PHƯƠNG HƯỚNG GIẢI QUYẾT MỐI QUAN HỆ GIỮA
QUỐC PHÒNG, AN NINH VÀ ĐỐI NGOẠI TRONG BẢO VỆ TỔ QUỐC
Nhân Trần
Trong những năm
tới, tình hình thế giới và khu vực tiếp tục biến động nhanh chóng, phức tạp và
khó lường, tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây bất ổn định, đe dọa đến môi trường hòa
bình, ổn định ở khu vực và trên thế giới, tác động không nhỏ đến sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa... Điều đó đòi hỏi phải đồng
thời thực hiện nhiều giải pháp khác nhau, trong đó nổi bật là sự kết hợp chặt
chẽ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Để thực hiện có hiệu quả việc giải
quyết mối quan hệ này, cần tập trung vào một số phương hướng cơ bản sau:
Một là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng,
nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách về giải quyết mối quan hệ
giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Tăng
cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập
trung, thống nhất của Nhà nước đối với mọi hoạt động quốc phòng, an ninh, đối
ngoại và việc giải quyết mối quan hệ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Sự
lãnh đạo của Đảng, quản lý, điều hành của Nhà nước đối với việc giải quyết mối
quan hệ này phải thông qua đường lối, chủ trương và hệ thống pháp luật. Đường
lối, quan điểm của Đảng về quốc phòng, an ninh và đối ngoại phải được luật hóa
thông qua hệ thống pháp lệnh, nghị định, kế hoạch và các quy chế, quy định, bảo
đảm tính nguyên tắc, tính pháp lý trong quá trình thực hiện. Tiếp tục nghiên
cứu, bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách về quốc phòng,
an ninh, đối ngoại và việc kết hợp giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Nâng
cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành của Nhà nước trong lĩnh vực quốc
phòng, an ninh và đối ngoại. Đẩy mạnh việc xây dựng, hoạch định, hoàn thiện
chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của từng
giai đoạn cách mạng, không để rơi vào thế bị động, bất ngờ cả về chiến lược,
chiến dịch và chiến thuật. Ban hành và duy trì nghiêm các quy chế, quy định mới
về việc phối hợp giữa các ngành, các cấp, các địa phương, đặc biệt là giữa các
ngành quân đội, công an và ngoại giao. Nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện về nội
dung, hình thức, biện pháp kết hợp đấu tranh quốc phòng, an ninh và đối ngoại
trong nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Chủ động phát hiện, kiên quyết đấu tranh với
những tư tưởng, hành động sai trái, thù địch, xuyên tạc, hạ thấp, phủ nhận vai
trò lãnh đạo của Đảng đối với việc giải quyết mối quan hệ giữa quốc phòng, an
ninh và đối ngoại.
Hai là, thực hiện thắng lợi sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nâng cao tiềm lực kinh tế, tăng cường
tiềm lực quân sự, xây dựng thế trận quốc phòng, an ninh vững chắc. Thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước sẽ tạo điều kiện, cơ sở vật chất, kỹ thuật của đất nước, hình
thành nền tảng để phát triển sức mạnh kinh tế, tạo dựng tiềm lực quân sự, quốc
phòng và khả năng huy động tiềm lực kinh tế phục vụ nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc. Trên cơ sở đó, từng bước phát triển tiềm lực quân sự, quốc phòng, tạo
thế và lực để xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân
dân vững chắc. Tăng cường tiềm lực, thế trận quốc phòng, an ninh là quá trình
tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức, nhằm tạo ra nguồn lực tổng hợp bảo đảm
tốt nhất cho nhiệm vụ quốc phòng, an ninh trong bối cảnh đất nước đẩy mạnh sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Thực hiện sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là tạo lập sức mạnh về kinh tế - xã hội,
tạo cơ sở, tiền đề để tạo lập sức mạnh về quân sự, quốc phòng, an ninh, tạo nên
sức mạnh tổng hợp của đất nước trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nếu
không có sức mạnh, tiềm lực kinh tế thì không có sức mạnh, tiềm lực quân sự,
quốc phòng, an ninh. Chính tiềm lực quân sự, quốc phòng, an ninh mạnh sẽ góp
phần bảo vệ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, sự nghiệp xây dựng và phát
triển kinh tế của đất nước. Vấn đề quan trọng đặt ra là chú trọng triển khai
thực hiện có hiệu quả việc phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh, bởi đây
là bộ phận của công nghiệp quốc gia, một phần quan trọng của thực lực và tiềm
lực quốc phòng, an ninh của đất nước.
Ba là, tích cực, chủ động quan hệ sâu
rộng với các nước, các tổ chức quốc tế, khu vực và nâng cao vị thế, uy tín của
Việt Nam. Tích cực, chủ động quan hệ
sâu rộng với các nước, các tổ chức quốc tế và khu vực trên tinh thần Việt Nam
“là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc
tế”. Vấn đề đặt ra là Việt Nam cần chú trọng hợp tác song phương với các đối
tác, đưa khuôn khổ quan hệ đã xác lập vào thực chất, đạt hiệu quả thiết thực.
Tiếp tục xây dựng lòng tin chiến lược với các nước, ưu tiên quan hệ, hợp tác
quốc phòng với các nước láng giềng, liền kề, các nước lớn, các nước thuộc Hiệp
hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và các nước bạn bè truyền thống, đồng thời
mở rộng quan hệ, hợp tác với các nước có tiềm năng, thúc đẩy quan hệ với các
đối tác lớn, đối tác quan trọng... Chủ động, tích cực tham gia các cơ chế đa
phương về quốc phòng, an ninh trong khuôn khổ ASEAN và do ASEAN giữ vai trò chủ
đạo; tham gia tích cực, có hiệu quả hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp
quốc; nghiên cứu tham gia một số hoạt động diễn tập về an ninh phi truyền thống
và các hoạt động khác, như tìm kiếm, cứu nạn, cứu trợ thảm họa, xử lý bom mìn,
chất độc hóa học. Mục đích cao nhất trong quan hệ đối ngoại là phục vụ lợi ích
quốc gia - dân tộc, theo đó, trong quan hệ đối ngoại với các nước, các tổ chức
quốc tế và khu vực, tuyệt đối không để Việt Nam rơi vào thế bị bao vây, cô lập,
bị động, bất ngờ, đặc biệt là rơi vào trạng thái đối đầu có thể dẫn đến xung
đột. Việt Nam cần tiếp tục tích cực, chủ động trong thiết lập, đẩy mạnh các mối
quan hệ đối ngoại; trong hóa giải các bất đồng, mâu thuẫn, tranh chấp về lợi
ích; trong đề xuất những giải pháp xây dựng hòa bình, ổn định ở khu vực và trên
thế giới. Giải quyết quan hệ hợp tác với các nước, các tổ chức quốc tế, khu vực
trên tinh thần “hợp tác vì hòa bình và phát triển bền vững, cùng nhau giải
quyết các vấn đề chung của khu vực và toàn cầu, các xung đột, tranh chấp bằng biện
pháp hòa bình, trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ,
không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi”. Tiếp
tục nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trong việc giải quyết những vấn đề
chung, xây dựng lòng tin chiến lược, hướng đến hòa bình và ổn định trong khu
vực và trên thế giới.
Bốn là, linh hoạt, sáng tạo trong giải
quyết các vấn đề đối ngoại trên cơ sở lợi ích quốc gia - dân tộc. Trên tinh thần “Dĩ bất biến ứng vạn biến”, Việt Nam
cần phải linh hoạt, sáng tạo, mềm dẻo trong giải quyết các vấn đề đối ngoại,
lấy lợi ích quốc gia - dân tộc là mục tiêu cao nhất, quan trọng nhất, có ý
nghĩa định hướng hoạt động đối ngoại trên tất cả các lĩnh vực. Lợi ích quốc gia
- dân tộc Việt Nam là toàn diện, bao gồm lợi ích kinh tế, lợi ích chính trị,
lợi ích văn hóa...; lợi ích vật thể, lợi ích phi vật thể; lợi ích trước mắt và
lợi ích lâu dài; không chỉ có lợi ích trong nước mà còn các lợi ích hợp pháp
khác ở ngoài nước. Trong giải quyết mọi vấn đề đối ngoại, với mọi đối tượng,
đối tác, phải bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ
bản của luật pháp quốc tế, thực hiện bình đẳng, cùng có lợi, với đường lối đối
ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; không nóng vội, mà phải
“kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất
và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã
hội chủ nghĩa”(10); tăng cường sự gắn kết an ninh và ổn định của nước ta với an
ninh và ổn định của khu vực, từng bước nâng cao mức độ đan xen lợi ích về quốc
phòng, an ninh theo hướng tăng cường nhận thức, hợp tác về các vấn đề có chung
quan tâm và lợi ích; giữ vững môi trường hòa bình, thuận lợi cho đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa; nâng cao vị thế của đất nước trên trường quốc tế, vì
lợi ích quốc gia - dân tộc.
Năm là, nâng cao tinh thần yêu nước và
phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh,
dân chủ, công bằng, văn minh”. Lịch
sử Việt Nam đã chứng minh tinh thần yêu nước và đoàn kết của nhân dân là một
động lực vô cùng to lớn, giúp dân tộc ta phát huy sức mạnh tổng hợp, giành
chiến thắng trước mọi kẻ thù xâm lược lớn mạnh gấp mình rất nhiều lần. Tinh
thần yêu nước đã tạo nên sức mạnh của dân tộc Việt Nam, giúp cho dân tộc tồn
tại và phát triển qua những thử thách cam go, khốc liệt và hào hùng của lịch
sử. Tuy nhiên, trước những biến động lớn của thời cuộc hiện nay, đòi hỏi tinh
thần yêu nước Việt Nam, một mặt, phải duy trì, củng cố những đặc trưng làm nên
sức mạnh truyền thống của dân tộc; mặt khác, phải xây dựng và củng cố thêm
những nền tảng lý luận và sức mạnh mới nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu xây
dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Do đó, cần làm tốt công tác tuyên
truyền, giáo dục tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc của người Việt Nam;
nâng cao tinh thần trách nhiệm của các cấp, các ngành, các lực lượng, nhất là
phát huy vai trò của hệ thống giáo dục, đào tạo và các phương tiện truyền thông
trong việc tuyên truyền, giáo dục này; nghiên cứu, lựa chọn nội dung, hình
thức, biện pháp tuyên truyền, giáo dục phải phù hợp với từng hoàn cảnh, đối
tượng cụ thể, nhất là đối với đồng bào các dân tộc thiểu số và cộng đồng người
Việt Nam ở nước ngoài. Đại đoàn kết toàn dân tộc là động lực chủ yếu, nguồn lực
to lớn trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Theo đó, cần tăng cường khối đại đoàn
kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông
dân và đội ngũ trí thức do Đảng lãnh đạo. Lấy lợi ích chung của quốc gia - dân
tộc và quyền lợi cơ bản của nhân dân lao động làm mục đích của cách mạng. Tích
cực đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị các cấp; đẩy mạnh công tác tuyên
truyền, giáo dục, vận động nhân dân tích cực, tự giác xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc; xử lý hài hòa các mối quan hệ giai cấp và dân tộc, giai cấp, dân tộc và
nhân loại, quốc gia và quốc tế, chiến lược và sách lược, lợi ích toàn bộ và bộ
phận, lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể và lợi ích toàn xã hội; tạo điều kiện
thuận lợi cho mọi tổ chức, cá nhân cùng tiến bộ, trưởng thành, có đóng góp xứng
đáng vào sự nghiệp cách mạng chung vì lợi ích quốc gia - dân tộc./.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét