Thứ Tư, 18 tháng 6, 2025

 

VAI TRÒ CÔNG TÁC THAM MƯU CHIẾN LƯỢC TRONG CHIẾN CUỘC ĐÔNG XUÂN 1953-1954 VÀ THẮNG LỢI ĐIỆN BIÊN PHỦ NĂM 1954

                                                                                                                                   Mặt Trời

                                  Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ - đỉnh cao của cuộc tiến công chiến lược Đông-Xuân 1953-1954 là chiến công lớn nhất, chói lọi nhất của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954). Chiến thắng này không thể nói đến vai trò quan trọng công tác tham mưu chiến lược Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh trực tiếp là của Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp đã vạch kế hoạch tác chiến lập thế trận trong chiến cuộc Đông Xuân 1953 - 1954, tài mưu lược, sáng suốt nhạy bén, kịp thời thay đổi  phương châm đánh đòn quyết chiến lược trong chiến dịch Điện Biên Phủ; sự phối hợp tác chiến giữa các lực lượng vũ trang và nhân dân Tây Bắc với các chiến trường khác trong Chiến dịch Điện Biên Phủ; góp phần quyết định đập tan hoàn toàn dã tâm xâm lược của thực dân Pháp và can thiệp Mỹ, buộc chúng phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ, kết thúc chiến tranh ở Đông Dương, mở ra một thời kỳ mới cho cách mạng Việt Nam, Lào và Cam-pu-chia, góp phần quan trọng đối với phong trào giải phóng dân tộc, mở đầu sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ trên phạm vi toàn thế giới.

      Vai trò công tác tham mưu chiến lược Tổng Quân ủy - Bộ Tổng tư lệnh vạch kế hoạch tác chiến lập thế trận trong chiến cuộc Đông Xuân 1953 - 1954

       Bước sang Đông Xuân 1953 - 1954, phân tích, đánh giá đúng âm mưu chiến lược của Pháp và Mỹ trong Kế hoạch Na-va, thực hiện sự chỉ đạo của Bộ Chính trị, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh, Bộ Tổng tham mưu chỉ đạo, tổ chức lực lượng đánh vào các nơi địch tương đối yếu, có nhiều sơ hở, nhưng lại là địa bàn chiến lược mà địch không thể bỏ qua. Đó là Tây Bắc, Thượng Lào, Trung Lào, Hạ Lào, Đông Bắc Cam-pu-chia và Bắc Tây Nguyên. Đồng thời, chỉ đạo đẩy mạnh chiến tranh du kích, đấu tranh ở các đô thị vùng sau lưng địch từ Nam Bộ, Nam Trung Bộ, Bình-Trị-Thiên đến Đồng bằng Bắc Bộ. Đó là sự chỉ đạo chiến lược “căng địch ra mà đánh” với chủ trương: sử dụng một bộ phận chủ lực mở những cuộc tiến công vào những hướng địch sơ hở, đồng thời tranh thủ cơ hội tiêu diệt địch trong vận động ở những hướng địch có thể đánh sâu vào vùng tự do của ta… Tiến hành mọi sự cần thiết trong nhân dân và bộ đội địa phương, dân quân du kích các vùng tự do để cho chủ lực rảnh tay làm nhiệm vụ. Theo chủ trương trên, vai trò cơ quan tham mưu chiến lược Tổng Quân uỷ, Bộ Tổng Tư lệnh trực tiếp là của Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp vạch kế hoạch tác chiến lập thế trận trong chiến cuộc Đông Xuân 1953 - 1954 mở 5 đòn tiến công chiến lược (chiến dịch giải phóng Lai Châu, chiến dịch Trung, Hạ Lào - Đông Bắc Campuchia, chiến dịch Tây Nguyên, chiến dịch Thượng Lào và các chiến trường sau lưng địch).

Nghiên cứu lại toàn bộ diễn biến chiến cuộc Đông Xuân 1953 - 1954, chúng ta thấy điểm quan trọng nhất của kế hoạch Nava là tập trung binh lực xây dựng khối cơ động chiến lược mạnh để đối phó với các cuộc tiến công của ta và chuyển sang tiến công lớn tiêu diệt chủ lực của ta ở chiến trường vào thời điểm do chúng lựa chọn. Ngược lại, điểm quan trọng nhất trong kế hoạch tác chiến chiến lược của ta là khắc phục mọi khó khăn, tạo mọi điều kiện và sử dụng mọi biện pháp để giữ vững và phát triển quyền chủ động chiến lược nhằm phá vỡ khối cơ động tập trung của chúng, điều từng bộ phận địch đến những hướng khác nhau để ta tiêu diệt. Như vậy, “địch muốn tập trung quân, ta bắt địch phải phân tán”; “địch muốn tác chiến ở chiến trường đồng bằng, ta buộc địch phải điều quân lên rừng núi”.

Một điểm nổi bật trong chỉ đạo tác chiến chiến lược Đông Xuân 1953 - 1954 là kết hợp chặt chẽ chiến tranh du kích và chiến tranh chính quy, phối hợp nhịp nhàng giữa mặt trận chính diện và mặt trận sau lưng địch, giữa các hướng chiến lược trên toàn chiến trường Đông Dương. Chiến tranh chính quy được tiến hành bằng phương pháp mở các chiến dịch tiến công đồng thời hay gối đầu nhau trên nhiều hướng chiến trường khác nhau có lựa chọn. Chiến tranh du kích được đẩy mạnh đồng thời với chiến tranh chính quy và được tiến hành liên tục, rộng khắp. Ngược lại, mặc dù lực lượng của địch lên mức cao nhất là 48 vạn quân nhưng vẫn cảm thấy thiếu quân trầm trọng, chỗ nào cũng thấy sơ hở, cũng bị đánh và đòi Nava tăng thêm quân. Ta đã thành công trong việc điều động, phân tán địch trên 5 chiến trường. Quả đấm mạnh của địch đã bị xoè ra thành 5 ngón tay, hơn 80% lực lượng cơ động của quân Pháp bị phân chia ra các chiến trường trên toàn cõi Đông Dương. Ngay sau đó, ta chọn Điện Biên Phủ là trận quyết chiến chiến lược để kết thúc chiến tranh.

          Vai trò công tác tham mưu chiến lược Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh trực tiếp là của Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp tài mưu lược, sáng suốt, nhạy bén, kịp thời thay đổi phương châm, đánh đòn quyết chiến, chiến lược chiến dịch Điện Biên phủ

          Sau khi biết lực lượng chủ lực của ta di chuyển lên hướng Tây Bắc, Thượng Lào, lo sợ bị mất quyền kiểm soát khu vực quan trọng này, thực dân Pháp quyết định lựa chọn và xây dựng Điện Biên Phủ thành một tập đoàn cứ điểm mạnh, một pháo đài “không thể công phá” và là “nơi thu hút, tiêu diệt bộ đội chủ lực của Việt Minh”.

     Trước tình hình đó, Trung ương Đảng nhận định, quân địch ở Điện Biên Phủ tuy mạnh nhưng bị cô lập bởi rừng núi; còn ta, tuy có khó khăn nhưng có thể giải quyết được. Với quyết tâm ta sẽ thắng địch trong cuộc đối đầu lịch sử này và một chiến thắng ở Điện Biên Phủ sẽ có ý nghĩa rất lớn trong việc cổ vũ tinh thần cho toàn quân, toàn dân đánh bại thực dân Pháp. Ngày 6/12/1953 tại Thẩm Púa, Bộ Chính trị đã họp và quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ; xác định đây là trận quyết chiến chiến lược. Đại tướng Võ Nguyên Giáp làm Bí thư Đảng ủy kiêm Chỉ huy trưởng Chiến dịch; Tổng Tham mưu phó Hoàng Văn Thái làm Tham mưu trưởng, đồng chí Lê Liêm làm Chủ nhiệm Chính trị. Ngày 12/1, Sở Chỉ huy tiền phương tổ chức họp bàn phương án tác chiến. Thời gian này, địch ở Điện Biên Phủ có 12 tiểu đoàn và 7 đại đội bộ binh, 3 tiểu đoàn pháo binh, một tiểu đoàn công binh, các lực lượng khác quân số khoảng 12.00000 tên. Kế hoạch chiến dịch lúc đầu (14/1/1954), ta chủ trương “đánh nhanh thắng nhanh”. Nhưng qua theo dõi tình hình địch, chúng đã tăng cường 4 tiểu đoàn bộ binh và 2 đại đội dù và các lược khác, đưa quân số ở Điện Biên Phủ lên tới 16.200 tên.

        Đến sáng 26/1/1954, thời gian nổ súng mở đầu chiến dịch Điện Biên Phủ, theo giờ đồng hồ đã ở con số trên dưới 10 tiếng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp khẳng định, không thể đánh theo kế hoạch đã được phổ biến trước đó. Nếu đánh là thất bại. Đại tướng tướng Võ Nguyên Giáp đã trao đổi điều này với đồng chí Vi Quốc Thanh, Trưởng đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc và nhận được sự đồng thuậN. Ngay sau đó, Đảng ủy mặt trận đã được triệu tập họp khẩn cấp. Tại cuộc họp, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã kết luận: “Để bảo đảm nguyên tắc cao nhất là “đánh chắc thắng”, cần chuyển phương châm chiến dịch từ “đánh nhanh, giải quyết nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc”. Nay quyết định hoãn cuộc tiến công. Ra lệnh cho bộ đội trên toàn mặt trận lui về vị trí tập kết và kéo pháo ra. Công tác chính trị bảo đảm chấp hành triệt để mệnh lệnh lui quân như mệnh lệnh chiến đấu. Hậu cần chuyển sang chuẩn bị theo phương châm mới”. Trong trận đánh quyết định này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trao trọn niềm tin cho Đại tướng Võ Nguyên Giáp và căn dặn: “Trận này rất quan trọng, phải đánh cho thắng. Chắc thắng mới đánh, không chắc thắng không đánh”. Bởi vậy, tại Mặt trận Điện Biên Phủ, Đảng ủy, Bộ Chỉ huy chiến dịch đã tài mưu lược, sáng suốt nhạy bén, chủ động, sáng tạo kịp thời thay đổi phương châm tác chiến, chuyển từ “đánh nhanh, thắng nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc”.

       Để chuẩn bị tiến công Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ theo phương án “đánh chắc, tiến chắc”, ngày 7/2/1954, cơ quan tham mưu triệu tập hội nghị cán bộ quán triệt phương châm tác chiến và tiến hành công tác chuẩn bị chiến đấu. Đảng ủy, chỉ huy chiến dịch đề ra một số công việc phải thực hiện. Cụ thể là tổ chức đường cơ động cho pháo, trận địa pháo thật kiên cố; xây dựng trận địa tiến công; giải quyết vấn đề sức khỏe, quân số chiến đấu, chiến thuật, kỹ thuật, mà quan trọng là xây dựng trận địa và hiệp đồng giữa pháo binh và bộ binh; đảm bảo hậu cần… Sau hội nghị, cơ quan tham mưu tập trung vào thực hiện các nhiệm vụ mà Đảng ủy Chiến dịch đã xác định như trên. Trước tiên là chỉ thị cho các đơn vị tổ chức các chốt xung quanh trận địa thật vững chắc đảm bảo đánh địch phản kích. Tổng Tham mưu phó Hoàng Văn Thái, Tham mưu trưởng chiến dịch cùng một số cán bộ tham mưu, pháo binh và công binh đi trinh sát, xác định đường kéo pháo, bố trí trận địa pháo, đài quan sát, xây dựng hầm pháo. Ngoài ra, cơ quan tham mưu cũng tập trung chỉ đạo các đại đoàn xây dựng trận địa tiến công; hướng dẫn huấn luyện bổ sung cho các đơn vị về kỹ thuật, chiến thuật và tổ chức chỉ huy hiệp đồng binh chủng; đồng thời đặt kế hoạch huấn luyện tân binh ở trung tuyến và giao cho bộ phận quân huấn đảm nhiệm. Cùng với đó, cơ quan tham mưu bố trí lại đài quan sát; cử cán bộ tham mưu đi trực tiếp nghiên cứu địa hình, nắm kỹ tình hình địch; nghiên cứu, cải tiến nền nếp, chế độ làm việc như vẽ sơ đồ trận địa tiến công của các đại đoàn; lập biểu đồ vận chuyển lương thực, đạn dược; chế độ kiểm tra nắm tình hình về quân số chiến đấu.

 Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ có tất cả 49 cứ điểm, được chia làm ba phân khu. Trên chiến trường, trong 56 ngày đêm (từ 13/3 - 7/5/1954) ta mở ba đợt tiến công vào Điện Biên Phủ. Đợt một của chiến dịch mở màn ngày 13/3/1954, với trận tiêu diệt cụm cứ điểm Him Lam thuộc vòng ngoài Phân khu Bắc của tập đoàn cứ điểm. Đợt hai diễn ra ngày 30/3/1954, đánh vào phân khu trung tâm. Đợt ba chiến dịch diễn ra ngày 1/5 và kết thúc ngày 7/5/1954, đánh chiếm các cứ điểm phía Đông và tổng công kích tiêu diệt toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Sau mỗi đợt, cơ quan Tham mưu căn cứ vào chỉ thị, mệnh lệnh của Đảng ủy, Chỉ huy chiến dịch, chỉ đạo các đơn vị tiến công địch, sơ kết rút kinh nghiệm; hướng dẫn các đại đoàn phát triển trận địa tiến công; chỉ đạo các đại đoàn rút kinh nghiệm về chiến thuật và tổ chức chỉ huy tạo thế đánh các mục tiêu được phân công; lên kế hoạch bổ sung lực lượngTrong chiến dịch Điện Biên Phủ, khẳng định vai trò cơ quan mưu Bộ Tổng Tư lệnh đã có bước trưởng thành vượt bậc của một cơ quan tham mưu chiến lược tài mưu lược, sáng suốt, nhạy bén, kịp thời thay đổi phương châm, đánh đòn quyết chiến, chiến lược chiến dịch Điện Biên phủ.

 Vai trò công tác tham mưu chiến lược Tổng Quân ủy - Bộ Tổng tư lệnh, trực tiếp của Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp; sự phối hợp tác chiến giữa các lực lượng vũ trang và nhân dân Tây Bắc với các chiến trường khác trong Chiến dịch Điện Biên Phủ. 

Trên cơ sở đi sâu phân tích quá trình lãnh đạo, chỉ đạo của Tổng Quân ủy, Bộ Chỉ huy chiến dịch, trong đó có vai trò của Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp; vai trò Đảng bộ các địa phương trong công tác chuẩn bị và thực hành kế hoạch tác chiến; sự phối hợp tác chiến giữa các lực lượng vũ trang và nhân dân Tây Bắc, chiến trường  xung quanh Tuần giáo, Lai Châu với các chiến trường khác trong Chiến dịch Điện Biên Phủ; nắm thế chủ động chiến lược, đánh giá đúng tình hình địch, ta, trong chiến dịch Điện Biên Phủ chiến lược đã chỉ đạo các hoạt động tác chiến phối hợp trên các chiến trường cả nước, điều địch đi khắp chiến trường Đông Dương, phân tán thu hút, giam chân địch ở các chiến trường như Trung, Hạ Lào, Đông Bắc Campuchia; Thượng Lào; Tây Nguyên… Tập kích các sân bay Cát Bi, Gia Lâm phá huỷ Máy Bay, gây thiệt hại cho không quân địch không cho chúng rảnh tay chi viện và đối phó với ta ở Điện Biên Phủ. Chỉ đạo hoạt động du kích ở đồng bằng Bắc Bộ, ta buộc địch phải tung lực lương đi đối phó khắp nơi, nhất là bảo vệ đường số 5, khiến cho khoảng hơn 20 tiểu đoàn cơ động chiến lược của địch còn lại, không còn là lực lượng cơ động nữa. Chính vì vậy, dẫu muốn, Pháp cũng không thể tiếp tế, tăng cường, chi viện nhiều hơn cho tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ được.

Chiến thắng của Chiến dịch Điện Biên Phủ còn bắt nguồn từ tình đoàn kết trong sáng, thủy chung của nhân dân và quân đội 3 nước Việt Nam - Lào - Cam-pu-chia trên một chiến hào chống kẻ thù chung và sự ủng hộ chí tình, to lớn, có hiệu quả về vật chất và tinh thần của các nước xã hội chủ nghĩa anh em cùng với sự cổ vũ, động viên của các nước bạn bè, các đảng cùng chí hướng, của nhân loại tiến bộ dành cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, đều là những nhân tố đặc biệt quan trọng góp phần làm nên chiến thắng lẫy lừng Điện Biên Phủ. Chúng ta mãi mãi ghi lòng tạc dạ về tình cảm sâu nặng và sự giúp đỡ to lớn đó.

Thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ là kết quả tất yếu của đường lối chiến tranh nhân dân, toàn dân đánh giặc dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Xét dưới góc độ nghệ thuật quân sự, thắng lợi đó là sự kế thừa, phát triển kinh nghiệm truyền thống của ông cha ta lên một tầm cao mới trên cả ba phương diện: chiến lược quân sự, nghệ thuật chiến dịch và chiến thuật. Thắng lợi đó có vai trò to lớn công tác tham mưu chiến lược Tổng Quân ủy - Bộ Tổng tư lệnh, trực tiếp của Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp trong hoạt động lập thế trận chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954, tài mưu lược, sáng tạo, chủ động, kịp thời thay đổi phương châm là cơ sở khoa học, đúng đắn, khách quan đánh đòn quyết chiến chiến lược, sự phối hợp chặt chẽ chiến trường Điện Biên Phủ với các chiến trương xung quanh cấp chiến lược, chiến dịch, chiến thuật là kết tinh của tư tưởng tích cực, chủ động tiến công địch, buộc chúng phải đánh theo cách đánh của ta, phải căng mình đối phó với hai phương thức chiến tranh chính quy và chiến tranh du kích trên mọi chiến trường. Năm tháng sẽ qua đi, nhưng thắng lợi của chiến cuộc Đông Xuân 1953 - 1954 mà đỉnh cao là chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ vẫn mãi giữ nguyên giá trị lịch sử và hiện thực. Thắng lợi đó là một trong những trang sử hào hùng nhất, đẹp đẽ nhất của lịch sử chống giặc ngoại xâm mà dân tộc ta đã trải qua.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét