NGÀY QUỐC KHÁNH NGHĨ VỀ BẢN TUYÊN
NGÔN ĐỘC LẬP
CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
Đây là văn kiện lịch sử có giá trị rất
lớn, tuyên bố chấm dứt chế độ thực dân, phong kiến ở nước ta và mở ra một kỷ
nguyên độc lập - tự do cho dân tộc và là kết quả của “bao nhiêu máu xương đã
đổ, bao nhiêu hy vọng của nhân dân”. Đây còn là tác phẩm mẫu mực của văn chính
luận.
Trong toàn bộ sự nghiệp cách mạng của
Chủ tịch Hồ Chí Minh, văn thơ chiếm một vai trò rất lớn, Người làm thơ, viết
văn chủ yếu là phục vụ Cách mạng.
Ta đã gặp con người chiến sĩ - thi sĩ
ấy trong những tháng năm bôn ba ở nước ngoài hay những khi trong nhà tù ngục
của Tưởng Giới Thạch, ở chiến khu Việt Bắc hay trong lòng thủ đô Hà Nội với một
giọng thơ trữ tình và giàu cảm hứng lãng mạn.
Nhưng bên cạnh những vần thơ như thế ta
còn gặp trong sáng tác của Người những truyện ngắn, ký và đặc biệt tác phẩm
Tuyên ngôn độc lập - một áng văn chính luận thể hiện sự sắc sảo, trí tuệ đầy
uyên bác của Người.
Tuyên ngôn độc lập đã không chỉ là một
văn kiện lịch sử, mà nó còn là một áng văn chính luận mẫu mực, tiêu biểu cho
phong cách Hồ Chí Minh.
Sức thuyết phục của văn chính luận chủ
yếu là cách lập luận chặt chẽ, lý lẽ đanh thép và những dẫn chứng, bằng chứng
không thể nào chối cãi được.
Tuyên ngôn độc lập là một văn bản đã
đáp ứng được tất cả các yêu cầu đó.
Nhưng khác với một số bài xã luận, đây
là một tác phẩm có mục đích rõ rệt:
Tuyên bố trước đồng bào và những
người ưa chuộng hòa bình trên thế giới về quyền
độc lập - tự do của dân tộc;
Đồng thời bác bỏ những luận điệu có
tính xuyên tạc của thực dân Pháp và các thế lực bè lũ tay sai.
Toàn bộ Tuyên ngôn độc lập chính là lời
tuyên bố hùng hồn của Hồ Chí Minh “Nước Việt nam có quyền hưởng độc lập, tự do
và thực sự đã trở thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam sẽ
quyết tâm giữ vững quyền độc lập, tự do ấy”
Trước tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí
Minh có thể xem Nam quốc sơn hà; Bình Ngô đại cáo là hai bản
Tuyên ngôn đặt tiền đề cho tuyên ngôn độc lập của Hồ chí Minh.
Lý Thường Kiệt trên bến sông Như Nguyệt
đã khẳng định chủ quyền của nước nhà:
“Nam quốc sơn hà nam đế cư
Tuyệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thử bại hư”.
Đây là quan niệm mang màu sắc phong
kiến. Đến Cáo bình Ngô của Nguyễn Trãi có thể xem như một bước tiến mới:
“Núi sông bờ cõi đã chia
Phong tục bắc, nam cũng khác”.
Tiếng vọng ngàn đời của dân tộc ta bây
giờ lại được vang lên trong Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh.
Chỉ có điều khác với hai văn bản trên,
đây là một văn bản chính luận bằng văn xuôi cho nên yếu tố chính lập luận được
đặt lên hàng đầu.
Để tạo sức thuyết phục Bác đã mở đầu
tác phẩm bằng lời của hai Bản Tuyên ngôn: Tuyên ngôn độc lập của
Mỹ năm 1776 và Tuyên ngôn ngôn độc lập nhân quyền và dân quyền của
Pháp năm 1779.
Cả hai bản Tuyên ngôn độc lập này đều
đề cập đến quyền độc lập, tự do của con người. Suy rộng ra là quyền độc lập tự
do của một dân tộc.
Nhắm rất rõ đến đối tượng là nhân dân
ưa chuộng hòa bình thế giới nên Người đã đã trích dẫn hai bản Tuyên ngôn độc
lập này.
Cách trích dẫn vừa trang trọng vừa tạo
sức thuyết phục, trên cơ sở ấy Người đi đến sự khẳng định: “Thế mà hơn 80 năm
nay….” .
Cách dẫn chứng này còn nhằm mục đích
khóa miệng kẻ thù; gậy ông đập lưng ông. Chính các ông nói như vậy nhưng đã làm
khác, đã chà đạp lên nhân phẩm và quyền độc lập tự do của dân tộc khác.
Để tạo sức thuyết phục, cơ sở thuyết
pháp cũng chưa đủ, sức thuyết phục chỉ có thể đạt được khi kết hợp với cơ sở
thực tiễn.
Vì vậy, các dẫn chứng nêu ra ở phần hai
khá cụ thể và sinh động: “về chính trị; về kinh tế…” các kết cấu được lặp lại
nhiều lần tạo nên sự chú ý cho người đọc “chúng thi hành các chính sách dã
man….chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học…”.
Thực dân Pháp vào nước ta lợi dụng lá
cờ tự do, bình đẳng và bác ái. Chúng dùng chiêu bài khai hóa. Tuyên ngôn độc
lập đã lật tẩy toàn bộ bản chất của chúng.
Đối lập với lời lẽ tuyên ngôn đã nêu ra
trước đây. Giữa phần thứ nhất và thứ hai của bản tuyên ngôn có sự đối lập với
nhau thông qua hai chữ “thế mà”.
Sau khi đưa ra những cơ sở về tội ác
của Thực dân Pháp, bản Tuyên ngôn lại tiếp tục đưa ra cơ sở thực tiễn về đấu
tranh chính nghĩa của nhân dân ta: “sự thật là mùa thu năm 1940 nước ta đã trở
thành thuộc địa của Nhật…”.
Như vậy, cuộc đấu tranh của chúng ta
chống lại Thực dân Pháp là cuộc chiến tranh chính nghĩa nhằm chống lại các thế
lực phi nghĩa.
Dân tộc Việt Nam giành được độc lập là
từ tay của phát xít Nhật, mà chính người Pháp vẫn xưng là “mẫu quốc” đã không
“bảo vệ” được dân tộc ta khi để phát xít Nhật đảo chính để giành nước ta
từ tay Pháp.
Khát vọng ngàn đời của dân tộc ta ngày
nay đã trở thành sự thực. Bản Tuyên ngôn ra đời đã gần hai phần ba thế kỷ nhưng
mỗi lần đọc lại văn bản này, người đọc như sống lại với khí thế hào hùng
trước một sự kiện trọng đại của đất nước những năm nửa đầu thế kỷ XX
“Pháp chạy, Nhật hàng, Bảo Đại xin thoái vị…”.
Sự kiện Cách mạng tháng 8 và Quốc khánh
mồng 2/9/1945 đã mở ra cho dân tộc ta một kỷ nguyên mới - một kỷ nguyên độc
lập, tự do và tạo tiền đề cho mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam sau này.
H.A
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét