chống tham nhũng của các cơ quan/tổ chức/đơn vị và những người có chức vụ/quyền hạn trong hệ thống chính trị, trong bộ máy Nhà nước, mà còn góp phần kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc, bất cập về mặt thể chế, chủ trương, đường lối để tăng cường hơn nữa hiệu lực, hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trên thực tế.

Thống nhất trong chủ trương và quyết liệt trong xử lý các vụ án tham nhũng, các hành vi tiêu cực là thiết thực phòng, chống, ngăn chặn, đầy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên; là để làm trong sạch Đảng, để Đảng xứng đáng với vai trò tiền phong.

Việc thành lập Ban Chỉ đạo cấp tỉnh là một minh chứng cho thấy, chưa bao giờ công tác phòng và đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực lại được chỉ đạo mạnh mẽ, đồng bộ, quyết liệt, hiệu quả như hiện nay. Cũng chưa bao giờ, những chủ trương đúng đắn, những chỉ đạo sát sao và những dấu ấn nổi bật trong công tác phòng, đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực ở Việt Nam lại tạo được sự đồng thuận cao trong xã hội; lại góp phần củng cố và tăng cường niềm tin của cán bộ, đảng viên, các tầng lớp nhân dân đối với Đảng, Nhà nước như hiện nay.

Sự Thật

 

ĐẨY MẠNH CHỐNG THAM NHŨNG GẮN VỚI KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC ĐỂ XÂY DỰNG ĐẢNG

Ở Việt Nam, đấu tranh chống tham ô, tham nhũng và những biểu hiện tiêu cực khác đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh cảnh báo từ rất sớm; đã được Đảng Cộng sản Việt Nam chú trọng triển khai gắn liền với công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng suốt hành trình hơn 92 năm qua; đặc biệt được đẩy mạnh trong hơn trong hơn 35 năm đất nước thực hiện công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế.

Để phòng và đấu tranh chống tham nhũng hiệu quả, thời gian qua, Đảng không chỉ ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, quy định, kết luận liên quan đến công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng nói chung; công tác phòng và đấu tranh chống tham nhũng nói riêng mà còn lãnh đạo chặt chẽ công tác này để nhằm mục tiêu ngăn chặn, từng bước đẩy lùi tham nhũng. Tiếp tục tinh thần phòng và đấu tranh chống tham nhũng của các nhiệm kỳ trước, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh việc phải “khẩn trương xây dựng cơ chế phòng ngừa, cơ chế răn đe để kiểm soát tham nhũng. Thực hiện nghiêm quy định của pháp luật về thực hành tiết kiệm chống lãng phí. Tiếp tục thực hiện chặt chẽ có hiệu quả về kê khai, kiểm soát, kê khai tài sản, thu nhập của đội ngũ cán bộ, công viên chức, nhất là cán bộ lãnh đạo các cấp”[1]; đồng thời, "triển khai đồng bộ có hiệu quả quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng. Nâng cao hiệu quả thu hồi tài sản tham nhũng, bảo đảm đúng pháp luật. Thực hiện quyết liệt nghiêm minh có hiệu quả cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng”[2].

Triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII vào cuộc sống, công tác phòng và đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực nhiệm kỳ này được triển khai nghiêm túc, đồng bộ gắn liền với việc thực hiện Kết luận số 01-KL/TW ngày 18/5/2021 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị khóa XII về "Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh", Kết luận số 21 về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khoá XII về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá"; Quy định số 37-QĐ/TW về những điều đảng viên không được làm và các quy định về nêu gương… để xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị thực sự trong sạch, vững mạnh.

Đặc biệt, Kết luận của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng - Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực tại phiên họp thứ 21 của Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng tiêu cực ngày 20/1/2022 cho thấy chủ trương kiên quyết của Đảng đối với công tác này. Cụ thể, một trong những nhiệm vụ trọng tâm của năm 2022 mà các cơ quan, ban, ngành chức năng cần phải triển khai, đó là "tập trung lãnh đạo, chỉ đạo tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện thể chế để "không thể tham nhũng"; cụ thể hoá, thể chế hoá đầy đủ, kịp thời các chủ trương, giải pháp về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, trọng tâm là hoàn thiện thể chế kiểm soát quyền lực để phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong các lĩnh vực dễ phát sinh tham nhũng, tiêu cực; cơ chế kiểm soát tài sản, thu nhập, bảo đảm thực chất, hiệu quả".

Thực tế, thực hiện đúng quan điểm chỉ đạo của Đảng là đấu tranh chống tham nhũng phải luôn tuân thủ quy định của pháp luật; đấu tranh chống tham nhũng  phải quyết liệt, không ngừng, không nghỉ, không có vùng cấm, không có ngoại lệ… những kết quả đạt được của công tác này những năm qua không chỉ tạo được bước đột phá mà còn góp phần từng bước hình thành cơ chế răn đe để mỗi cán bộ, đảng viên ở các cơ quan công quyền "không dám tham nhũng, không thể tham nhũng và không muốn tham nhũng"…

Tuy nhiên, cũng không thể phủ nhận rằng, vì nhiều nguyên nhân khác nhau nên tham ô, tham nhũng, tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, sự "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong một bộ phạn không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong từng tổ chức Đảng vẫn chưa thể ngăn chặn, chưa được đẩy lùi triệt để. Cho nên, cũng chưa bao giờ lại có nhiều cán bộ cấp cao vướng vào vòng lao lý vì tham nhũng, cố ý làm trái pháp luật như nhiệm kỳ khóa XII và nửa đầu nhiệm kỳ khóa XIII của Đảng. Đồng thời, cũng chưa bao giờ công cuộc phòng và đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực gắn với phòng, chống các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" theo Quy định số 32-QĐ/TW của Bộ Chính trị về "Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, chế độ làm việc, quan hệ công tác của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực" lại trở nên cấp bách và có ý nghĩa như vậy.

Từ các vụ án về tham nhũng và các hành vi tiêu cực, có thể thấy rằng, tham nhũng và tiêu cực trong lĩnh vực nào, ở cấp nào cũng đều làm ảnh hưởng tới sự trong sạch của bộ máy Đảng và Nhà nước; cũng đều gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín, phẩm chất đạo đức và vai trò nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức; đồng thời, cũng làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ. Vì thế, càng nhiều khó khăn thử thách, Đảng càng phải đẩy mạnh công tác phòng và đấu tranh chống tham nhũng gắn liền với phòng, chống tiêu cực; nhất là chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của đội ngũ cán bộ, đảng viên nói chung, cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu nói riêng.

Vì vậy, những nhận định của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng - Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực tại phiên họp thứ 21 của Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng tiêu cực chắc chắn không phải là "sự thừa nhận thất bại" của cuộc đấu tranh này như các thế lực thù địch đã xuyên tạc, mà đó chính là một cách đánh giá đúng thực trạng, để tìm ra giải pháp hữu hiệu hơn, nâng cao hiệu quả của công tác phòng và đấu tranh chống tham nhũng ở Việt Nam.

Việc Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Uỷ ban Kiểm tra Trung ương đã thi hành kỷ luật 32 cán bộ diện Trung ương quản lý, trong đó 26 cán bộ diện Trung ương quản lý liên quan đến các vụ án, vụ việc thuộc diện Ban Chỉ đạo theo dõi, chỉ đạo, gồm (4 Uỷ viên, nguyên Uỷ viên Trung ương; 2 nguyên Bộ trưởng, 1 bí thư tỉnh uỷ, 5 thứ trưởng, nguyên thứ trưởng; 2 nguyên Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố; 3 nguyên phó bí thư tỉnh uỷ, thành uỷ; 13 sĩ quan đương chức cấp tướng trong lực lượng vũ trang) trong năm 2021 chính là thượng tôn pháp luật. Điều đó cũng có nghĩa là, bất kể cá nhân hay tổ chức nào vi phạm pháp luật, đầu cơ, tham ô, tham nhũng hay nhũng nhiễu, tiêu cực, gây phiền hà cho người dân và doanh nghiệp thì đều phải bị xử lý nghiêm minh. Thực chất việc đẩy mạnh đấu tranh chống tham nhũng và xử lý nghiêm các vụ án tham nhũng chính là đau xót "cắt bỏ một cành cây hỏng để cứu cả thân cây", là phải "chặt bỏ một cây sâu bệnh để cứu cả một rừng cây xanh tốt" nhằm làm trong sạch đội ngũ, trong sạch tổ chức, chứ không phải đó "là một cái cớ để các phe nhóm trong đảng đưa nhau ra tòa, vào tù trong cuộc chiến giành quyền và lợi trong đảng" như các thế lực thù địch xuyên tạc.

Lâu nay, nhân danh dân chủ và đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền, các phần tử cơ hội, phản động, suy thoái như Trân Văn, Trần Văn Chánh, Tâm Chánh, Phạm Trần, JB Nguyễn Hữu Vinh… thường theo đuôi các thế lực thù địch, bẻ cong sự thật những ý kiến phát biểu của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước; suy diễn, cắt cúp theo chủ ý mình những bài viết đăng trên các trang Tuyengiao.vn; Quân đội nhân dân; Xây dựng Đảng… để xuyên tạc bản chất cuộc đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực và phủ nhận những kết quả đạt được trong công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng nói chung, đấu tranh chống tham nhũng ở Việt Nam nói riêng. Vì thế, phải khẳng định chắc chắn rằng, đấu tranh chống tham nhũng không phải là sự tranh giành quyền lực, lại càng không phải là sự tranh chấp giữa các phe nhóm về lợi ích.

Việc các phần tử nêu trên tự suy diễn và quy chụp rằng chống tham nhũng ở Việt Nam bị lạm dụng để biến thành những cuộc thanh trừng phe phái, "mạnh được yếu thua" chỉ là sự bịa đặt thiển cận. Thực tế, ở Việt Nam, không phải tham nhũng "càng chống càng tăng về quy mô, tính chất" và biểu hiện ngày càng "hung hãn, kịch liệt, tinh vi" mà là càng làm nghiêm khắc, triệt để thì càng phát hiện sớm những biểu hiện tiêu cực, những hành vi vụ lợi từ những người đã suy thoái để kịp thời xử lý theo pháp luật. Thực tế, chủ trương phòng và đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực; những kết quả của công tác đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực thời gian qua không chỉ góp phần cảnh tỉnh, răn đe những người muốn lợi dụng/lạm dụng quyền lực để tham nhũng mà còn từng bước được ngăn chặn, kiểm soát được tham nhũng, tiêu cực.

LHS



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H, 2011, t.II, tr.146

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H, 2011, t.II, tr.145-146

 

 

GIỮ VỮNG MẠCH SỐNG, "LINH HỒN" CỦA QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM

Quân đội ta từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, phục vụ. Cội nguồn hàng đầu làm nên sức mạnh, sự trưởng thành và chiến thắng của Quân đội ta trong gần 8 thập niên qua là do sự lãnh đạo, giáo dục, rèn luyện của Đảng Cộng sản Việt Nam. Mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng là mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của QĐND Việt Nam. Vì vậy, việc thấm nhuần và thực hiện mục tiêu, lý tưởng “độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội” phải được xác định là mạch sống và “linh hồn” của QĐND Việt Nam, là phương châm hành động của mọi cán bộ, chiến sĩ.

Việc cần làm thường xuyên, bất di bất dịch là giữ vững, tăng cường vai trò lãnh đạo và kiên định với mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, kiên quyết phản bác, đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa quân đội” của các thế lực thù địch. Đánh giá của Đảng ta về nguy cơ: “Các thế lực thù địch tiếp tục tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước và đất nước ta”[1]. Vì thế, trong mọi hoàn cảnh, chúng ta phải tuân thủ triệt để cơ chế, nguyên tắc lãnh đạo lực lượng vũ trang là: “Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với QĐND, Công an nhân dân và sự nghiệp quốc phòng, an ninh”[2]. Bởi vì, có Đảng lãnh đạo mới có đường lối đúng, mới thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ của cách mạng. Đối với lực lượng vũ trang thì còn Đảng là còn tất cả; nếu Đảng ta không còn giữ quyền lãnh đạo xã hội, giữ quyền lãnh đạo lực lượng vũ trang thì sẽ mất chế độ XHCN.

Để vô hiệu hóa âm mưu, thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch làm biến chất về chính trị Quân đội ta, cần tiếp tục phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, nhiều lực lượng xã hội. Trong đó, cần phát huy vai trò chỉ đạo trực tiếp, thường xuyên của Quân ủy Trung ương, Ban chỉ đạo 35, cơ quan chức năng của Bộ Quốc phòng đối với các cấp ủy đảng trực thuộc, thường xuyên nắm chắc và nhận diện đúng bản chất, âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch nhằm vô hiệu hóa Quân đội ta về chính trị.

Nâng cao tính khoa học trong tổ chức hoạt động đấu tranh làm thất bại luận điểm sai trái “Quân đội không cần thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội” của các thế lực thù địch. Về lý luận, phải chỉ rõ quân đội ra đời gắn liền với sự ra đời của nhà nước do yêu cầu của cuộc đấu tranh giai cấp, nên bất cứ quân đội nào cũng mang bản chất và phục vụ mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của giai cấp sinh ra.

Công khai bản chất giai cấp công nhân của lực lượng vũ trang cách mạng, V.I.Lênin đề ra nguyên tắc xây dựng Hồng quân và Công an Xô viết là phải đặt dưới sự lãnh đạo, phải thực hiện mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Đảng Bolshevik Nga (Đảng Cộng sản Liên xô). Vận dụng sáng tạo tư tưởng của V.I.Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, ngay từ năm 1930, trong “Chánh cương vắn tắt” của Đảng, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã yêu cầu phải “Tổ chức ra quân đội công nông”.

Vì thế, trong suốt quá trình tổ chức xây dựng, lãnh đạo, giáo dục Quân đội ta, Người luôn nhắc nhở: “Quân đội ta có sức mạnh vô địch, vì nó là một quân đội nhân dân do Đảng ta xây dựng, Đảng ta lãnh đạo và giáo dục”[3]; do đó, “Phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong quân đội. Phải tăng cường giáo dục chính trị để nâng cao giác ngộ xã hội chủ nghĩa cho toàn quân”[4]. Đảng ta đã nhấn mạnh rằng: “Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội là cơ sở bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc”[5].

Các thế lực thù địch sử dụng đòn đánh nguy hiểm làm suy yếu nội bộ Quân đội ta về chính trị thì chúng ta phải có giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục chính trị, mà trực tiếp là giáo dục sâu sắc về mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Quân đội ta. Nội dung giáo dục chính trị nói chung, mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Quân đội ta nói riêng ở mỗi đơn vị phải phù hợp với mỗi đối tượng quân nhân, bảo đảm những nội hàm của mục tiêu “Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội” trong mỗi giai đoạn cụ thể, đặc biệt bám sát tinh thần mới mà Đại hội XIII của Đảng đã chỉ ra.

Bên cạnh đó, cần thực hiện tốt công tác quản lý chính trị nội bộ, ngăn chặn và làm thất bại các hoạt động chiến tranh tâm lý của các thế lực thù địch. Chú trọng công tác dân vận, kết hợp với cấp ủy, chính quyền và các tổ chức chính trị - xã hội ở địa phương nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động đấu tranh phản bác, vạch trần các luận điểm sai trái, phản động trên lĩnh vực tư tưởng chính trị.

QĐND Việt Nam nguyện mãi mãi là lực lượng chính trị trung thành với mục tiêu, lý tưởng “Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội” của Đảng Cộng sản Việt Nam. Vì thế, không có một thế lực thù địch nào có thể làm thay đổi bản chất, mục tiêu chính trị của QĐND Việt Nam-một quân đội "nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng". Trong giai đoạn hiện nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Quân đội ta nỗ lực phấn đấu thực sự là đội quân chiến đấu tinh nhuệ, lực lượng chính trị tin cậy cùng toàn Đảng, toàn dân thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước, vì "Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh"./.

Sự Thật



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H, 2021, t.I, tr.108

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H, 2021, t.I, tr.160

[3] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H, 2011, t.14, tr.435

[4] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H, 2011, t.11, tr.365

[5] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H, 2011, tr.65

 

PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA BÁO CHÍ CÁCH MẠNG VIỆT NAM TRONG BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

Để phát huy tốt vai trò, đồng thời khắc phục những hạn chế của báo chí cách mạng trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng giai đoạn hiện nay, cần chú ý đến những giải pháp cơ bản như sau:

Một là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước đối với các cơ quan báo chí. Báo chí là một loại hình truyền thông có tốc độ phát triển nhanh, mạnh nên Đảng ta cần có sự chỉ đạo thường xuyên, kịp thời, sát thực đối với các cơ quan báo chí trong từng giai đoạn cụ thể. Ngoài ra, Đảng, Nhà nước cần quan tâm, tạo điều kiện về môi trường làm việc hiện đại, năng động, bảo đảm cho các hoạt động báo chí diễn ra thuận lợi trên tinh thần tự do, dân chủ, sáng tạo. Các cơ quan, bộ, ngành có liên quan cần định hướng tốt công tác tuyên truyền; quản lý tốt thông tin, nhất là những thông tin trên mạng xã hội, internet. Xử lý nghiêm những trường hợp đi ngược lại tôn chỉ, mục đích của cơ quan báo chí, xâm phạm và làm ảnh hưởng đến lợi ích của quốc gia, dân tộc; đến uy tín, hình ảnh của Đảng, của các cơ quan, đoàn thể. 

Hai là, phát huy vai trò giám sát, phản biện của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân đối với các cơ quan báo chí. Để các cơ quan báo chí hoạt động đúng tôn chỉ, mục đích, không xa rời sứ mệnh cao cả mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội cần phát huy vai trò giám sát, phản biện hoạt động của các cơ quan báo chí, kịp thời phát hiện, tố giác những sai phạm. Quần chúng nhân dân với tư cách là độc giả cũng cần phát huy vai trò là “tai mắt”, mạnh dạn cung cấp thông tin về những hạn chế, sai phạm của các cơ quan báo chí cho những cấp có thẩm quyền có xử lý hoặc kịp thời cung cấp những thông tin tích cực ghi nhận, biểu dương, tạo động lực cho các cơ quan báo chí trong việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Ba là, nâng cao nhận thức, trách nhiệm, đạo đức nghề nghiệp của mỗi nhà báo trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Mỗi nhà báo cần phải tu dưỡng đạo đức cách mạng, cố gắng trau dồi tư tưởng, nghiệp vụ và văn hóa; chú trọng học tập chính trị, nắm vững chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và những diễn biến, tình hình kinh tế - chính trị - xã hội - văn hóa ở trong và ngoài nước; đi sâu vào thực tế, đi sâu vào quần chúng lao động như lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Từ đó, có những thông tin chính xác, kịp thời, định hướng dư luận, củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng.

Bốn lànâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ những người làm báo nòng cốt bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch như bồi dưỡng những kỹ năng thể hiện bài chính luận với những cách diễn đạt phù hợp trên các loại hình báo chí như báo in, báo điện tử, truyền hình, phát thanh; kỹ năng tác nghiệp trong bối cảnh truyền thông số hiện nay...

Năm là, phải đa dạng hóa hình thức và phương thức tổ chức các hoạt động báo chí góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng, khuyến khích sự chủ động tham gia, tính tự giác, tinh thần trách nhiệm tham gia của đội ngũ những người làm báo, cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân trong toàn xã hội. Hệ thống cơ quan báo chí trở thành diễn đàn để cán bộ, đảng viên, đoàn viên, nhân dân thể hiện nhận thức, tình cảm, tâm huyết và trách nhiệm của mình đối với công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong giai đoạn hiện nay.

Trong đó, đẩy mạnh ứng dụng khoa học - công nghệ hiện đại để đổi mới nội dung, hình thức thể hiện trên báo chí, chú trọng xây dựng các sản phẩm báo chí hiện đại, đa phương tiện, có hình thức đẹp, bắt mắt để thu hút độc giả. Nêu cao tôn chỉ, mục đích trong việc tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước một cách chính xác, nhanh chóng, hấp dẫn đến độc giả, nhất là với đồng bào ở vùng sâu, vùng xa trình độ dân trí, mức độ phát triển kinh tế - xã hội còn khó khăn, thiếu thông tin chính thống…

Phát biểu tại lễ trao Giải báo chí toàn quốc về xây dựng Đảng Búa liềm vàng lần thứ 6 năm 2021, đồng chí Võ Văn Thưởng, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban bí thư nêu rõ: ''Sứ mệnh của người làm báo cách mạng và tác phẩm báo chí về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, không chỉ dừng lại ở việc phản ánh, mô tả, mà còn tham dự sâu sắc, hiệu quả, trách nhiệm hơn vào giáo dục chính trị tư tưởng, định hướng giá trị, phản biện xã hội, truyền thông chính sách, đấu tranh sắc bén với các luận điệu sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng, Cương lĩnh, đường lối của Đảng và góp phần cải tạo xã hội ngày càng tốt đẹp hơn”. Đây cũng là kim chỉ nam cho đội ngũ người làm báo cách mạng Việt Nam trong thực hiện nhiệm vụ chính trị được giao, đặc biệt trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong giai đoạn hiện nay.

LHS

 

BÁO CHÍ CÁCH MẠNG VIỆT NAM GÓP PHẦN BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

Trong những năm qua, báo chí cách mạng Việt Nam đã có nhiều đóng góp quan trọng cho sự nghiệp cách mạng của đất nước, nhất là trong công tác tư tưởng của Đảng.

Thực hiện sự chỉ đạo quyết liệt của Đảng, nhiều giải thưởng báo chí về xây dựng Đảng, về xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, về đấu tranh phòng chống tham nhũng, đặc biệt về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch được tổ chức ở cả cấp quốc gia và cấp bộ, ngành, địa phương, thu hút sự tham gia đông đảo không chỉ của những nhà báo chuyên nghiệp mà còn của cả cán bộ, đảng viên và nhân dân. Có thể nói, trong những năm gần đây, báo chí đã tạo ra được một khí thế sôi nổi, truyền cảm hứng và tạo động lực cho toàn xã hội trong việc tham gia vào các nhiệm vụ chính trị quan trọng của đất nước, trong đó có việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Trong những năm qua, các cơ quan báo chí không ngừng phát triển, đội ngũ nhà báo cũng không ngừng lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng, trình độ, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng nghề nghiệp, đáp ứng ngày càng tốt những yêu cầu, đòi hỏi thực tiễn đang đặt ra. Theo thống kê của Bộ Thông tin và Truyền thông, hiện cả nước có 868 cơ quan báo chí, tổng số lao động trong các cơ quan báo chí là 41.600 người (trong đó, có 19.166 người được cấp thẻ nhà báo), có 72 đài phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử. Tổng số lao động trong các đài/đơn vị hoạt động truyền hình là 18.481 người (trong đó, có 7.594 người được cấp thẻ nhà báo)[4]. Được đào tạo bài bản, tâm huyết với nghề, gắn bó mật thiết với nhân dân, những thông tin, bài viết của các nhà báo đã góp phần gắn kết và thắt chặt mối quan hệ bền chặt giữa Đảng với nhân dân; củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng.

Chỉ tính riêng ở Trung ương, đã có rất nhiều cuộc thi viết về Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới được tổ chức. Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh chủ trì tổ chức Cuộc thi viết chính luận về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch lần thứ nhất năm 2021 với 8.129 bài viết gửi về tham dự; tiếp tục phát động Cuộc thi năm 2022. Báo Quân đội nhân dân phối hợp với Hội Nhà báo Việt Nam tổ chức Cuộc thi viết “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới” lần thứ nhất (năm 2021-2022) và phát động Cuộc thi lần thứ hai (năm 2022-2023).

Nét mới của Giải Báo chí quốc gia và Giải Báo chí toàn quốc về xây dựng Đảng Búa liềm vàng những năm gần đây là xuất hiện nhiều loạt bài có chất lượng về đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; phản bác những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch; những vấn đề mới về lý luận và thực tiễn. Trong những giải thưởng chuyên đề Búa liềm vàng năm 2021, có Giải tác phẩm xuất sắc phát triển lý luận về xây dựng Đảng; Giải tác phẩm xuất sắc về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; Giải tác phẩm xuất sắc về đấu tranh chống ''diễn biến hòa bình”…

Bên cạnh sự tham gia đông đảo của các nhà báo, những cuộc thi đã thu hút số lượng nhiều nhất các chuyên gia, nhà khoa học, tướng lĩnh có uy tín tham gia. Nhiều tác phẩm thể hiện rõ tính phát hiện, tính thời sự, đề cập những vấn đề mới trong thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Nhiều tác phẩm được đầu tư công phu cả về nội dung và hình thức, thể hiện tư duy chính trị sắc bén, trí tuệ, sự nhiệt huyết, lương tâm và trách nhiệm của tác giả đối với công tác xây dựng Đảng và sự nghiệp bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Thành công của các cuộc thi cũng góp phần tiếp tục khẳng định vị trí, vai trò quan trọng trong đời sống xã hội của công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; nâng cao nhận thức, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân. Cùng với đó, tiếp tục phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện lực lượng tham gia đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch; cung cấp luận cứ khoa học và hình thành nguồn bài viết phong phú, có chất lượng, phục vụ trực tiếp công tác tuyên truyền bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Đây cũng là minh chứng sinh động cho sức lan tỏa ý thức trách nhiệm của đội ngũ những người làm báo, cán bộ, đảng viên, đoàn viên  trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, tạo ra xung lực mới trong việc thực hiện Nghị quyết số 35 của Bộ Chính trị trong thời gian tới.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, một số cơ quan báo chí có xu hướng thương mại hóa, chạy theo lợi nhuận, đề cao giá trị vật chất, xa rời tôn chỉ, mục tiêu, sứ mệnh cao cả mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó. Một số cơ quan báo chí còn thiếu nhạy bén về chính trị, chưa làm tốt chức năng định hướng về tư tưởng, văn hóa, có biểu hiện xa rời sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, thông tin không trung thực, thiếu chính xác, ít tập trung xây dựng những tuyến bài về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, dễ dàng chạy theo thị hiếu của một bộ phận nhân dân thiếu hiểu biết khi đưa ra những bài kiểu “giật tít”, “câu like” để tăng tương tác.

Một số nhà báo do chưa được đào tạo bài bản, thiếu bản lĩnh chính trị, thiếu kinh nghiệm nghề nghiệp và vốn sống, có biểu hiện dao động về lập trường tư tưởng, đề cao danh vị, đồng tiền; có trường hợp bị một số thế lực xấu dụ dỗ, lôi kéo, nên đã có những bài viết vi phạm đạo đức, pháp luật; lợi dụng chức vụ, quyền hạn để gây khó dễ cho các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp. Do đó, nhiều cơ quan báo chí, nhiều cá nhân các nhà báo đã vi phạm quy định và đạo đức nghề báo, bị xử lý kỷ luật, bị tước thẻ nhà báo… Đây là những thách thức rất lớn cho các cơ quan báo chí và đội ngũ nhà báo trong việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay.

NMT

 

SỨ MỆNH CỦA BÁO CHÍ CÁCH MẠNG VIỆT NAM

Báo chí cách mạng Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, xuất phát từ nhu cầu tuyên truyền đường lối cách mạng, về cuộc đấu tranh chống lại ách áp bức, bóc lột để giành lại độc lập dân tộc và tự do cho nhân dân. Do đó, Người luôn chỉ rõ: “Báo chí của ta thì cần phải phục vụ nhân dân lao động, phục vụ chủ nghĩa xã hội, phục vụ cho đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà, cho hòa bình thế giới. Để thực hiện được sứ mệnh lớn lao đó, Người yêu cầu những người làm báo phải có ngòi bút sắc bén, nhiệt huyết, có trách nhiệm với sự nghiệp cách mạng của dân tộc: “Đối với những người viết báo chúng ta, cái bút là vũ khí sắc bén, bài báo là tờ hịch cách mạng để động viên quần chúng đoàn kết đấu tranh, chống chủ nghĩa thực dân cũ và mới, chống chủ nghĩa đế quốc, đứng đầu là đế quốc Mỹ, vì độc lập dân tộc, tiến bộ xã hội và hòa bình thế giới”. Đây chính là sứ mệnh cao cả của báo chí cách mạng cũng như đội ngũ người làm báo nước ta trong những ngày đầu thành lập.

Trong giai đoạn hiện nay, báo chí cách mạng có sứ mệnh tuyên truyền công cuộc đổi mới và phát triển đất nước, tham gia bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhà nước, chế độ và nhân dân, đấu tranh với các hoạt động chống phá của các thế lực thù địch. Nghị quyết số 35 của Bộ Chính trị về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới đã chỉ rõ, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là trách nhiệm của mỗi đơn vị, tổ chức, cán bộ, đảng viên và các cơ quan truyền thông, báo chí. Đây là sự định hướng quan trọng nhằm phát huy vai trò, trách nhiệm của các cơ quan báo chí trong việc thực hiện nhiệm vụ chính trị đặc biệt quan trọng này.

Bối cảnh trong nước và quốc tế hiện nay đang tác động mạnh mẽ đến lĩnh vực báo chí. Bên cạnh xu hướng hội nhập, cục diện thế giới tiếp tục biến đổi theo xu hướng đa cực, đa trung tâm; những trào lưu tư tưởng đua nhau trỗi dậy và cạnh tranh khốc liệt. Những vấn đề an ninh phi truyền thống như dịch bệnh, tấn công mạng ngày càng trở nên khó lường. Đặc biệt, “sự chống phá của các thế lực thù địch, tổ chức phản động ngày càng tinh vi hơn”. Chúng lợi dụng các loại hình báo chí hiện đại như báo mạng để không ngừng công kích, chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng ta, truyền bá những luồng tư tưởng độc hại, kích động mâu thuẫn, thủ hằn dân tộc, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân.

Báo chí hiện đang đứng trước những thách thức vô cùng to lớn của thời đại. Bên cạnh việc thực hiện sứ mệnh về tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, lan tỏa những giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, báo chí còn phải tăng cường hơn nữa vai trò đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, các trào lưu tư tưởng thù địch chống phá Đảng và Nhà nước đang hoạt động ngày càng quyết liệt, tinh vi. Điều đó đặt ra yêu cầu báo chí cách mạng phải không ngừng đổi mới, thích ứng với những biến đổi nhanh chóng của thời đại để giữ vững vai trò chủ đạo trong việc tuyên truyền, lan tỏa nền tảng tư tưởng của Đảng.

Một trong những thách thức lớn của báo chí trong việc thực hiện sứ mệnh quan trọng giai đoạn hiện nay là các thế lực thù địch bằng những thủ đoạn tinh vi đã lợi dụng chính báo chí để chống phá sự nghiệp cách mạng của nước ta. Các thế lực thù địch đã lợi dụng những sơ hở trên báo chí của nước ta để thổi phồng, xuyên tạc; khai thác lỗ hổng bảo mật ở các trang báo điện tử để chỉnh sửa nội dung, chèn thêm đường dẫn (link) đăng tải thông tin giả mạo, xấu độc, văn hóa đồi trụy, tệ nạn xã hội, mê tín dị đoan, vi phạm thuần phong mỹ tục, văn hóa truyền thống của dân tộc làm người đọc mơ hồ mất cảnh giác, từ đó thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong tư tưởng, đạo đức và lối sống, làm xáo trộn tâm tư, tình cảm của các giai tầng xã hội.

Các thế lực thù địch còn tìm cách lũng đoạn một số cơ quan báo chí, tiến hành mua chuộc, lôi kéo những người đứng đầu trong cơ quan báo chí bằng nhiều cách khác nhau; móc nối, khai thác, lợi dụng một số cơ quan báo chí, phóng viên có lập trường tư tưởng không vững vàng, có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” để lôi kéo, kích động phát tán thông tin, quan điểm sai trái, thù địch, từ đó thao túng việc đưa tin, bài có nội dung tuyên truyền chống phá cách mạng, nói xấu Đảng, Nhà nước, chế độ.

Ngoài ra, các thế lực thù địch còn thông qua một số cơ quan báo chí để hậu thuẫn các “hội”, “nhóm” núp danh “xã hội dân sự”, nuôi dưỡng và phát triển các nhóm để trao đổi, cung cấp thông tin qua mạng xã hội, định hướng viết bài, tổ chức hoạt động chống phá; phát tán những ấn phẩm có nội dung xấu độc, thù địch và một số tác phẩm văn học, nghệ thuật được xuất bản ở nước ngoài có nội dung sai trái về chính trị, lồng ghép những quan điểm trái chiều để tuyên truyền xuyên tạc, kích động. Bên cạnh đó, các lực lượng cơ hội chính trị nước ngoài còn sử dụng mạng xã hội để tạo ra hệ thống “nhà báo công dân”, xây dựng các cơ quan ngôn luận, địa chỉ hoạt động cho tổ chức “tự do báo chí”, “phóng viên không biên giới” nhằm dẫn dắt, hướng lái dư luận xã hội theo mưu đồ chính trị phản động. Sự chống phá tinh vi, quyết liệt đó đang đặt ra thử thách rất lớn cho các cơ quan báo chí trong việc thực hiện sứ mệnh chính trị của mình, nhất là bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

LHS

 

 

QUAN ĐIỂM ĐẠI HỘI XIII CỦA ĐẢNG VỀ BẢO ĐẢM AN NINH CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM (KỲ CUỐI)

Nhân Trần

4. Nhiệm vụ, giải pháp bảo đảm an ninh con người những năm tới

Nhiệm vụ bảo đảm an ninh con người trong 10 năm tới: Đại hội XIII xác định: Quản lý phát triển xã hội có hiệu quả, nghiêm minh, bảo đảm an ninh xã hội, an ninh con người; thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; xây dựng môi trường văn hóa, đạo đức xã hội lành mạnh, văn minh; chú trọng nâng cao chất lượng dịch vụ y tế, chất lượng dân số, gắn dân số với phát triển; quan tâm đến mọi người dân, bảo đảm chính sách lao động, việc làm, thu nhập, thực hiện tốt phúc lợi xã hội, an sinh xã hội. Không ngừng cải thiện toàn diện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Chủ động thích ứng có hiệu quả với biến đổi khí hậu, phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai, dịch bệnh; quản lý, khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả và bền vững tài nguyên; lấy bảo vệ môi trường sống và sức khỏe nhân dân làm mục tiêu hàng đầu; kiên quyết loại bỏ những dự án gây ô nhiễm môi trường, bảo đảm chất lượng môi trường sống, bảo vệ đa dạng sinh học và hệ sinh thái; xây dựng nền kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, thân thiện với môi trường.

 Giải pháp bảo đảm an ninh con người, Văn kiện Đại hội XIII khẳng định:

Về an ninh con người: Nhận thức đầy đủ và bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa trong các chính sách xã hội. Tăng cường quản lý phát triển xã hội, bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội, tính bền vững trong các chính sách xã hội, nhất là phúc lợi xã hội, an ninh xã hội, an ninh con người. Triển khai đồng bộ, toàn diện các mục tiêu kinh tế, tiến bộ, công bằng xã hội và môi trường, trên cơ sở đó, đổi mới phân bổ nguồn lực hợp lý để nâng cao hiệu quả phát triển xã hội. Xây dựng và thực hiện đồng bộ thể chế, chính sách phát triển xã hội, quản lý phát triển xã hội bền vững, hài hòa. Trên cơ sở dự báo đúng xu hướng biến đổi cơ cấu xã hội ở nước ta trong những năm tới, xây dựng các chính sách xã hội và quản lý phát triển xã hội phù hợp, giải quyết hài hòa các quan hệ xã hội, kiểm soát phân tầng xã hội và xử lý kịp thời, hiệu quả các rủi ro, mâu thuẫn, xung đột xã hội, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân. Gắn chính sách phát triển kinh tế với chính sách xã hội, quan tâm lĩnh vực công tác xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân. Đổi mới cơ chế, huy động phân bổ và đa dạng hóa các nguồn lực thực hiện chính sách xã hội phù hợp với nhu cầu, lợi ích của các tầng lớp dân cư, nhóm xã hội, bảo đảm bình đẳng về cơ hội phát triển, nhất là với lao động khu vực phi chính thức.

Về an ninh lương thực: Tiếp tục thực hiện có hiệu quả chủ trương cơ cấu lại nông nghiệp, phát triển nông nghiệp, kinh tế nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới theo hướng nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại và nông dân văn minh. Chú trọng phát triển nông nghiệp sản xuất hàng hóa lớn, ứng dụng công nghệ cao; phát huy tiềm năng, lợi thế của từng vùng, từng địa phương. Gắn kết chặt chẽ nông nghiệp với công nghiệp, dịch vụ; sản xuất với bảo quản, chế biến, tiêu thụ, xây dựng thương hiệu, nâng cao giá trị nông sản trong các chuỗi giá trị. Khuyến khích phát triển kinh tế hộ, kinh tế hợp tác mà nòng cốt là hợp tác xã, thu hút doanh nghiệp đầu tư, cải tiến quản lý nhà nước để nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả sản xuất nông nghiệp, thích ứng với biến đổi khí hậu, bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm. Phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng nông nghiệp, nông thôn; kết nối nông thôn với đô thị; tiếp tục đẩy mạnh chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới nâng cao, xây dựng đời sống văn hóa, nông thôn mới kiểu mẫu và bảo vệ môi trường sinh thái.

Về an ninh y tế: Nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe, bảo vệ và chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em. Đổi mới cơ chế tài chính y tế, hệ thống quản lý và cung cấp dịch vụ y tế. Phát triển nguồn nhân lực, khoa học và công nghệ y tế. Nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh, khắc phục tình trạng quá tải bệnh viện, phát triển hình thức khám, chữa bệnh trực tuyến. Nâng cao năng lực, chủ động phòng, chống dịch bệnh gắn với đổi mới toàn diện hệ thống y tế, nhất là y tế dự phòng. Thực hiện đúng hướng, hiệu quả xã hội hóa trong lĩnh vực y tế; bảo đảm bình đẳng giữa y tế nhà nước và y tế ngoài nhà nước; xây dựng, phát triển mô hình bác sĩ gia đình; phát triển mạnh ngành công nghiệp dược và thiết bị y tế. Thực hiện tốt “Đề án tổng thể phát triển thể lực, tầm vóc người Việt Nam giai đoạn 2011 -2030”. Phát triển thể dục, thể thao toàn dân để tăng cường sức khỏe của nhân dân, làm cơ sở cho phát triển thể dục, thể thao thành tích cao. Đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tệ nạn xã hội, bảo đảm an toàn giao thông, an toàn thực phẩm và thuốc chữa bệnh.

Về an ninh môi trường: Xây dựng hệ thống và cơ chế giám sát tài nguyên, môi trường và biến đổi khí hậu; dự báo, cảnh báo thiên tai, ô nhiễm và thảm họa môi trường, dịch bệnh. Có kế hoạch khắc phục căn bản tình trạng hủy hoại, làm cạn kiệt các nguồn tài nguyên, gây ô nhiễm môi trường của các cơ sở sản xuất, các khu công nghiệp, khu đô thị. Cải thiện chất lượng môi trường và điều kiện sống của nhân dân. Tập trung xử lý chất thải, thúc đẩy tái sử dụng, tái chế và sản xuất thu hồi năng lượng từ chất thải gắn với hình thành chuỗi sản xuất tiếp nối, liên tục. Huy động, ưu tiên các nguồn lực, thực hiện đồng bộ các giải pháp công trình và phi công trình để bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu. Nâng cao năng lực nghiên cứu, giám sát biến đổi khí hậu, dự báo khí tượng, thủy văn và cảnh báo thiên tai; năng lực chủ động phòng, tránh, giảm nhẹ, năng lực chống chịu và thích ứng với biến đổi khí hậu. Chấn chỉnh công tác bảo vệ, thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm trong lĩnh vực quản lý tài nguyên, môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu. Tăng cường kiểm soát các hoạt động khai thác tài nguyên, các ngành, doanh nghiệp dựa nhiều vào tài nguyên, các nguồn gây ô nhiễm, nguồn phát thải khí nhà kính. Đấu tranh, ngăn chặn và xử lý nghiêm mọi hành vi vi phạm pháp luật về tài nguyên và môi trường, đẩy lùi tình trạng ô nhiễm, xâm hại môi trường, suy thoái tài nguyên và suy giảm đa dạng sinh học.

­Về an ninh cá nhân: Chú trọng an ninh, an toàn là một trong những yếu tố hàng đầu trong cuộc sống của người dân. Xác định “chủ động phòng ngừa” là chính. Ứng phó kịp thời, hiệu quả với các đe dọa an ninh phi truyền thống, nhất là nhiệm vụ cứu nạn, cứu hộ, phòng, chống thiên tai, dịch bệnh. Có kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa. Nỗ lực phấn đấu để ngăn ngừa xung đột, chiến tranh và giải quyết các tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình phù hợp với luật pháp quốc tế. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển.

Về an ninh cộng đồng: Giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, an ninh con người; xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh để phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Về an ninh chính trị: Tiếp tục cụ thể hóa, hoàn thiện thể chế thực hành dân chủ theo tinh thần Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và Hiến pháp năm 2013, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Thực hiện đúng đắn, hiệu quả dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện, đặc biệt là dân chủ ở cơ sở. Thực hiện tốt, có hiệu quả phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Đảng và Nhà nước ban hành đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật tạo nền tảng chính trị, pháp lý, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền làm chủ của nhân dân. Đề cao vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của nhân dân trong chiến lược phát triển đất nước, trong toàn bộ quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc./.

 

 

QUAN ĐIỂM ĐẠI HỘI XIII CỦA ĐẢNG VỀ BẢO ĐẢM AN NINH CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM (KỲ 3)

                                                                                                Nhân Trần

3. Thực trạng bảo đảm, bảo vệ an ninh con người ở Việt Nam những năm qua

Về thành tựu

Về an ninh kinh tế: Đảng và Nhà nước ta có nhiều chủ trương bảo đảm mức thu nhập cơ bản của con người. Từ chỗ đề cao quá mức lợi ích của tập thể một cách chung chung, trừu tượng; thi hành chế độ phân phối theo lao động trên danh nghĩa nhưng thực tế là cào bằng, đã từng bước thực hiện phân phối chủ yêu theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế, đồng thời căn cứ theo mức đóng góp vốn và các nguồn lực khác vào sản xuất kinh doanh và thông qua phúc lợi xã hội. Mức sống chung của người dân từng bước được nâng lên. Tỷ lệ hộ nghèo cả nước giảm bình quân 1,5-2%/năm. Năm 1993, tỷ lệ hộ nghèo cả nước là 58,1%, năm 2015 tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn đa chiều còn 9,88%; đến năm 2020 còn dưới 3%. Thành tựu và giảm nghèo của Việt Nam đã được Liên hợp quốc và cộng đồng quốc tế công nhận, đánh giá cao. Từ chỗ Nhà nước bao cấp toàn bộ trong việc giải quyết việc làm đã dần dần chuyển trọng tâm sang thiết lập cơ chế, chính sách để các thành phần kinh tế và người lao động đều tham gia tạo việc làm. Bộ Luật lao động được sửa đổi nhiều lần qua các năm (2002, 2006, 2007, 2012) đã tạo ra hành lang pháp lý cho việc hoàn thiện các tiêu chuẩn lao động. Xây dựng và triển khai Luật việc làm, nghiên cứu xây dựng Chương trình làm việc công. Mỗi năm bình quân tạo ra khoảng 1,6 triệu việc làm mới. Tỷ lệ thất nghiệp của lực lượng lao động trong độ tuổi duy trì ở mức thấp và giảm dần. Tỷ lệ thất nghiệp tại khu vực thành thị giảm từ mức 3,37% năm 2015, xuống còn khoảng 3,1% năm 2020.

Về an ninh lương thực: Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng việc bảo đảm an ninh lương thực. Từ chỗ nước ta phải đi nhập khẩu gạo, đến nay đã trở thành một những nước xuất khẩu gạo nhiều nhất thế giới. Đảng và Nhà nước ta đã giữ diện tích trồng lúa để bảo đảm an ninh lương thực. Vì lợi nhuận trồng lúa không cao, nên Đảng và Nhà nước ta đề ra và thực hiện chủ trương sử dụng linh hoạt đất trồng lúa, giảm diện tích trồng lúa để chuyển sang những cây, con khác có lợi nhuận cao hơn, nhưng vẫn bảo đảm an ninh lương thực. Một khi nơi nào đó khó khăn về tiếp cận nguồn lương thực, Đảng và Nhà nước đã quyết định cấp phát gạo cho dân với quyết tâm không đề người dân nào bị chết đói. Trong điều kiện rất khó khăn trước tác động của đại dịch Covid-19, Nhà nước có nhiều biện pháp hỗ trợ người dân, kể cả người dân tự giúp đỡ nhau. Đây cũng là một ưu việt của chế độ ta.

Về an ninh y tế: Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng việc bảo đảm sức khỏe cho mọi người dân. Điều 38, Hiến pháp năm 2013 quy định: Mọi người có quyền được bảo vệ, chăm sóc sức khỏe, bình đẳng trong việc sử dụng các dịch vụ y tế và có nghĩa vụ thực hiện các quy định về phòng bệnh, khám bệnh, chữa bệnh. Nghiêm cấm các hành vi đe dọa cuộc sống, sức khỏe của người khác và cộng đồng. Hệ thống cơ sở y tế đã được hình thành trong cả nước; số bác sĩ, số giường bệnh trên một người dân tăng nhanh. Hệ thống dịch vụ y tế ngày càng được nâng cao chất lượng. Trong 10 năm gần đây, các quan điểm, chủ trương của Đảng đã được thể chế hóa trong Hiến pháp năm 2013 và nhiều luật liên quan đến lĩnh vực y tế, dân số. Trong lĩnh vực y tế, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách tương đối toàn diện, coi trọng việc xây dựng thể chế, làm tốt công tác y tế dự phòng, bảo đảm an ninh y tế. Chất lượng dân số từng bước được cải thiện, tuổi thọ trung bình đến năm 2020 ước đạt 73,7 tuổi; tăng so với năm 2015 là 73,3 tuổi. Hệ thống y tế dự phòng từ trung ương đến địa phương và mạng lưới y tế cơ sở tiếp tục được củng cố và phát triển. Đã triển khai nhiều giải pháp đồng bộ, từng bước giải quyết được tình trạng quá tải bệnh viện truyến trên và tăng cường thực hiện các giải pháp nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh; phát triển và nhân rộng mô hình bác sĩ gia đình. Ứng dụng rộng rãi công nghệ thông tin trong khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe nhân dân, đặc biệt là triển khai nền tảng hỗ trợ tư vấn khám, chữa bệnh trực tiếp, từ xa. Công nghiệp được phát triển khá. Tỷ lệ người tham gia bảo hiểm y tế đến năm 2020 đạt 90,7%, tăng mạnh so với năm 2015 (76,5%) vượt mục tiêu đề ra (80%).

Về an ninh môi trường: Đảng và Nhà nước ta ngày càng nhận thức rõ hơn, đầy đủ hơn về bảo vệ môi trường. Điều 43, Hiến pháp năm 2013 quy định: Mọi người có quyền được sống trong môi trường trong lành và có nghĩa vụ bảo vệ môi trường. Trong những năm qua nhận thức về tầm quan trọng của bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu được nâng lên. Các hoạt động trong lĩnh vực này đã thu được một số kết quả bước đầu quan trọng. Một số chỉ tiêu môi trường đạt và vượt kế hoạch. Tỷ lệ người dân đô thị được cấp nước sạch qua hệ thống cấp nước tập trung đến năm 2020 đạt khoảng 90%, tỷ lệ người dân nông thôn sử dụng nguồn nước ăn uống hợp vệ sinh ước đạt 90,2%, tăng mạnh so với năm 2015 (86,2%). Tỷ lệ khu công nghiệp, khu chế xuất đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường năm 2020 là 90%. Tỷ lệ che phủ rừng đến năm 2020 đạt 42%. Nhà nước và các cơ quan quản lý đã xây dựng và ban hành nhiều chính sách quản lý và tăng cường đầu tư cho lĩnh vực này. Đã thành lập được các cơ quan nghiên cứu và dự báo, quản lý rủi ro. Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, sẵn sàng phòng, chống thiên tai kịp thời, hiệu quả. Hợp tác quốc tế về quản lý tài nguyên, ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng chống thiên tai được đẩy mạnh; đã tham gia nhiều tổ chức của thế giới về các lĩnh vực này.

Về an ninh cá nhân: Đảng và Nhà nước ta rất coi trọng việc bảo vệ các cá nhân trước các hành vi bạo lực. Khoản 1, Điều 20 Hiến pháp năm 2013 quy định: Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm. Trong bối cảnh  quốc tế và khu vực có nhiều diễn biến phức tạp, chúng ta đã kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo đảm quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội. Đấu tranh làm thất bại âm mưu “diễn biến hòa bình”, hoạt động phá hoại, gây rối, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch; bước đầu đối phó có hiệu quả với mối đe dọa an ninh phi truyền thống, kiềm chế được tốc độ gia tăng tội phạm.

Về an ninh cộng đồng: Đảng và Nhà nước ta chú ý bảo vệ an ninh cộng đồng nhằm bảo đảm an toàn cho mọi người.

Về an ninh chính trị: Đảng và Nhà nước ta ngày càng nhận thức và thực hiện việc bảo vệ con người không phải chịu sự đàn áp, ngược đãi, đe dọa hay xâm hại của các lực lượng thuộc quyền lực nhà nước. An ninh chính trị gắn liền với sự bảo đảm tôn trọng các yếu tố cơ bản của con người. Hiến pháp năm 2013 đã  bổ sung “quyền con người” vào tên chương so với Hiến pháp năm 1992 và chuyển từ Chương 5 thành Chương 2 sau Chương 1. Chế độ chính trị. Trong Chương này đã thêm nhiều điều quy định về quyền con người. Điều 14 quy định: Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật. Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng. Nhiều bộ luật, luật khác cũng có những quy định liên quan đến an ninh chính trị.

Hạn chế, yếu kém

Đại hội XIII chỉ rõ: Quản lý phát triển xã hội và giải quyết một số vấn đề xã hội chưa được quan tâm đúng mức, chưa được kết hợp đồng bộ, chặt chẽ trong quá trình phát triển kinh tế, văn hóa; thể chế quản lý xã hội còn nhiều hạn chế; tình trạng gia tăng tội phạm, tệ nạn, tiêu cực, mâu thuẫn, xung đột xã hội... ở một số nơi chậm được khắc phục, gây bức xúc trong dư luận nhân dân. Giảm nghèo chưa bền vững, chưa có giải pháp hữu hiệu để xử lý vấn đề phân hóa giàu - nghèo, gia tăng bất bình đẳng về thu nhập, kiểm soát và xử lý các mâu thuẫn, xung đột xã hội. Chất lượng dịch vụ y tế, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn nhiều khó khăn, có mặt còn bất cập. Chính sách tiền lương, thu nhập, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, phúc lợi xã hội có mặt còn hạn chế; thụ hưởng của người dân từ thành tựu phát triển của đất nước chưa hài hòa. Quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu còn bất cập. Cụ thể như sau:

Về an ninh kinh tế: Số người thiếu việc làm và việc làm không xác định còn nhiều. Chính sách tiền lương chậm được cải cách; tiền lương của đại bộ phận cán bộ công chức, viên chức, người lao động thấp, lương tối thiểu chưa đảm bảo đủ mức sống tối thiểu. Chất lượng việc làm còn thấp. Tỷ lệ người lao động làm các công việc không ổn định còn nhiều. Tỷ lệ lao động khu vực phi chính thức còn cao, thiếu chế tài để bảo vệ quyền lợi chính đáng của người lao động ở khu vực này. Đời sống của một bộ phận nhân dân còn nhiều khó khăn, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số, vùng đặc biệt khó khăn. Kết quả giảm nghèo đa chiều chưa thực sự bền vững, nguy cơ tái nghèo còn cao.

Về an ninh lương thực: Một bộ phận người dân ở vùng sâu, vùng xã, vùng đặc biệt khó khăn, kể cả một bộ phận công nhân, việc tiếp cận nguồn lương thực cơ bản còn khó khăn, chưa bảo đảm chất dinh dưỡng cho một cuộc sống hiệu quả và khỏe mạnh. Chất lượng cuộc sống chưa cao.

Về an ninh y tế: Chất lượng dịch vụ khám, chữa bệnh và khả năng tiếp cận dịch vụ y tế cơ bản còn có sự chênh lệch khá lớn giữa các tuyến và giữa các vùng, miền. Kết cấu hạ tầng, trang thiết bị y tế một số nơi thiếu, chưa đạt tiêu chuẩn. Công tác y tế dự phòng yếu. Công tác quản lý thuốc chữa bệnh còn lỏng lẻo, nhất là tuyến cơ sở. Việc khắc phục tình trạng quá tải bệnh viện còn chậm, nhất là tuyến cuối. Công tác y tế dự phòng có mặt còn bấp cập. Quản lý nhà nước về hoạt động y tế tư nhân, thuốc chữa bệnh, vệ sinh an toàn thực phẩm còn nhiều yếu kém.

Về an ninh môi trường: Tình trạng ô nhiễm môi trường chậm được cải thiện; ô nhiễm môi trường ở nhiều nơi còn nghiêm trọng, nhất là tại một số làng nghề, lưu vực sông; xử lý vi phạm môi trường chưa nghiêm. Việc khắc phục hậu quả về ô nhiễm môi trường do chiến tranh để lại còn nhiều khó khăn. Chất lượng dự báo, nguồn lực và năng lực phòng, chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu chưa đáp ứng yêu cầu. Tình trạng ngập úng ở một số thành phố lớn và xâm nhập mặn diễn biến ngày càng phức tạp.

Về an ninh cá nhân: An ninh, trật tự và an toàn xã hội trên một số địa bàn còn phức tạp. Công tác bảo đảm an toàn, an ninh thông tin, an ninh mạng còn nhiều diễn biến phức tạp. Môi trường văn hóa còn tồn tại những biểu hiện thiếu lành mạnh, ngoại lai, trái với thuần phong mỹ tục; tệ nạn xã hội và một số loại tội phạm có chiều hướng gia tăng.

Về an ninh cộng đồng: Con người cảm thấy không an toàn, luôn có cảm giác bất an.­

­Về an ninh chính trị: Tình trạng tách rời, thậm chí đối lập giữa dân chủ. Quyền làm chủ của nhân dân ở nhiều nơi, nhiều lĩnh vực còn bị vi phạm. Có lúc, có nơi, việc thực hiện dân chủ còn hạn chế hoặc mang tính hình thức; có tình trạng lợi dụng dân chủ gây chia rõ, mất đoàn kết nội bộ, gây rối, ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội… (Còn nữa).