Thứ Năm, 28 tháng 9, 2017

BẢN CHẤT, TRUYỀNTHỐNG CÁCH MẠNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÀ KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC
Thời gian gần đây, lợi dụng việc một vài cá nhân tự nguyện viết đơn xin ra khỏi Đảng, các thế lực thù địch, những kẻ cơ hội chính trị lại được dịp “đục nước béo cò”, thông qua một số trang điện tử và mạng xã hội để xuyên tạc bản chất và truyền thống cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Với những giọng điệu hết sức hằn học theo kiểu “bới lông tìm vết”, các thế lực thù địch, những kẻ cơ hội chính trị ra sức cổ súy, cho rằng việc xin ra khỏi Đảng của một vài cá nhân là “hết sức đúng đắn”, “là sự tỉnh táo”, “là những người có danh dự”…
Trước hết cần nhìn nhận đúng đắn, đầy đủ về việc một số cá nhân xin ra khỏi Đảng thời gian qua và âm mưu lợi dụng xuyên tạc nhằm chống phá Việt Nam của các thế lực thù địch, những phần tử cơ hội chính trị.
Điểm qua tên tuổi những người xin ra khỏi Đảng được những kẻ rắp tâm hại Đảng, hại dân liệt kê trong các bài viết đăng trên một số trang báo điện tử ở nước ngoài, hoặc qua mạng xã hội thì việc xin ra khỏi Đảng của họ cũng không khó hiểu. Không phải đến bây giờ, những người một thời mang danh đảng viên mới bộc lộ tư tưởng, mà một thời gian dài, họ đã lợi dụng dân chủ nói và viết trái với quan điểm, đường lối của Đảng; trái với chủ trương, chính sách của Nhà nước; trái với nguyện vọng và tình cảm của tuyệt đại đa số nhân dân. Sau khi được một vài trang báo nước ngoài cố súy, được một số kẻ lưu vong, nhất là tổ chức khủng bố Việt Tân “hà hơi”, số người này ảo tưởng cho rằng, tiếng nói của mình là quan trọng, là “khuôn vàng, thước ngọc” có thể từ đó tạo dựng nên một xã hội tốt đẹp (!).
Việc những người từng mang danh đảng viên có quan điểm, tư tưởng trái với quan điểm, đường lối của Đảng không phải mới diễn ra, mà đã kéo dài trong nhiều năm. Nhưng với bản chất tốt đẹp, nhân nghĩa, trên tình đồng chí, đồng đội, các tổ chức đảng và đảng viên đã có nhiều biện pháp giúp đỡ để họ nhận ra lỗi lầm, mà sửa chữa, phấn đấu. Tuy nhiên, khi họ đã cố tình đi ngược lại lợi ích của Đảng, của nhân dân, của dân tộc, thì sự giúp đỡ dù chân tình đến đâu cũng đều không mang lại hiệu quả. Với bản chất và truyền thống cách mạng, một chính đảng chỉ biết chiến đấu, hy sinh vì lợi ích của nhân dân, của dân tộc, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn trân trọng, ghi nhận và đánh giá cao sự đóng góp công sức, trí tuệ của từng cá nhân đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Nhưng Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam không dung túng, mà luôn xử lý nghiêm minh với bất kỳ cá nhân, tổ chức nào có suy nghĩ, hành động đi ngược lại lợi ích của quốc gia, dân tộc. Đó cũng là việc làm bình thường không chỉ ở Việt Nam mà với mọi quốc gia trên thế giới. Vì vậy, những đảng viên có quan điểm, tư tưởng trái ngược nhằm mục đích chống phá Đảng, chống phá Nhà nước phải sớm loại ra khỏi hàng ngũ của Đảng.
Cần nói thêm rằng, mọi công dân Việt Nam, trước khi vào Đảng đều phải trải qua những lớp bồi dưỡng kiến thức về Đảng. Thông qua những lớp học này giúp những quần chúng ưu tú có động cơ phấn đấu vào Đảng nắm chắc và hiểu rõ được bản chất và truyền thống cách mạng của Đảng, mục tiêu của Đảng; đồng thời thấy rõ trách nhiệm của mình khi trở thành đảng viên. Ngay ở Chương 1, Điều 1, Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam đã quy định rõ trách nhiệm, nghĩa vụ, thể hiện sự tự nguyện của đảng viên: (1). Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam là chiến sĩ cách mạng trong đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam, suốt đời phấn đấu cho mục đích, lý tưởng của Đảng, đặt lợi ích của Tổ quốc, của giai cấp công nhân và nhân dân lao động lên trên lợi ích cá nhân; chấp hành nghiêm chỉnh Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, các nghị quyết của Đảng và pháp luật của Nhà nước; có lao động, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; có đạo đức và lối sống lành mạnh; gắn bó mật thiết với nhân dân; phục tùng tổ chức, kỷ luật của Đảng, giữ gìn đoàn kết thống nhất trong Đảng. (2). Công dân Việt Nam từ mười tám tuổi trở lên; thừa nhận và tự nguyện thực hiện Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, tiêu chuẩn và nhiệm vụ đảng viên, hoạt động trong một tổ chức cơ sở đảng; qua thực tiễn chứng tỏ là người ưu tú, được nhân dân tín nhiệm, đều có thể được xét để kết nạp vào Đảng.
Có thể thấy trách nhiệm, nghĩa vụ và sự tự nguyện cống hiến, hy sinh của người đảng viên đối với Tổ quốc, với dân tộc và nhân dân là rất rõ ràng. Bởi vậy, những ai tự nhận thấy mình không còn đủ tư cách, trí tuệ và năng lực; cũng như không chấp hành nghiêm Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, các nghị quyết của Đảng và pháp luật của Nhà nước, thì việc tự nguyện xin ra khỏi Đảng là điều nên làm và đó là việc làm bình thường. Mặt khác, theo quy luật chọn lọc tự nhiên thì mọi tổ chức, mọi sự vật, hiện tượng luôn vận động, phát triển không ngừng. Theo đó, những nhân tố không còn phù hợp, hoặc không đáp ứng được yêu cầu, sớm muộn cũng bị đào thải, loại bỏ. Sự phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật tự nhiên đó. Vì vậy, những đảng viên không còn thấy mình xứng đáng đứng trong hàng ngũ của những người cộng sản tiên phong; không còn đáp ứng được yêu cầu của sự phát triển, nhất là những người “mang danh đảng viên” nhưng có tư tưởng đi ngược lại lợi ích của Đảng, của dân tộc thì tốt hơn hết là tự nguyện xin ra khỏi Đảng. Việc những người này sớm rút ra khỏi đội ngũ không làm cho Đảng yếu đi, mà càng làm cho Đảng thêm trong sạch, vững mạnh.
Cần nói thêm rằng, không phải ai xin ra khỏi Đảng cũng là hết tình yêu với Đảng, mà không ít đảng viên do điều kiện, hoàn cảnh gia đình hay cá nhân; hoặc do tuổi cao, sức yếu; cũng có những người tự thấy mình không xứng đáng với danh hiệu đảng viên, nên tự nguyện xin ra khỏi Đảng. Đó là những con người có danh dự, thể hiện phẩm giá cá nhân và không thể "vơ đũa cả nắm" xếp họ cùng những người “mang danh đảng viên” nhưng đi ngược lại lợi ích của quốc gia, dân tộc. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Trong hàng chục vạn cán bộ và đảng viên xứng đáng, còn lẫn vào một số người thấp kém về tinh thần đạo đức cách mạng… Họ sống và làm việc một cách riêng rẽ, không đoàn kết và hợp tác với người khác. Hễ có đôi chút hiểu biết, đôi chút thành công thì tự cao tự đại, vênh vang kiêu ngạo, tự cho mình tài giỏi hơn người. Ở cương vị phụ trách thì tự cho mình có quyền hơn hết thảy, định đoạt mọi việc; ở ngành nào, địa phương nào thì coi đó như một giang sơn riêng, không biết đến lợi ích toàn cục… Số người đó coi Đảng như cái cầu thang để thăng quan phát tài...”.
Thực tiễn xã hội Việt Nam có rất nhiều điều để dẫn chứng, để khẳng định việc tuyệt đại đa số người dân, không chỉ riêng đội ngũ cán bộ, đảng viên luôn tin tưởng vào Đảng, nguyện đi theo Đảng. Niềm tin của nhân dân Việt Nam đối với Đảng Cộng sản Việt Nam được xây đắp, thử thách thông qua thực tiễn cách mạng. Kể từ khi được thành lập cho tới nay, Đảng Cộng sản Việt Nam không có mục tiêu nào khác là phấn đấu, hy sinh vì tự do, hạnh phúc của nhân dân, của dân tộc, để “ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”. Vì vậy, bất kỳ đảng viên nào, dù ở cương vị nào, nếu thấy mình không đủ dũng khí, phẩm chất để hy sinh, cống hiến cho Đảng, cho dân tộc thì việc xin ra khỏi Đảng là điều cần thiết. Bởi, “vào Đảng là để làm đầy tớ phục vụ nhân dân, phục vụ giai cấp…”. Đó vừa là mục tiêu luôn hướng tới, vừa là bản chất, truyền thống của Đảng Cộng sản Việt Nam, mà không một thế lực nào có thể xuyên tạc, phủ nhận được.


                                                          Hoa Súng

Thứ Ba, 26 tháng 9, 2017

BÀI HỌC TỪ MỘT CUỘC CÁCH MẠNG SOI SÁNG CON ĐƯỜNG CHÚNG TA ĐI
Cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga nổ ra cách đây tròn một thế kỷ. Cuộc cách mạng ấy đã đi vào lịch sử nhân loại như một bản anh hùng ca của những ai tha thiết với số phận các dân tộc bị áp bức, những người nô lệ lầm than trên trái đất, của hoà bình và tiến bộ xã hội - “Cái ngày vĩ đại ấy càng cách xa chúng ta thì ý nghĩa của cuộc Cách mạng vô sản ở Nga càng trở nên rõ rệt, chúng ta càng suy nghĩ sâu về toàn bộ kinh nghiệm thực tiễn công tác của chúng ta”.

Trên con đường đấu tranh đầy đau thương và anh dũng của mình, nhân loại cần lao đều mang những ảnh hưởng, dấu ấn tinh thần của cuộc cách mạng ấy: Cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại năm 1917! Tinh thần anh dũng vô song, lý tưởng cách mạng, chủ nghĩa nhân văn và ý nghĩa mở thời đại của cuộc cách mạng ấy sống mãi. Thực vậy: “Nhiệm vụ trực tiếp và cấp bách của cuộc cách mạng ở Nga là một nhiệm vụ dân chủ tư sản”, một cuộc cách mạng dân chủ tư sản hoàn toàn mới, triệt để, sâu sắc, tạo ra ảnh hưởng to lớn đối với quần chúng nhân dân trên toàn thế giới mà so với Đại cách mạng tư sản Pháp trước đó trên một thế kỷ thì cuộc Cách mạng Nga “đã làm cuộc tẩy rửa một cách kiên quyết, nhanh chóng và mạnh dạn hơn nhiều, có kết quả và sâu rộng hơn nhiều”. V.I. Lê-nin nhấn mạnh: “Nội dung dân chủ tư sản của cách mạng, tức là trừ bỏ những tập quán thời trung cổ, trừ bỏ chế độ nông nô, trừ bỏ chế độ phong kiến trong các mối quan hệ xã hội (các luật lệ, các thiết chế)”. Những biểu hiện, những tàn dư và di tích chủ yếu của chế độ nông nô ở nước Nga trước năm 1917 là chế độ quân chủ, chế độ đẳng cấp, chế độ chiếm hữu ruộng đất và quyền sử dụng ruộng đất, địa vị của phụ nữ, tôn giáo, sự áp bức dân tộc... Bất cứ một vấn đề nào trong số những “chuồng ngựa” hỗn loạn, lộn xộn và bẩn thỉu đó, các cuộc cách mạng  do giai cấp tư sản lãnh đạo đều không quét được hoàn toàn sạch sẽ. Chính cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga đã quét đống rác quân chủ, phá tan tành, đập nát vụn cái lâu đài cũ kỹ nghìn năm là chế độ đẳng cấp, nhổ tận gốc rễ chế độ phong kiến, kết liễu nạn dân tộc này đi áp bức dân tộc khác. Nước Nga Sa hoàng - nhà tù của các dân tộc - bị đập tan. Lần đầu tiên trong lịch sử, quyền dân tộc tự quyết được thực hiện. Cũng nhờ có cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga mà ước mơ của loài người về quyền bình đẳng nam, nữ trở thành hiện thực. Cái quyền thiêng liêng ấy, cái chân lý hiển nhiên ấy phải đợi đến cuộc cách mạng này mới được khẳng định trong một văn bản pháp lý cao nhất của nhà nước Liên Xô. 
Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 đã đưa tới thành lập một nhà nước kiểu mới, nhà nước Xô-viết. Lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, những người lao động, chủ yếu là công nhân và nông dân biết liên minh chặt chẽ với nhau, do một đảng cách mạng chân chính của giai cấp công nhân lãnh đạo, dùng sức mạnh quần chúng đập tan nhà nước của giai cấp tư sản. Cái nhãn hiệu nhà nước của dân, do dân, vì dân mà giai cấp tư sản dán lên ngọn cờ của nó chỉ là nhà nước của một thiểu số dân cư - của những người hữu sản giàu có - dùng để đàn áp những người lao động, bảo vệ lợi ích cơ bản của chúng. Nhà nước Xô-viết đã hiện thực hoá những điều tốt đẹp mà giai cấp tư sản đã nói rất hay nhưng chỉ làm nửa vời. V.I.Lê-nin đã gọi nhà nước Xô-viết là nhà nước của số đông, do số đông và vì số đông. Nhà nước ấy công khai tuyên bố bản chất của một nền dân chủ mới, một nền dân chủ của tất cả mọi người lao động.
Cách mạng Tháng Mười Nga và sự tồn tại 74 năm của Nhà nước Xô-viết (1917-1991) đã minh chứng cho luận điểm: Giành được chính quyền đã khó nhưng giữ vững chính quyền, kiến tạo một xã hội mới còn khó khăn gấp bội. Để làm được sự nghiệp đó thì cuộc cách mạng dân chủ tư sản phải chuyển thành cuộc cách mạng XHCN, phải củng cố chính quyền Xô-viết trên cơ sở tiến hành CNH, HĐH đất nước và đặc biệt là phải biết quản lý. V.I.Lê-nin luôn lưu ý: Chúng ta đã giành được nước Nga, vấn đề bây giờ là quản lý lấy nước Nga; đồng thời phải mở rộng quan hệ quốc tế, phá thế cô lập, bao vây của chủ nghĩa đế quốc; phải học tập cách quản lý và kỹ thuật tư sản, mạnh dạn sử dụng chuyên gia. Để làm được những việc đó thì phải củng cố Đảng, phải thanh lọc những phần tử lạc hậu, cơ hội ra khỏi Đảng, giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, xây dựng Đảng vững mạnh, tăng cường vai trò lãnh đạo và tính tiên phong chiến đấu của Đảng trên tất cả mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Chính Cách mạng Tháng Mười Nga và suốt quá trình tồn tại của nó đã dạy cho tất cả những người cách mạng trên thế giới phải nhanh chóng nhận ra sai lầm và kiên quyết sửa chữa một cách tích cực. V.I.Lê-nin đã đề ra chính sách kinh tế mới (NEP). Người chỉ rõ không được nóng vội, đốt cháy giai đoạn mà phải biết bắc những chiếc cầu nhỏ vững chắc đi xuyên qua CNTB nhà nước mà tiến lên CNXH; phải biết phát huy nhiệt tình cách mạng của quần chúng bằng cách khuyến khích lợi ích của từng người, áp dụng chế độ hạch toán kinh tế. V.I.Lê-nin đã nghiêm khắc phê phán bệnh kiêu ngạo cộng sản chủ nghĩa, tệ quan liêu, tham nhũng, ăn hối lộ và nạn thiếu văn hoá, thiếu học vấn…
Với tầm nhìn của một thiên tài, V.I.Lê-nin đã chỉ ra rằng: Thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga 1917 chưa phải là thắng lợi cuối cùng và để tới ngày toàn thắng “không lúc nào chúng ta quên rằng, chúng ta đã mắc và còn mắc phải vô số những thất bại và sai lầm”, bởi đấu tranh với kẻ thù là chủ nghĩa đế quốc quốc tế thì đây chưa phải là trận cuối cùng. Theo Người, một dân tộc lạc hậu làm sao lại không phải trải qua thất bại và không phạm sai lầm. Nhưng không phải vì thế mà có thể phủ định ý nghĩa to lớn và bài học vô giá của cuộc Cách mạng Tháng Mười, một cuộc cách mạng mở đầu sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người. Dù cho những biến động, những khúc quanh co, gập ghềnh của lịch sử, nhân loại sẽ vẫn ghi nhớ nhận định của V.I.Lê-nin về ý nghĩa của cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại: “Chính chúng ta đã bắt đầu sự nghiệp ấy. Bao giờ, trong thời hạn nào thì những người vô sản nước nào sẽ hoàn thành sự nghiệp ấy, điều đó không quan trọng. Điều quan trọng chính là băng đã tan, đường đã mở, lối đã vạch ra rồi”.
Nói về Cách mạng Tháng Mười Nga, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Mười đã chiếu rọi lịch sử các dân tộc, tạo nên một thời đại mới... Thắng lợi của cuộc cách mạng XHCN Tháng Mười có một ý nghĩa hết sức quan trọng đối với số phận các dân tộc phương Đông. Nó đã thức tỉnh các dân tộc bị áp bức ở châu Á, chỉ cho nhân dân các nước thuộc địa và phụ thuộc con đường giải phóng, nêu gương tự do, dân chủ thực sự. Đi theo con đường Cách mạng Tháng Mười Nga, nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân và Đảng Mác-Lênin, đã kiên quyết đấu tranh chống bọn thực dân”. Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại đã có ảnh hưởng trực tiếp, toàn diện đến việc ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam, đến hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ giành độc lập, tự do, thống nhất đất nước, đi lên CNXH ở Việt Nam.
Những chỉ dẫn của V.I.Lê-nin về thanh Đảng, về dự báo những nguy cơ dẫn đến mất chính quyền… vẫn đang là bài học nóng hổi đối với Đang ta hiện nay. Nghị quyết Trung ương 4, khóa XI và khóa XII đã cho thấy Đảng ta đã rút ra được nhiều kinh nghiệm thành công và thất bại từ cuộc cách mạng vĩ đại ấy. Giống như C.Mác khi nói về sự thất bại của Công xã Paris, chúng ta có thể nói về Cách mạng Tháng Mười Nga: dù Liên Xô đã tan rã nhưng kinh nghiệm và bài học của cuộc cách mạng ấy vẫn ngàn năm sáng chói.
         

                         Hướng Dương
Thực trạng và giải pháp về phòng chống diễn biến hòa bình 
cho sinh viên trong giai đoạn hiện nay
         Diễn biến hòa bình (DBHB) là một chiến lược cơ bản của chủ nghĩa đế quốc (CNĐQ) và các thế lực thù địch, nhằm lật đổ chế độ chính trị- xã hội của các nước tiến bộ, trước hết là các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) từ bên trong, chủ yếu bằng biện pháp phi quân sự. Bằng các phương thức, thủ đoạn chống phá rất tinh vi, thâm độc, thẩm thấu từng bước vào trong mọi lĩnh vực, CNĐQ và các thế lực thù địch đang tìm mọi cách nhằm tạo dựng tổ chức chính trị phản động đối lập ngay trong hệ thống chính trị của các nước XHCN, chống phá sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, thúc đẩy nhà nước đi chệch hướng XHCN; hỗ trợ đắc lực cho đấu tranh trên lĩnh vực chính trị-tư tưởng, lợi dụng vấn đề sắc tộc, tôn giáo làm lực đẩy, các lực lượng quân sự đứng ở tuyến sau với vai trò răn đe và sẵn sàng sử dụng khi cần thiết kết hợp với biện pháp ngoại giao “phòng ngừa”, “răn đe”… tiến tới lật đổ chế độ XHCN mà không cần chiến tranh. Do đó, phòng chống DBHB, BLLĐ là nhiệm vụ cấp bách hàng đầu trong các nhiệm vụ quốc phòng-an ninh (QP-AN) của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta hiện nay, trong đó phòng chống DBHB cho sinh viên (SV) cần được đặc biệt coi trọng.
SV các trường đại học, học sinh các trường cao đẳng là một trong những đối tượng mà CNĐQ và các thế lực thù địch tập trung thực hiện DBHB. Do đặc điểm về tuổi tác và tâm-sinh lý, SV ít từng trải, thường nhạy cảm, dễ manh động nên dễ bị kẻ địch lợi dụng làm “ngòi nổ” trong các phong trào chống đối chính quyền, thậm chí cả các cuộc bạo loạn. Thực tế các cuộc bạo loạn chính trị ở Ban Lan, Hung-ga-ri (1956), Tiệp Khắc (1968), Thiên An Môn (1989)… cho thấy việc lợi dụng phong trào SV làm “ngòi nổ” dễ gây ảnh hưởng lôi kéo các lực lượng quần chúng khác tham gia, dễ tập hợp đông SV trong một thời điểm và trên diện rộng…
ở nước ta, SV được coi là lực lượng ưu tú trong thanh niên, là lớp người trẻ tuổi, năng nổ, nhiệt tình, có trình độ nhận thức, đã trải qua quá trình học tập và rèn luyện ở các cấp học phổ thông hay lao động sản xuất. Gần đây, công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho SV đã được đẩy mạnh. Các trường đã tiến hành nghiên cứu, cải tiến nội dung chương trình giảng dạy các môn học khoa học xã hội và nhân văn, đặc biệt là chủ nghĩa Mác-Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chương trình giáo dục quốc phòng trong đó có nội dung phòng chống DBHB; tổ chức các đợt sinh hoạt chính trị trong SV, tăng cường hoạt động của các đoàn thể, cải tiến nội dung sinh hoạt ngoại khoá… Tuy nhiên, công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho SV hiện nay còn bộc lộ một số thiếu sót cần khắc phục. Nội dung, chương trình, trình độ, chất lượng, nhiệt tình của giáo viên các môn học chính trị còn có một số mặt hạn chế. Các đợt học chính trị ngoại khoá, các đợt sinh hoạt chính trị cho SV kết quả chưa cao, số SV tham gia còn ít. Nhận thức của SV về môn giáo dục quốc phòng còn chưa đầy đủ. Sống trong môi trường hoà bình, nhất là trong điều kiện kinh tế thị trường, không ít SV chỉ quan tâm đến trau dồi kiến thức, lo cho tương lai bản thân mà coi nhẹ nghĩa vụ, trách nhiệm đối với nhiệm vụ QP-AN, bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, bảo vệ nhân dân. Điều nguy hiểm hơn, đã xuất hiện hiện tượng có số ít SV “nhạt Đảng, chán Đoàn, thờ ơ chính trị”. Tuy đã có rất nhiều cố gắng trong việc nâng cao đời sống văn hoá tinh thần cho SV, song nhìn chung các trường còn gặp rất nhiều khó khăn, thiếu thốn. Công tác quản lý SV cũng bộc lộ nhiều hạn chế. Vì nhiều lý do khác nhau, trong đó có thực tế là các trường không có đủ chỗ ở nội trú nên phần lớn SV phải tự đi thuê chỗ ở tại các khu dân cư. Do đó, nhà trường không thể quản lý được số SV này về nhiều mặt, cũng như chưa làm tốt công tác phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội… Trong khi đó, CNĐQ và các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách nhằm tiếp cận, lợi dụng khai thác các điểm yếu của ta, thực hiện DBHB trong SV. ở một số trường đã xảy ra hiện tượng người nước ngoài tới ký túc xá SV để truyền đạo trái phép, hoặc tập hợp lôi kéo SV đi du lịch lồng ghép với ý đồ xấu…
Tình hình nêu trên cho thấy nhiệm vụ phòng chống DBHB, BLLĐ nói chung, đối với SV nói riêng không phải là việc làm một sớm một chiều mà là cuộc đấu tranh lâu dài, phức tạp, gay go, quyết liệt của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Để làm tốt công tác phòng chống DBHB trong SV, theo chúng tôi cần phải thực hiện tốt một số biện pháp sau:
Một là, phải phát huy vai trò lãnh đạo của các tổ chức Đảng và nâng cao vai trò, hiệu quả hoạt động của các tổ chức đoàn thể, quần chúng trong các trường đại học.
Các cấp uỷ Đảng, đặc biệt và trực tiếp là Đảng uỷ các trường đại học, cao đẳng cần xác định phòng chống DBHB trong SV là một trong những mặt công tác lớn. Từ đó đề ra các kế hoạch cụ thể phù hợp với từng thời kỳ, tuỳ theo điều kiện của từng trường. Đặc biệt cần tránh biểu hiện lệch lạc cho rằng, đây là một việc làm “xa vời”, là việc của cấp trên hay chủ quan cho rằng DBHB không có ở trường mình… Các cấp uỷ Đảng, các tổ chức đoàn thể phải nhạy bén, nắm bắt và phát hiện kịp thời tình hình và diễn biến tư tưởng trong SV; tăng cường các hoạt động có tác dụng giáo dục thiết thực đối với SV, đặc biệt cần đổi mới nội dung và hình thức sinh hoạt bảo đảm phải hấp dẫn phù hợp với tâm lý lứa tuổi, thu hút sự tham gia đông đảo của SV vào các hoạt động của Đoàn Thanh niên, Hội SV…Đặc biệt cần phát huy vai trò của lực lượng giáo viên trong hướng dẫn SV học tập, rèn luyện tu dưỡng đạo đức, tác phong, sinh hoạt lành mạnh.
Hai là,cần tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho SV.
Công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho SV phải được tiến hành thường xuyên, phải làm cho SV nhận thức rõ đường lối chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, tình hình nhiệm vụ của cách mạng nước ta trong giai đoạn mới, những cơ hội và thách thức đặt ra cho toàn Đảng, toàn dân ta trong quá trình hội nhập nền kinh tế toàn cầu, trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Đặc biệt phải giáo dục cho SV nhận thức rõ bản chất và âm mưu, thủ đoạn của CNĐQ và các thế lực thù địch trong thực hiện DBHB đối với cách mạng nước ta nói chung và lực lượng thanh niên SV nói riêng, không để SV mơ hồ, hoài nghi, mất cảnh giác. Công tác giáo dục chính trị tư tưởng phải gắn với hướng dẫn hành động cụ thể thiết thực. Giáo dục chủ nghĩa Mác-Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh phải đi đôi với giáo dục nhân sinh quan, thế giới quan giai cấp công nhân; không ngừng rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, lối sống trong sạch lành mạnh. Kết hợp hài hoà giữa xây và chống, lấy xây làm chính, xây để chống.
Ba là,xây dựng môi trường học tập, môi trường văn hoá lành mạnh, phòng chống các tệ nạn xã hội trong trường học.
Trước hết, phải làm cho SV nhận thức rõ nhiệm vụ chính trị trung tâm là học tập để đạt kết quả cao nhất, từ đó xác định cho mình tinh thần thái độ học tập nghiêm túc. Các trường phải duy trì kỷ luật học tập nghiêm túc đối với SV từ việc chấp hành giờ giấc học trên lớp, tự học tập ở nhà…; phát động phong trào xây dựng ký túc xá SV “gương mẫu”, “an toàn, văn minh”, kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm kỷ luật, đẩy lùi tệ nạn xã hội, nhất là tệ nạn ma tuý, cờ bạc làm cho SV thực sự là những chủ nhân tương lai của đất nước. Cần giáo dục cho SV ý thức tự giác, khi phát hiện các hiện tượng xấu phải kịp thời báo cáo tổ chức, kiên quyết không để các ấn phẩm văn hoá đồi trụy, các tài liệu phản động lưu truyền trong SV. Các trường cần quan tâm hơn nữa đến việc cải thiện điều kiện học tập, nâng cao đời sống tinh thần cho SV, tạo điều kiện để họ tập trung cho học tập và nghiên cứu khoa học.
Bốn là, Nhà nước cần sớm ban hành các chế độ, chính sách để sử dụng sinh viên sau tốt nghiệp.
Có thể coi đây là một yêu cầu cấp bách trong tình hình hiện nay. Trong những năm qua, khi áp dụng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ngoài những thuận lợi, chúng ta phải đối mặt với không ít thách thức, trong đó việc điều chỉnh, ban hành các chính sách không theo kịp với thực tiễn phát triển của nền kinh tế đất nước. Còn một vấn đề hết sức bức xúc là sự mất cân đối giữa đào tạo và bố trí việc làm, để lãng phí lực lượng lao động trẻ, có tri thức và sức khoẻ. Điều này có thể phát sinh tiêu cực, làm giảm lòng tin của SV vào tương lai.
 Để khắc phục tình trạng này, Nhà nước cần ban hành các chính sách khuyến khích SV lên công tác ở các tỉnh miền núi, vùng sâu vùng xa. Bộ Giáo dục-Đào tạo và các trường đại học, cao đẳng cần có các quy định và khuyến khích SV ngay trong thời gian học tập tại trường có điều kiện tham gia các hoạt động thực tiễn ở các địa phương. Qua đó, SV sẽ hiểu được thực tiễn sinh động của cuộc sống, gắn bó với đất nước, xã hội và nhân dân lao động. Cần nhân rộng mô hình SV tình nguyện về các vùng sâu, vùng xa giúp đỡ đồng bào các dân tộc…Phòng chống DBHB của CNĐQ và các  thế  lực  thù  địch là  nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của cả hệ thống chính trị, là cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc dưới hình thức mới với những biến động phức tạp của tình hình khu vực và trên thế giới.

                                                                                                                                                 BIỂN RỘNG
Bộ đội biên phòng tham gia đấu tranh phòng chống 
“diễn biến hòa bình” ở các tỉnh biên giới Tây Nguyên

         Sau chiến tranh lạnh, tình hình thế giới và khu vực có nhiều biến đổi sâu sắc, diễn biến nhanh và phức tạp. Nguy cơ xảy ra chiến tranh thế giới bị đẩy lùi, nhưng xung đột vũ trang, chiến tranh cục bộ, xung đột sắc tộc, tôn giáo, hoạt động can thiệp lật đổ, khủng bố… đang diễn ra ở nhiều nơi. “Diễn biến hoà bình” (DBHB) là một bộ phận quan trọng trong chiến lược toàn cầu phản cách mạng của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch nhằm xoá bỏ Đảng Cộng sản và các nước XHCN còn lại. Đối với Việt Nam, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch bộc lộ rõ quan điểm và mục tiêu nhất quán trong chiến lược DBHB, bạo loạn lật đổ (BLLĐ) là thực hiện xoá bỏ chế độ XHCN ở Việt Nam, buộc Việt Nam phải theo quỹ đạo của chủ nghĩa đế quốc. Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đã và đang chống phá ta toàn diện trên tất cả các lĩnh vực, mọi lúc, mọi nơi, nhất là khu vực biên giới hải đảo, trong đó có các tỉnh biên giới Tây Nguyên. Chúng lợi dụng chính sách tôn giáo, tôn trọng tín ngưỡng của Đảng và Nhà nước ta để truyền đạo trái phép tiến hành các hoạt động công khai trắng trợn, tuyên truyền tư tưởng ly khai; dùng lời lẽ mị dân, kết hợp với việc dùng vật chất để lừa phỉnh, dụ dỗ, lôi kéo một số đồng bào dân tộc (chủ yếu là thanh thiếu niên chậm tiến) theo chúng tham gia vào các hoạt động chống đối chính quyền; một số phần tử quá khích bị chúng kích động đã có những hành vi trái pháp luật như: đập phá trụ sở, phương tiện làm việc, đi lại của chính quyền, hành hung làm trọng thương một số cán bộ đang thi hành công vụ…
Nhận thức rõ chức năng là lực lượng nòng cốt, chuyên trách bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới quốc gia, Bộ đội Biên phòng (BĐBP) các tỉnh biên giới Tây Nguyên đã bám sát sự chỉ đạo của Bộ tư lệnh BĐBP, tranh thủ sự chỉ đạo của cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương và căn cứ vào tình hình diễn biến xảy ra trên thực tế để chủ động đề ra các biện pháp, các phương án bảo vệ biên giới, bảo vệ các mục tiêu quan trọng trong khu vực biên giới. BĐBP đã làm tốt công tác phối hợp, hiệp đồng với các lực lượng, các cơ quan ban, ngành trong tỉnh giải quyết “điểm nóng”, ổn định tình  hình, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội khu vực biên giới và trong toàn tỉnh, góp phần cùng với chính quyền và nhân dân địa phương từng bước làm thất bại âm mưu của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch trong thực hiện chiến  lược DBHB, BLLĐ  ở Tây Nguyên. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, hiện nay, kẻ thù đang lợi dụng các chiêu bài như dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo, vấn đề chống tham nhũng và đói nghèo để chống phá công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nước ta. Do vậy, chúng ta không được phép lơ là, mất cảnh giác, mà phải tiếp tục cuộc đấu tranh phòng chống DBHB, BLLĐ của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch giữ vững ổn định chính trị, độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia. Đây là cuộc đấu tranh lâu dài, phức tạp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, của cả hệ thống chính trị, trong đó quân đội ta nói chung và BĐBP nói riêng phải phát huy vai trò là lực lượng nòng cốt. Từ thực tiễn tham gia phòng chống DBHB, BLLĐ ở các tỉnh Tây Nguyên trong thời gian qua, theo chúng tôi BĐBP vùng Tây Nguyên cần tiếp tục phát huy, tập trung làm tốt một số nội dung sau:
Thứ nhất, làm tốt công tác tham mưu cho cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương đề ra chủ trương biện pháp đấu tranh chống hoạt động DBHB của địch.
BĐBP phải làm tốt công tác tham mưu cho cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương các tỉnh biên giới Tây Nguyên nhằm giữ vững vai trò lãnh đạo, đề ra chủ trương, biện pháp sát thực chỉ đạo đấu tranh chống chiến lược DBHB, BLLĐ của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch. Thực tiễn cho thấy trước hết cần làm chuyển biến về nhận thức, thống nhất quan điểm trong công tác đấu tranh chống DBHB của địch, tập trung nâng cao nhận thức cho cấp uỷ địa phương cơ sở, các ban, ngành, hiểu rõ âm mưu, thủ đoạn hoạt động xảo quyệt của địch đang lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, phá vỡ truyền thống văn hoá, đoàn kết các dân tộc gây mất ổn định về an ninh chính trị, phục vụ cho chiến lược lâu dài của chúng. BĐBP cần tham mưu cho lãnh đạo địa phương tăng cường quản lý về an ninh chính trị, trật tự xã hội ở cơ sở, chú trọng những địa bàn có hoạt động truyền đạo trái phép, bằng mọi biện pháp kiên quyết đấu tranh chống hoạt động truyền đạo vi phạm luân thường đạo lý, gây rối trật tự xã hội ảnh hưởng đến an ninh chính trị; có thái độ dứt khoát đối với những hành động lợi dụng tôn giáo để phá rối trị an; kiên quyết đấu tranh ngăn chặn các hoạt động của địch từ bên ngoài vào địa bàn chỉ đạo, kích động các đối tượng trong địa bàn hoạt động truyền đạo trái phép, di dịch cư tự do... giải quyết dứt điểm các tranh chấp trong nội bộ nhân dân hoặc giữa nhân dân với chính quyền thực hiện phương châm “trong ấm ngoài êm” không tạo sơ hở cho kẻ địch lợi dụng.
Thứ hai, đẩy mạnh công tác tuyên truyền góp phần giữ vững ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa bàn biên giới.
Song song với việc tiến hành các biện pháp công tác biên phòng, BĐBP các tỉnh Tây Nguyên cần chú trọng đến công tác vận động quần chúng, tập trung vào nội dung tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng trong nhân dân, làm cho nhân dân hiểu rõ bản chất, mục đích lợi dụng của địch để thực hiện ý đồ chính trị phản động, đi ngược lại lợi ích của nhân dân, chia rẽ khối đoàn kết dân tộc, vạch trần bộ mặt phản động, lừa bịp giả dối của bọn cầm đầu trước nhân dân. Đồng thời, tuyên truyền, giải thích để đồng bào các dân tộc hiểu rõ tính ưu việt của CNXH thế hiện qua chính sách của Đảng và Nhà nước đối với vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc ít người; thông báo cho đồng bào về kết qủa thực hiện các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng, y tế, giáo dục để đồng bào hiểu rõ chính sách và nỗ lực to lớn của Đảng và Nhà nước trong việc thực hiện mục tiêu: điện, đường, trường, trạm ở các xã biên giới; khơi dậy lòng tự hào, truyền thống cách mạng vẻ vang, ý thức lao động cần cù sáng tạo xây dựng quê hương đất nước của đồng bào các dân tộc. Qua đó lên án, vạch mặt và quyết tâm đấu tranh ngăn chặn mọi âm mưu, thủ đoạn của địch.
Thứ ba, kết hợp chặt chẽ, đồng bộ các biện pháp công tác biên phòng trong đấu tranh phòng chống DBHB, BLLĐ.
Mặc dù các biện pháp công tác biên phòng có vị trí vai trò khác nhau, nhưng là một thể thống nhất, là vũ khí, phương tiện của BĐBP trong đấu tranh chống DBHB, BLLĐ của địch. Việc kết hợp chặt chẽ, đồng bộ các biện pháp công tác biên phòng vừa phát huy được hiệu quả của từng biện pháp, song lại tạo được sự hỗ trợ bổ sung cho nhau nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp thực hiện nhiệm vụ, trong đó biện pháp vận động quần chúng là nền tảng, cơ bản, mang tính chiến lược để tiến hành các biện pháp khác; biện pháp trinh sát có vai trò mũi nhọn trong đấu tranh chống các hoạt động bí mật phá hoại an ninh biên giới của địch; biện pháp vũ trang là quan trọng làm áp lực, hỗ trợ các biện pháp khác; biện pháp kiểm soát biên phòng và công trình kỹ thuật cũng có vị trí rất quan trọng. Đồng thời, phải căn cứ vào tình hình cụ thể và thời gian, đối tượng mà sử dụng các biện pháp một cách thích hợp đem lại hiệu quả cao.
Thứ bốn,phối hợp với các lực lượng, ban ngành trong khu vực biên giới tham gia chống DBHB, BLLĐ.
Trên địa bàn biên giới các tỉnh Tây Nguyên có nhiều lực lượng của nhiều ngành, mỗi lực lượng, mỗi ngành có chức năng, nhiệm vụ khác nhau, nhưng đều có trách nhiệm cùng tham gia chống DBHB. Để phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng tại chỗ trong đấu tranh chống DBHB, BLLĐ của địch, BĐBP các tỉnh biên giới Tây Nguyên phải phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ với các lực lượng, ban ngành ở địa phương, trong đó  cần tập trung vào những nội dung sau:
·      Phối hợp, hiệp đồng trong nắm tình hình hoạt động của lực lượng tình báo, gián điệp, bọn phản động và bọn tội phạm xâm phạm, phá hoại khu vực biên giới, tuyên truyền đạo trái phép, kích động lôi kéo nhân dân.... nắm chắc tình hình nhân dân về đời sống, tâm tư nguyện vọng, những vướng mắc phát sinh mâu thuẫn nội bộ nhân dân với chính quyền để kịp thời có biện pháp xử lý ngăn chặn.
·      Phối hợp với ngành giáo dục làm tham mưu cho lãnh đạo địa phương về công tác xoá mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học; vận động các tổ chức, cơ quan, nhân dân các xã, bản biên giới tham gia đóng góp xây dựng củng cố trường lớp; vận động đồng bào mù chữ và con em đang tuổi đi học đến trường; sử dụng có hiệu quả kinh phí của Nhà nước cho chương trình giáo dục; góp phần nâng cao trình độ văn hoá, phát triển dân trí cho đồng báo các dân tộc vùng biên giới.
·      Phối hợp với ngành văn hoá thông tin làm tham mưu cho địa phương đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, cổ động phổ biến đường lối, chính sách của Đảng, và Nhà nước; hướng dẫn nhân dân lao động, sản xuất bảo vệ quê hương làng bản, đấu tranh chống các hoạt động phá hoại của bọn phản động, cảnh giác phòng chống chiến lược DBHB của địch.
·      Phối hợp với các tổ chức y tế địa phương chăm sóc sức khoẻ cho đồng bào các dân tộc, tuyên truyền vận động nhân dân xây dựng làng bản văn hoá mới, ăn ở vệ sinh phòng chống dịch bệnh, bảo vệ môi trường....
    Ngoài ra, BĐBP cần phối hợp với các lực lượng, ban ngành làm tham mưu cho địa phương hoặc trực tiếp tham gia thực hiện các chương trình kinh tế phát triển văn hóa-xã hội ở các xã biên giới; xây dựng làng, xã, bản biên giới vững mạnh, tạo thế và lực cho đấu tranh phòng chống (DBHB) của địch.
    Phòng chống DBHB, BLLĐ của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch là cuộc đấu tranh gay go, quyết liệt và lâu dài của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta. Là lực lượng chuyên trách, nòng cốt trong bảo vệ chính quyền, bảo vệ biên giới quốc gia và giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội ở khu vực biên giới, BĐBP phải làm tốt công tác nghiệp vụ, phối hợp với các lực lượng, ban ngành ở địa phương làm tốt công tác tuyên truyền giáo dục cho nhân dân, xây dựng cơ sở chính trị vững mạnh, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở khu vực biên giới, góp phần làm thất bại chiến lược DBHB của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch.

                                                                                                                                                 BIỂN RỘNG

Thứ Hai, 25 tháng 9, 2017

VIỆT NAM THỰC HIỆN ĐẦY ĐỦ CAM KẾT QUYỀN CON NGƯỜI

Luôn đặt người dân ở trung tâm của phát triển, trong những năm qua Việt Nam đã, đang làm hết sức mình để bảo đảm hòa bình, ổn định, phát triển bền vững, thúc đẩy quyền con người và đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Cơ chế rà soát định kỳ phổ quát (UPR) là cơ chế mới và liên chính phủ của Hội đồng Nhân quyền được thành lập và đi vào hoạt động từ năm 2008. 
Cơ chế này có nhiệm vụ rà soát tổng thể các vấn đề nhân quyền tại tất cả các nước thành viên Liên hợp quốc, bất kể lớn hay nhỏ, phát triển và đang phát triển, định kỳ 4, 5 năm một lần. Hiện nay, Việt Nam đang tích cực thực hiện các khuyến nghị Cơ chế rà soát định kỳ phổ quát chu kỳ II mà Việt Nam chấp thuận. Việt Nam thực hiện Cơ chế rà soát định kỳ phổ quát lần đầu vào tháng 5/2009, nhận được 123 khuyến nghị từ 60 nước, chấp thuận 96 khuyến nghị, 5 khuyến nghị khác đã và đang được thực hiện tại thời điểm rà soát. Phiên rà soát cơ chế định kỳ phổ quát chu kỳ II về Việt Nam diễn ra vào ngày 5/2/2014 tại Geneva, Thụy Sỹ, nhận được sự quan tâm cao với 106 nước đăng ký phát biểu. 
Kết thúc phiên đối thoại, Việt Nam nhận được 227 khuyến nghị. Các khuyến nghị tập trung vào các lĩnh vực​cải cách tư pháp, pháp luật, thúc đẩy quyền con người, trong đó có các quyền tự do ngôn luận, báo chí, tôn giáo, đảm bảo quyền của các nhóm yếu thế, đảm bảo an sinh xã hội, tạo việc làm; tăng cường hợp tác với các cơ chế nhân quyền của Liên hợp quốc. 
Hầu hết các nước phát biểu ghi nhận hoặc đánh giá cao các chính sách, nỗ lực và thành tựu của Việt Nam trong việc đảm bảo các quyền con người kể từ sau phiên rà soát lần đầu tiên năm 2009, nghiêm túc thực hiện các khuyến nghị Cơ chế rà soát định kỳ phổ quát, thực hiện các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa, đảm bảo an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo, chăm lo cho các nhóm xã hội dễ bị tổn thương như phụ nữ, trẻ em, người khuyết tật, người dân tộc thiểu số... Nhiều nước cũng đánh giá Báo cáo Cơ chế rà soát định kỳ phổ quát của Đoàn Việt Nam có chất lượng tốt, cung cấp thông tin đầy đủ, toàn diện về tình hình đảm bảo quyền con người ở Việt Nam. Đặc biệt, Việt Nam đã có cách tiếp cận tích cực, cởi mở và minh bạch trong quá trình soạn thảo Báo cáo Cơ chế rà soát định kỳ phổ quát với sự tham gia của nhiều cơ quan Chính phủ, các tổ chức chính trị, xã hội, nghề nghiệp và của người dân... Tại khóa họp lần thứ 26 của Hội đồng Nhân quyền (tháng 6/2014), Việt Nam đã chính thức công bố việc chấp thuận 182/227 khuyến nghị, chiếm hơn 80% tổng số khuyến nghị nhận được. 
Các khuyến nghị tập trung vào 7 lĩnh vực​cải cách hệ thống pháp luật về quyền con người; tiếp tục tăng cường và bảo vệ các quyền con người trên các lĩnh vực kinh tế​-xã hội, văn hóa, dân sự, chính trị; đảm bảo quyền của các nhóm dễ bị tổn thương; giáo dục về quyền con người; tiếp tục gia nhập các chuẩn mực quốc tế về quyền con người; thực hiện nghĩa vụ quốc tế về quyền con người; hợp tác quốc tế về quyền con người. 
Đồng thời Việt Nam giải thích rõ các khuyến nghị không chấp thuận (gồm 45 khuyến nghị) là do đề cập đến các lĩnh vực chưa phù hợp với tình hình thực tiễn, đặc thù và pháp luật của Việt Nam hoặc chưa có đồng thuận quốc tế như tạm ngừng hoặc hủy bỏ án tử hình; sửa đổi một số điều luật cụ thể của Bộ luật Hình sự, tham gia ngay một số điều ước quốc tế... 
Mặc dù không chấp nhận nhưng Việt Nam sẽ cân nhắc các khuyến nghị này để có thể thực hiện khi điều kiện thực tế cho phép. 
Đánh giá cao sự phối hợp của Việt Nam với những cơ quan thực hiện cơ chế nhân quyền Liên hợp quốc trong việc triển khai Cơ chế rà soát định kỳ phổ quát, ông Kamal Malhotra, Điều phối viên Thường trú Liên hợp quốc tại Việt Nam, Trưởng Đại diện Chương trình Phát triển Liên hợp quốc tại Việt Nam cho rằng, tiến trình triển khai Cơ chế rà soát định kỳ phổ quát cần đảm bảo tính độc lập quốc gia, giúp công tác báo cáo kịp thời, triển khai các khuyến nghị được hiệu quả, nâng cao chất lượng tương tác, tính bổ trợ của tiến trình Cơ chế rà soát định kỳ phổ quát. 
Thiết lập hệ thống giám sát Cơ chế rà soát định kỳ phổ quát hiệu quả là rất quan trọng. Việc thiếu những kỳ hạn rõ ràng, không có chỉ số cụ thể thì việc giám sát chương trình hành động Cơ chế rà soát định kỳ phổ quát đặt ra thách thức trong việc theo dõi biến chuyển và tiến độ của việc thực hiện. 
Ngay sau khi nghiên cứu các khuyến nghị đã được chấp thuận, Việt Nam đã phân công các bộ, ngành triển khai thực hiện. Tại Quyết định số 2057/QĐ-TTg ngày 23/11/2015, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch tổng thể triển khai các khuyến nghị Cơ chế rà soát định kỳ phổ quát chu kỳ II, đảm bảo phối hợp liên ngành. 
Bộ Ngoại giao là cơ quan chủ trì, đôn đốc việc triển khai thực hiện Kế hoạch này, tổng hợp báo cáo Thủ tướng Chính phủ. Kế hoạch hành động thực hiện các khuyến nghị Cơ chế rà soát định kỳ phổ quát hướng đến chu kỳ III, dự kiến sẽ diễn ra vào tháng 1/2019. 
Cho biết việc thực hiện các khuyến nghị Cơ chế rà soát định kỳ phổ quát chu kỳ II, bà Hoàng Thị Thanh Nga, Phó Vụ trưởng Vụ Tổ chức quốc tế (Bộ Ngoại giao) nhấn mạnh, sau hai năm tính từ tháng 6/2014 đến hết ngày 31/12/2016, có 147 khuyến nghị đã được triển khai thực hiện và có 4 khuyến nghị được thực hiện một phần, trong tổng số 182 khuyến nghị Việt Nam đã chấp thuận, đạt 80,7%. Về cải cách hệ thống pháp luật về quyền con người, từ năm 2014-2016, hàng chục văn bản luật quan trọng liên quan đến quyền con người, quyền công dân đã được thông qua nhằm cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013, phù hợp với các công ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. 
Trong hệ thống luật pháp, đã sửa đổi Luật Đầu tư, Luật Công ty, các quy định pháp luật về xuất cảnh, quốc tịch, nhận con nuôi theo tinh thần cởi mở, thông thoáng; ban hành Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo, Luật Báo chí, Luật Xuất bản... Do vậy, trên thực tế, các quyền dân sự, chính trị của người dân, bao hàm các quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, quyền tự do đi lại, quyền tham gia đời sống chính trị, quyền của người dân tộc thiểu số, của nhóm yếu thế trong xã hội... được nhận thức, tôn trọng và được bảo đảm tốt hơn. 
Về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa, dân sự, chính trị, 7/7 khuyến nghị về việc bảo vệ và thúc đẩy các quyền con người nói chung; 29/32 khuyến nghị về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa; 26/36 khuyến nghị về quyền dân sự, chính trị đã được triển khai thực hiện. Thu nhập bình quân đầu người tăng từ 1.900 USD năm 2013 lên 2.215 USD năm 2016. Số người được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng và cấp thẻ bảo hiểm y tế tăng 25,05% ở xã đạt chuẩn nông thôn mới. 
Công tác an sinh xã hội, phúc lợi xã hội được quan tâm cao, kịp thời thực hiện chính sách hỗ trợ, giải quyết các khó khăn cho người dân tại các vùng bị thiên tai, hạn hán, xâm nhập mặn, đẩy mạnh triển khai Chiến lược quốc gia về phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai đến năm 2020. 
Các tổ chức xã hội và người dân ngày càng tham gia nhiều hơn vào quá trình kiểm tra, giám sát việc thực thi luật pháp, chính sách của Nhà nước. Người dân được tạo điều kiện tiếp cận và sử dụng Internet để thực hiện quyền tự do ngôn luận. Hiện có khoảng 50 triệu người sử dụng Internet tại Việt Nam, chiếm 52% dân số. Các tổ chức tôn giáo ngày càng được tạo điều kiện thuận lợi để hoạt động. 
Về quyền của các nhóm dễ bị tổn thương, 34/35 khuyến nghị đã được thực hiện. Việt Nam đã thực hiện nhiều chương trình quốc gia đạt kết quả cao: Chương trình hành động quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2016-2020; Chương trình hành động quốc gia về người cao tuổi giai đoạn 2012-2020; Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em 2012-2020; Chính sách đặc thù hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2016-2020. Việt Nam thực hiện đầy đủ, kịp thời chế độ, chính sách đã ban hành cho đối tượng bảo trợ xã hội, đặc biệt là các nhóm dễ bị tổn thương. 
Trong lĩnh vực giáo dục về quyền con người, đã thực hiện 9/12 khuyến nghị. Tại Việt Nam, nhận thức của người dân, đặc biệt là giới trẻ về quyền con người được nâng cao. Các bộ, ban, ngành tích cực triển khai các chương trình, kế hoạch tuyên truyền về quyền con người, đặc biệt là phổ biến, đào tạo về Tuyên ngôn Nhân quyền quốc tế và các văn kiện nhân quyền quốc tế; nỗ lực và chính sách của Việt Nam trong bảo đảm quyền con người. Hiện Việt Nam đã thực hiện 10/19 khuyến nghị liên quan đến gia nhập các Công ước quốc tế về quyền con người; 2 khuyến nghị được thực hiện một phần. Việt Nam chính thức là thành viên của 7/9 Công ước chủ chốt của Liên hợp quốc về quyền con người. 

Ngày 28/11/2014, Quốc hội Việt Nam phê chuẩn việc tham gia Công ước Chống tra tấn (CAT) và Công ước về quyền của người khuyết tật (CRPD). Việt Nam tích cực thực hiện các nghĩa vụ, cam kết quốc tế về quyền con người như đảm nhiệm thành công vai trò thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2014-2016; đang đảm nhận tốt vai trò thành viên Hội đồng Kinh tế - Xã hội Liên hợp quốc (ECOSOC) nhiệm kỳ 2016-2018, Hội đồng Chấp hành Tổ chức Giáo dục, Văn hóa và Khoa học của Liên hợp quốc (UNESCO) nhiệm kỳ 2015-2019; tham gia tích cực, có trách nhiệm tại Ủy ban liên chính phủ ASEAN về quyền con người (AICHR)... Qua việc thực hiện Cơ chế rà soát định kỳ phổ quát chu kỳ II, Việt Nam đã đề cao vị thế, hình ảnh một nước Việt Nam đổi mới, sẵn sàng đối thoại và đóng góp tích cực về mọi vấn đề quyền con người mà quốc tế quan tâm. Có được điều đó là nhờ chính sách nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam về quyền con người và những thành tựu của Việt Nam trong công cuộc Đổi mới toàn diện đã tạo điều kiện nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền con người tại Việt Nam./. 
SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG - NHÂN TỐ QUYẾT ĐỊNH THẮNG LỢI CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM
Ngày 3/2/1930 Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời; năm 1945 Đảng lãnh đạo khởi nghĩa giành chính quyền Cách mạng Tháng Tám 1945. Cách mạng Tháng Tám dẫn đến sự ra đời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Nhà nước công nông đầu tiên ở Châu Á. Đó là sự kiện quan trọng bậc nhất trong lịch sử đấu tranh cách mạng của dân tộc ta. Đó cũng là thắng lợi đầu tiên của chủ nghĩa Mác-Lênin ở một nước thuộc địa, nửa phong kiến, thắng lợi của tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc điển hình của thế kỷ XX. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: Do sự lãnh đạo sáng suốt và kiên quyết của Đảng, do sức đoàn kết và hăng hái của toàn dân trong và ngoài mặt trận Việt Minh, cuộc Cách mạng Tháng Tám đã thắng lợi. Người nhấn mạnh: Chẳng những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng: lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, nắm chính quyền toàn quốc.
Năm 1945-1946, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo toàn dân vượt qua những khó khăn, thách thức nặng nề, chống thù trong, giặc ngoài, vừa kháng chiến vừa kiến quốc. Tháng 12-1946, trước dã tâm xâm lược nước ta một lần nữa của thực dân Pháp, Đảng và Chủ tịch Hồ Chi Minh đã phát động toàn quốc kháng chiến với quyết tâm: Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ. Với đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ kháng chiến; vừa kiến quốc vừa kháng chiến dựa vào sức mình là chính, đồng thời tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ của bạn bè quốc tế, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta lần lượt đánh bại các kế hoạch chiến tranh của thực dân Pháp mà đỉnh cao là chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu ngày 7-5-1954. Thắng lợi của chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ và việc ký kết Hiệp định Giơnevơ năm 1954 đã chấm dứt sự thống trị của thực dân Pháp ở nước ta, mở đầu sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ trên thế giới, giải phóng hoàn toàn miền Bắc, đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội, làm hậu phương vững chắc cho cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Những năm 1954 đến 1975, Đảng ta lãnh đạo nhân dân ta tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng: Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc. Đây là đặc điểm mang tính đặc thù của cách mạng Việt Nam, cùng với mục tiêu độc lập dân tộc, mục tiêu xã hội chủ nghĩa được đặt ra trực tiếp.
Đế quốc Mỹ phá hoại hiệp định Gơnevơ, hất chân thực dân Pháp, độc chiếm miền Nam, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của chúng. Dân tộc ta lại phải đương đầu với chủ nghĩa thực dân mới của đế quốc Mỹ. Đảng ta đã lãnh đạo toàn dân nêu cao quyết tâm đánh Mỹ, bảo vệ nền độc lập dân tộc và thống nhất Tổ quốc, thực hiện đường lối chiến tranh nhân dân được nâng lên tầm cao khoa học và nghệ thuật. Đương đầu với một đế quốc hùng mạnh bậc nhất thế giới, chúng ta chủ trương đánh lâu dài; kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang và hoạt động binh vận; kết hợp tiến công và nổi dậy, tiến hành đấu tranh trên cả ba vùng (đồng bằng, thành thị và miền núi); kết hợp mặt trận quân sự, chính trị với mặt trận ngoại giao; phát huy cao độ chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng; phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và sức mạnh thời đại, quyết tâm giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta lần lượt đánh bại các chiến lược chiến tranh tàn bạo của đế quốc Mỹ, giành nhiều thắng lợi vẻ vang mà đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử năm 1975, kết thúc 30 năm chiến tranh giải phóng dân tộc, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Thắng lợi của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước là một trong những trang chói lọi nhất của lịch sử dân tộc và là một sự kiện có tầm quốc tế và có tính chất thời đại sâu sắc.
Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội trên miền Bắc đã thu được những thành tựu quan trọng. Vừa sản xuất, vừa chiến đấu và chi viện sức người, sức của cho tiền tuyến, miền Bắc đã nhanh chóng khôi phục và phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo đảm quốc phòng an ninh, đánh thắng hai cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ; xây dựng hậu phương vững mạnh, trở thành căn cứ địa cách mạng của cả nước, bảo đảm mọi mặt cho tiền tuyến đánh thắng; mở rộng quan hệ đối ngoại, tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ của bè bạn trên thế giới; tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc đấu tranh chống Mỹ cứu nước; tạo những cơ sở vật chất và những kinh nghiệm quý báu trong sự vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam sau này.
Miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội với hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Sau chiến tranh, đất nước ta gặp muôn vàn khó khăn. Đảng đã lãnh đạo nhân dân vừa ra sức khôi phục kinh tế vừa tiến hành hai cuộc chiến tranh chống xâm lược biên giới phía Bắc và Tây Nam, bảo vệ độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia.
Đảng đã tập trung lãnh đạo xây dựng cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội, từng bước hình thành cơ cấu kinh tế mới trong cả nước, cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân lao động. Tuy nhiên, trước yêu cầu và nhiệm vụ cách mạng trong thời kỳ mới, việc duy trì lâu dài mô hình, cơ chế tập trung bao cấp không còn phù hợp và đã bộc lộ những hạn chế, nhược điểm. Trong việc hoạch định và thực hiện đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa, có lúc, có nơi đã mắc sai lầm khuyết điểm chủ quan, duy ý chí. Đó cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự trì trệ, khủng hoảng kinh tế - xã hội trong những năm đầu cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Trước những thách thức của thời kỳ mới, Đại hội VI của Đảng (tháng 12-1986) đã đưa ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước, mở ra bước ngoặt quan trọng trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Trước bối cảnh mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới tạm thời lâm vào thoái trào, Đại hội VII của Đảng (tháng 6-1991) khẳng định tiếp tục đổi mới đồng bộ, triệt để trên các lĩnh vực với những bước đi, cách làm phù hợp và giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa. Đại hội đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, xác định những quan điểm và phương hướng phát triển đất nước, khẳng định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng.
Từ đó đến nay, Đảng ta tiếp tục phát triển tư duy lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Hệ thống quan điểm lý luận về công cuộc đổi mới, về chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, về xây dựng và chỉnh đốn Đảng trong tình hình mới được bổ sung và phát triển ngày càng hoàn thiện.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, hơn 30 năm đổi mới, đất nước ta đã giành được những thắng lợi to lớn và có ý nghĩa lịch sử. Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tiếp tục phát triển. Đất nước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội (1996); vượt qua khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực (1997-1998); khắc phục có hiệu quả ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu hiện nay; thực hiện các Kết luận của Bộ Chính trị, nghị quyết của Quốc hội và Chính phủ, bước đầu thực hiện được mục tiêu: kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội, duy trì tăng trưởng ở mức hợp lý; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế. Đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ rệt. Hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố và tăng cường. Chính trị, xã hội ổn định, an ninh, quốc phòng được giữ vững. Vai trò và vị thế của nước ta trên trường quốc tế ngày càng nâng cao.
Thực tiễn hơn 87 năm qua đã khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Suốt 87 năm qua, phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, Đảng đã lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi hết thắng lợi này đến thắng lợi khác. Tự hào về Đảng quang vinh, về Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, mỗi cán bộ, đảng viên và mỗi người dân Việt Nam ở trong nước và nước ngoài càng thấy rõ hơn trách nhiệm của mình, nguyện một lòng theo Đảng, xây dựng Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh, tiếp tục lãnh đạo nhân dân ta đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế, thực hiện thắng lợi mục tiêu: "Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh", vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội

 CHÂN LÝ
NHÀ NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
LUÔN TÔN TRỌNG QUYỀN CỦA CÔNG DÂN
Hiện nay Việt Nam đã trở thành thành viên của Liên hợp quốc và là thành viên của hầu hết các công ước quốc tế về quyền con người. Việt Nam đã thể hiện là một thành viên có trách nhiệm của công đồng quốc tế. Tất nhiên điều này không ràng buộc Nhà nước ta có quyền dựa trên pháp luật quốc gia để xử lý, giải quyết những vấn đề quyền con người của mình. Một trong những thủ đoạn mà các thế lực thù địch thường sử dụng để xuyên tạc vu cáo Nhà nước ta vi phạm quyền công dân và quyền con người là tuyệt đối hóa quyền mà bỏ qua nghĩa vụ. Theo quan niệm chung của cộng đồng quốc tế, quyền con người có những quyền được xem là “tuyệt đối” (được bảo đảm trong mọi hoàn cảnh) và có những quyền là “quyền bị hạn chế” (bởi lợi ích của cộng đồng…).
Nhà nước Việt Nam có quyền đưa ra và áp dụng những hạn chế nào đó (theo quy định của pháp luật) đối với một số quyền con người là phù hợp với thẩm quyền của quốc gia theo quy định của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế về quyền con người. Một số kẻ lợi dụng quyền con người thường tuyên truyền rằng pháp luật Việt Nam chỉ bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhà nước, không bảo vệ quyền công dân, quyền con người. Quan điểm của Đảng, Nhà nước ta là: Hiến pháp và pháp luật Việt Nam đồng thời vừa bảo vệ Chế độ xã hội, bảo vệ Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam vừa bảo vệ quyền công dân và quyền con người. Hiến pháp 1992, quy định tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền công dân, đồng thời cũng quy định công dân có nghĩa vụ tôn trọng pháp luật…
       Bộ Luật Hình sự 1999 có những quy định nhằm bảo vệ chế độ xã hội, thể chế quốc gia liên quan đến quyền con người là điều bình thường. Chính sách hình sự của Nhà nước ta một mặt trừng phạt tội phạm, mặt khác, quan trọng hơn đó là nhằm bảo đảm ổn định xã hội, bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ các quyền tự do dân chủ của công dân; Pháp luật của Nhà nước ta thể hiện tinh thần chủ động phòng ngừa. Pháp luật Việt Nam không có khái niệm “tù nhân lương tâm,” không có khái niệm người “bất đồng chính kiến.” Khái niệm tội phạm trong Bộ Luật Hình sự 1999, không loại trừ hành động “ôn hòa,” “bất bạo động,” mà là các hành vi làm tổn hại đến lợi ích của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là xâm phạm các quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức.
Thực tiễn cách mạng Việt Nam chứng minh rằng, Đảng, Nhà nước ta luôn luôn lấy độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia và tự do hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu đấu tranh. Không ai có thể phủ nhận được rằng, Cách mạng tháng Tám 1945 lần đầu tiên đã đem lại quyền công dân, quyền con người cho nhân dân ta. 
Các cuộc kháng chiến với nhiều hy sinh, gian khổ là do Chủ nghĩa đế quốc gây ra và chính là nhằm bảo vệ Tổ quốc và cũng là bảo vệ quyền công dân và quyền con người của nhân dân Việt Nam. Sự hy sinh trong chiến tranh là điều không thể tránh khỏi. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Không có gì quý hơn độc lập tự do.” Sự nghiệp đổi mới, hội nhập quốc tế về mọi mặt, trong đó có hội nhập về chính trị là do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo. Trên lĩnh vực quyền con người, Việt Nam đã sớm gia nhập, ký kết các công ước quốc tế về quyền con người. Cho đến nay Việt Nam đã tham gia hầu hết công ước quốc tế về quyền con người đồng thời Việt Nam đã nội luật hóa các công ước này vào hệ thống pháp luật quốc gia.
Mặc dù nước ta còn nhiều khó khăn, lại trải qua các cuộc chiến tranh lâu dài tàn khốc, cho đến nay vẫn còn hậu quả rất nặng nề song có thể nói các quyền con người, quyền công dân của nhân dân ta đã được bảo đảm ngày càng tốt hơn.
Trong điều kiện của một quốc gia còn nghèo, Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm bảo đảm quyền kinh tế xã hội và văn hóa cho mọi người nói chung, cho nhóm người nghèo, những nhóm xã hội dễ bị tổn thương, như phụ nữ, trẻ em, đồng bào các dân tộc thiểu số nói riêng.
Theo Báo cáo của Hội đồng Dân tộc của Quốc hội, thực hiện Chương trình 135 giai đoạn 2 (2006-2010), ngân sách Trung ương đầu tư lên tới 15.000 tỷ đồng, trong đó, các tổ chức quốc tế hỗ trợ 350 triệu đôla Mỹ; xây dựng được gần 13.000 công trình hạ tầng thiết yếu như điện, đường, trường, trạm ở các vùng đồng bào dân tộc thiểu số. 
Thực hiện Nghị quyết 30a của Chính phủ về giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 62 huyện nghèo trong cả nước, Chính phủ đã triển khai nhiều biện pháp cụ thể, thiết thực: đến hết năm 2010, các huyện đã cơ bản hoàn thành việc xóa nhà tạm, với 73.418 căn nhà (đạt 94,58% kế hoạch). Hiện nay, chương trình nhà ở xã hội của Chính phủ đang được triển khai tích cực ở nhiều địa phương, nhằm trợ giúp cho công nhân, người thu nhập thấp và sinh viên.
Theo thông tin của Bộ Kế hoạch và Đầu tư tại Hội thảo “Tham vấn về khung phát triển sau năm 2015” do UNDP và Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổ chức tại Hà Nội, 20/3/2013, Việt Nam đã về sớm 3 Mục tiêu thiên niên kỷ của Liên hợp quốc (MDG). Đó là: Xóa bỏ tình trạng nghèo cùng cực và thiếu đói (MDG1); Hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở (MDG2); Bình đẳng giới (MDG3). Tại hội nghị này, đại diện Liên hợp quốc đã đánh giá Việt Nam là một trong số 40 quốc gia có nhiều cố gắng thực hiện Mục tiêu thiên niên kỷ.
Đối với việc bảo đảm các quyền dân sự, chính trị có thể nói nhóm quyền này luôn luôn được Đảng và Nhà nước ta tôn trọng và thực hiện nghiêm túc. Trừ giai đoạn có chiến tranh, cho đến nay quyền bầu cử, ứng cử tự do, chế độ nhiệm kỳ của Quốc hội và những chức danh quan trọng của Nhà nước được thực hiện một cách nghiêm túc. Quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí và thông tin, được xem là nhóm quyền cơ bản và nhạy cảm cũng đã đạt được những thành quả to lớn. Ngoài Luật Báo chí, khẳng định quyền tự do ngôn luận của người dân, Nhà nước đã ban hành quy định: Các cơ quan của Chính phủ có trách nhiệm định kỳ và khi cần, cung cấp thông tin kịp thời cho báo chí.
Các cơ quan truyền thông của Việt Nam phát triển nhanh chóng và phát huy tốt vai trò truyền tải thông tin về mọi mặt đời sống xã hội đến nhân dân, phát hiện, phê phán những mặt tiêu cực trong đời sống xã hội. Đến nay, cả nước có hơn 700 cơ quan báo chí với hơn 850 ấn phẩm; 68 đài phát thanh, truyền hình Trung ương và địa phương, hơn 80 báo điện tử, hàng nghìn trang tin điện tử và blog… 
Người dân Việt Nam ngày nay, từ đô thị đến vùng sâu, vùng xã còn được tiếp cận với nhiều hãng thông tấn, báo chí, các kênh truyền hình nước ngoài như ReutersBBCVOAAPAFPCNN,… và được sử dụng các trang mạng như Yahoo, Google, Facebook… Hội Nhà báo Việt Nam có hơn 17.000 thành viên. Tốc độ phát triển internet ở Việt Nam được xếp hạng nhanh nhất khu vực Đông Nam Á. Theo nhiều khách quốc tế đến Việt Nam thì giá cước internet ở Việt Nam vào loại rẻ nhất thế giới. Đây là một điều kiện bảo đảm quyền tự do thông tin không dễ gì có được đối với một nước nghèo.
Không phủ nhận rằng trong một số giai đoạn cách mạng, Đảng ta đã có những sai lầm khuyết điểm, nhất là do mắc bệnh giáo điều trong việc học hỏi kinh nghiệm nước ngoài. Chẳng hạn như trong cải cách ruộng đất (1954-1956); trong “cải tạo tư sản” ở miền Nam sau ngày giải phóng; trong một số chính sách xây dựng chủ nghĩa xã hội, theo mô hình cũ (Đại hội VI, 1986 đã tự phê bình). 
Cũng không phủ nhận rằng trong nhiều nhiệm kỳ qua, trong hệ thống chính trị của Nhà nước ta đã xuất hiện tình trạng suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống của một số cán bộ Đảng, Nhà nước các cấp, cũng như tình trạng “lợi ích nhóm;” sự phân hóa giàu nghèo trong xã hội và nhiều tiêu cực khác. Tình trạng này đã làm tổn hại đến việc bảo đảm quyền công dân và quyền con người của nhân dân ta. Tuy nhiên không vì vậy mà phủ nhận được mục tiêu, lý tưởng của Đảng ta, không thể phủ nhận được những thành tựu về quyền con người của Cách mạng Việt Nam trên một nửa thế kỷ qua.
Tôn trọng và bảo đảm quyền con người là thước đo của sự tiến bộ xã hội. Bảo vệ chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa, bảo vệ Nhà nước ta là điều kiện để chúng ta vươn lên vượt qua mọi khó khăn thử thách đưa sự nghiệp cách mạng của nhân dân dân ta tiến đến mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh./.
CHÂN 


Thứ Sáu, 22 tháng 9, 2017

ĐẤU TRANH CHÔNG QUAN ĐIỂM SAI TRÁI LỢI DỤNG INTERNET CHÔNG VIỆT NAM
Hiện nay mạng Internet ở Việt Nam được phổ cập và phát triển tương đối rộng rãi. Sự phát triển của Internet góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Tuy nhiên, bên cạnh những tiện ích của Internet mang lại thì mặt trái của nó là không hề nhỏ; đặc biệt là các thế lực thù địch đã triệt để tận dụng mạng Internet để thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình” (DBHB) chống phá cách mạng Việt Nam. Vì vậy, từng cán bộ, đảng viên và quần chúng phải nhận thức đúng âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, từ đó tích cực đấu tranh làm thất bại chiến lược DBHB trên mạng Internet là rất cần thiết.
Thực tế những năm vừa qua cho thấy, các thế lực thù địch đã tập dượt cho âm mưu ý đồ của chúng bằng nhiều thủ đoạn kinh tế, chính trị, văn hóa, tư tưởng khác nhau như: thâm nhập vào các tổ chức Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh và Hội sinh viên nhằm phá vỡ các tổ chức này; đưa các ấn phẩm văn hóa đồi trụy, phản động vào cuộc sống của giới trẻ; lợi dụng tín ngưỡng, mê tín dị đoan trong giới trẻ để thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình”; thông qua các chương trình học bổng, thông qua các cuộc hội thảo khoa học, những hứa hẹn tài trợ giúp đỡ về tài chính, tài trợ học bổng, tổ chức các hoạt động từ thiện, nhân đạo để tiếp cận, tác động, tuyên truyền, lôi kéo; chúng bịa đặt, đưa nhiều thông tin sai lệch, lấp lửng, giật gân và tạo ra các diễn đàn để nhiều người trẻ truy cập và mời chào tham luận; chúng khoét sâu vào những vụ việc tham nhũng, tiêu cực trong xã hội được báo chí trong nước đăng tải và hướng luồng dư luận vào những vụ việc này để kích động lớp trẻ tỏ thái độ bất mãn với cái mà chúng gọi là “thảm trạng của đất nước”; lợi dụng các cuộc biểu tình phản đối Trung Quốc, vấn đề cá chết ở 4 tỉnh miền trung để ”luận điệu” ”xuyên tạc”, bóp méo sự thật. Mà tiêu biểu là tổ chức phản động lưu vong Việt Tân thời gian qua đã tăng cường phát triển cơ sở, tăng cường hoạt động tác động, chuyển hóa, lôi kéo, tập hợp lực lượng vào các hoạt động chống phá; lợi dụng các phương tiện công nghệ thông tin, truyền thông nhất là các trang mạng Internet để xâm nhập, móc nối, tác động với mục đích làm “chuyển hóa” nội bộ, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong suy nghĩ và tư tưởng của nhân dân.
Như vậy, đứng trước những âm mưu thủ đoạn hết sức tinh vi và thâm độc của chiến lược “Diễn biến hòa bình” cán bộ, đảng viên và quần chúng trong mọi giai đoạn khác nhau của lịch sử dân tộc luôn khẳng định vai trò và trách nhiệm của mình đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Cán bộ, đảng viên và quần chúng đã và đang tiến hành cuộc đấu tranh chống sự phá hoại của các thế lực thù địch trên nhiều phương diện khác nhau.
Xuất phát từ tính chất ngày càng tinh vi của chiến lược “diễn biến hòa bình” mà các thế lực thù địch đang ráo riết thực hiện ở Việt Nam, đặc biệt là chiến lược ấy đang ngày càng tăng cường hoạt động hướng mục tiêu vào thanh niên, đồng thời xuất phát từ vai trò, nhiệm vụ của thanh niên đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Những năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của CNTT, Internet ngày càng phổ biến ở Việt Nam và người ta có thể chủ động hay bị động tiếp cận với vô vàn thông tin của các thế lực thù địch. Bất cứ ai sử dụng Intenet đều có thể tiếp cận dễ dàng tới các lập luận của lực lượng phản động về các vấn đề tự do, dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam, về uy tín của lãnh tụ, chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam. Theo số liệu mới được công bố bởi Tổ chức thống kê số liệu Internet quốc tế (internetworldstats), tính đến hết tháng 6/2015, Việt Nam đã có 45,5 triệu người dùng Internet, đạt mức thâm nhập/dân số là 48%. Số lượng người dùng nói trên bao gồm người truy cập Internet ở tất cả các phương tiện hỗ trợ (PC, laptop, điện thoại…).Với con số này, Việt Nam đang được xếp thứ 6 trong khu vực châu Á về số lượng người dùng, sau Trung Quốc (674 triệu), Ấn Độ (354 triệu), Nhật Bản (114,9 triệu), Indonesia (73 triệu), Philippines (47,1 triệu) và đứng thứ 17/20 quốc gia có lượng người dùng Internet nhiều nhất thế giới.
Với tốc độ phát triển nhanh về số lượng người sử dụng Internet ở Việt Nam, rõ ràng đây là một phương tiện hiệu quả để các thế lực phản động ra sức sử dụng Internet truyền bá các quan điểm phản cách mạng với mục tiêu làm mất lòng tin của một bộ phận cán bộ, đảng viên và quần chúng vào lý tưởng cộng sản, vào tư tưởng Hồ Chí Minh và sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây là một thủ đoạn lật đổ chế độ XHCN bằng chiến lược “Diễn biến hoà bình” hết sức tinh vi, nhưng lại rất công khai.
Các thế lực thù địch sử dựng Internet làm phương tiện tuyên truyền thông qua các hình thức: Sử dụng các Website, dịch vụ thư điện tử (email), trang mạng xã hội (facebook), Zalo các dịch vụ hội thoại (chat), điện thoại (VoIP), diễn đàn (forum), Twitter, Youtube, MySpace Thông qua đó chúng tích cực lôi kéo, tuyên truyền bôi nhọ lãnh tụ của Đảng Cộng sản Việt Nam, gây mất đoàn kết trong nội bộ Đảng, đả phá học thuyết Mác – Lênin, tưởng Hồ Chí Minh, ủng hộ, cổ vũ cho các thế lực quá khích, phản động trong nước.
Internet là một sản phẩm văn minh của công nghệ thông tin, có nhiều tiện ích to lớn trong đời sống hiện đại. Thế nhưng nếu chủ quan, đơn giản, nhiều người sẽ bị “lạc lối” trên mạng xã hội, thậm chí nguy hiểm hơn là vô hình trung gián tiếp tán phát những thông tin xấu độc, hoặc rò rỉ thông tin bí mật Nhà nước, gây hại cho cộng đồng; thậm chí tiếp tay cho các đối tượng chống phá Đảng, Nhà nước…Nghị định số 72/2013/NĐ-CP ngày 15-7-2013 của Chính phủ và Thông tư số 09/2014/BTTTT ngày 19-8-2014 của Bộ Thông tin và Truyền thông đã có nhiều quy định chi tiết về hoạt động quản lý, cung cấp, sử dụng thông tin trên trang thông tin điện tử và mạng xã hội. Trong đó có nhiều hành vi bị nghiêm cấm trong sử dụng mạng xã hội như: Lợi dụng việc cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng nhằm mục đích chống lại Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; gây phương hại đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội; phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc; tuyên truyền chiến tranh, khủng bố; gây hận thù, mâu thuẫn giữa các dân tộc, sắc tộc, tôn giáo; tuyên truyền, kích động bạo lực, dâm ô, đồi trụy, tội ác, tệ nạn xã hội, mê tín dị đoan, phá hoại thuần phong, mỹ tục của dân tộc; đưa thông tin xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự và nhân phẩm của cá nhân; truyền bá tác phẩm báo chí, văn học, nghệ thuật, xuất bản phẩm bị cấm; giả mạo tổ chức, cá nhân và tán phát thông tin giả mạo, thông tin sai sự thật xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân… Còn không ít người dùng mạng xã hội chưa nắm vững các quy định này nên đã có sai phạm. Đây là vấn đề cần khắc phục trong thời gian tới.
Lợi dụng trang mạng xã hội để thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch nhằm chống phá cách mạng nước ta, với những âm mưu, thủ đoạn và cách thức không có gì mới, nhưng thủ đoạn ngày càng tinh vi. Do đó, sử dụng mạng xã hội thế nào cho đúng cách, không bị các thế lực thù địch lợi dụng, đòi hỏi mỗi người phải luôn tỉnh táo, nâng cao ý thức trách nhiệm trong việc sử dụng internet nói chung, các trang mạng xã hội nói riêng.
Với khả năng trao đổi thông tin đa dạng và sự tham gia cung cấp, trao đổi thông tin của hàng triệu người, trên thực tế khó có thể ngăn cản thông tin từ trong nước ra nước ngoài thông qua Internet. Chúng ta đã sử dụng đến giải pháp bức tường lửa để ngăn chặn thông tin phản động từ nước ngoài, nhưng trên thực tế chúng đã xây dựng rất nhiều website khác nhau làm cho chúng ta không thể kiểm soát, ngăn chặn được hoàn toàn những thông tin phản động đó. Vì vậy, để làm tốt việc đấu tranh phòng chống các quan điểm sai trái và thù địch trên Internet cho cán bộ, đảng viên và quân chúng cần làm tốt các nội dung sau:
Một là, tổ chức tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và quân chúng nhân dân về nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống các quan điểm sai trái, thù địch trên Internet.
Các cấp ủy, tổ chức Đảng phải lãnh đạo, chỉ đạo tiếp tục quán triệt và thực hiện tốt 3 quan điểm, 10 nhiệm vụ, giải pháp đã được xác định trong Chỉ thị 34 của Ban Bí thư Trung ương (Khóa X) gắn với yêu cầu nhiệm vụ đấu tranh chống “DBHB” trong tình hình mới; tổ chức tốt học tập các chuyên đề, tài liệu về đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch trên Internet. Trong tuyên truyền, giáo dục cần tập trung làm rõ âm mưu, thủ đoạn mới của các thế lực thù địch trên Internet; những vấn đề, sự kiện mà chúng lợi dụng xuyên tạc, mức độ nguy hại, ảnh hưởng của các thông tin sai trái, thù địch đó đối với cán bộ, đảng viên và quần chúng. Tăng cường công tác bảo vệ nội bộ, không để xảy ra hiện tượng cán bộ, đảng viên và quần chúng bị kẻ địch lôi kéo, móc nối; kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn những quan điểm, tư tưởng sai trái thẩm lậu vào đơn vị. Thực hiện nghiêm túc các quy chế, quy định về quản lý tài liệu, không để các ấn phẩm văn hóa độc hại, tài liệu phản động lọt vào đơn vị, trang bị phương pháp tiếp cận thông tin trên mạng Internet một cách khoa học và đúng đắn.
Hai là, đẩy mạnh hoạt động đấu tranh trực diện của các cơ quan báo chí, phát thanh, truyền hình.
Báo chí truyền thông là công cụ sắc bén và là lực lượng đi đầu trong công tác đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch trên Internet. Trước sự chống phá của các thế lực thù địch chúng ta phải cung cấp thông tin một cách kịp thời, thường xuyên, chính xác, đầy đủ là sự phản bác có hiệu quả nhất, là cơ sở quan trọng cho việc thực hiện yêu cầu cần thoát khỏi thế “chống đỡ” để chuyển mạnh sang thế “tấn công” các thế lực thù địch.
Các cơ quan báo chí, phát thanh, truyền hình cần bám sát nhiệm vụ chính trị; mở rộng các chuyên trang, chuyên mục về đấu tranh chống “DBHB”, đặc biệt là trước các thông tin sai trái, thù địch trên Internet. Sớm khắc phục tình trạng sai tôn chỉ mục đích trên một số tờ báo, tạp chí, đưa quá nhiều mảng tối của đời sống chính trị, tạo “mảnh đất” để địch dễ dàng lợi dụng, khai thác thông tin, nói xấu chế độ.
Ba là, phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị tham gia đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch trên mạng Internet
Cuộc đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch trên mạng Internet là cuộc chiến không khói súng, cuộc cách mạng của cả nền chuyên chính chống lại bọn phản động mà đối thủ nhiều khi không lộ diện, tính chất rất khó khăn và phức tạp. Chính vì vậy phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa các ban, ngành, đoàn thể nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp. Phải huy động toàn xã hội, toàn dân tham gia cuộc đấu tranh này; khơi dậy tinh thần yêu nước, ý thức cảnh giác cách mạng. Chú trọng việc tham gia của các tổ chức quần chúng, các đoàn thể như: Đoàn thanh niên, Công đoàn, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, các tổ chức xã hội, nghề nghiệp…
Bốn là, phát triển lực lượng, sử dụng các biện pháp kỹ thuật trong đấu tranh trên mạng Internet
Cần chủ động lựa chọn, bồi dưỡng, giao nhiệm vụ mở rộng và phát triển lực lượng làm nhiệm vụ đấu tranh trên Internet. Phát huy vai trò của các Blogger trong đấu tranh trực diện với các quan điểm sai trái, thù địch thông qua các trang mạng. Thành lập một số website với tư cách là cổng thông tin, diễn đàn mở để trao đổi các ý kiến, quan điểm khác biệt. Chúng ta có điều kiện trực tuyến tranh luận, giải thích với những người có ý kiến, quan điểm khác biệt, hoặc phản bác những quan điểm thù địch, chống đối chế độ. Xây dựng hệ thống phương tiện, kỹ thuật đủ sức mạnh, quản lý kết nối mạng an toàn trong,  ngăn chặn các trang web, blog đăng tải những thông tin sai trái, thù địch, có nội dung phản động.
Sự phát triển của Internet là thành tựu của nhân loại và trở thành một trong những nhu cầu thiết yếu của đời sống xã hội, mang lại những tiện ích nhiều mặt cho con người trên toàn cầu, thúc đẩy sự phát triển xã hội trên nhiều lĩnh vực, đó là điều chúng ta không thể phủ nhận. Tuy nhiên, các thế lực thù địch đang triệt để lợi dụng thành tựu đó để mạng lại những tác hại không hề nhỏ. Nếu những người sử dụng Internet không vững vàng trong nhận thức, thiếu nhãn quan chính trị đúng đắn, thiếu thông tin chính thống, khi tiếp xúc với những quan điểm sai trái, thù địch sẽ có những suy nghĩ lệch lạc, dẫn đến mơ hồ, mất niềm tin. Nhận diện và đấu tranh với những chiêu trò bôi xấu, vụ lợi trên mạng Internet là việc làm cần thiết đối với mỗi chúng ta.

CHÂN LÝ