Thứ Hai, 23 tháng 10, 2023

 Sự “đồng tâm hiệp lực” của nhân dân là giải pháp đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch trong quá trình đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Một là, không ngừng thấm nhuần, quán triệt quan điểm của Đảng về vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. 

Trong suốt quá trình lãnh đạo sự nghiệp cách mạng, Đảng ta luôn nhất quán với quan điểm “dân là gốc”, nhân dân là chủ thể của mọi công việc xây dựng, phát triển đất nước cũng như bảo vệ Tổ quốc. Kế thừa tinh thần các kỳ Đại hội Đảng trước, Đại hội XIII của Đảng đã tiếp tục xác định: “trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, phải luôn quán triệt sâu sắc quan điểm “dân là gốc”, thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu. Thắt chặt mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng; củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa”(1)

Nhờ thực hiện nghiêm nguyên tắc “dân là gốc” nên trong mọi giai đoạn cách mạng, nhân dân ta luôn một lòng, một dạ đi theo Đảng, ủng hộ chủ trương, đường lối của Đảng, đặc biệt là trong những tình thế “ngàn cân treo sợi tóc” khi Đảng mới ra đời, trong thực hiện sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc trước đây và trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Chính niềm tin, sự ủng hộ, đồng lòng của nhân dân đối với Đảng là “bức thành trì” vững chắc nhất chống lại mọi kẻ thù tư tưởng nào của Đảng.

Hai là, quyết tâm mạnh mẽ, triển khai hiệu quả hơn nữa các nội dung, giải pháp xây dựng Đảng và hệ thống chính trị thực sự trong sạch, vững mạnh. 

Một trong những nhân tố quan trọng bảo đảm xây dựng thành công “thế trận lòng dân” vững mạnh trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch đạt kết quả, trước hết Đảng, hệ thống chính trị phải thực sự trong sạch, vững mạnh, thực sự vì nhân dân phục vụ. Nhân dân chỉ thực sự “tâm phục khẩu phục”, toàn tâm toàn ý tin Đảng, tin Nhà nước, đi theo Đảng, ủng hộ mọi quyết sách của Nhà nước khi mà mục tiêu phục vụ nhân dân được thể hiện rõ ràng, nổi bật trong thực tiễn cuộc sống; việc thực hiện chủ trương, biện pháp luôn thống nhất giữa “nói và làm”. Muốn vậy, mỗi cán bộ, đảng viên của Đảng, công chức, viên chức của Nhà nước phải thực sự làm gương trước quần chúng nhân dân; xứng đáng là những chiến sĩ tiên phong; mẫu mực cả về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống; hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân. 

Để xây dựng Đảng về đạo đức, Đại hội XIII của Đảng đã xác định: “Nêu cao tinh thần tự giác tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của cán bộ, đảng viên. Đẩy mạnh giáo dục đạo đức cách mạng, thực hiện thường xuyên, sâu rộng, có hiệu quả việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ chí Minh gắn với việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị”(2); đồng thời đề ra yêu cầu: “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, phục vụ nhân dân và sự phát triển đất nước”(3). Đại hội XIII cũng yêu cầu hình thành cơ chế lựa chọn, đào tạo, thu hút, trọng dụng nhân tài, khuyến khích bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung. Đồng thời, có cơ chế sàng lọc thay thế kịp thời những người không hoàn thành nhiệm vụ, vi phạm pháp luật, đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp, bị xử lý kỷ luật, không còn uy tín đối với nhân dân(4).

Ba là, chăm lo đời sống của nhân dân, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Phải thấm nhuần và thực hiện tốt hơn nữa trên thực tế lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Việc gì lợi cho dân thì phải hết sức làm, việc gì hại cho dân ta phải hết sức tránh. Chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta”(5). Việc chăm lo cho đời sống của nhân dân phải được cụ thể hóa, triển khai tích cực, thường xuyên và sát sao hơn nữa trong mọi cấp, mọi ngành, mọi lĩnh vực theo đúng tinh thần Đại hội XIII của Đảng đã đề ra: “Mọi hoạt động của hệ thống chính trị, của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức phải phục vụ lợi ích của nhân dân. Giải quyết hài hòa các quan hệ lợi ích trong xã hội; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; không ngừng cải thiện, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân”(6).

Theo đó, cần quyết liệt hơn nữa trong việc triển khai những chính sách cụ thể, phù hợp với từng đối tượng, thành phần, tầng lớp, như: “chăm lo đời sống vật chất, tinh thần, nhà ở và phúc lợi xã hội cho công nhân; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của công nhân”(7). Tạo điều kiện để nông dân ở các vùng, khu vực phát triển từng bước trở thành cư dân đô thị mà không dẫn đến di cư quy mô lớn; có chính sách hợp lý để chuyển lao động nông thôn sang các ngành phi nông nghiệp, thực hiện thành công mô hình nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại và nông dân văn minh... Trọng dụng, đãi ngộ thỏa đáng đối với nhân tài, các nhà khoa học và công nghệ có trình độ cao; thật sự tôn trọng và tạo điều kiện nâng cao hiệu quả hoạt động tư vấn, phản biện của các chuyên gia, đội ngũ trí thức(8). Tôn vinh, khen thưởng kịp thời, xứng đáng những doanh nhân có nhiều đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc(9). Quan tâm động viên cựu chiến binh, công an hưu trí phát huy truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ” và phẩm chất cách mạng nhằm không ngừng nâng chất lượng mọi mặt của đời sống; tiếp tục đóng góp công sức, trí tuệ vào việc xây dựng, bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhà nước, bảo vệ nhân dân và chế độ; tích cực đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Đồng thời “Chú trọng nâng cao phúc lợi xã hội, an sinh xã hội, cố gắng bảo đảm những nhu cầu cơ bản, thiết yếu của nhân dân về nhà ở, đi lại, giáo dục, y tế, việc làm...”(10).

Những vấn đề nêu trên chính là thực tiễn và chân lý chắc chắn nhất, có sức thuyết phục nhất để củng cố, nâng cao niềm tin của nhân dân; để toàn dân luôn một lòng, một dạ đi theo Đảng, ủng hộ Nhà nước; luôn đoàn kết và sẵn sàng, tự nguyện bảo vệ nền tảng tư tưởng, kiên quyết đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch.

Bốn là, tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền, khẳng định những thành tựu mà đất nước ta đạt được, nhất là trong quá trình thực hiện đường lối đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng. Với những nội dung, cách thức phù hợp với tình hình, bối cảnh mới hoạt động tuyên truyền phải thực sự tác động đến mọi “ngõ ngách cuộc sống”, để các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ luôn nhận thức rõ và đúng sự thật khách quan là: trong những năm qua, với tinh thần yêu nước, đoàn kết, nhất trí, quyết tâm, bản lĩnh, sáng tạo, nỗ lực phấn đấu, nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng đã “đạt được nhiều thành tựu rất quan trọng, khá toàn diện, tạo nhiều dấu ấn nổi bật; đất nước phát triển nhanh và bền vững”(11)

Sự thực là, sau gần 40 năm đổi mới “Chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn... Đất nước chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”(12). Những thành tựu này là kết quả phấn đấu của toàn Đảng, toàn dân ta; khẳng định sự đúng đắn trong chủ trương, đường lối của Đảng; là lý lẽ khách quan, hiệu quả nhất phản bác lại những luận điệu xuyên tác, bóp méo, thổi phồng của các thế lực thù địch và phần tử bất mãn, phản động; là cơ sở vững chắc để nhân dân thêm tin tưởng, đoàn kết, phát huy “thế trận”, tự giác đấu tranh với mọi kẻ thù tư tưởng để bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhà nước, bảo vệ chế độ cùng những thành tựu của sự nghiệp cách mạng.

Năm là, tiếp tục làm tốt công tác dân vận để nhân dân hiểu sâu sắc hơn Đảng không có mục tiêu nào khác ngoài mục tiêu phục vụ nhân dân. 

Cùng với thực hiện đúng những chỉ dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “...vận động tất cả lực lượng của mỗi một người dân không để sót một người dân nào góp thành lực lượng toàn dân, để thực hành những công việc nên làm...”(13), các cấp ủy đảng, chính quyền cần phải chú trọng hơn nữa trong khai thác, phát huy những mặt mạnh của mỗi công dân, dù họ thuộc giai cấp, tầng lớp, tôn giáo nào. Không ngừng tạo sự đồng thuận cao, ủng hộ lớn, niềm tin vững mạnh trong toàn thể xã hội trên cơ sở của sự tương đồng: lợi ích của dân tộc - lợi ích của nhân dân - lợi ích của Đảng. Các tổ chức, đoàn thể trong hệ thống chính trị và cán bộ, đảng viên phải luôn thực hiện tốt nhiệm vụ tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục, động viên quần chúng nhân dân; đồng thời thực hiện tốt yêu cầu mà Đại hội XIII đã nêu đề ra về “Quy định cụ thể gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình...”(14)./.

LHS

 


 “Thế trận lòng dân” nơi hội tụ tinh thần dân tộc.

Khẳng định vai trò, vị trí, tầm quan trọng có tính cốt tử của “lòng dân” và “thế trận lòng dân”, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Làm hợp lòng dân thì dân tin và chế độ ta còn, Đảng ta còn. Ngược lại, nếu làm cái gì trái lòng dân, để mất niềm tin là mất tất cả”.

Để xây dựng “thế trận lòng dân” vững mạnh theo đúng chủ trương, Nghị của Đảng, nhất là trên tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII, góp phần đấu tranh, phản bác có chất lượng, hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch, thời gian qua, hầu hết cấp ủy, chính quyền các cấp đã tập trung xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng; đa số cán bộ, đảng viên nghiêm túc thực hiện quy định về trách nhiệm nêu gương tự giác, thường xuyên, gắn với việc thực hiện “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”; chú trọng xây dựng, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị các cấp theo hướng gần dân, chăm lo cho dân, tạo sức mạnh và uy tín để củng cố niềm tin trong nhân dân.

Nhìn chung, cấp ủy, chính quyền các cấp đã tiến hành đồng bộ các chủ trương, chính sách, giải pháp xây dựng, củng cố “thế trận lòng dân”, coi đây là nhiệm vụ chiến lược thường xuyên, lâu dài. Tập trung phát triển kinh tế nhanh, bền vững gắn với bảo đảm tiến bộ, công bằng và an sinh xã hội; đẩy mạnh thực hiện các chính sách xóa đói giảm nghèo, ưu đãi đối với địa bàn vùng sâu, vùng xa, dân tộc thiểu số, người có công với cách mạng; tạo việc làm cho người lao động, tăng lương, miễn giảm thuế; tăng cường phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm mọi quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; chú trọng thực thi quyền con người, quyền công dân; tích cực đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tội phạm, tệ nạn xã hội, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, cải cách hành chính… Qua đó tạo sự đồng thuận, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường niềm tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. 

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, việc xây dựng “thế trận lòng dân” thời gian qua có lúc, có nơi vẫn còn những hạn chế, khuyết điểm, bất cập. Sự tác động tiêu cực từ mặt trái của kinh tế thị trường đã dẫn tới sự bất bình đẳng trong xã hội, tình trạng phân hóa giàu - nghèo ngày càng gia tăng, đời sống vật chất của nhân dân, nhất là ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, vùng nông thôn còn nhiều khó khăn. Một số cơ chế, chính sách chưa phù hợp với nguyện vọng chính đáng của quần chúng nhân dân. Trật tự, an toàn xã hội ở một số nơi chưa được bảo đảm, còn những vấn đề tiêu cực và tệ nạn xã hội. Một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tham nhũng, quan liêu, xa dân, vô cảm trước những bức xúc của nhân dân… Điều này là nguyên nhân làm giảm sút niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước và chế độ.

Cùng với tình hình thế giới, khu vực tiếp tục có những biến động nhanh chóng và khó lường, các thế lực thù địch không ngừng đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nhằm chia rẽ lòng dân, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc... Điều này đòi hỏi chúng ta phải chú trọng, tăng cường mạnh mẽ và quyết tâm hơn nữa trong xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc, bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”, giữ nước từ khi nước chưa nguy. Đây là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên, đồng thời là yêu cầu cấp bách trong bối cảnh hiện nay; cần tiến hành đồng bộ, toàn diện nhiều nội dung biện pháp, với sự tham gia của mọi cấp, mọi ngành, mọi tổ chức.

Hoằng Tháo


 NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA KHẲNG ĐỊNH VÀ ĐẢM BẢO QUYỀN CON NGƯỜI, QUYỀN CÔNG DÂN

Trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân ở Việt Nam thì quyền và nghĩa vụ của công dân không chỉ được pháp luật thừa nhận, tôn trọng, mà còn được bảo đảm thực hiện, thúc đẩy trong khuôn khổ pháp luật; quyền con người, quyền công dân, sự bình đẳng của mọi cá nhân không chỉ được khẳng định mà còn được bảo vệ, tôn trọng trong việc thụ hưởng và phát triển, không có sự phân biệt đối xử. Những nguyên tắc này không chỉ được khẳng định trong các bản Hiến pháp, mà còn được bổ sung, điều chỉnh và ngày càng hoàn thiện, đảm bảo để mọi người dân đều được tôn trọng, thụ hưởng, bảo vệ ngày càng đầy đủ hơn. Cụ thể, Chương “Nghĩa vụ và quyền lợi công dân” đứng vị trí thứ hai trong Hiến pháp năm 1946; trong đó ghi rõ công dân Việt Nam có các nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc, tôn trọng Hiến pháp, tuân theo pháp luật; công dân Việt Nam có quyền bình đẳng trên mọi phương diện chính trị, kinh tế, văn hoá, nhất là mọi công dân đều có thể tham gia vào chính quyền và công cuộc xây dựng, bảo vệ đất nước…

Sau đó, lần đầu tiên thuật ngữ “quyền con người” được ghi nhận chính thức tại Điều 50, Hiến pháp năm 1992: “Ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật”. Quyền công dân ở Hiến pháp năm 1992 cũng được mở rộng hơn so với Hiến pháp 1946, 1959, 1980 rất nhiều; trong đó có nhiều quyền mới trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội lần đầu được ghi nhận như quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật (Điều 57); quyền của cá nhân được suy đoán vô tội (Điều 72)…

Khoản 1 Điều 14 tại Chương II “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân” của Hiến pháp 2013 ghi rõ: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật”. Đặc biệt, khoản 2 Điều 14 bổ sung nguyên tắc “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”. Đây không chỉ là sự phát triển, ghi nhận quyền con người, quyền công dân so với các bản Hiến pháp trước, mà còn là điều kiện để bảo đảm sự cân bằng, minh bạch trong mối quan hệ giữa Nhà nước với con người, công dân phù hợp với các Công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên cũng như hạn chế tối đa sự lạm dụng, tùy tiện quyền con người, quyền công dân…

Vì thế, theo Hiến pháp Việt Nam, thì không có cá nhân hay tổ chức nào có ý kiến tâm huyết nhằm làm cho đất nước phát triển mà “bị Nhà nước vu khống, bắt giam”; đồng thời, cũng càng không có cái gọi là “tù nhân lương tâm” bị giam giữ, mà chỉ có những đối tượng vi phạm pháp luật bị cơ quan chức năng truy tố, xử lý theo đúng quy định của pháp luật Việt Nam. Thực chất việc đột lốt dân chủ, giả danh đấu tranh cho dân chủ để vi phạm pháp luật khác về bản chất với những ý kiến tâm huyết, đóng góp vì sự phát triển cảu đất nước. “Tù nhân lương tâm” chỉ là sự đánh tráo khái niệm, là cách gọi của các phần tử cơ hội, phản động dành để gọi những người, bị kết án và phải chấp hành hình phạt tù. Đó chính là những người đã tàng trữ, phát tán thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống phá Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định tại Điều 117, Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung 2017). Đó cũng là những người lợi dụng các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do hội họp, lập hội và các quyền tự do dân chủ khác xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân và gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội theo Điều 331, Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung 2017).

Cho nên, cần phải khẳng định chắc chắn rằng, không phải trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam thì mọi ý kiến “phản biện”, “tâm huyết” để “phát triển đất nước”, để “giúp người dân được sống tự do, hạnh phúc” của những người “yêu nước” đều bị bỏ tù như luận điệu phản động của các thế lực thù địch, mà chỉ có những người vi phạm pháp luật như Phạm Thị Đoan Trang, Cấn Thị Thêu,  Nguyễn Văn Túc, Huỳnh Trương Ca, Lê Đình Lượng, Bùi Hiếu Võ, Đoàn Khánh Vinh Quang, Trịnh Bá Phương, Nguyễn Văn Hoá... thì phải chịu sự xử lý nghiêm minh của luật pháp. Cho nên, không có việc Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam vi phạm “nhân quyền”, mà là ở Việt Nam thì thượng tôn pháp chế xã hội chủ nghĩa là tất yếu!

Cuối cùng, phải khẳng định rằng: “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa về bản chất khác với nhà nước pháp quyền tư sản là ở chỗ: pháp quyền dưới chế độ tư bản chủ nghĩa về thực chất là công cụ bảo vệ và phục vụ cho lợi ích của giai cấp tư sản, còn pháp quyền dưới chế độ xã hội chủ nghĩa là công cụ thể hiện và thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, bảo đảm và bảo vệ lợi ích của đại đa số nhân dân. Thông qua thực thi pháp luật, Nhà nước bảo đảm các điều kiện để nhân dân là chủ thể của quyền lực chính trị, thực hiện chuyên chính với mọi hành động xâm hại lợi ích của Tổ quốc và nhân dân”(6). Vì thế, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là nguyện vọng và sự lựa chọn của nhân dân, phù hợp với xu hướng phát triển nhà nước trên thế giới, đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng cân nhắc, vận dụng và triển khai phù hợp điều kiện cụ thể của Việt Nam. Đó là sự thật và cũng là yêu cầu của lịch sử, chứ không phải là “nhà nước này không do dân chọn” mà là bị Đảng “nhét chữ vào miệng” như quy chụp; đồng thời cũng cho thấy nhận định “Nhà nước ở Việt Nam thời cộng sản không phải của dân, do dân và vì dân mà là “của Đảng, do Đảng và vì Đảng” của các thế lực thù địch là không khách quan, là bôi đen sự thật, là sự dối trá.

Thực tế, quá trình xây dựng và tiếp tục hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân được thực thi vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, phồn vinh, hạnh phúc, hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn “dựa trên nền tảng lợi ích chung của toàn xã hội hài hòa với lợi ích chính đáng của con người, khác hẳn về chất so với các xã hội cạnh tranh để chiếm đoạt lợi ích riêng giữa các cá nhân và phe nhóm(7) và “đều vì lợi ích của nhân dân, lấy hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu(8) cũng như những kết quả đạt được về chính trị, phát triển kinh tế, văn hóa, thực hiện an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo; về đảm bảo và thực thi quyền con người, quyền công dân, bảo vệ công lý... của Việt Nam trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa chính là minh chứng cho thấy luận điệu “nhân dân không bầu ra nhà nước này mà do Đảng tự lập ra để cai trị độc tài” của các thế lực thù địch là phản động, là nhằm mục đích kích động, phủ nhận bản chất “của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân” của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nên cần phải bác bỏ!

BĐT


 NHÀ NƯỚC CỦA NHÂN DÂN, DO NHÂN DÂN, VÌ NHÂN DÂN DƯỚI SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG

Có thể nói, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản là quá trình đúc kết, kế thừa có chọn lọc tư tưởng nhà nước pháp quyền trong lịch sử tư tưởng nhân loại; là sự vận dụng sáng tạo quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước kiểu mới vào điều kiện hoàn cảnh cụ thể của đất nước; đồng thời được thực hiện xuyên suốt trong tiến trình kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Nhà nước pháp quyền là phương thức tổ chức quyền lực nhà nước dựa trên cơ sở pháp luật. Đó phải là một nhà nước tuân thủ nguyên tắc chủ quyền nhà nước thuộc về nhân dân, thực hiện phân quyền, pháp quyền, dân chủ, tôn trọng quyền con người và quyền công dân… Đó phải “là thể chế, là chế độ mà ở đó, mọi chủ thể như nhà nước, cơ quan nhà nước, công chức, viên chức nhà nước, cá nhân hay mọi chủ thể khác trên lãnh thổ đều phải chấp hành, thực hiện, tuân thủ pháp luật đã được ban hành”(1). Song trên thực tế, không có các nguyên tắc của nhà nước pháp quyền chung, áp dụng thống nhất cho mọi nhà nước nhà nước pháp quyền cụ thể, mà là tùy thuộc từng quốc gia sẽ tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước theo nguyên tắc phân quyền hay tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước theo thuyết tam quyền phân lập… Vì thế, việc Việt Nam tổ chức thực hiện quyền lực Nhà nước theo nguyên tắc phân quyền dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản/Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa chẳng có gì trái với nguyên tắc tổ chức của một Nhà nước pháp quyền, dù không thực hiện tam quyền phân lập.

Hơn nữa, để đảm bảo Nhà nước pháp quyền trước hết phải là một nhà nước hợp pháp, hợp hiến, không lâu sau khi khai sinh Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đã được triển khai thực hiện thông qua việc tổ chức Tổng tuyển cử theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu, bình đẳng, đoàn kết để bầu Quốc hội khóa I (6/1/1946); để Quốc hội trao quyền cho Chủ tịch Hồ Chí Minh thành lập Chính phủ chính thức và thông qua Hiến pháp 1946. Theo đó, Điều 1, Hiến pháp năm 1946 khẳng định: “Nước Việt Nam là một nước Dân chủ Cộng hòa. Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”. Đây chính là minh chứng cho quan điểm nhân dân là chủ thể tối cao, duy nhất của quyền lực Nhà nước. Cho nên, mọi luận điệu cho rằng, không thể có một Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam khi Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị của các thế lực thù địch đều là xuyên tạc, bôi đen sự thật.

Thực tế, từ bản chất Nhà nước của dân, do dân, vì dân, ở Việt Nam, khái niệm nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa lần đầu tiên được nêu ra tại Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VII (29/11/1991); tiếp tục được khẳng định tại Hội nghị toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII của Đảng (1/1994) là “xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”(2) cũng như trong các văn kiện khác của Đảng sau đó như Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và trong các bản Hiến pháp của Việt Nam. Đặc biệt, khái niệm nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân chính thức được ghi nhận trong Hiến pháp (lần sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 vào năm 2001)(3); đến Điều 2, Hiến pháp năm 2013 thì khẳng định rõ: “1. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; 2. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ, tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức; 3. Quyền lực Nhà nước là thống nhất có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” và nhất là vấn đề “tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân do Đảng lãnh đạo là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị”(4) (một nội dung quan trọng của Đại hội XIII)… chính là những dấu mốc quan trọng trong quá trình xây dựng, củng cố và tiếp tục hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng lãnh đạo. Đó đồng thời cũng là quá trình hiện thực hóa tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước kiểu mới của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân trên tinh thần dựa vào dân, lấy dân làm gốc; nhân dân là nguồn gốc và chủ thể của quyền lực Nhà nước; tất cả vì lợi ích của nhân dân: “NƯỚC TA LÀ NƯỚC DÂN CHỦ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân… Chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương do dân cử ra. Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức lên. Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân(5).

Bàn Luận


 TIẾP TỤC KIÊN ĐỊNH, KIÊN TRÌ ĐƯỜNG LỐI QUỐC PHÒNG - AN NINH "HÒA BÌNH TỰ VỆ" TRONG BỐI CẢNH MỚI

Từ thực tiễn gần 40 năm đổi mới, trước tình hình thế giới, khu vực thường xuyên có những biến động nhanh chóng, phức tạp, khó lường, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc đã và đang đặt ra những thách thức mới. Vì vậy, kiên định, kiên trì đường lối quốc phòng - an ninh “hòa bình và tự vệ” trong bối cảnh mới là vấn đề hết sức quan trọng, cần tiếp tục được quán triệt và tổ chức thực hiện nghiêm túc. Muốn vậy, thời gian tới cần thực hiện tốt một số biện pháp sau:

Một là, tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục đường lối quốc phòng - an ninh “hòa bình và tự vệ”, tạo sự thống nhất cao nhận thức và hành động trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Đây là biện pháp quan trọng hàng đầu nhằm củng cố vững chắc lòng tin vào sự lãnh đạo, chỉ đạo và những quyết sách của Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Đảng ủy Công an Trung ương, Bộ Công an trong giải quyết các tình huống xảy ra. Thực hiện giải pháp này, các cấp, các ngành, các lực lượng cần đa dạng những hình thức, biện pháp tuyên truyền, giáo dục; mở rộng đối tượng tham gia, chú trọng luận giải rõ vì sao phải gắn kiên định với kiên trì đường lối quốc phòng - an ninh “hòa bình và tự vệ”. Chống tư tưởng chần chừ, do dự hoặc nóng vội, chủ quan, thiếu cân nhắc, tính toán, dẫn đến những ứng xử sai lầm, gây hậu quả nghiêm trọng.

Hai là, nâng cao hiệu quả công tác nghiên cứu, dự báo, tham mưu chiến lược. Công tác nghiên cứu, dự báo, tham mưu chiến lược có vai trò đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Từ diễn biến hết sức nhanh chóng, phức tạp, khó đoán định của tình hình thế giới, khu vực, trong nước, các thách thức an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống nảy sinh, sự gia tăng chống phá của các thế lực thù địch, phản động,... công tác nghiên cứu, dự báo, tham mưu chiến lược cần quán triệt sâu sắc quan điểm Đại hội XIII của Đảng và Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XI, Đại hội đại biểu Đảng bộ Công an Trung ương lần thứ VII, đó là: “Nâng cao năng lực dự báo chiến lược; giữ vững thế chủ động chiến lược; không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống”(13). Việc nghiên cứu, dự báo phải hướng vào tư duy, phân tích những động thái, biểu hiện mang tính “bất thường” của các nước có liên quan, nhất là những điều chỉnh về chiến lược quốc phòng - an ninh, đối ngoại và sự thay đổi bố trí lực lượng của các nước lớn, từ đó dự kiến những “kịch bản”, phương án đối phó chính xác, kịp thời. Đồng thời, cần phối hợp chặt chẽ với cơ quan chức năng của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Ngoại giao, các lực lượng liên quan trong nước và quốc tế để nắm bắt, thu thập, cung cấp, trao đổi thông tin, trên cơ sở đó nghiên cứu, dự báo và tham mưu kịp thời, chính xác. Chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác nghiên cứu chiến lược bảo đảm đủ năng lực khai thác, phân tích và xử lý thông tin; kết hợp nâng cấp với đầu tư mua sắm bảo đảm cơ sở vật chất, trang bị, phương tiện phục vụ công tác nghiên cứu, dự báo, tham mưu chiến lược.

Ba là, phát huy vai trò nòng cốt của lực lượng vũ trang trong thực hiện đường lối quốc phòng - an ninh “hòa bình và tự vệ”. Lực lượng vũ trang giữ vai trò nòng cốt để vừa bảo vệ Tổ quốc, vừa giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, làm thất bại mọi âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, phản động. Vì thế, cần phát huy đầy đủ vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ của lực lượng vũ trang nhân dân, của quân đội nhân dân và công an nhân dân trong thực hiện nhiệm vụ được giao, thường xuyên nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, củng cố quốc phòng, an ninh, tăng cường khả năng phòng thủ, giữ vững môi trường an ninh, an toàn và duy trì cơ quan, đơn vị sẵn sàng chiến đấu cao; chủ động nghiên cứu, nắm vững, đánh giá, dự báo chính xác các tình huống chiến lược, có phương án xử lý kịp thời, hiệu quả, không để bị động, bất ngờ; kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển của Tổ quốc; đẩy mạnh công tác đối ngoại quốc phòng - an ninh, xây dựng lòng tin chiến lược, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn, bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”, nhất là ở các địa bàn trọng điểm, phức tạp về tôn giáo, dân tộc, các mục tiêu, tuyến, lĩnh vực, địa bàn trọng yếu về quốc phòng - an ninh, “xây dựng và phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân” trong nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân; xây dựng và củng cố vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân”(14).

Bốn là, tăng cường hợp tác quốc phòng - an ninh, đối ngoại, góp phần nâng cao thế và lực để thực hiện đường lối quốc phòng - an ninh “hòa bình và tự vệ”. Hội nhập về quốc phòng - an ninh, đối ngoại là quan điểm nhất quán của Đảng ta và đã trở thành một bộ phận quan trọng trong tiến trình xây dựng, phát triển đất nước. Vì vậy, cần quán triệt sâu sắc Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Nghị quyết số 28-NQ/TW, ngày 25/10/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về "Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới” và các nghị quyết có liên quan; tăng cường hội nhập quốc tế về quốc phòng - an ninh, đối ngoại, phát huy các cơ chế hợp tác song phương, đa phương, xây dựng lòng tin chiến lược, phát huy hiệu quả sự đồng thuận của các quốc gia trong Cộng đồng ASEAN, tăng cường mối quan hệ với các nước trên thế giới. Hội nhập về quốc phòng - an ninh, đối ngoại cần gắn kết chặt chẽ với hội nhập về kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội, tạo nên sức mạnh tổng hợp bảo vệ Tổ quốc, lợi ích quốc gia - dân tộc.

Năm là, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, tranh thủ sự giúp đỡ và đồng tình, ủng hộ của bạn bè quốc tế. Đây là vấn đề có tính nguyên tắc trong đường lối cách mạng của Đảng ta, nhất là trong bối cảnh hiện nay. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng tiếp tục nhấn mạnh: “Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”(15). Vì vậy trong thời gian tới, các cấp, các ngành cần quán triệt và tổ chức thực hiện hiệu quả hơn nữa Nghị quyết; tăng cường hợp tác tạo thế đan cài lợi ích với các nước, nhất là các nước lớn, các đối tác chiến lược, các nước láng giềng và các nước trong khu vực; tránh xung đột, đối đầu, tránh bị cô lập, lệ thuộc.

“Hòa bình và tự vệ” trong đường lối quốc phòng - an ninh của Việt Nam là quan điểm nhất quán, thể hiện tầm nhìn chiến lược và sự đúng đắn của Đảng, Nhà nước ta trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam trước tình hình mới. Nhận thức đúng đắn về quan điểm này là cơ sở để phản bác, đập tan các luận điệu sai trái, thù địch, xuyên tạc, bôi nhọ đường lối quốc phòng - an ninh của Đảng, Nhà nước ta, góp phần quan trọng tạo sự thống nhất ý chí và hành động của cả hệ thống chính trị và nhân dân, thực hiện hiệu quả, phát huy cao nhất sức mạnh tổng hợp quốc gia, vận dụng sáng tạo, linh hoạt trong thực tiễn bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước nhanh, mạnh, bền vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa./.

NMT


 SỰ NHẤT QUÁN VÀ TẦM NHÌN CHIẾN LƯỢC TRONG ĐƯỜNG LỐI QUỐC PHÒNG - AN NINH "HÒA BÌNH TỰ VỆ" CỦA VIỆT NAM

Cho dù các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị liên tục công kích, song sự thật vẫn là sự thật, Việt Nam luôn khẳng định sự nhất quán đường lối quốc phòng - an ninh “hòa bình và tự vệ” và thực hiện một cách nghiêm túc, có trách nhiệm. Đây là sự thể hiện tầm cao trí tuệ, đúc kết tài thao lược quân sự, quốc phòng - an ninh của Đảng, Nhà nước, lực lượng vũ trang nhân dân, phù hợp với thực tiễn đất nước cũng như bối cảnh quốc tế. Đồng thời, thể hiện tính nhân văn sâu sắc trong quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước ta; khẳng định sự nhất quán và tầm nhìn chiến lược nhằm triệt tiêu hoàn toàn mầm mống chiến tranh, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn để phát triển đất nước. Đây là những yếu tố hết sức quan trọng để bảo đảm hòa bình thực sự không chỉ đối với Việt Nam, mà còn đối với các quốc gia khác trên thế giới.

Đối với Việt Nam, “hòa bình” là sự bình an, ổn định và phát triển, không để xảy ra xung đột giữa các quốc gia, không có chiến tranh, khủng bố, cướp bóc; con người được sống một cuộc sống an ninh, an toàn, yên bình và hạnh phúc. Hơn nữa, “hòa bình” còn là khát vọng, là giá trị thiêng liêng, là mục tiêu của cả dân tộc Việt Nam. Là quốc gia đã phải trải qua nhiều cuộc chiến tranh tự vệ, chịu nhiều đau thương, mất mát, khi Tổ quốc bị xâm lăng, hòa bình bị hủy hoại, hơn ai hết, người Việt Nam thấu hiểu sâu sắc giá trị của hòa bình, mong muốn duy trì và quyết tâm gìn giữ hòa bình đất nước, quyết tâm bảo vệ độc lập, tự do, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh, lợi ích quốc gia - dân tộc. Đúng như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Bảo vệ Tổ quốc là bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ nhân dân, xây dựng môi trường thuận lợi để phát triển, nhưng phải gắn với bảo vệ hòa bình, và hòa bình được coi là một giá trị thiêng liêng của đất nước”(1). Vì vậy, Việt Nam luôn mong muốn thế giới, khu vực, mọi quốc gia, dân tộc đều được hưởng hòa bình, tự do, ấm no, hạnh phúc. Đường lối quốc phòng - an ninh mang tính chất chính nghĩa, hòa bình và tự vệ đã được Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn khẳng định nhất quán. “Hòa bình” ở đây là không “mơ hồ, ảo tưởng”, “phi thực tế” như giọng điệu lạc lõng mà các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đã rêu rao. “Hòa bình” không chỉ là thông điệp, mà còn là cam kết của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam gửi đến các quốc gia trên thế giới, với phương châm “chú trọng an ninh, an toàn là một trong những yếu tố hàng đầu trong cuộc sống của người dân”(2), đồng thời, “giải quyết các tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình phù hợp với luật pháp quốc tế. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển; giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định để phát triển”(3) và “không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế”(4). Điều đó càng thể hiện sự yêu chuộng hòa bình, nhân văn, nhân đạo và thiện chí của Việt Nam. Đường lối đó không chỉ góp phần xây dựng, củng cố niềm tin, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn để phát triển đất nước, mà còn đập tan mọi âm mưu, hành động chống phá, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động.

“Tự vệ” trong đường lối quốc phòng - an ninh của Việt Nam là “kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch”, “có kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa”(5), “nỗ lực phấn đấu để ngăn ngừa xung đột, chiến tranh”(6). Mục tiêu xuyên suốt của đường lối quốc phòng - an ninh Việt Nam là “bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, nền văn hóa và lợi ích quốc gia - dân tộc; giữ vững hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, an ninh con người; xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh để phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa”(7). Việt Nam cam kết và đã thể hiện trách nhiệm, nghĩa vụ quốc tế cao cả, đóng góp cho hòa bình, thịnh vượng, hợp tác phát triển chung của khu vực và thế giới bằng những hành động cụ thể, thiết thực với phương châm “thêm bạn, bớt thù”. Điều đó cho thấy, sự thật hoàn toàn trái ngược với luận điệu rêu rao, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động.

Trong thời gian qua, Việt Nam chủ trương “xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. Đến năm 2025, cơ bản xây dựng Quân đội, Công an tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu đến năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại”(8), theo đó hiện đại hóa vũ khí, trang bị, xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng để bảo vệ Tổ quốc đúng như tinh thần của đường lối quốc phòng “bốn không” của Việt Nam, không nhằm dụng ý răn đe sử dụng vũ lực hay sử dụng vũ lực chống lại nước khác. Mặt khác, Việt Nam tăng cường tiềm lực quốc phòng - an ninh không đơn thuần là mua sắm, sản xuất, hiện đại hóa vũ khí trang bị, mà còn nâng cao sức mạnh quốc phòng - an ninh trên nhiều phương diện; xây dựng tiềm lực quốc phòng - an ninh theo chiến lược thống nhất, phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, khả năng tác chiến và trình độ, năng lực của lực lượng vũ trang cách mạng. Trước các cuộc xung đột, đối đầu diễn ra trong khu vực và trên thế giới, Việt Nam luôn lên án, phản đối các hành động gây hấn, tạo cớ, xung đột, chạy đua vũ trang, với quan điểm không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, tránh những va chạm không cần thiết, không để các đối tượng nước ngoài khiêu khích, kích động, thỏa hiệp xâm phạm lợi ích quốc gia - dân tộc hoặc lôi kéo, khống chế, gây sức ép với nước khác phát động chiến tranh; kiên quyết đấu tranh, kiên trì giải quyết tranh chấp, bất đồng bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế. Tuy nhiên, dù Việt Nam chủ trương không đe dọa hoặc sử dụng sức mạnh quân sự trước trong quan hệ quốc tế, nhưng Việt Nam sẵn sàng và kiên quyết giáng trả mọi hành động xâm lược, phá hoại an ninh quốc gia với phương châm “nếu đất nước có chiến tranh, chúng ta buộc lòng phải cầm súng thì cũng là vì hòa bình”(9).

Như vậy có thể khẳng định, “hòa bình và tự vệ” là quan điểm nhất quán, xuyên suốt của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong đường lối quốc phòng - an ninh; cho thấy tầm nhìn chiến lược của Đảng, Nhà nước Việt Nam đối với các vấn đề an ninh khu vực và thế giới, gắn với thực tiễn cùng những thách thức mà Việt Nam đang phải đối mặt về quốc phòng - an ninh, đặc biệt là trong bối cảnh sự tranh giành ảnh hưởng, cạnh tranh chiến lược ngày càng sâu sắc, các hoạt động tập hợp lực lượng giữa các nước lớn theo xu hướng phân cực và tối đa hóa quyền lực tiếp tục được đẩy mạnh, nhiều quốc gia đã bị cuốn vào vòng xoáy, nhất là các nước vừa và nhỏ đang chịu tác động của lực “kéo - đẩy” ngày càng mạnh từ cuộc cạnh tranh này. Do vậy, để giữ vững độc lập, tự chủ, vừa giữ được mối quan hệ, vừa tránh bị cuốn vào “cuộc chơi” giữa các nước lớn, đòi hỏi sự xử lý hài hòa, cân bằng mối quan hệ nước lớn trên cơ sở bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc. Điều đó càng cho thấy tầm nhìn chiến lược và sự đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta trong đường lối quốc phòng - an ninh “hòa bình và tự vệ”. Đề cập đến vấn đề này, nhiều học giả, chuyên gia nước ngoài đã đánh giá cao về đường lối quốc phòng - an ninh của Việt Nam. Tiến sĩ Olli Pekka Suorsa thuộc Trường Nghiên cứu quốc tế S. Rajaratnam, Singapore (RSIS) nhận định: Chính sách “bốn không” của Việt Nam tăng thêm sự minh bạch và giúp xây dựng lòng tin trong khu vực và quốc tế. Còn theo Tiến sĩ Collin Koh Swee Lean, Việt Nam mong muốn thể hiện chính sách quốc phòng hòa bình, không chỉ giúp khẳng định lợi ích quốc gia - dân tộc Việt Nam, mà còn cho thấy Việt Nam là một đối tác có tinh thần xây dựng đối với an ninh khu vực và quốc tế, đặc biệt khi Việt Nam gia tăng hợp tác quốc phòng với các nước(10).

Thực tiễn cho thấy, Việt Nam luôn nỗ lực thực thi đúng đắn đường lối quốc phòng - an ninh đã đề ra. Việt Nam đã và đang thực hiện những hành động thiết thực và cụ thể để xây dựng môi trường hòa bình không chỉ cho đất nước Việt Nam, mà còn đối với khu vực và thế giới. Đường lối quốc phòng - an ninh mà Việt Nam đang thực hiện là nhằm bảo vệ đất nước, giữ nước “từ sớm, từ xa”, “từ khi nước chưa nguy”, sẵn sàng chống chiến tranh xâm lược, vì hòa bình, an ninh, an toàn và phát triển. Việt Nam tăng cường tiềm lực quốc phòng - an ninh cũng chính là yếu tố để tự vệ, không ngoài mục đích giữ gìn hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước, đồng thời góp phần bảo vệ hòa bình ở khu vực và trên thế giới. Trong quan hệ đối ngoại, Việt Nam luôn kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, bình đẳng, cùng có lợi; đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ; là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Minh chứng rõ nét nhất là việc Việt Nam đã cử sĩ quan liên lạc công tác ở Phái bộ gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc và cử lực lượng tham gia gìn giữ hòa bình ở Nam Sudan, Cộng hòa Trung Phi... Đối với Việt Nam, hòa bình, ổn định và phát triển không tách rời hòa bình của khu vực và thế giới, như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: “giữ gìn hòa bình thế giới tức là giữ gìn lợi ích của nước ta”(11). Trước sự đối đầu giữa các nước, nhất là các nước lớn, Việt Nam không đứng về bên nào, Việt Nam đứng về lẽ phải và chính nghĩa, Việt Nam tuân thủ Hiến chương Liên hợp quốc và những nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế. Đối với Việt Nam, việc sử dụng vũ lực và liên minh quân sự không phải là phương thức tối ưu trong bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Trong giải quyết những bất đồng, Việt Nam luôn thực hiện hiệu quả đấu tranh hòa bình, trong đó sử dụng tổng hợp các biện pháp, như đấu tranh chính trị, đấu tranh pháp lý, đấu tranh bằng phương tiện truyền thông và dư luận xã hội trong nước cũng như quốc tế, đấu tranh bằng biện pháp hòa bình ngoài thực địa... Song song với các biện pháp đấu tranh hòa bình, Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn chủ động đề ra kế sách bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”; chủ động nhận diện, ngăn ngừa, triệt tiêu những nhân tố bất lợi, tiềm ẩn nguy cơ trở thành xung đột. Cùng với đó, các lực lượng vũ trang luôn đề cao cảnh giác, không để bị bất ngờ, thụ động; nhanh chóng, kịp thời phát hiện mọi âm mưu của nước ngoài đe dọa sử dụng vũ lực và sử dụng vũ lực xâm phạm chủ quyền, an ninh đất nước. Nếu điều đó xảy ra thì Việt Nam sẽ sử dụng quyền tự vệ chính đáng của mình bằng tất cả sức mạnh của một dân tộc yêu chuộng hòa bình kết hợp sức mạnh của thời đại để đánh bại mọi âm mưu, quy mô, hình thái chiến tranh từ kẻ thù, bảo vệ vững chắc chủ quyền, sự toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc.

Chính nhờ đường lối quốc phòng - an ninh “hòa bình và tự vệ” mà Việt Nam, một mặt, tiếp tục mở rộng quan hệ quốc tế; mặt khác, vẫn kiên định không tham gia liên minh quân sự hay liên kết với quốc gia này chống quốc gia khác. Hiện tại, Việt Nam hoàn toàn đủ khả năng để bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, nền văn hóa và lợi ích quốc gia - dân tộc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, an ninh con người; xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh để phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, không để nảy sinh xung đột và xảy ra chiến tranh. Quan hệ ngoại giao của Việt Nam “phủ sóng” tới 189 trong tổng số 200 quốc gia trên toàn thế giới, trong đó có quan hệ đối tác chiến lược với 17 nước, cùng 13 nước đối tác toàn diện; là nước duy nhất tại khu vực Đông Nam Á xây dựng khuôn khổ quan hệ đối tác chiến lược và đối tác toàn diện với tất cả năm nước thành viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc và các nước lớn(12), góp phần định vị vững chắc hơn vị thế của Việt Nam trong quan hệ với các nước lớn trong bối cảnh cục diện khu vực, thế giới có nhiều biến đổi; có quan hệ đặc biệt với Lào, quan hệ hợp tác toàn diện với Campuchia; xây dựng quan hệ đối tác chiến lược với những nước có vai trò quan trọng ở các khu vực khác, như châu Phi, Mỹ La-tinh... Có thể nói, đây là điều chưa từng có tiền lệ với Việt Nam; là cơ hội thuận lợi để Việt Nam ngăn ngừa, đẩy lùi nguy cơ xung đột, chiến tranh, duy trì hòa bình, ổn định, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

LHS


 NHỮNG LUẬN ĐIỆU LẠC LÕNG, XUYÊN TẠC ĐƯỜNG LỐI QUỐC PHÒNG - AN NINH CỦA VIỆT NAM

Thời gian qua, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu trong phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh và đối ngoại. Chúng ta đã khẳng định rất rõ và thể hiện mong muốn, quyết tâm trong việc phát triển quan hệ hữu nghị, hợp tác, bình đẳng với tất cả các nước trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau, vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội; đồng thời, tiếp tục khẳng định và làm rõ hơn tính chất cơ bản của nền quốc phòng - an ninh Việt Nam là “hòa bình và tự vệ”.

Tuy vậy, bất chấp sự thật đó, nhiều cá nhân, tổ chức thiếu thiện chí, thù địch, phản động vẫn ra sức tuyên truyền, rêu rao, tung tin thất thiệt, hòng dẫn dắt dư luận cả trong  và ngoài nước hướng vào ý đồ của họ. Họ cố tình phủ nhận những thành tựu của đất nước, tỏ vẻ quan tâm, lo lắng khi hiện nay, thế giới có những biến chuyển sâu sắc và khó lường, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn đã tác động mạnh mẽ đến an ninh của các quốc gia và quốc tế. Từ đó, họ rêu rao rằng, Việt Nam “không thể” giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bởi theo họ, khả năng và sức mạnh tổng hợp quốc gia, sức mạnh quân sự, an ninh của Việt Nam hiện nay là “quá yếu” và “lạc hậu”, không đủ sức để tự bảo vệ. Họ “khuyên” Việt Nam nên “liên minh”, “chọn bên”, dựa vào nước lớn có thực lực quân sự, an ninh mạnh để nhận được sự bảo trợ, kể cả cung cấp, trang bị vũ khí; đưa lực lượng quân đội, an ninh đến trợ giúp bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới, biển, đảo quốc gia; rằng “chỉ có liên minh quân sự với một cường quốc thì Việt Nam mới giữ được chủ quyền, bảo vệ được lợi ích quốc gia - dân tộc”?!

Ở một chiều cạnh khác, họ rêu rao rằng đường lối quốc phòng - an ninh “hòa bình và tự vệ” của Việt Nam rất “mơ hồ”, “không rõ ràng quan điểm” và “phi thực tế”. Thậm chí, họ nhấn mạnh đây là “đối sách nhu nhược”, là “hành động tự trói”, không phù hợp với xu thế hiện nay. Đối với cuộc xung đột Nga - Ukraine, Việt Nam luôn thể hiện quan điểm, lập trường rõ ràng, xuyên suốt, đó là kêu gọi các bên liên quan giảm leo thang căng thẳng, nối lại đối thoại và đàm phán thông qua tất cả các kênh, nhằm đạt được giải pháp lâu dài có tính đến lợi ích và quan ngại của tất cả các bên, trên cơ sở luật pháp quốc tế, và điều này được thể hiện qua những lần Việt Nam bỏ phiếu thông qua các nghị quyết của Đại hội đồng Liên hợp quốc về tình hình Ukraine. Nhưng một số kẻ lại trắng trợn xuyên tạc rằng, Việt Nam phản đối sử dụng vũ lực, nhưng không bỏ phiếu ủng hộ; Việt Nam vì lợi ích mà bỏ qua “công lý và đạo lý”, khiến nhiều người “phải suy nghĩ lại” về lập trường chọn chính nghĩa của Việt Nam(!). Cá biệt, có luận điệu rêu rao rằng, Việt Nam đang thể hiện quan điểm theo kiểu “chung chung”, rằng Việt Nam ngụy tạo về “đứng về lẽ phải, công lý”... Họ tung tin thất thiệt, suy diễn thiếu căn cứ rằng Việt Nam, một mặt, nói là tự vệ; mặt khác, lại đang đẩy mạnh các hoạt động tăng cường tiềm lực quốc phòng - an ninh, hiện đại hóa lực lượng quân đội, lực lượng vũ trang với việc trang bị nhiều loại vũ khí để dụng ý răn đe, đe dọa, chống lại một nước thứ ba. Từ đó, họ quy kết Việt Nam khơi mào cho cuộc chạy đua vũ trang trong khu vựctạo nguy cơ bất ổn trong khu vực.

Thực chất của những luận điệu phiến diện, phản động của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị khi xuyên tạc đường lối quốc phòng - an ninh của Việt Nam là hòng phủ nhận đường lối quốc phòng - an ninh của Đảng, Nhà nước ta, với dã tâm muốn phá vỡ nguyên tắc nền quốc phòng - an ninh tự chủ, tự lực, tự cường của một quốc gia độc lập, có chủ quyền, hòng làm suy yếu nền quốc phòng - an ninh của Việt Nam, dẫn đến sự lệ thuộc vào các lực lượng bên ngoài, gây nên những hệ quả xấu tới sức mạnh, chiến lược bảo vệ Tổ quốc, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh quốc gia của Việt Nam. Mặt khác, họ mưu toan hướng lái Việt Nam vào tình thế đối đầu với nước khác để chia rẽ, làm mất lòng tin, phủ nhận truyền thống yêu chuộng hòa bình, nhân văn, nhân đạo của dân tộc Việt Nam cũng như thiện chí và sự đóng góp của Việt Nam trong thúc đẩy hòa bình trên thế giới.

Hoằng Tháo


 Cố tình tạo ý kiến “trái chiều”

Ngoài việc xoáy vào vấn đề nhân quyền, một số báo chí nước ngoài còn cố tình đưa ra các nhận định sai trái, xuyên tạc về đường lối ngoại giao của Việt Nam. Ví dụ BBC Việt ngữ có bài viết với ý Việt Nam đã “chọn bên” khi ngả về phía Hoa Kỳ để chống lại Trung Quốc. VOA “chọc ngoáy” bằng bài viết nói sự hợp tác mới giúp Việt Nam có thể tiếp cận với vũ khí Hoa Kỳ và “thoát khỏi sự lệ thuộc” vào nguồn cung cấp của đối tác truyền thống là Nga.

Nhóm phản động như Việt Tân thì liên tục có bài viết xuyên tạc chính sách ngoại giao “cây tre”, mỉa mai các lãnh đạo của đất nước. Cũng có không ít ý kiến đã hạ thấp tầm quan trọng của việc Việt Nam-Hoa Kỳ nâng quan hệ, nhằm mục đích hạ thấp uy tín của lãnh đạo Đảng, Nhà nước.

Rõ ràng đây đều là những luận điệu sai trái, vô căn cứ, không phản ánh đúng thực tế. Việc nâng cấp quan hệ với Hoa Kỳ không có nghĩa Việt Nam đã chọn đứng về bên nào, để chống lại ai. Thực tế, đường lối đối ngoại của Việt Nam đã nhiều lần được các lãnh đạo cao nhất nêu rõ. 

Cụ thể, trong cuộc trả lời chất vấn đại biểu Quốc hội về định hướng đối ngoại cơ bản của đất nước vào cuối năm ngoái, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính khẳng định Việt Nam theo đuổi đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa, là bạn bè tốt, là đối tác tin cậy với tất cả các nước trên thế giới, vì mục tiêu hòa bình, hợp tác và phát triển, là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế.

Thủ tướng Phạm Minh Chính nhấn mạnh, đường lối đối ngoại của Việt Nam là không chọn bên, mà chọn công lý và lẽ phải. Vì vậy, chúng ta thể hiện thái độ theo tinh thần này trong các vấn đề liên quan quốc tế vì hòa bình, hợp tác, phát triển khu vực, trên thế giới phù hợp với đường lối, quan điểm đối ngoại của nước ta.

Từ đó để thấy việc Việt Nam và Hoa Kỳ nâng cấp quan hệ là một trong nhiều hoạt động đối ngoại mà chúng ta đang triển khai để phục vụ cho lợi ích lâu dài của đất nước và nhân dân, chứ không phải để chọn bên, hoặc chống ai. Như nhận xét của Giáo sư Carl Thayer thuộc Học viện Quốc phòng Australia, việc nâng quan hệ phản ánh sự hội tụ lợi ích giữa hai đất nước, cũng như cam kết hợp tác lâu dài để làm sâu sắc hơn quan hệ kinh tế, thông qua thương mại, đầu tư, trao đổi công nghệ và thông lệ quản trị tốt.

Hiện Hoa Kỳ là một trong những đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam. Tới tháng 8/2023, Việt Nam nhập khẩu lượng hàng trị giá hơn 9 tỷ USD từ Mỹ và xuất sang đây số hàng trị giá hơn 62 tỷ USD. Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất và đạt kim ngạch xuất siêu cao nhất của hàng hóa Việt Nam trong nhiều năm trở lại đây. Tuy nhiên, Trung Quốc lại là nước cung cấp cho chúng ta nhiều nguyên liệu thô để phục vụ hoạt động sản xuất, nên có vai trò quan trọng không kém Mỹ. 

Về kinh tế, Hoa Kỳ là 1 trong những quốc gia tiến hành đầu tư lớn ở Việt Nam, với hơn 1.100 dự án đang hoạt động và hơn 10 tỷ USD tiền vốn rót vào hơn 20 lĩnh vực kinh tế. Sau khi thiết lập Quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện, nhiều lĩnh vực đầu tư của Hoa Kỳ như thiết bị bán dẫn, điện tử, khai thác đất hiếm… đang được kỳ vọng sẽ mang đến những khoản đầu tư khổng lồ.

Nhưng Trung Quốc cũng không hề kém cạnh khi có hơn 3.700 dự án đang hoạt động ở Việt Nam với tổng vốn đăng ký hơn 25 tỷ USD. Như vậy để thấy trên lĩnh vực kinh tế và thương mại, cả Hoa Kỳ và Trung Quốc đều là những đối tác quan trọng với Việt Nam. Và như thế, việc cố tình xuyên tạc Việt Nam “chọn bên” Mỹ để chống lại “Trung Quốc” là hoàn toàn sai trái.

Về quốc phòng an ninh, Việt Nam chủ trương không tham gia liên minh quân sự; không để nước ngoài đặt căn cứ quân sự trên lãnh thổ hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để tấn công nước khác; không cùng một nước khác để chống lại nước thứ ba; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế. Quan điểm này có nghĩa bất kỳ sự hợp tác nào trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh, kể cả với Hoa Kỳ, cũng chỉ vì mục tiêu hòa bình, hợp tác và phát triển bền vững, chứ không phải để “chống lại” ai, hay “quay lưng” với ai như các luận điệu xuyên tạc.

Việc nâng cấp quan hệ với Hoa Kỳ, lên mức bằng với Trung Quốc, Nga, Ấn Độ và Hàn Quốc, hoàn toàn không đi ngược lại chủ trương ngoại giao của chúng ta là muốn trở thành bạn bè tốt, đối tác tin cậy của tất cả các nước trên thế giới, thành viên tích cực có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế.

Đó chính là biểu hiện của đường lối đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, đã giúp chúng ta thiết lập quan hệ ngoại giao với gần 200 quốc gia và vùng lãnh thổ. Và chắc chắn là thời gian tới, Việt Nam sẽ còn thiết lập Quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện với nhiều nước khác, khi chúng ta tiếp tục đường lối ngoại giao hiện nay. 

Để thấy rằng những luận điệu nói Việt Nam đã “chọn bên” là hoàn toàn sai trái. Không loại trừ việc những cá nhân, tổ chức đưa ra quan điểm như vậy đang cố tình tìm cách phá hoại quan hệ tốt đẹp giữa Việt Nam và nhiều nước đối tác khác, bao gồm cả Hoa Kỳ./.

Bàn Luận

 


Chủ Nhật, 15 tháng 10, 2023

 

Những luận điệu cũ mòn

Nhưng những thay đổi theo chiều hướng tích cực này dường như vẫn chưa đủ để làm hài lòng một bộ phận cá nhân và tổ chức có tư tưởng chống phá Việt Nam ở trong nước cũng như nước ngoài. Đó là những cá nhân không hài lòng với mọi thay đổi tích cực cũng như các bước tiến mà chúng ta đạt được.

Ngay cả khi chuyến thăm của ông Biden đang diễn ra đã có nhiều bài viết xuất hiện trên các trang tin như BBC Việt Ngữ, VOA tiếng Việt, RFI hoặc mang tính phản động như tài khoản Facebook mang tích xanh của tổ chức khủng bố Việt Tân, đưa ra những ý kiến trái chiều, mang nhiều động cơ, tính toán khác nhau.  

Như thường lệ, trong các chuyến thăm của lãnh đạo cấp cao từ Hoa Kỳ tới Việt Nam, thế lực không thiện chí thường nêu lên cái gọi là “vi phạm nhân quyền” của Việt Nam. Tại một số bài viết trên trang web chính, cũng như trên Facebook, VOA tiếng Việt liên tục đề cập tới chủ đề nhân quyền, viết về các trường hợp “tù nhân lương tâm”, “bất đồng chính kiến” bị bắt giữ do có hành vi phạm luật pháp Việt Nam... Cũng trang này vào cuối tháng 9 tiếp tục tung luận điệu từ “nguồn chuyên gia uy tín” nói rằng Việt Nam không có tự do kinh tế.

Những thông tin và luận điệu này không có gì mới mẻ. Đó chỉ đơn giản là hành vi phủ nhận nhiều tiến bộ về nhân quyền và tự do mà Việt Nam đã đạt được. 

Thực tế, không ít chính trị gia và học giả quốc tế đã thể hiện ấn tượng về những thành công mà Việt Nam đạt được sau hơn 30 năm đổi mới. Đặc biệt, là tấm gương thành công về phát triển kinh tế xã hội, quyền con người và hoàn thành trước hạn nhiều Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ (MDG). Theo Liên hợp quốc, chỉ số phát triển con người (HDI) ở Việt Nam liên tục tăng theo các năm và hiện lọt vào nhóm phát triển con người cao, xếp thứ 115/191 quốc gia và vùng lãnh thổ.

Về tự do ngôn luận, không thể không nói tới sự tự do sử dụng mạng Internet. Việt Nam hiện có khoảng 70 triệu người dùng Internet và hạ tầng 3G/4G đã phủ sóng 99,8% dân cư. Tốc độ kết nối Internet Việt Nam cũng không hề kém nhiều nước trên thế giới. Người dân được hoạt động tự do trên Internet, miễn các hoạt động của họ không vi phạm luật pháp và quy định của Việt Nam. Tự do báo chí được thể hiện cụ thể với việc cả nước có 127 cơ quan báo; 670 cơ quan tạp chí (có 327 tạp chí lý luận chính trị và khoa học, 72 tạp chí văn học nghệ thuật); 72 cơ quan Đài phát thanh, truyền hình. Nhân sự hoạt động trong lĩnh vực báo chí có khoảng 41.000 người, trong đó khối phát thanh, truyền hình xấp xỉ 16.500 người.

Việc lần thứ hai Việt Nam trúng cử vào vị trí thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc (nhiệm kỳ 2023-2025) sau nhiệm kỳ đầu (giai đoạn 2014-2016) được đánh giá cao, cũng như những thành quả tích cực của Việt Nam - đã được thế giới công nhận tại nhiệm kỳ Ủy viên Không Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc giai đoạn 2020-2021 - là sự ghi nhận của cộng đồng quốc tế đối với những thành tựu của Việt Nam trong việc đảm bảo ngày càng tốt hơn các quyền của người dân trên tất cả các lĩnh vực chính trị, xã hội, kinh tế, văn hóa, giáo dục, tôn giáo, tín ngưỡng…

Những nỗ lực nâng cao quyền con người ở Việt Nam cũng được phía Hoa Kỳ nhận thấy. Tuyên bố chung về nâng cấp quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ lên Đối tác Chiến lược Toàn diện có một mục riêng mang tựa đề “Thúc đẩy và bảo vệ quyền con người”, cho thấy hai bên rất thẳng thắn, cởi mở và sẵn sàng chia sẻ với nhau những vấn đề liên quan đến con người và nhân quyền.

Mục này nêu rõ: “Hai Nhà Lãnh đạo khẳng định tầm quan trọng của việc thúc đẩy và bảo vệ quyền con người, phù hợp với hiến pháp của mỗi nước và các cam kết quốc tế. Hai nước nhất trí tiếp tục ủng hộ thúc đẩy và bảo vệ quyền con người thông qua các cơ chế đối thoại thẳng thắn, xây dựng như Đối thoại Nhân quyền, Đối thoại Lao động Việt Nam - Hoa Kỳ hàng năm, qua đó tăng cường hiểu biết lẫn nhau và giảm thiểu khác biệt.

Hai Nhà Lãnh đạo khuyến khích tăng cường hợp tác nhằm bảo đảm tất cả người dân, bao gồm các nhóm dễ bị tổn thương không phân biệt giới tính, chủng tộc, tôn giáo hay khuynh hướng tình dục và người khuyết tật được hưởng đầy đủ các quyền con người.”

BĐT