Thứ Tư, 18 tháng 6, 2025

 

VAI TRÒ CÔNG TÁC THAM MƯU CHIẾN LƯỢC TRONG CHIẾN CUỘC ĐÔNG XUÂN 1953-1954 VÀ THẮNG LỢI ĐIỆN BIÊN PHỦ NĂM 1954

                                                                                                                                   Mặt Trời

                                  Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ - đỉnh cao của cuộc tiến công chiến lược Đông-Xuân 1953-1954 là chiến công lớn nhất, chói lọi nhất của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954). Chiến thắng này không thể nói đến vai trò quan trọng công tác tham mưu chiến lược Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh trực tiếp là của Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp đã vạch kế hoạch tác chiến lập thế trận trong chiến cuộc Đông Xuân 1953 - 1954, tài mưu lược, sáng suốt nhạy bén, kịp thời thay đổi  phương châm đánh đòn quyết chiến lược trong chiến dịch Điện Biên Phủ; sự phối hợp tác chiến giữa các lực lượng vũ trang và nhân dân Tây Bắc với các chiến trường khác trong Chiến dịch Điện Biên Phủ; góp phần quyết định đập tan hoàn toàn dã tâm xâm lược của thực dân Pháp và can thiệp Mỹ, buộc chúng phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ, kết thúc chiến tranh ở Đông Dương, mở ra một thời kỳ mới cho cách mạng Việt Nam, Lào và Cam-pu-chia, góp phần quan trọng đối với phong trào giải phóng dân tộc, mở đầu sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ trên phạm vi toàn thế giới.

      Vai trò công tác tham mưu chiến lược Tổng Quân ủy - Bộ Tổng tư lệnh vạch kế hoạch tác chiến lập thế trận trong chiến cuộc Đông Xuân 1953 - 1954

       Bước sang Đông Xuân 1953 - 1954, phân tích, đánh giá đúng âm mưu chiến lược của Pháp và Mỹ trong Kế hoạch Na-va, thực hiện sự chỉ đạo của Bộ Chính trị, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh, Bộ Tổng tham mưu chỉ đạo, tổ chức lực lượng đánh vào các nơi địch tương đối yếu, có nhiều sơ hở, nhưng lại là địa bàn chiến lược mà địch không thể bỏ qua. Đó là Tây Bắc, Thượng Lào, Trung Lào, Hạ Lào, Đông Bắc Cam-pu-chia và Bắc Tây Nguyên. Đồng thời, chỉ đạo đẩy mạnh chiến tranh du kích, đấu tranh ở các đô thị vùng sau lưng địch từ Nam Bộ, Nam Trung Bộ, Bình-Trị-Thiên đến Đồng bằng Bắc Bộ. Đó là sự chỉ đạo chiến lược “căng địch ra mà đánh” với chủ trương: sử dụng một bộ phận chủ lực mở những cuộc tiến công vào những hướng địch sơ hở, đồng thời tranh thủ cơ hội tiêu diệt địch trong vận động ở những hướng địch có thể đánh sâu vào vùng tự do của ta… Tiến hành mọi sự cần thiết trong nhân dân và bộ đội địa phương, dân quân du kích các vùng tự do để cho chủ lực rảnh tay làm nhiệm vụ. Theo chủ trương trên, vai trò cơ quan tham mưu chiến lược Tổng Quân uỷ, Bộ Tổng Tư lệnh trực tiếp là của Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp vạch kế hoạch tác chiến lập thế trận trong chiến cuộc Đông Xuân 1953 - 1954 mở 5 đòn tiến công chiến lược (chiến dịch giải phóng Lai Châu, chiến dịch Trung, Hạ Lào - Đông Bắc Campuchia, chiến dịch Tây Nguyên, chiến dịch Thượng Lào và các chiến trường sau lưng địch).

Nghiên cứu lại toàn bộ diễn biến chiến cuộc Đông Xuân 1953 - 1954, chúng ta thấy điểm quan trọng nhất của kế hoạch Nava là tập trung binh lực xây dựng khối cơ động chiến lược mạnh để đối phó với các cuộc tiến công của ta và chuyển sang tiến công lớn tiêu diệt chủ lực của ta ở chiến trường vào thời điểm do chúng lựa chọn. Ngược lại, điểm quan trọng nhất trong kế hoạch tác chiến chiến lược của ta là khắc phục mọi khó khăn, tạo mọi điều kiện và sử dụng mọi biện pháp để giữ vững và phát triển quyền chủ động chiến lược nhằm phá vỡ khối cơ động tập trung của chúng, điều từng bộ phận địch đến những hướng khác nhau để ta tiêu diệt. Như vậy, “địch muốn tập trung quân, ta bắt địch phải phân tán”; “địch muốn tác chiến ở chiến trường đồng bằng, ta buộc địch phải điều quân lên rừng núi”.

Một điểm nổi bật trong chỉ đạo tác chiến chiến lược Đông Xuân 1953 - 1954 là kết hợp chặt chẽ chiến tranh du kích và chiến tranh chính quy, phối hợp nhịp nhàng giữa mặt trận chính diện và mặt trận sau lưng địch, giữa các hướng chiến lược trên toàn chiến trường Đông Dương. Chiến tranh chính quy được tiến hành bằng phương pháp mở các chiến dịch tiến công đồng thời hay gối đầu nhau trên nhiều hướng chiến trường khác nhau có lựa chọn. Chiến tranh du kích được đẩy mạnh đồng thời với chiến tranh chính quy và được tiến hành liên tục, rộng khắp. Ngược lại, mặc dù lực lượng của địch lên mức cao nhất là 48 vạn quân nhưng vẫn cảm thấy thiếu quân trầm trọng, chỗ nào cũng thấy sơ hở, cũng bị đánh và đòi Nava tăng thêm quân. Ta đã thành công trong việc điều động, phân tán địch trên 5 chiến trường. Quả đấm mạnh của địch đã bị xoè ra thành 5 ngón tay, hơn 80% lực lượng cơ động của quân Pháp bị phân chia ra các chiến trường trên toàn cõi Đông Dương. Ngay sau đó, ta chọn Điện Biên Phủ là trận quyết chiến chiến lược để kết thúc chiến tranh.

          Vai trò công tác tham mưu chiến lược Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh trực tiếp là của Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp tài mưu lược, sáng suốt, nhạy bén, kịp thời thay đổi phương châm, đánh đòn quyết chiến, chiến lược chiến dịch Điện Biên phủ

          Sau khi biết lực lượng chủ lực của ta di chuyển lên hướng Tây Bắc, Thượng Lào, lo sợ bị mất quyền kiểm soát khu vực quan trọng này, thực dân Pháp quyết định lựa chọn và xây dựng Điện Biên Phủ thành một tập đoàn cứ điểm mạnh, một pháo đài “không thể công phá” và là “nơi thu hút, tiêu diệt bộ đội chủ lực của Việt Minh”.

     Trước tình hình đó, Trung ương Đảng nhận định, quân địch ở Điện Biên Phủ tuy mạnh nhưng bị cô lập bởi rừng núi; còn ta, tuy có khó khăn nhưng có thể giải quyết được. Với quyết tâm ta sẽ thắng địch trong cuộc đối đầu lịch sử này và một chiến thắng ở Điện Biên Phủ sẽ có ý nghĩa rất lớn trong việc cổ vũ tinh thần cho toàn quân, toàn dân đánh bại thực dân Pháp. Ngày 6/12/1953 tại Thẩm Púa, Bộ Chính trị đã họp và quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ; xác định đây là trận quyết chiến chiến lược. Đại tướng Võ Nguyên Giáp làm Bí thư Đảng ủy kiêm Chỉ huy trưởng Chiến dịch; Tổng Tham mưu phó Hoàng Văn Thái làm Tham mưu trưởng, đồng chí Lê Liêm làm Chủ nhiệm Chính trị. Ngày 12/1, Sở Chỉ huy tiền phương tổ chức họp bàn phương án tác chiến. Thời gian này, địch ở Điện Biên Phủ có 12 tiểu đoàn và 7 đại đội bộ binh, 3 tiểu đoàn pháo binh, một tiểu đoàn công binh, các lực lượng khác quân số khoảng 12.00000 tên. Kế hoạch chiến dịch lúc đầu (14/1/1954), ta chủ trương “đánh nhanh thắng nhanh”. Nhưng qua theo dõi tình hình địch, chúng đã tăng cường 4 tiểu đoàn bộ binh và 2 đại đội dù và các lược khác, đưa quân số ở Điện Biên Phủ lên tới 16.200 tên.

        Đến sáng 26/1/1954, thời gian nổ súng mở đầu chiến dịch Điện Biên Phủ, theo giờ đồng hồ đã ở con số trên dưới 10 tiếng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp khẳng định, không thể đánh theo kế hoạch đã được phổ biến trước đó. Nếu đánh là thất bại. Đại tướng tướng Võ Nguyên Giáp đã trao đổi điều này với đồng chí Vi Quốc Thanh, Trưởng đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc và nhận được sự đồng thuậN. Ngay sau đó, Đảng ủy mặt trận đã được triệu tập họp khẩn cấp. Tại cuộc họp, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã kết luận: “Để bảo đảm nguyên tắc cao nhất là “đánh chắc thắng”, cần chuyển phương châm chiến dịch từ “đánh nhanh, giải quyết nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc”. Nay quyết định hoãn cuộc tiến công. Ra lệnh cho bộ đội trên toàn mặt trận lui về vị trí tập kết và kéo pháo ra. Công tác chính trị bảo đảm chấp hành triệt để mệnh lệnh lui quân như mệnh lệnh chiến đấu. Hậu cần chuyển sang chuẩn bị theo phương châm mới”. Trong trận đánh quyết định này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trao trọn niềm tin cho Đại tướng Võ Nguyên Giáp và căn dặn: “Trận này rất quan trọng, phải đánh cho thắng. Chắc thắng mới đánh, không chắc thắng không đánh”. Bởi vậy, tại Mặt trận Điện Biên Phủ, Đảng ủy, Bộ Chỉ huy chiến dịch đã tài mưu lược, sáng suốt nhạy bén, chủ động, sáng tạo kịp thời thay đổi phương châm tác chiến, chuyển từ “đánh nhanh, thắng nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc”.

       Để chuẩn bị tiến công Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ theo phương án “đánh chắc, tiến chắc”, ngày 7/2/1954, cơ quan tham mưu triệu tập hội nghị cán bộ quán triệt phương châm tác chiến và tiến hành công tác chuẩn bị chiến đấu. Đảng ủy, chỉ huy chiến dịch đề ra một số công việc phải thực hiện. Cụ thể là tổ chức đường cơ động cho pháo, trận địa pháo thật kiên cố; xây dựng trận địa tiến công; giải quyết vấn đề sức khỏe, quân số chiến đấu, chiến thuật, kỹ thuật, mà quan trọng là xây dựng trận địa và hiệp đồng giữa pháo binh và bộ binh; đảm bảo hậu cần… Sau hội nghị, cơ quan tham mưu tập trung vào thực hiện các nhiệm vụ mà Đảng ủy Chiến dịch đã xác định như trên. Trước tiên là chỉ thị cho các đơn vị tổ chức các chốt xung quanh trận địa thật vững chắc đảm bảo đánh địch phản kích. Tổng Tham mưu phó Hoàng Văn Thái, Tham mưu trưởng chiến dịch cùng một số cán bộ tham mưu, pháo binh và công binh đi trinh sát, xác định đường kéo pháo, bố trí trận địa pháo, đài quan sát, xây dựng hầm pháo. Ngoài ra, cơ quan tham mưu cũng tập trung chỉ đạo các đại đoàn xây dựng trận địa tiến công; hướng dẫn huấn luyện bổ sung cho các đơn vị về kỹ thuật, chiến thuật và tổ chức chỉ huy hiệp đồng binh chủng; đồng thời đặt kế hoạch huấn luyện tân binh ở trung tuyến và giao cho bộ phận quân huấn đảm nhiệm. Cùng với đó, cơ quan tham mưu bố trí lại đài quan sát; cử cán bộ tham mưu đi trực tiếp nghiên cứu địa hình, nắm kỹ tình hình địch; nghiên cứu, cải tiến nền nếp, chế độ làm việc như vẽ sơ đồ trận địa tiến công của các đại đoàn; lập biểu đồ vận chuyển lương thực, đạn dược; chế độ kiểm tra nắm tình hình về quân số chiến đấu.

 Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ có tất cả 49 cứ điểm, được chia làm ba phân khu. Trên chiến trường, trong 56 ngày đêm (từ 13/3 - 7/5/1954) ta mở ba đợt tiến công vào Điện Biên Phủ. Đợt một của chiến dịch mở màn ngày 13/3/1954, với trận tiêu diệt cụm cứ điểm Him Lam thuộc vòng ngoài Phân khu Bắc của tập đoàn cứ điểm. Đợt hai diễn ra ngày 30/3/1954, đánh vào phân khu trung tâm. Đợt ba chiến dịch diễn ra ngày 1/5 và kết thúc ngày 7/5/1954, đánh chiếm các cứ điểm phía Đông và tổng công kích tiêu diệt toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Sau mỗi đợt, cơ quan Tham mưu căn cứ vào chỉ thị, mệnh lệnh của Đảng ủy, Chỉ huy chiến dịch, chỉ đạo các đơn vị tiến công địch, sơ kết rút kinh nghiệm; hướng dẫn các đại đoàn phát triển trận địa tiến công; chỉ đạo các đại đoàn rút kinh nghiệm về chiến thuật và tổ chức chỉ huy tạo thế đánh các mục tiêu được phân công; lên kế hoạch bổ sung lực lượngTrong chiến dịch Điện Biên Phủ, khẳng định vai trò cơ quan mưu Bộ Tổng Tư lệnh đã có bước trưởng thành vượt bậc của một cơ quan tham mưu chiến lược tài mưu lược, sáng suốt, nhạy bén, kịp thời thay đổi phương châm, đánh đòn quyết chiến, chiến lược chiến dịch Điện Biên phủ.

 Vai trò công tác tham mưu chiến lược Tổng Quân ủy - Bộ Tổng tư lệnh, trực tiếp của Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp; sự phối hợp tác chiến giữa các lực lượng vũ trang và nhân dân Tây Bắc với các chiến trường khác trong Chiến dịch Điện Biên Phủ. 

Trên cơ sở đi sâu phân tích quá trình lãnh đạo, chỉ đạo của Tổng Quân ủy, Bộ Chỉ huy chiến dịch, trong đó có vai trò của Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp; vai trò Đảng bộ các địa phương trong công tác chuẩn bị và thực hành kế hoạch tác chiến; sự phối hợp tác chiến giữa các lực lượng vũ trang và nhân dân Tây Bắc, chiến trường  xung quanh Tuần giáo, Lai Châu với các chiến trường khác trong Chiến dịch Điện Biên Phủ; nắm thế chủ động chiến lược, đánh giá đúng tình hình địch, ta, trong chiến dịch Điện Biên Phủ chiến lược đã chỉ đạo các hoạt động tác chiến phối hợp trên các chiến trường cả nước, điều địch đi khắp chiến trường Đông Dương, phân tán thu hút, giam chân địch ở các chiến trường như Trung, Hạ Lào, Đông Bắc Campuchia; Thượng Lào; Tây Nguyên… Tập kích các sân bay Cát Bi, Gia Lâm phá huỷ Máy Bay, gây thiệt hại cho không quân địch không cho chúng rảnh tay chi viện và đối phó với ta ở Điện Biên Phủ. Chỉ đạo hoạt động du kích ở đồng bằng Bắc Bộ, ta buộc địch phải tung lực lương đi đối phó khắp nơi, nhất là bảo vệ đường số 5, khiến cho khoảng hơn 20 tiểu đoàn cơ động chiến lược của địch còn lại, không còn là lực lượng cơ động nữa. Chính vì vậy, dẫu muốn, Pháp cũng không thể tiếp tế, tăng cường, chi viện nhiều hơn cho tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ được.

Chiến thắng của Chiến dịch Điện Biên Phủ còn bắt nguồn từ tình đoàn kết trong sáng, thủy chung của nhân dân và quân đội 3 nước Việt Nam - Lào - Cam-pu-chia trên một chiến hào chống kẻ thù chung và sự ủng hộ chí tình, to lớn, có hiệu quả về vật chất và tinh thần của các nước xã hội chủ nghĩa anh em cùng với sự cổ vũ, động viên của các nước bạn bè, các đảng cùng chí hướng, của nhân loại tiến bộ dành cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, đều là những nhân tố đặc biệt quan trọng góp phần làm nên chiến thắng lẫy lừng Điện Biên Phủ. Chúng ta mãi mãi ghi lòng tạc dạ về tình cảm sâu nặng và sự giúp đỡ to lớn đó.

Thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ là kết quả tất yếu của đường lối chiến tranh nhân dân, toàn dân đánh giặc dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Xét dưới góc độ nghệ thuật quân sự, thắng lợi đó là sự kế thừa, phát triển kinh nghiệm truyền thống của ông cha ta lên một tầm cao mới trên cả ba phương diện: chiến lược quân sự, nghệ thuật chiến dịch và chiến thuật. Thắng lợi đó có vai trò to lớn công tác tham mưu chiến lược Tổng Quân ủy - Bộ Tổng tư lệnh, trực tiếp của Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp trong hoạt động lập thế trận chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954, tài mưu lược, sáng tạo, chủ động, kịp thời thay đổi phương châm là cơ sở khoa học, đúng đắn, khách quan đánh đòn quyết chiến chiến lược, sự phối hợp chặt chẽ chiến trường Điện Biên Phủ với các chiến trương xung quanh cấp chiến lược, chiến dịch, chiến thuật là kết tinh của tư tưởng tích cực, chủ động tiến công địch, buộc chúng phải đánh theo cách đánh của ta, phải căng mình đối phó với hai phương thức chiến tranh chính quy và chiến tranh du kích trên mọi chiến trường. Năm tháng sẽ qua đi, nhưng thắng lợi của chiến cuộc Đông Xuân 1953 - 1954 mà đỉnh cao là chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ vẫn mãi giữ nguyên giá trị lịch sử và hiện thực. Thắng lợi đó là một trong những trang sử hào hùng nhất, đẹp đẽ nhất của lịch sử chống giặc ngoại xâm mà dân tộc ta đã trải qua.

 

THỰC HIỆN LỜI BÁC DẠY LÀ GÓP PHẦN

TÔ THẮM TRUYỀN THỐNG QUÂN ĐỘI TA

                                                                                             LMH

Cách đây 76 năm  Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi mọi người đẩy mạnh phong trào thi đua ái quốc, ngày 10 tháng 6 năm 1949, nhân dịp kỷ niệm 1.000 ngày kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Bác đã khẳng định giá trị cao đẹp của phong trào hành động cách mạng, đồng thời nhắc nhở và thôi thúc toàn dân cố gắng, nỗ lực cống hiến để đưa cách mạng Việt Nam đến thắng lượi cuối cùng. Lời của Bác sáng lòng ta: “Đã đoàn kết, ta phải đoàn kết chặt chẽ rộng rãi thêm. Đã cố gắng, ta phải hăng hái mà cố gắng mãi. Mỗi một người phải lấy việc xung phong trong phong trào Thi đua ái quốc là nhiệm vụ thiêng liêng của mình, phải cố làm cho được”

Lời kêu gọi của Bác có ý nghĩa to lớn, kịp thời động viên, cổ vũ mọi tầng lớp nhân dân lao động hăng say thi đua ái quốc; đồng thời là tư tưởng chỉ đạo tiếp tục xây dựng và nhân rộng các phong trào thi đua ái quốc sôi nổi và mạnh mẽ đang diễn ra trên đất nước ta. Các phong trào "Gió Đại Phong", "Sóng Duyên Hải", "Cờ Ba Nhất", phong trào "Ba Sẵn Sàng", "Ba Đảm Đang", "Cánh đồng Năm tấn" trên đồng ruộng. Phong trào "Trống Bắc Lý", "Dạy tốt, học tốt" trong nhà trường. Phong trào "Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người" chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam… đã nhân lên gấp bội sức mạnh của quân và dân ta, trở thành lực lượng vật chất, góp phần đánh thắng thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, giành những thành tựu mới có ý nghĩa lịch sử trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
          Hiện nay, cả nước bước vào thời kỳ đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bên cạnh những thuận lợi, đất nước đang đứng trước nhiều thử thách, khó khăn, đòi hỏi phải phát huy cao độ lòng yêu nước, tinh thần tự lực, tự cường, tự tôn dân tộc trong mỗi người Việt Nam đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, lời kêu gọi của Bác càng có giá trị tư tưởng và ý nghĩa thực tiễn sâu sắc đối với cách mạng nước ta, là tư tưởng chỉ đạo, phương châm hành động để quân dân cả nước, tiếp tục phát huy tinh thần cách mạng, đoàn kết, thi đua ái quốc trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội trở thành động lực mạnh mẽ, thúc đẩy cách mạng Việt Nam giành được những thành quả to lớn hơn nữa.

Quân đội nhân dân Việt Nam được Đảng, Bác Hồ sáng lập, giáo dục và rèn luyện, là đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất; trong điều kiện mới đòi hỏi quân đội tiếp tục đẩy mạnh phong trào thi đua Quyết thắng, nhân rộng các mô hình mới, cách làm sáng tạo, hiệu quả; coi trọng phát triển các phong trào thi đua của các tổ chức quần chúng, các ngành, tạo ra động lực mạnh mẽ xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được Đảng và nhân dân giao phó, xứng đáng với lời khen tặng của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”.

Thứ Bảy, 14 tháng 6, 2025

VIỆT NAM CẦN ĐẤU TRANH CHỐNG ÂM MƯU

ĐÒI “CHUYỂN ĐỔI THỂ CHẾ CHÍNH TRỊ”

Hoa Súng

Trong các thời kỳ lịch sử, nhất là sau khi chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, với những thủ đoạn hết sức tinh vi, xảo quyệt, các thế lực thù địch đã tăng cường chống phá cách mạng Việt Nam. Trong đó có âm mưu đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, đòi chuyển đổi thể chế chính trị ở Việt Nam.      

Sự nguy hại khôn lường của âm mưu đòi “đa nguyên, đa đảng”

Từ bên ngoài, các thế lực thù địch sử dụng một khối lượng khổng lồ các phương tiện thông tin, truyền thông, nhất là sử dụng các trang mạng xã hội để thực hiện các chiến dịch chống phá tư tưởng quy mô lớn đối với Việt Nam. Các thế lực thù địch đưa ra luận điệu: Các cương lĩnh, đường lối cách mạng của Đảng chứng tỏ sự “chuyên quyền”, “độc đoán”, “đảng trị”. Chúng đổ lỗi cho Đảng trước nguy cơ tụt hậu về kinh tế của đất nước so với những nước trong khu vực; từ đó, chúng cho rằng, trong thời đại ngày nay, nếu tiếp tục đi theo con đường XHCN là sai lầm. Chúng “khuyên” chúng ta đi theo mô hình “xã hội dân chủ”, thực hiện “chính trị đa nguyên”, “đa đảng đối lập”, xóa bỏ Điều 4 trong Hiến pháp năm 2013 về hiến định quyền lãnh đạo của Đảng, vì chúng cho rằng “đa nguyên, đa đảng sẽ khơi dậy sự sáng tạo của toàn dân, tốt hơn cho sự phát triển của xã hội”(!). Đây là một luận điệu hết sức nguy hiểm và thâm độc vì họ cố tình đánh đồng giữa vấn đề đa nguyên, đa đảng với dân chủ và phát triển. Với những người có nhận thức chính trị không vững vàng có thể dễ dàng bị đánh lừa bởi luận điệu này, từ đó, cổ xúy cho việc thiết lập cơ chế đa nguyên, đa đảng tại Việt Nam. Như vậy, luận điệu “muốn thực sự dân chủ và phát triển”, phải thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập thực chất là đòi hỏi Đảng Cộng sản Việt Nam phải “từ bỏ vị thế lãnh đạo”, “chuyển đổi thể chế chính trị”, với mục tiêu thâm độc là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, thực hiện “đa nguyên chính trị”, chuyển hóa chế độ XHCN sang các chế độ xã hội khác.

Kiên trì giữ vững “linh hồn, mạch sống” của Đảng

Trong bối cảnh hiện nay, việc nhận diện và kịp thời đập tan các âm mưu, thủ đoạn tinh vi, nham hiểm của các thế lực thù địch, phản động đòi đa nguyên, đa đảng chính là vấn đề cốt tử để bảo vệ tính chính danh, bản chất cách mạng, vị thế, sứ mệnh cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội Việt Nam. Do đó, cần chú trọng nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và toàn xã hội về âm mưu, thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị chống phá, bác bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng. Đồng thời, nâng cao tinh thần cảnh giác của cán bộ, đảng viên và nhân dân để kịp thời phát hiện, tẩy chay, không tiếp tay cho kẻ xấu lan truyền thông tin, nhất là trên không gian mạng. Trên cơ sở đó, thống nhất nhận thức trong toàn xã hội về phương châm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng. Trọng tâm của công tác này là tiếp tục làm cho toàn Ðảng, toàn dân, toàn quân nhận thức ngày càng đầy đủ hơn, sâu sắc hơn những nội dung cơ bản và giá trị lý luận và thực tiễn to lớn của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; làm cho Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thật sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của đời sống xã hội.

Bảo vệ đường lối cách mạng, khoa học của Đảng

Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (03/02/1930) và trải qua các thời kỳ lãnh đạo cách mạng, cương lĩnh, đường lối, quan điểm của Đảng luôn bị các thế lực thù địch về chính trị và ý thức hệ chống phá, xuyên tạc, phủ định. Những năm cuối thập niên 1930, trước sự chống phá của bọn Trotsky, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ đã viết tác phẩm “Tự chỉ trích”. Năm 1939, trong ý kiến gửi các đồng chí ở trong nước, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc nhấn mạnh: Đối với bọn Trotsky, không thể có thỏa hiệp nào, một nhượng bộ nào. Phải dùng mọi cách để lột mặt nạ chúng làm tay sai cho chủ nghĩa phát xít, phải tiêu diệt chúng về chính trị.

Sau sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu, trước âm mưu phủ định CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam, đòi chấm dứt vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, thực hiện đa nguyên chính trị và đa đảng đối lập của các thế lực thù địch, phản động, Đảng Cộng sản Việt Nam đã kiên quyết, dứt khoát bác bỏ những quan điểm sai trái đó, kiên định Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên trì con đường đi lên CNXH ở Việt Nam; hoạch định và không ngừng bổ sung, phát triển đường lối đổi mới và thông qua “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH”. Thực tiễn sinh động của cách mạng Việt Nam đã chứng tỏ, đối với Việt Nam không còn con đường nào khác để có độc lập dân tộc thực sự và tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Cần nhấn mạnh rằng, đây là sự lựa chọn của chính lịch sử, sự lựa chọn đã dứt khoát từ năm 1930 với sự ra đời của Đảng ta.

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Cương lĩnh đầu tiên của Đảng, Luận cương chính trị tháng 10/1930, Chính cương Đảng Lao động Việt Nam và đường lối cách mạng dân tộc dân chủ là ngọn cờ soi sáng bước đường tranh đấu của dân tộc Việt Nam giành độc lập, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và bước đầu xây dựng CNXH; thì Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (Cương lĩnh 1991 cũng như Cương lĩnh bổ sung, phát triển 2011) và đường lối đổi mới toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế đã đưa Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng kinh tế-xã hội, trở thành nước đang phát triển, có thu nhập trung bình và đã đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử.

Sợi chỉ đỏ xuyên suốt đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam là độc lập dân tộc và CNXH, như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nêu trong bài viết “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”: Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là đường lối cơ bản, xuyên suốt của cách mạng Việt Nam và cũng là điểm cốt yếu trong di sản tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bằng kinh nghiệm thực tiễn phong phú của mình kết hợp với lý luận cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh đã đưa ra kết luận sâu sắc rằng, chỉ có CNXH và chủ nghĩa cộng sản mới có thể giải quyết triệt để vấn đề độc lập cho dân tộc, mới có thể đem lại cuộc sống tự do, ấm no và hạnh phúc thực sự cho tất cả mọi người, cho các dân tộc. Điều đó là cơ sở để khẳng định, không có lý do gì để Đảng và dân tộc Việt Nam rẽ sang con đường tư bản chủ nghĩa hay một con đường phát triển nào khác, trao quyền quản lý đất nước cho những thế lực cơ hội, phản động.

Khẳng định nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam

Thực tiễn lịch sử hơn 90 năm lãnh đạo cách mạng Việt Nam cho thấy, ngay từ khi mới ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam được nhân dân tin tưởng giao phó trọng trách trở thành lực lượng lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Điều đó không phải là do mong muốn chủ quan của Đảng, mà chính là sự giao phó của lịch sử, của cách mạng Việt Nam thông qua quá trình sàng lọc, lựa chọn một cách đúng đắn. Dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, trong thế kỷ 20, Đảng đã lãnh đạo toàn thể dân tộc giành được những thắng lợi vĩ đại:

Một là, thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và việc thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - nhà nước dân chủ nhân dân ở Đông Nam Á, mở ra kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc - kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền CNXH.

Hai là, thắng lợi của các cuộc kháng chiến oanh liệt giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, đánh thắng chủ nghĩa thực dân cũ và mới, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, thực hiện thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên CNXH, góp phần quan trọng vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

Ba là, thắng lợi của sự nghiệp đổi mới và từng bước đưa đất nước quá độ lên CNXH. Với những thắng lợi giành được, nước ta từ một nước thuộc địa nửa phong kiến đã trở thành một quốc gia độc lập, tự do, phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa, có quan hệ quốc tế rộng rãi, có vị thế ngày càng quan trọng trong khu vực và trên thế giới. Nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội. Đất nước ta từ một nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu đã bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hoá. Với những thành quả đạt được chúng ta tự hào về dân tộc ta-một dân tộc anh hùng, thông minh và sáng tạo; tự hào về Đảng ta - Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện - một lòng một dạ chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân.

Trước đổi mới, Việt Nam là một nước nghèo, bị chiến tranh tàn phá nặng nề, cuối những năm 70, đầu những năm 80 của thế kỷ XX, khủng hoảng kinh tế - xã hội diễn ra gay gắt, tỉ lệ lạm pháp có lúc lên đến 774,7%, đời sống nhân dân hết sức khó khăn, thiếu lương thực triền miên, khoảng ¾ dân số sống ở mức nghèo khổ. Nhờ thực hiện đường lối đổi mới, nền kinh tế bắt đầu phát triển và phát triển liên tục với tốc độ tăng trưởng tương đối cao, trung bình khoảng gần 7% mỗi năm.

“Quy mô GDP không ngừng được mở rộng, năm 2020 đạt 342,7 tỷ đô la Mỹ (USD), trở thành nền kinh tế lớn thứ tư trong ASEAN. Thu nhập bình quân đầu người tăng khoảng 17 lần, lên mức 3.512 USD; Việt Nam đã ra khỏi nhóm các nước có thu nhập thấp từ năm 2008. Từ một nước bị thiếu lương thực triền miên, đến nay, Việt Nam không những đã bảo đảm được an ninh lương thực mà còn trở thành một nước xuất khẩu gạo và nhiều nông sản khác đứng hàng đầu thế giới. Công nghiệp phát triển khá nhanh, tỉ trọng công nghiệp và dịch vụ liên tục tăng và hiện nay chiếm khoảng 85% GDP. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tăng mạnh, năm 2020 đạt trên 540 tỷ USD, trong đó kim ngạch xuất khẩu đạt trên 280 tỷ USD. Dự trữ ngoại hối tăng mạnh, đạt 100 tỷ USD vào năm 2020. Đầu tư nước ngoài tăng nhanh, đăng ký đạt gần 395 tỷ USD vào cuối năm 2020”. 

Việc phát triển kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa, xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước, từng chính sách phát triển đã giúp cho  văn hóa, xã hội phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ rệt, mức sống và chất lượng sống ngày càng được nâng cao. Tỷ lệ hộ nghèo trung bình mỗi năm giảm khoảng 1,5%; giảm từ 58% năm 1993 xuống còn 5,8% năm 2016 theo chuẩn nghèo của Chính phủ và dưới 3% năm 2020 theo chuẩn nghèo đa chiều (tiêu chí cao hơn trước). Đến nay, hơn 60% số xã đạt chuẩn nông thôn mới; hầu hết các xã nông thôn đều có đường ô tô đến trung tâm, có điện lưới quốc gia, trường tiểu học và trung học cơ sở, trạm y tế và điện thoại.

Việt Nam tập trung hoàn thành xóa mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học vào năm 2000 và phổ cập giáo dục trung học cơ sở năm 2010; số sinh viên đại học, cao đẳng tăng gần 17 lần trong 35 năm qua. Việt Nam tập trung vào việc tăng cường y tế phòng ngừa, phòng, chống dịch bệnh, hỗ trợ các đối tượng có hoàn cảnh khó khăn. Người nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi và người cao tuổi được cấp bảo hiểm y tế miễn phí. Đời sống văn hóa cũng được cải thiện đáng kể; sinh hoạt văn hóa phát triển phong phú, đa dạng. Liên hợp quốc đã công nhận Việt Nam là một trong những nước đi đầu trong việc hiện thực hóa các Mục tiêu Thiên niên kỷ. Năm 2019, chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam đạt mức 0,704, thuộc nhóm nước có HDI cao của thế giới, nhất là so với các nước có cùng trình độ phát triển. Như vậy, luận điệu của các thế lực thù địch, phản động cho rằng, đa đảng thì có dân chủ và một đảng thì mất dân chủ, thực ra là một trò “lập lờ đánh lận con đen” nhằm cổ vũ cho việc thiết lập cơ chế đa nguyên, đa đảng tại Việt Nam. Đề cập đến vấn đề này, trả lời câu hỏi của phóng viên báo Express Ấn Độ về việc liệu đã đến lúc chín muồi để Việt Nam có một hệ thống đa đảng, hoặc có các đảng khác ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam để có thể tính tới các quan điểm của nhiều nhóm sắc tộc, nhiều dân tộc khác nhau, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: Không phải có nhiều đảng thì dân chủ hơn, ít đảng thì ít dân chủ hơn, mỗi nước có hoàn cảnh, điều kiện lịch sử cụ thể khác nhau, điều quan trọng là xã hội có phát triển không, nhân dân có được hưởng cuộc sống ấm no, hạnh phúc không và đất nước có ổn định để ngày càng phát triển đi lên không? Đó là tiêu chí quan trọng nhất. Và cũng không nhất thiết cứ kinh tế thị trường thì phải đa đảng và ở Việt Nam chưa thấy sự cần thiết khách quan phải có chế độ đa đảng, ít nhất cho đến bây giờ./. 

 

BÁC BỎ LUẬN ĐIỂM ĐÒI “ĐA NGUYÊN CHÍNH TRỊ,
ĐA ĐẢNG ĐỐI LẬP” CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

                                                                                                           Nhân Trần

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là bước ngoặt vô cùng quan trọng của lịch sử cách mạng Việt Nam, chấm dứt sự khủng hoảng về đường lối và tổ chức lãnh đạo của các phong trào yêu nước, mở ra một thời kì mới của đất nước - thời kỳ đấu tranh cách mạng có sự lãnh đạo của Đảng. Từ khi ra đời đến nay, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, đánh đuổi mọi kẻ thù xâm lược, giải phóng dân tộc, thống nhất nước nhà. Bước vào công cuộc đổi mới, Đảng tiếp tục lãnh đạo đất nước tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội và đạt được nhiều thành tựu to lớn. Như vậy, chính thực tiễn đã chứng minh rằng, vai trò lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định cho mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đó là một sự thật không thể phủ nhận. Hiện nay, trong khi toàn Đảng, toàn dân ta đang đoàn kết một lòng, nỗ lực phấn đấu, khơi dậy khát vọng xây dựng một đất nước Việt Nam cường thịnh, thì các thế lực thù địch vẫn không ngừng xuyên tạc, chống phá. Một trong những luận điệu chống phá cơ bản của chúng là đòi Việt Nam phải thực hiện “đa nguyên chính trị, đang đảng đối lập”. “Đa nguyên chính trị” là một khuynh hướng xã hội học - triết học xuất hiện từ đầu thế kỷ XVIII. Khuynh hướng này tuyệt đối hóa sự đa dạng đối kháng của các đảng phái, tổ chức chính trị khác nhau trong xã hội. “Đa nguyên chính trị” tất yếu gắn với “đa đảng đối lập”, bởi một hệ thống chính trị đa đảng là hệ quả tất yếu từ “đa nguyên chính trị”. Ngày nay, khẩu hiệu đòi “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” trở thành công cụ tư tưởng để các thế lực thù địch lợi dụng chống phá các nhà nước xã hội chủ nghĩa và các trào lưu tiến bộ trên thế giới. Chúng cho rằng, chế độ chỉ có một đảng lãnh đạo là độc tài, là mất dân chủ, là nguyên nhân dẫn đến mọi sự trì trệ, tiêu cực của xã hội. Chỉ có “đa nguyên, đa đảng” mới có thể mang lại một nền “dân chủ thực sự”. Tính nguy hiểm của thủ đoạn này biểu hiện ở một số khía cạnh như sau:

Thứ nhất, đây là một luận điểm mang nặng tính chất mị dân, dễ gây nên sự ngộ nhận, mơ hồ, lẫn lộn về nhận thức, sự dao động tư tưởng trong một bộ phận nhân dân, thậm chí ngay cả một số cán bộ, đảng viên. Điều này rất có thể sẽ dẫn đến sự chia rẽ về chính trị, tư tưởng trong xã hội, cùng với đó là sự hoài nghi, xói mòn niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng ta.

Thứ hai, mưu đồ chực chất của “đa nguyên, đa đảng” là nhằm hạn chế, từ đó dần dần thủ tiêu sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với xã hội, xóa bỏ nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Một khi đạt được mưu đồ đó, các thế lực phản động sẽ ngóc đầu dậy, tranh thủ kiếm chác lợi ích cho bản thân mình.

Thứ ba, nếu mất cảnh giác trước luận điệu đòi “đa nguyên, đa đảng”, hệ quả tất yếu sẽ là đất nước hỗn loạn, mất ổn định, nền kinh tế đổ vỡ, văn hóa suy đồi… Đất nước khi ấy không thể có được nền độc lập thực sự, mà sẽ bị xâu xé, bị chi phối bởi các nước lớn. Mọi thành quả cách mạng của nhân dân ta đã giành được, đánh đổi bằng bao nhiêu hi sinh, mất mát, sẽ bị tiêu tan.

Cần khẳng định rằng, “đa nguyên, đa đảng” cũng có yếu tố tích cực của nó, song thực chất “đa nguyên, đa đảng” không hề đồng nhất với “dân chủ thật sự”. Bởi lẽ “dân chủ” là một giá trị xã hội, được hình thành và bảo đảm bởi nhiều yếu tố, điều kiện khác nhau. Trong bất kỳ xã hội nào, dù nhất nguyên hay đa nguyên, một đảng hay đa đảng, nhưng nếu đảng cầm quyền và nhà nước quan tâm đến thể chế bảo đảm quyền lực thực tế của nhân dân, chăm lo cho nhân dân, tôn trọng nhân dân… thì xã hội đó mới có “dân chủ thật sự”. Ở Việt Nam, trong Cương lĩnh của Đảng và Hiến pháp của Nhà nước đều thể hiện rõ quan điểm “mọi quyền lực thuộc về nhân dân”, “nhân dân lao động là người chủ đất nước”... Dân chủ ở Việt Nam hiện nay là dân chủ xã hội chủ nghĩa, một nền dân chủ hướng về đông đảo quần chúng nhân dân, rất khác biệt so với nền dân chủ tư bản chủ nghĩa, vốn chỉ hướng đến bảo vệ lợi ích cho giai cấp tư sản. Chính vì vậy, không thể vì một vài hạn chế, một vài hiện tượng mất dân chủ ở một số nơi rồi cố tình phủ nhận bản chất tốt đẹp của chế độ ta.

Sự ra đời của một thể chế chính trị hay một đảng phái chính trị phải do nhu cầu của thực tế xã hội, phải xuất phát từ nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Sự thành lập của một đảng phái không thể chỉ để “làm phong phú, đa dạng thêm ý thức hệ tư tưởng” như một số kẻ rêu rao, mà tự thân nó phải làm tròn bổn phận của mình, với tư cách là một lực lượng chính trị, để mang lại lợi ích cho dân tộc, cho đất nước. Thực tế cho thấy, ở Việt Nam hiện nay không hề có một nhu cầu nào như vậy. Đảng Cộng sản Việt Nam chính là lực lượng đại diện duy nhất cho lợi ích của toàn dân tộc, ngoài lợi ích của giai cấp, của dân tộc và của nhân dân, Đảng ta không có lợi ích nào khác. Nhu cầu về đảng đối lập thực chất chỉ để phục vụ cho lợi ích nhỏ nhen, thấp hèn của một nhóm người chỉ vì bản thân mà bất chấp.

Tóm lại, Việt Nam là một đất nước nhỏ bé, thường xuyên bị kẻ thù nhòm ngó. Xuyên suốt lịch sử, dân tộc ta đã phải đoàn kết để dựng nước và giữ nước. Do đó, tinh thần đại đoàn kết đã trở thành truyền thống quý báu của dân tộc ta. Đảng Cộng sản Việt Nam chính là hiện thân cao nhất cho tinh thần đại đoàn kết ấy. Việt Nam không thực hiện chế độ đa đảng không phải vì chúng ta bảo thủ hoặc mất dân chủ như các thế lực thù địch cố tình xuyên tạc, mà đó là yêu cầu khách quan, là vì sự ổn định và phát triển của đất nước. “Đa nguyên, đa đảng” không phù hợp với hoàn cảnh nước ta và chắc chắn không thể được nhân dân ta chấp nhận./.

 

ĐẤU TRANH CHỐNG LUẬN ĐIỂM “ĐA ĐẢNG” Ở VIỆT NAM

                                                                                                Nhân Trần

Thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động đang ráo riết, quyết liệt chống phá cách mạng Việt Nam, trong đó có phủ nhận, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, với luận điểm ”ở Việt Nam không có đa nguyên, đa đảng thì không có dân chủ”. Các thế lực thù địch, phản động đã và đang kêu gọi Việt Nam cần phải có ”đa đảng đối lập”. Có thể khẳng định: Đây là luận điểm tuyên truyền của các thế lực thù địch nhằm hướng tới mục đích hàng đầu là làm suy yếu, đi đến phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, là mưu đồ hết sức thâm độc, nguy hiểm, trắng trợn của chúng.

Thực tiễn ở Việt Nam, đi lên chủ nghĩa xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là nguyện vọng và sự lựa chọn đúng đắn của Nhân dân ta. Và chắc chắn khẳng định rằng ở Việt Nam không cần và không chấp nhận chế độ đa đảng vì những lý do sau:

Thứ nhất, dưới góc độ lý luận: Cơ sở lý luận cho việc thực hiện đa nguyên, đa đảng xuất phát từ chủ nghĩa đa nguyên - một trường phái triết học xã hội tư sản do nhà triết học Đức  Chiristian Woiff (1679 - 1754) đề xuất vào đầu thế kỷ XVIII. Chủ nghĩa đa nguyên là một học thuyết phi Mácxít với luận điểm phủ nhận sự phân chia xã hội thành giai cấp, phủ nhận đấu tranh giai cấp; chủ trương xây dựng một cơ chế quản lý xã hội theo nguyên tắc đa lực lượng, đa đảng phái và các tổ chức đảng phái quan hệ với nhau theo nguyên tắc hiệp thương. Vì vậy, nếu áp dụng luận điểm này vào xây dựng chủ nghĩa xã hội sẽ làm hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản - đội tiên phong của giai cấp công nhân (ở Việt Nam còn đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam) và đi ngược lại với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

Thứ hai, xuất phát từ thực tiễn cách mạng của Việt Nam: Vào đầu thế kỷ XX qua sự “sàng lọc” dữ dội của lịch sử, dân tộc Việt Nam, Nhân dân Việt Nam đã lựa chọn Đảng Cộng sản Việt Nam là tổ chức chính trị duy nhất dẫn dắt dân tộc ta đi đến độc lập, tự do và hạnh phúc. Trước sự bế tắc của nhiều phong trào, tư tưởng đấu tranh giải phóng dân tộc ở Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, thì dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin (do Nguyễn Ái Quốc nghiên cứu, tìm tòi và truyền bá vào cách mạng Việt Nam) và được sự chuẩn bị chín muồi về chính trị, tư tưởng, tổ chức, Đảng Cộng sản Việt Nam đã ra đời (03/02/1930) để lãnh đạo cách mạng Việt Nam - đây là một tất yếu lịch sử và đã chấm dứt thời kỳ cách mạng Việt Nam khủng hoảng về đường lối, mở ra một thời kỳ mới cho lịch sử dân tộc.

Sau khi ra đời, gắn bó máu thịt với nhân dân, được nhân dân đồng tình ủng hộ và tin tưởng tuyệt đối, chỉ trong vòng 15 năm, Đảng ta đã lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, tiến hành ba cao trào cách mạng: Cao trào cách mạng 1930 - 1931, với đỉnh cao là phong trào Xô Viết - Nghệ Tĩnh, Cao trào cách mạng đòi dân sinh, dân chủ (1936 - 1939) và Cao trào cách mạng giải phóng dân tộc (1939 - 1945), để đến năm 1945, khi thời cơ cách mạng chín muồi, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo toàn thể dân tộc Việt Nam làm nên thắng lợi của cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945 “long trời, lở đất” thành lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vào ngày 02/9/1945.

Giai đoạn 1945 - 1975, phát huy truyền thống đoàn kết, yêu nước của toàn dân tộc, Đảng đã lãnh đạo nhân dân lần lượt đánh bại mọi âm mưu, kế hoạch xâm lược của kẻ thù, đặc biệt là thắng lợi trong Chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954 với đỉnh cao là Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” chúng ta đã chiến thắng thực dân Pháp xâm lược; tiếp theo đó, trên cơ sở đường lối đúng đắn, sáng tạo của Đảng, với sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, quân và dân ta đã lần lượt đánh bại các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thu giang sơn về một mối vào ngày 30/4/1975. Với chiến thắng này, lịch sử và nhân dân Việt Nam một lần nữa đã lựa chọn Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng chính trị duy nhất có sứ mệnh lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Giai đoạn này, bên cạnh Đảng Cộng sản Việt Nam cũng song song tồn tại 02 đảng khác là Đảng Dân chủ Việt Nam (ra đời năm 1944) và Đảng Xã hội Việt Nam (ra đời năm 1946). Tuy nhiên, cả 02 đảng này chưa bao giờ đối lập với Đảng Cộng sản Việt Nam, mà đều ủng hộ, thừa nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, cho đến năm 1988 đã tuyên bố tự giải tán.

Từ sau năm 1975 đến nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng, cả nước chung tay khắc phục hậu quả nặng nề của chiến tranh để lại, tập trung khôi phục kinh tế xã hội; chiến đấu bảo vệ biên giới, bảo vệ độc lập, chủ quyền lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc. Đặc biệt, đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (12/1986) đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước, đã đưa nước ta đến nay vươn lên trở thành nước đang phát triển, có thu nhập trung bình; văn hoá, xã hội tiếp tục phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện; công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị có bước đột phá; chính trị, xã hội ổn định, độc lập, chủ quyền được giữ vững; vị thế và uy tín của đất nước ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế.

Những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử của cách mạng Việt Nam cho đến nay chính là cơ sở thực tiễn thuyết phục nhất, là minh chứng hùng hồn nhất để khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố quan trọng quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Thực tiễn đó khẳng định một chân lý ở Việt Nam, không có một lực lượng chính trị nào khác, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm, uy tín và khả năng lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đưa sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Thứ ba, có phải chỉ thực hiện đa đảng mới có dân chủ? Lý luận Mác - Lênin đã khẳng định: Dân chủ là phạm trù có tính lịch sử và giai cấp. Do đó, dân chủ xuất hiện khi có nhà nước, mỗi nền dân chủ phải gắn với một nhà nước nhất định và dân chủ còn phụ thuộc vào trình độ phát triển văn hóa, kinh tế, xã hội trong từng giai đoạn nhất định, Lênin khẳng định: ... Bất cứ nền dân chủ nào, xét đến cùng, cũng đều phục vụ sản xuất và xét đến cùng, đều do các quan hệ sản xuất trong một xã hội nhất định quyết định. Như vậy, thể chế một đảng lãnh đạo hoàn toàn không đồng nghĩa với mất dân chủ, và cũng không phải dân chủ phát triển chỉ khi gắn với thể chế đa đảng. Hiện nay, nhiều nước tư bản thực hiện chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Các đảng có thể thay phiên nhau cầm quyền ở một quốc gia trong một khoảng thời gian nhất định. Nhưng xét đến cùng, các đảng đó đều là đảng của giai cấp tư sản, đại diện cho lợi ích của giai cấp tư sản. Do đó, nền dân chủ đó là nền dân chủ tư sản, nền dân chủ chỉ dành cho một bộ phận thiểu số, một số ít người trong xã hội. Như vậy, có thể khẳng định: Không phải chỉ có thực hiện đa đảng mới có dân chủ; không phải có nhiều đảng thì dân chủ hơn, ít đảng thì ít dân chủ hơn.

Thứ tư, ở Việt Nam hiện nay, nếu thực hiện đa đảng sẽ rất có thể dẫn đến tình trạng các đảng tranh giành ảnh hưởng lẫn nhau, làm cho đất nước hỗn loạn, chính trị mất ổn định, khối đại đoàn kết dân tộc sẽ bị phá vỡ. Đó chính là thời cơ để các thế lực thù địch tấn công, lợi dụng. Như vậy, vì sự ổn định và phát triển của đất nước, vì sự phát triển của nền dân chủ và hạnh phúc của nhân dân, thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đất nước Việt Nam, Nhân dân Việt Nam không cần đa đảng và không chấp nhận đa đảng./.

THỦ ĐOẠN ĐÒI “DÂN SỰ HÓA” QUÂN ĐỘI CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

Hoa Súng

Một số học giả nước ngoài và các thế lực thù địch đang ra sức tuyên truyền cho quan điểm “siêu giai cấp” của Quân đội, “dân sự hóa” Quân đội và đi đến kết luận: Quân đội là công cụ của toàn xã hội. Họ cho rằng, “sự tồn tại của Quân đội là cần thiết để bảo đảm cho hoạt động bình thường của bất kỳ hệ thống xã hội nào. Vì vậy, Quân đội là tổ chức đứng ngoài xã hội và không có bản chất giai cấp; là lực lượng vũ trang “trung lập về chính trị” và phải được “dân sự hóa” triệt để”. Thực chất của quan điểm trên nhằm thực hiện mưu đồ “vô hiệu hóa” quân đội ở các nước xã hội chủ nghĩa dẫn đến dao động về tư tưởng, mất phương hướng chính trị, phai nhạt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, hướng tới xóa bỏ quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam. Đây là một thủ đoạn nham hiểm trong chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, phản động.

Bên cạnh đó, một số người còn lơi dụng viện dẫn vào học thuyết “Tam quyền phân lập”, ở một số nhà nước tư sản đã ban hành luật thể hiện “dân sự quản lý quân sự”, quân đội tách ra khỏi sự ảnh hưởng, chi phối của đảng phái. Điều này là hoàn toàn không đúng trong thực tế.

Bởi lẽ, phía sau chính phủ vẫn là một chính đảng đảng cầm quyền (hoặc chi phối chính sách của chính phủ). Các đảng cầm quyền vẫn can thiệp vào quản lý nhà nước về quốc phòng. Với tính cách là một hiện tượng chính trị-xã hội, bất cứ quân đội nào trong lịch sử cũng mang bản chất giai cấp sâu sắc. Sự quyết định bản chất giai cấp của một quân đội là ở chỗ: Quân đội đó là chỗ dựa của chế độ chính trị-xã hội nào; hoạt động của quân đội đó bảo vệ lợi ích cho giai cấp nào và bản chất giai cấp của nó phụ thuộc một cách trực tiếp vào bản chất giai cấp của nhà nước đã tổ chức ra quân đội đó. Bản chất giai cấp của quân đội còn được thể hiện trong quá trình xây dựng và tổ chức quân đội. Giai cấp thống trị bảo đảm sự vững mạnh về chính trị của quân đội, bảo đảm phương hướng phát triển và hoạt động của quân đội phù hợp với lợi ích của giai cấp đó. Để giữ vững phương hướng chính trị và tăng cường bản chất giai cấp cho quân đội, giai cấp thống trị tiến hành truyền bá hệ tư tưởng của nó cho quân đội bằng hệ thống giáo dục có tính chất áp đặt về tư tưởng cho binh lính; thực hiện triệt để đường lối tổ chức, phương hướng hoạt động và kiểm soát mọi hoạt động của quân đội. Điều này đã được ghi nhận theo điều lệnh quân đội Mỹ, sĩ quan chỉ huy chịu trách nhiệm về giáo dục tư tưởng và tinh thần binh sĩ. Quân đội Mỹ duy trì cả một bộ máy tuyên truyền gọi là “cơ quan thông tin và giáo dục quân đội” để tiến hành công tác tư tưởng. Trong các quân chủng của quân đội Mỹ đều có cơ quan thông tin. Bên cạnh việc lãnh đạo công tác tuyên truyền, cổ động, cơ quan này còn chuẩn bị và xuất bản những sách giáo khoa về tư tưởng, những tài liệu phát thanh, báo chí, phát hành những phim ảnh ca tụng chủ nghĩa tư bản.

Như vậy, sự ra đời, tồn tại và phát triển của quân đội luôn gắn với vai trò của giai cấp và nhà nước. Thực tế cho thấy, giai cấp và nhà nước luôn giữ vai trò quyết định đối với quân đội về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Về chính trị, giai cấp và nhà nước quyết định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu và các chức năng, nhiệm vụ cơ bản của quân đội. Đồng thời, hệ tư tưởng của giai cấp đó luôn giữ vai trò thống trị đối với quân đội, chi phối đến đời sống tinh thần của quân đội. Về tổ chức, giai cấp và nhà nước quyết định đường lối, nguyên tắc tổ chức xây dựng quân đội; quyết định cơ chế lãnh đạo, thành phần chỉ huy và binh lính tham gia trong quân đội.

Bên cạnh đó, hoạt động của quân đội phụ thuộc vào chế độ chính trị-xã hội, chịu sự quy định của giai cấp và nhà nước tổ chức ra nó. Là một bộ phận của chỉnh thể xã hội thuộc kiến trúc thượng tầng, quá trình phát triển của quân đội tất yếu chịu sự chi phối, tác động của các quy luật xã hội nói chung.

Trong các yếu tố ảnh hưởng đến bản chất giai cấp của quân đội, yếu tố giai cấp luôn tác động trực tiếp, mạnh mẽ và quyết định nhất. Quân đội nào cũng do nhà nước tổ chức ra và chịu sự chi phối bởi đường lối chính trị của một giai cấp. Bài học xương máu của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu cho thấy, khi đảng cộng sản mất vai trò lãnh đạo, sự biến chất của nhà nước là không tránh khỏi và hậu quả tất yếu của nó là làm cho quân đội mất phương hướng chính trị. Mặc dù năm 1991, Hồng quân Liên Xô có quân số hơn 3 triệu người nhưng đã không bảo vệ được chế độ xã hội chủ nghĩa sụp đổ.

Những năm gần đây, bài học thực tiễn từ các nước do lực lượng lãnh đạo không quản lý, giáo dục tốt để quân đội đứng lên đảo chính làm mất ổn định chính trị. Điển hình là đảo chính quân sự tại 8 quốc gia gồm:  Gabon, Niger, Burkina Faso, Guinea, Cộng hòa Chad, Mali, Sudan và Myanma.

Đó là bài học kinh nghiệm quý giá để Đảng ta tiếp tục tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, giáo dục và rèn luyện Quân đội ta ngày càng vững mạnh về chính trị làm cơ sở, tiền đề xây dựng Quân đội “tinh, gọn, mạnh” đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới./.



 

PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH LỢI DỤNG HÌNH ẢNH NƯỚC KYRGYZSTAN THÁO DỠ DI CHUYỂN TƯỢNG ĐÀI LÊNIN ĐỂ XUYÊN TẠC CHỐNG PHÁ VIỆT NAM

Hoa Súng

Vừa qua trên trang facebook Chân trời mới media xuất hiện một đoạn clip có lồng ghép hình ảnh nước Kyrgyzstan tháo dỡ tượng đài Lênin kèm theo lời bình xuyên tạc rằng ở nước ngoài họ đang tiếp tục quay lưng với chủ nghĩa Mác - Lê nin và con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nhưng Việt Nam đất nước còn khó khăn, Đảng, Nhà nước không quan tâm đến nhiều người chưa đủ ăn, đủ mặc, trong khi đó nhiều nơi đầu tư với nhiều tỷ đồng xây dựng các tượng đài rất lãng phí. Mục đích xuyên tạc của các lực lượng phản động thù địch trên là nhằm tác động vào tư tưởng, tình cảm, làm cho quần chúng nhân dân ngày càng tách dời mối quan hệ găn bó giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân. Để vạch rõ âm mưu, thủ đoạn trên của các thế lực thù địch, phản động mỗi chúng ta cần nắm vững bản chất của các vấn đề sau đây:

Một là, sự thật của vấn đề đang bị bóp méo. Theo thông báo chính thức từ văn phòng Thị trưởng thành phố Osh, tượng đài Lênin chỉ được di dời theo kế hoạch đến Công viên Meerim, một vị trí mới phù hợp hơn trong quy hoạch không gian công cộng của thành phố. Tượng được tháo dỡ cẩn trọng, không hề có dấu hiệu phá hoại, không bị xem là biểu tượng phản cảm hay bị bài xích như những gì tin giả lan truyền. Rõ ràng, đây là hoạt động hành chính thông thường, không mang bất cứ thông điệp chính trị nào.

Hai là, đằng sau lớp vỏ “trung lập”  khi xảo ngôn chính trị được ngụy trang bằng những tiếc nuối lịch sử. Trên thực tế, chiêu trò lợi dụng tương tự vụ việc trên đã xảy ra không ít lần khi một số nước từng thuộc Liên Xô và Đông Âu tháo dỡ tượng lãnh tụ V.I. Lênin để công kích, xuyên tạc nền tảng tư tưởng của chủ nghĩa cộng sản vốn không còn mới mẻ. Xuyên tạc, bóp méo vụ việc Kyrgyzstan tháo dỡ tượng Lênin chỉ là một mắt xích trong chuỗi những động thái bị bóp méo nhằm phục vụ mưu đồ chính trị đó. Điều đáng nói là, thay vì tấn công trực diện như thường thấy, lần này cùng với trang trang facebook Chân trời mới media và kênh truyền thông BBC Tiếng Việt cùng các “ngòi bút tự xưng trí thức” trong nước lại dùng chiêu bài “xảo ngôn chính trị”. Dưới lớp vỏ ngôn từ tưởng chừng trung lập, họ khéo léo cài cắm thông điệp xuyên tạc, gieo rắc hoài nghi, từng bước phủ nhận giá trị lịch sử và chính trị của biểu tượng cách mạng, để mở đường cho luận điệu bài xích, đòi xét lại con đường mà Đảng và nhân dân ta đã kiên định lựa chọn. Đây không còn đơn thuần là hành vi bình luận, mà là một thủ đoạn chống phá có chủ đích, được tính toán kỹ lưỡng và ngụy trang dưới lớp áo “tự do ngôn luận”.

Thoạt nhìn, thông tin về việc Kyrgyzstan tháo dỡ bức tượng Lênin, từng được xem là cao nhất Trung Á có vẻ chỉ là một bản tin trung lập, mang chút tiếc nuối hoài niệm với lịch sử. Tuy nhiên, khi nghe kỹ giọng điệu và cách lựa chọn từ ngữ, có thể nhận thấy rõ đây không còn đơn thuần là hoạt động tuyên truyền phản ánh thực tiễn, mà là một thủ pháp tuyên truyền tinh vi, được dàn dựng với dụng ý xuyên tạc nền tảng tư tưởng cộng sản một cách bài bản.

Ba là, Việt Nam luôn quan tâm hài hòa giữa triển kinh tế - xã hội gắn liền với giáo dục truyền thống lịch sử, giữa phát triển văn hóa với thực hiện chính sách an sinh xã hội. Ở Việt Nam, một quốc gia có chủ quyền hoàn toàn, đường lối chính trị ró ràng và truyền thống lịch sử yêu cước, chống giặc ngoại xâm ở mọi vùng miền trên cả nước gắn với nhiều chiến công vang dội của ông cha ta trong những cuộc chống chiến tranh xâm lược của kẻ thù. Những tư liệu lịch sử quý giá đó rất cần được bảo tồn và lưu giữ làm giáo dục truyền thống cho các thế hệ mai sau với nhiều hình thức sinh động phong phú như: In thành sách, báo, băng đĩa phim tư liệu, đầu tư xây dựng các khu di tích lịch sử trong đó có các tượng đài. Trong mỗi dự án xây dựng các khu di tích lịch sử đều cần có sự đầu tư về kinh phí là điều tất nhiên, song những nguồn kinh phí đó đều được các cơ quan chức năng khảo sát, dự toán, thẩm định và quyết toán chặt chẽ để cân đối với khả năng của nền kinh tế nhà nước và địa phương, không có chuyện chạy đua hình thức đầu tư xây dựng các tượng đài lịch sử mà làm ảnh hưởng đến đời sống của nhân dân như các luận điệu xuyên tạc trên. Mặt khác, Việt Nam trong đà phát triển vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, cần đầu tư phát triển toàn diện trên mọi lĩnh vực, vừa chăm lo cải thiện đời sống vật chất, vừa nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân nói chung và các đối tượng chính sách nói riêng. Khi các hoạt động giáo dục truyền thống được quan tâm, đầu tư đúng mức sẽ trở thành động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của đất nước ngày càng nhanh và bền vững hơn.

Từ những cơ sở trên đặt ra cho mỗi chúng ta có cách nhìn nhận toàn diện, đầy đủ và sau sắc hơn trước những luận điệu của các lực lượng phản động, thù địch lợi dụng hình ảnh nước Kyrgyzstan tháo dỡ tượng đài Lênin để xuyên tạc chống phá cách mạng Việt Nam./.

 

 

 

 

Thứ Sáu, 13 tháng 6, 2025

 

LÀM GÌ ĐỂ BẢO VỆ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

THN

Hiện nay, các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách, bằng mọi luận điệu xuyên tạc, phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh, chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng. Các thế lực thù địch đã tập trung đưa ra các quan điểm có tính chất xuyên tạc, bóp méo, vu cáo, dựng chuyện nhằm bôi nhọ đời tư, hạ thấp uy tín của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chúng thường xuyên bịa đặt những luận điệu như: Nhật ký trong tù không phải của Chủ tịch Hồ Chí Minh hoặc Đảng Cộng sản Việt Nam “sáng tác ra tư tưởng Hồ Chí Minh để giúp Đảng chỉnh hướng trong cơn bối rối” nhằm tấn công vào tư tưởng, gieo rắc sự hoài nghi trong cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân.

Chúng ra sức phủ định sự tồn tại của tư tưởng Hồ Chí Minh, cho rằng Hồ Chí Minh chỉ là nhà hoạt động thực tiễn, không phải nhà tư tưởng. Chúng rêu rao “tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ là sự tô vẽ của Đảng Cộng sản Việt Nam”. Chúng đưa ra các luận chứng mang tính khiên cưỡng, cho rằng Hồ Chí Minh chỉ giỏi tổng hợp lại chủ kiến, không có tư tưởng của mình và chỉ có những bức thư ngắn, bài viết, bài nói ngắn, không có các tác phẩm lớn như các nhà tư tưởng khác. Việc các thế lực thù địch ra sức chống phá, cố ý không chấp nhận những bằng chứng xác thực về giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh không xuất phát từ lý do khoa học mà từ động cơ chính trị đê hèn, đen tối, cố tình phủ nhận, đổi trắng thay đen.

Bên cạnh những luận điểm sai trái, thù địch nhằm phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng còn đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin. Chúng quy chụp, áp đặt một cách vô căn cứ, gượng ép rằng chủ nghĩa Mác - Lênin là “chủ nghĩa chia rẽ và cực đoan” đối lập với “tư tưởng đoàn kết và thống nhất trong học thuyết Hồ Chí Minh”; đồng thời cho rằng hiện nay, chủ nghĩa Mác - Lênin đã lỗi thời, chỉ có tư tưởng Hồ Chí Minh là có giá trị. Dó đó, Việt Nam chỉ cần dựa vào tư tưởng Hồ Chí Minh, đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh để thay thế chủ nghĩa Mác - Lênin. Đây là thủ đoạn hết sức thâm độc, tinh vi, xảo quyệt, muốn đưa chủ nghĩa Mác - Lênin ra khỏi nền tảng tư tưởng của Đảng. Vì vậy, nếu không tỉnh táo, có người dễ lầm tưởng là đã đánh giá đúng về giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh. Thực chất đây là thủ đoạn “nâng lên” để “hạ xuống”, không chỉ là phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin mà còn bóp méo, xuyên tạc, cô lập tư tưởng Hồ Chí Minh.

Chúng quy kết Hồ Chí Minh là người dân tộc chủ nghĩa, tiếp thu mù quáng, đưa chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam là một sai lầm.... Chúng cũng cho rằng tư tưởng Hồ Chí Minh không phải là kết quả sự vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn Việt Nam mà là kết quả sự vận dụng xơ cứng, giáo điều, mang nặng tư tưởng “bạo lực” vào điều kiện Việt Nam; trong khi đó, tư tưởng Hồ Chí Minh lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm cơ sở, nền tảng mà chủ nghĩa Mác - Lênin đã lỗi thời, lạc hậu, không phù hợp với Việt Nam nên tư tưởng Hồ Chí Minh cũng không phù hợp. Vì vậy, Đảng Cộng sản Việt Nam không nên lấy tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam.

Để chống phá tư tưởng Hồ Chí Minh, các thế lực thù địch đã cố tình cắt xén, chỉnh sửa những câu nói, bài viết để bóp méo, xuyên tạc, làm sai lệch tư tưởng của Người. Đây cũng là một thủ đoạn hết sức tinh vi, thâm độc, bởi cũng như mọi học thuyết lý luận chân chính khác, tư tưởng Hồ Chí Minh là sản phẩm của lịch sử và ra đời để giải quyết yêu cầu bức thiết trong điều kiện, hoàn cảnh, thời điểm lịch sử cụ thể. Bên cạnh đó, chúng còn bịa đặt về thân thế, sự nghiệp, đời tư của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Một vấn đề nữa mà các thế lực thù địch chống phá tư tưởng Hồ Chí Minh, đó là đối lập giữa tư tưởng Hồ Chí Minh với đường lối của Đảng. Thực tế cho thấy, hiện nay, “Một bộ phận cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ lãnh đạo, quản lý nhận thức chưa đầy đủ tính chất, tầm quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; chưa nêu cao tinh thần trách nhiệm, nói chưa đi đôi với làm, vi phạm kỷ luật đảng, vi phạm pháp luật. Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, tự phê bình và phê bình, công tác kiểm tra, giám sát của nhiều tổ chức đảng còn hạn chế” đã làm ảnh hưởng đến hiệu quả quán triệt, triển khai thực hiện các nghị quyết của Đảng, hiệu quả học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và là cơ hội để các thế lực thù địch thổi phồng những khuyết điểm, làm ngơ trước những ưu điểm, đồng nhất những kẻ thoái hóa với bản chất của Đảng. Chúng rêu rao, Đảng Cộng sản Việt Nam ngày nay không còn tốt đẹp như khi Hồ Chí Minh còn sống, không còn là “Đảng ta” trong mối quan hệ với Nhân dân. Vì vậy, chúng tuyên truyền đòi bỏ Điều 4 trong Hiến pháp, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với cách mạng Việt Nam. Chúng còn lớn tiếng xuyên tạc công tác phòng, chống tham nhũng của Đảng ta hiện nay là “thanh trừng, đánh đấm nội bộ”, là “đấu tranh giữa các phe phái để tranh giành quyền lực”. Trước mỗi kỳ Đại hội Đảng, chúng phát tán rất nhiều thông tin sai sự thật, bịa đặt về các đồng chí lãnh đạo của Đảng, Nhà nước nhằm chia rẽ sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, tạo sự hoài nghi trong cán bộ, đảng viên và quần chúng Nhân dân.

Như vậy, chiêu trò của các thế lực thù địch sử dụng chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam rất đa dạng, tinh vi, hiểm độc. Nhận diện đúng và nắm bắt rõ bản chất những luận điệu sai trái, thù địch có ý nghĩa rất quan trọng, là cơ sở để xác định nội dung, biện pháp đấu tranh kiên quyết, kiên trì, không khoan nhượng góp phần bảo vệ tư tưởng Hồ Chí Minh, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng./.