VAI TRÒ CÔNG TÁC THAM MƯU CHIẾN LƯỢC TRONG CHIẾN CUỘC ĐÔNG XUÂN 1953-1954 VÀ THẮNG LỢI ĐIỆN BIÊN PHỦ NĂM 1954
Mặt Trời
Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ - đỉnh cao của cuộc tiến công chiến lược Đông-Xuân 1953-1954 là chiến công lớn nhất, chói lọi nhất của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954). Chiến thắng này không thể nói đến vai trò quan trọng công tác tham mưu chiến lược Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh trực tiếp là của Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp đã vạch kế hoạch tác chiến lập thế trận trong chiến cuộc Đông Xuân 1953 - 1954, tài mưu lược, sáng suốt nhạy bén, kịp thời thay đổi phương châm đánh đòn quyết chiến lược trong chiến dịch Điện Biên Phủ; sự phối hợp tác chiến giữa các lực lượng vũ trang và nhân dân Tây Bắc với các chiến trường khác trong Chiến dịch Điện Biên Phủ; góp phần quyết định đập tan hoàn toàn dã tâm xâm lược của thực dân Pháp và can thiệp Mỹ, buộc chúng phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ, kết thúc chiến tranh ở Đông Dương, mở ra một thời kỳ mới cho cách mạng Việt Nam, Lào và Cam-pu-chia, góp phần quan trọng đối với phong trào giải phóng dân tộc, mở đầu sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ trên phạm vi toàn thế giới.
Vai trò công tác tham mưu chiến lược Tổng
Quân ủy - Bộ Tổng tư lệnh vạch kế hoạch tác chiến lập thế trận trong chiến cuộc
Đông Xuân 1953 - 1954
Bước sang Đông Xuân 1953 - 1954, phân tích, đánh giá đúng âm mưu chiến
lược của Pháp và Mỹ trong Kế hoạch Na-va, thực hiện sự chỉ đạo của Bộ Chính
trị, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh, Bộ Tổng tham mưu chỉ đạo, tổ chức lực
lượng đánh vào các nơi địch tương đối yếu, có nhiều sơ hở, nhưng lại là địa bàn
chiến lược mà địch không thể bỏ qua. Đó là Tây Bắc, Thượng Lào, Trung Lào, Hạ
Lào, Đông Bắc Cam-pu-chia và Bắc Tây Nguyên. Đồng thời, chỉ đạo đẩy mạnh chiến
tranh du kích, đấu tranh ở các đô thị vùng sau lưng địch từ Nam Bộ, Nam Trung
Bộ, Bình-Trị-Thiên đến Đồng bằng Bắc Bộ. Đó là sự chỉ đạo chiến lược “căng địch ra mà đánh” với chủ trương: sử
dụng một bộ phận chủ lực mở những cuộc tiến công vào những hướng địch sơ hở,
đồng thời tranh thủ cơ hội tiêu diệt địch trong vận động ở những hướng địch có
thể đánh sâu vào vùng tự do của ta… Tiến hành mọi sự cần thiết trong nhân dân
và bộ đội địa phương, dân quân du kích các vùng tự do để cho chủ lực rảnh tay
làm nhiệm vụ. Theo chủ trương trên, vai trò cơ quan tham mưu chiến lược Tổng
Quân uỷ, Bộ Tổng Tư lệnh trực tiếp là của Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp
vạch kế hoạch tác chiến lập thế trận trong chiến cuộc Đông Xuân 1953 - 1954 mở
5 đòn tiến công chiến lược (chiến dịch giải
phóng Lai Châu, chiến dịch Trung, Hạ Lào - Đông Bắc Campuchia, chiến
dịch Tây Nguyên, chiến dịch Thượng Lào và các chiến trường sau lưng địch).
Nghiên cứu lại toàn bộ
diễn biến chiến cuộc Đông Xuân 1953 - 1954, chúng ta thấy điểm quan trọng nhất
của kế hoạch Nava là tập trung binh lực xây dựng khối cơ động chiến lược mạnh
để đối phó với các cuộc tiến công của ta và chuyển sang tiến công lớn tiêu diệt
chủ lực của ta ở chiến trường vào thời điểm do chúng lựa chọn. Ngược lại, điểm
quan trọng nhất trong kế hoạch tác chiến chiến lược của ta là khắc phục mọi khó
khăn, tạo mọi điều kiện và sử dụng mọi biện pháp để giữ vững và phát triển
quyền chủ động chiến lược nhằm phá vỡ khối cơ động tập trung của chúng, điều
từng bộ phận địch đến những hướng khác nhau để ta tiêu diệt. Như vậy, “địch
muốn tập trung quân, ta bắt địch phải phân tán”; “địch muốn tác chiến ở chiến
trường đồng bằng, ta buộc địch phải điều quân lên rừng núi”.
Một
điểm nổi bật trong chỉ đạo tác chiến chiến lược Đông Xuân 1953 - 1954 là kết hợp chặt chẽ chiến tranh du kích và chiến
tranh chính quy, phối hợp nhịp nhàng giữa mặt trận chính diện và mặt trận sau
lưng địch, giữa các hướng chiến lược trên toàn chiến trường Đông Dương. Chiến
tranh chính quy được tiến hành bằng phương pháp mở các chiến dịch tiến công
đồng thời hay gối đầu nhau trên nhiều hướng chiến trường khác nhau có lựa chọn.
Chiến tranh du kích được đẩy mạnh đồng thời với chiến tranh chính quy và được
tiến hành liên tục, rộng khắp. Ngược lại, mặc dù lực lượng của địch lên mức cao
nhất là 48 vạn quân nhưng vẫn cảm thấy thiếu quân trầm trọng, chỗ nào cũng thấy
sơ hở, cũng bị đánh và đòi Nava tăng thêm quân. Ta đã thành công trong việc
điều động, phân tán địch trên 5 chiến trường. Quả đấm mạnh của địch đã bị xoè
ra thành 5 ngón tay, hơn 80% lực lượng cơ động của quân Pháp bị phân chia ra
các chiến trường trên toàn cõi Đông Dương. Ngay sau đó, ta chọn Điện Biên Phủ
là trận quyết chiến chiến lược để kết thúc chiến tranh.
Vai trò công
tác tham mưu chiến lược
Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh trực tiếp là của Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp tài mưu lược, sáng
suốt, nhạy bén, kịp thời thay đổi phương châm, đánh đòn quyết chiến, chiến lược
chiến dịch Điện Biên phủ
Sau khi biết lực lượng chủ lực của ta
di chuyển lên hướng Tây Bắc, Thượng Lào, lo sợ bị mất quyền kiểm soát khu vực
quan trọng này, thực dân Pháp quyết định lựa chọn và xây dựng Điện Biên Phủ
thành một tập đoàn cứ điểm mạnh, một pháo đài “không thể công phá” và là “nơi
thu hút, tiêu diệt bộ đội chủ lực của Việt Minh”.
Trước tình hình đó, Trung ương
Đảng nhận định, quân địch ở Điện Biên Phủ tuy mạnh nhưng bị cô lập bởi rừng
núi; còn ta, tuy có khó khăn nhưng có thể giải quyết được. Với quyết tâm ta sẽ
thắng địch trong cuộc đối đầu lịch sử này và một chiến thắng ở Điện Biên Phủ sẽ
có ý nghĩa rất lớn trong việc cổ vũ tinh thần cho toàn quân, toàn dân đánh bại
thực dân Pháp. Ngày 6/12/1953 tại Thẩm Púa, Bộ Chính trị đã họp và quyết định
mở chiến dịch Điện Biên Phủ; xác định đây là trận quyết chiến chiến lược. Đại
tướng Võ Nguyên Giáp làm Bí thư Đảng ủy kiêm Chỉ huy trưởng Chiến dịch; Tổng
Tham mưu phó Hoàng Văn Thái làm Tham mưu trưởng, đồng chí Lê Liêm làm Chủ nhiệm
Chính trị. Ngày 12/1, Sở Chỉ huy tiền phương tổ chức họp bàn phương án tác
chiến. Thời gian này, địch ở Điện Biên Phủ có 12 tiểu đoàn và 7 đại đội bộ
binh, 3 tiểu đoàn pháo binh, một tiểu đoàn công binh, các lực lượng khác quân
số khoảng 12.00000 tên. Kế hoạch chiến dịch lúc đầu (14/1/1954), ta chủ trương
“đánh nhanh thắng nhanh”. Nhưng qua theo dõi tình hình địch, chúng đã tăng
cường 4 tiểu đoàn bộ binh và 2 đại đội dù và các lược khác, đưa quân số ở Điện
Biên Phủ lên tới 16.200 tên.
Đến sáng 26/1/1954, thời gian nổ súng
mở đầu chiến dịch Điện Biên Phủ, theo giờ đồng hồ đã ở con số trên dưới 10
tiếng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp khẳng định, không thể đánh theo kế hoạch đã
được phổ biến trước đó. Nếu đánh là thất bại. Đại tướng tướng Võ Nguyên Giáp đã
trao đổi điều này với đồng chí Vi Quốc Thanh, Trưởng đoàn cố vấn quân sự Trung
Quốc và nhận được sự đồng thuậN. Ngay sau đó, Đảng ủy mặt trận đã được triệu
tập họp khẩn cấp. Tại cuộc họp, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã kết luận: “Để bảo đảm
nguyên tắc cao nhất là “đánh chắc thắng”, cần chuyển phương châm chiến dịch từ
“đánh nhanh, giải quyết nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc”. Nay quyết định hoãn
cuộc tiến công. Ra lệnh cho bộ đội trên toàn mặt trận lui về vị trí tập kết và
kéo pháo ra. Công tác chính trị bảo đảm chấp hành triệt để mệnh lệnh lui quân
như mệnh lệnh chiến đấu. Hậu cần chuyển sang chuẩn bị theo phương châm mới”. Trong
trận đánh quyết định này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trao trọn niềm tin cho Đại
tướng Võ Nguyên Giáp và căn dặn: “Trận này rất quan trọng, phải đánh cho thắng.
Chắc thắng mới đánh, không chắc thắng không đánh”. Bởi vậy, tại Mặt trận Điện
Biên Phủ, Đảng ủy, Bộ Chỉ huy chiến dịch đã tài mưu lược, sáng suốt nhạy bén,
chủ động, sáng tạo kịp thời thay đổi phương châm tác chiến, chuyển từ “đánh
nhanh, thắng nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc”.
Để chuẩn bị tiến công
Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ theo phương án “đánh chắc, tiến chắc”, ngày
7/2/1954, cơ quan tham mưu triệu tập hội nghị cán bộ quán triệt phương châm tác
chiến và tiến hành công tác chuẩn bị chiến đấu. Đảng ủy, chỉ huy chiến dịch đề
ra một số công việc phải thực hiện. Cụ thể là tổ chức đường cơ động cho pháo,
trận địa pháo thật kiên cố; xây dựng trận địa tiến công; giải quyết vấn đề sức
khỏe, quân số chiến đấu, chiến thuật, kỹ thuật, mà quan trọng là xây dựng trận
địa và hiệp đồng giữa pháo binh và bộ binh; đảm bảo hậu cần… Sau hội nghị, cơ
quan tham mưu tập trung vào thực hiện các nhiệm vụ mà Đảng ủy Chiến dịch đã xác
định như trên. Trước tiên là chỉ thị cho các đơn vị tổ chức các chốt xung quanh
trận địa thật vững chắc đảm bảo đánh địch phản kích. Tổng Tham mưu phó Hoàng
Văn Thái, Tham mưu trưởng chiến dịch cùng một số cán bộ tham mưu, pháo binh và
công binh đi trinh sát, xác định đường kéo pháo, bố trí trận địa pháo, đài quan
sát, xây dựng hầm pháo. Ngoài ra, cơ quan tham mưu cũng tập trung chỉ đạo các
đại đoàn xây dựng trận địa tiến công; hướng dẫn huấn luyện bổ sung cho các đơn
vị về kỹ thuật, chiến thuật và tổ chức chỉ huy hiệp đồng binh chủng; đồng thời
đặt kế hoạch huấn luyện tân binh ở trung tuyến và giao cho bộ phận quân huấn
đảm nhiệm. Cùng với đó, cơ quan tham mưu bố trí lại đài quan sát; cử cán bộ
tham mưu đi trực tiếp nghiên cứu địa hình, nắm kỹ tình hình địch; nghiên cứu,
cải tiến nền nếp, chế độ làm việc như vẽ sơ đồ trận địa tiến công của các đại
đoàn; lập biểu đồ vận chuyển lương thực, đạn dược; chế độ kiểm tra nắm tình
hình về quân số chiến đấu.
Tập đoàn cứ điểm Điện Biên
Phủ có tất cả 49 cứ điểm, được chia làm ba phân khu. Trên chiến trường, trong
56 ngày đêm (từ 13/3 - 7/5/1954) ta mở ba đợt tiến công vào Điện Biên Phủ. Đợt
một của chiến dịch mở màn ngày 13/3/1954, với trận tiêu diệt cụm cứ điểm Him
Lam thuộc vòng ngoài Phân khu Bắc của tập đoàn cứ điểm. Đợt hai diễn ra ngày
30/3/1954, đánh vào phân khu trung tâm. Đợt ba chiến dịch diễn ra ngày 1/5 và
kết thúc ngày 7/5/1954, đánh chiếm các cứ điểm phía Đông và tổng công kích tiêu
diệt toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Sau mỗi đợt, cơ quan Tham mưu căn
cứ vào chỉ thị, mệnh lệnh của Đảng ủy, Chỉ huy chiến dịch, chỉ đạo các đơn vị
tiến công địch, sơ kết rút kinh nghiệm; hướng dẫn các đại đoàn phát triển trận
địa tiến công; chỉ đạo các đại đoàn rút kinh nghiệm về chiến thuật và tổ chức
chỉ huy tạo thế đánh các mục tiêu được phân công; lên kế hoạch bổ sung lực
lượng. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, khẳng định vai
trò cơ quan mưu Bộ Tổng Tư lệnh đã có bước trưởng thành vượt bậc của một cơ
quan tham mưu chiến lược tài mưu lược, sáng suốt, nhạy bén,
kịp thời thay đổi phương châm, đánh đòn quyết chiến, chiến lược chiến dịch Điện
Biên phủ.
Vai trò công tác tham mưu chiến lược Tổng Quân ủy -
Bộ Tổng tư lệnh, trực tiếp của Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp; sự phối hợp tác
chiến giữa các lực lượng vũ trang và nhân dân Tây Bắc với các chiến trường khác
trong Chiến dịch Điện Biên Phủ.
Trên
cơ sở đi sâu phân tích quá trình
lãnh đạo, chỉ đạo của Tổng Quân ủy, Bộ Chỉ huy chiến dịch, trong đó có vai trò
của Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp; vai trò Đảng bộ các địa phương trong
công tác chuẩn bị và thực hành kế hoạch tác chiến; sự phối hợp tác chiến giữa
các lực lượng vũ trang và nhân dân Tây Bắc, chiến trường xung quanh Tuần giáo, Lai Châu với các chiến
trường khác trong Chiến dịch Điện Biên Phủ; nắm thế chủ động chiến lược, đánh giá đúng tình hình địch, ta, trong chiến
dịch Điện Biên Phủ chiến lược đã chỉ đạo các hoạt động
tác chiến phối hợp trên các chiến trường cả nước, điều địch đi khắp chiến
trường Đông Dương, phân tán thu hút, giam chân địch ở các chiến trường như
Trung, Hạ Lào, Đông Bắc Campuchia; Thượng Lào; Tây Nguyên… Tập kích các sân bay
Cát Bi, Gia Lâm phá huỷ Máy Bay, gây thiệt hại cho không quân địch không cho
chúng rảnh tay chi viện và đối phó với ta ở Điện Biên Phủ. Chỉ đạo hoạt động du
kích ở đồng bằng Bắc Bộ, ta buộc địch phải tung lực lương đi đối phó khắp nơi,
nhất là bảo vệ đường số 5, khiến cho khoảng hơn 20 tiểu đoàn cơ động chiến lược
của địch còn lại, không còn là lực lượng cơ động nữa. Chính vì vậy, dẫu muốn,
Pháp cũng không thể tiếp tế, tăng cường, chi viện nhiều hơn cho tập đoàn cứ
điểm Điện Biên Phủ được.
Chiến thắng của Chiến dịch Điện Biên Phủ còn bắt nguồn từ
tình đoàn kết trong sáng, thủy chung của nhân dân và quân đội 3 nước Việt Nam -
Lào - Cam-pu-chia trên một chiến hào chống kẻ thù chung và sự ủng hộ chí tình,
to lớn, có hiệu quả về vật chất và tinh thần của các nước xã hội chủ nghĩa anh
em cùng với sự cổ vũ, động viên của các nước bạn bè, các đảng cùng chí hướng,
của nhân loại tiến bộ dành cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, đều là những
nhân tố đặc biệt quan trọng góp phần làm nên chiến thắng lẫy lừng Điện Biên
Phủ. Chúng ta mãi mãi ghi lòng tạc dạ về tình cảm sâu nặng và sự giúp đỡ to lớn
đó.
Thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ là kết quả
tất yếu của đường lối chiến tranh nhân dân, toàn dân đánh giặc dưới sự lãnh đạo
của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Xét dưới góc độ nghệ thuật quân sự, thắng lợi
đó là sự kế thừa, phát triển kinh nghiệm truyền thống của ông cha ta lên một
tầm cao mới trên cả ba phương diện: chiến lược quân sự, nghệ thuật chiến dịch
và chiến thuật. Thắng lợi đó có vai trò to lớn công tác tham mưu chiến lược Tổng Quân ủy - Bộ Tổng tư lệnh, trực tiếp của Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ
Nguyên Giáp trong hoạt động lập thế trận chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954, tài
mưu lược, sáng tạo, chủ động, kịp thời thay đổi phương châm là cơ sở khoa học,
đúng đắn, khách quan đánh đòn quyết chiến chiến lược, sự phối hợp chặt chẽ chiến
trường Điện Biên Phủ với các chiến trương xung quanh cấp chiến lược, chiến dịch,
chiến thuật là kết tinh của tư tưởng tích cực, chủ động
tiến công địch, buộc chúng phải đánh theo cách đánh của ta, phải căng mình đối
phó với hai phương thức chiến tranh chính
quy và chiến tranh du kích trên mọi chiến trường. Năm tháng sẽ qua đi, nhưng
thắng lợi của chiến cuộc Đông Xuân 1953 - 1954 mà đỉnh cao là chiến dịch
lịch sử Điện Biên Phủ vẫn mãi giữ nguyên giá trị lịch sử và hiện thực. Thắng
lợi đó là một trong những trang sử hào hùng nhất, đẹp đẽ nhất của lịch sử chống
giặc ngoại xâm mà dân tộc ta đã trải qua.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét