Chủ Nhật, 25 tháng 9, 2022

 

TẠI SAO CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH LẠI COI KINH TẾ LÀ KHÂU ĐỘT PHÁ TRONG CHIẾN LƯỢC “DIỄN BIẾN HOÀ BÌNH” CHỐNG PHÁ CÁCH MẠNG VIỆT NAM?

Chiến lược “diễn biến hoà bình” của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động nhằm xoá bỏ chế độ chính trị - xã hội của các nước xã hội chủ nghĩa từ bên trong, chủ yếu bằng biện pháp phi quân sự.

Với nội dung chính là sử dụng mọi thủ đoạn kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hoá, xã hội, ngoại giao..., kết hợp với răn đe quân sự để xây dựng lực lượng ngầm, tạo ra các lực lượng chính trị đối lập từ bên trong; núp dưới chiêu bài tự do, dân chủ, nhân quyền; kích động mâu thuẫn dân tộc, sắc tộc, tôn giáo; triệt để lợi dụng những khó khăn, sai sót của nhà nước, làm trầm trọng thêm quá trình khủng hoảng kinh tế - xã hội, tạo nên sức ép ngày một lớn buộc phải chuyển hoá, thay đổi đường lối chính trị, nhường quyền lãnh đạo cho lực lượng đối lập, làm cho thể chế chính trị, cách mạng bị thủ tiêu. “Diễn biến hoà bình” được chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch tiến hành trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hoá..., trong đó lĩnh vực kinh tế được chúng xem là trọng tâm, là khâu “đột phá”. Điều đó xuất phát từ những lý do cơ bản sau đây:

Một là, xuất phát từ vai trò của kinh tế trong đời sống xã hội. Kinh tế là yếu tố xét đến cùng quyết định toàn bộ đời sống chính trị tư tưởng..., của xã hội. Tập trung phá hoại về kinh tế với mục tiêu làm chệch hướng xã hội chủ nghĩa nền kinh tế, lái nền kinh tế nước ta theo hướng tư bản chủ nghĩa; thông qua kinh tế để xâm nhập và phá hoại các lĩnh vực chính trị, xã hội khác.    

Hai là, so với các lĩnh vực khác, lĩnh vực kinh tế là lĩnh vực mà kẻ thù dễ lợi dụng, xâm nhập chống phá. Trước những năm đổi mới, thực trạng kinh tế của nước ta bộc lộ nhiều yếu kém, trì trệ kéo dài nhiều năm, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn. Trong khi đó, nhiều nước tư bản lại có sự điều chỉnh thích nghi cả về lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, ứng dụng nhanh chóng những thành tựu khoa học, công nghệ mới trên tất cả các lĩnh vực làm cho nền kinh tế có bước phát triển đáng kể. Thực tế đó đã tác động sâu rộng đến tư tưởng, tình cảm của nhân dân, gây nên tâm trạng hoài nghi về con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội của một bộ phận dân cư. Đó là môi trường mà kẻ thù cho là “thuận lợi” có thể lợi dụng để tiến hành chiến lược “diễn biến hoà bình” chống phá cách mạng nước ta.

Ba là, sau hơn 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới, kinh tế nước ta có sự phát triển khởi sắc và đạt được những thành tựu nhất định, đời sống nhân dân được cải thiện đáng kể, tiềm lực kinh tế và vị thế nước ta được nâng lên trên trường quốc tế… Tuy nhiên, trước sự phát triển của nền kinh tế thị trường bên cạnh những mặt tích cực còn có không ít những tác động tiêu cực; cùng với đó là chủ chương mở cửa, hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới của nước ta cũng tạo ra môi trường thuận lợi cho kẻ thù lợi dụng, xâm nhập, chống phá. Tình trạng phân hoá giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư, giữa các vùng ngày càng có xu hướng cách xa; năng lực quản lý kinh tế xã hội của Nhà nước còn nhiều yếu kém; tệ tham nhũng, buôn lậu, hách dịch, cửa quyền ở một số cán bộ có chức có quyền có điều kiện thuận lợi nảy sinh, làm mất lòng tin của dân, gây bức xúc trong xã hội… Trong bối cảnh đó, các thế lực thù địch sẽ có điều kiện lợi dụng để chống phá cách mạng nước ta.

Để ngăn chặn, đẩy lùi và làm thất bại sự chống phá của kẻ thù trên lĩnh vực kinh tế đối với nước ta trong chiến lược “diễn biến hòa bình” cần thực hiện tốt các giải pháp cụ thể sau:

Một là, chủ động đấu tranh trên lĩnh vực lý luận, tư tưởng, bảo vệ vững chắc các nguyên lý kinh tế cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối đổi mới kinh tế của Đảng ta, góp phần củng cố vững chắc trận địa tư tưởng trong nhân dân mà trước hết là trong cán bộ, đảng viên.

Muốn làm được điều đó, trước hết phải nắm chắc, hiểu sâu, nắm vững một cách có hệ thống các quan điểm kinh tế cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; vạch trần mục đích, âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch trong tuyên truyền, xuyên tạc, phủ nhận các tư tưởng kinh tế cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; luận giải một cách khoa học cơ sở lý luận và thực tiễn của đường lối đổi mới kinh tế của Đảng ta nói chung, từng lĩnh vực phát triển kinh tế cụ thể nói riêng; chủ động nắm bắt thực tiễn, kịp thời luận giải có cơ sở khoa học các vấn đề nảy sinh, không để xảy ra các khoảng trống về tư tưởng để địch lợi dụng chống phá.

Hai là, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế, rút ngắn khoảng cách chênh lệch về kinh tế giữa nước ta với các nước khác trong khu vực và trên thế giới.

Bởi lẽ, một trong những thủ đoạn mà kẻ địch thường sử dụng để chống phá ta đó là lợi dụng vào điểm yếu về kinh tế của ta để phá hoại. Vì vậy, để làm thất bại âm mưu, thủ đoạn này, cùng với đấu tranh trên mặt trận lý luận, tư tưởng, chúng ta phải đẩy mạnh phát triển kinh tế đất nước, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, rút ngắn khoảng cách chênh lệch về kinh tế giữa nước ta với các nước trong khu vực và trên thế giới. Trong khi thực hiện công nghệ nhiều tầng, nhiều trình độ thì phải biết lựa chọn, đi tắt, đón đầu, đi thẳng vào công nghệ hiện đại trong những ngành, những lĩnh vực quan trọng mà ta có tiềm năng. Lựa chọn công nghệ nhập ngoại phù hợp với điều kiện, khả năng của từng ngành, từng lĩnh vực, song kiên quyết từ chối những công nghệ lạc hậu, biến nước ta thành bải thải công nghệ của thế giới.

Ba là, kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh chống hoạt động phá hoại trên lĩnh vực kinh tế trong chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch với đấu tranh chống tham nhũng, lãnh phí và các tiêu cực khác trong nền kinh tế.

Tham nhũng, lãng phí và các tiêu cực khác trong nền kinh tế không chỉ ảnh hưởng trực tiếp tới phát triển kinh tế, tới niềm tin của nhân dân vào Đảng, vào chế độ, mà còn là mảnh đất màu mỡ để chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch lợi dụng thực hiện chiến lược “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ với cách mạng Việt Nam. Do đó, phải đẩy mạnh công tác chống tham nhũng và đi đôi với chống lãng phí cùng các tệ nạn tiêu cực khác trong xã hội. Phải phát huy thật tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, thực hiện dân biết, dân bàn, dân kiểm tra. Tổ chức triển khai và thực hiện có hiệu quả luật chống tham nhũng; xây dựng cơ chế chính sách chống tham nhũng có hiệu quả; phối, kết hợp các cơ quan, các ngành chức năng và của toàn xã hội để những người có chức có quyền “không có cơ hội tham nhũng”, “không giám tham nhũng” và “không muốn tham nhũng”.

Đấu tranh kinh tế trong chống chiến lược “diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đối với cách mạng Việt Nam hiện nay vẫn đang là nhiệm vụ hết sức cấp bách. Bởi đây là một hình thức đặc biệt của đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc diễn ra hết sức quyết liệt và phức tạp. Do vậy, chúng ta phải luôn cảnh giác cao độ, huy động sự tham gia của mọi thành phần, lực lượng, vận dụng linh hoạt, đồng bộ các nội dung biện pháp, kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi và làm thất bại sự chống phá của kẻ thù, bảo vệ vững chắc chế độ kinh tế - xã hội ở nước ta hiện nay.

 

                                                                                         BIỂN RỘNG

 

 

CHỐNG CĂN BỆNH CÁ NHÂN CHỦ NGHĨA- GÓP PHẦN PHÒNG CHỐNG QUÁ TRÌNH “TỰ CHUYỂN HÓA”, “TỰ DIỄN BIẾN”

                                                                            

          Chủ nghĩa cá nhân là nguồn gốc của những “căn bệnh” làm hư hỏng đội ngũ cán bộ đảng viên, làm tha hóa Đảng. Chủ nghĩa cá nhân đặc biệt nguy hiểm và khó chống vì nó là kẻ thù vô hình, “là viên đạn bọc đường”, lại nằm trong chính bản thân mỗi con người, là gốc của mọi bệnh, với những biến tướng phức tạp, đa dạng khôn lường. Đây là nguy cơ nguy hiểm tiềm tàng, làm cho Đảng mất dần tính cách mạng, tính đạo đức, tính nhân dân. Chủ nghĩa cá nhân thực chất là tư lợi cá nhân. Chủ nghĩa cá nhân biểu hiện trong nhiều lĩnh vực của ®êi sèng kinh tế, chính trị, xã hội. Chủ nghĩa cá nhân hiện nay, không chỉ đơn thuần là con người cụ thể mà còn ẩn nấp dưới dạng “ê-kíp”, những người "cánh hẩu" với nhau. Suy cho cùng họ đều xuất phát từ lợi ích cá nhân.

          Như vậy, quá trình “tự diễn biến” của tổ chức đảng, tổ chức nhà nước hoặc đảng viên là tự chính bản thân cấp uỷ, tổ chức đảng, tổ chức nhà nước, cá nhân cán bộ, đảng viên có hành vi, việc làm hoặc tự gây ra, dẫn đến sự tự biến đổi về tư tưởng chính trị, phẩm chất, đạo đức, lối sống hoặc về ý thức, trách nhiệm trong từng thời điểm, thời kỳ nhất định. Quá trình “tự diễn biến” của cá nhân cán bộ, đảng viên được thể hiện trên các biểu hiện sau đây:

          Không thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ. Không gương mẫu chấp hành quy chế làm việc của tập thể, cơ quan, đơn vị; khi có thiếu sót, khuyết điểm, sai phạm thuộc về trách nhiệm cá nhân nhưng không tự giác tự phê bình, tự nhận trách nhiệm, khuyết điểm, lại đỗ lỗi cho khách quan, cho tập thể, cho người khác. Hoặc trách nhiệm cá nhân đã được phân công rõ ràng cụ thể nhưng sợ trách nhiệm nên không chủ động chỉ đạo, tổ chức thực hiện theo chức trách, nhiệm vụ được giao, còn ỷ lại, dựa dẫm vào tập thể.

          Một số cán bộ, đảng viên lợi dụng quyền bảo lưu ý kiến của mình để truyền bá ý kiến trái với quan điểm, đường lối, nghị quyết của Đảng, của cấp uỷ, cơ quan, đơn vị dưới nhiều hình thức với động cơ không trong sáng, làm mất uy tín của tổ chức, của cán bộ, đảng viên.

           Một số đảng viên là cán bộ lãnh đạo, cán bộ chủ chốt, là người đứng đầu đã lợi dụng cơ chế, chế độ tập thể để hợp pháp hoá quyết định, ý đồ cá nhân của mình để làm trái nguyên tắc, quy định nhằm trục lợi cho mình, cho người thân; Một số cán bộ, đảng viên không dám đấu tranh ngăn chặn cái xấu, bảo vệ cái tốt, nhân tố tích cực...

          Thiếu tu dưỡng rèn luyện về tư tưởng chính trị, phẩm chất, đạo đức, lối sống, chạy theo chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, tham nhũng, lãng phí, dần chuyển sang suy thoái về phẩm chất, đạo đức, lối sống. Một số vì hám danh, mà năng lực, trình độ hạn chế, nhưng đã tìm mọi cách để chạy chức, chạy quyền, chạy tội, chạy bằng cấp, chạy thành tích, chạy huân chương, chạy danh hiệu cho bản thân, tập thể. Họ luôn tìm cách “núp bóng cấp trên”, hoặc lựa chiều, tham gia hoạt động bè phái để có lợi cho mình, hay một nhóm lợi ích. Tìm cách đề bạt người không có năng lực, trình độ nhưng cùng phe cánh để tạo vây cánh nhằm trục lợi; bằng mọi cách "loại bỏ" những người có năng lực, trình độ nhưng không đồng quan điểm hoặc "không ăn cánh với mình" để dễ bề "tự tung, tự tác", trục lợi dưới mọi hình thức; không chấp hành nghiêm túc quy tắc ứng xử, đạo đức nghề nghiệp của cán bộ, công chức, viên chức, không thực hiện nghiêm túc quy định về những điều cán bộ, đảng viên, công chức không được làm.

           Nghị quyết Hội nghị Trung ương (khoá XIII) nêu lên 03 vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay, trong đó xác định việc“Đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng  suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp để nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, củng cố niềm tin của đảng viên và nhân dân đối với Đảng” là vấn đề trọng tâm, xuyên suốt và cấp bách nhất. Để thực hiện vấn đề cấp bách nhất mà Nghị quyết Trung ương 4 xác định, một trong nhiều giải pháp mà Nghị quyết Trung ương đề ra là: Phải chủ động đấu tranh với những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong Đảng.

Chống chủ nghĩa cá nhân trong môi trường xã hội và chính sách kinh tế mới là phải chống chủ nghĩa cơ hội, địa phương cục bộ, chủ nghĩa gia đình. Đây là một hiện tượng không mới nhưng phức tạp. Căn cứ vào tình hình thực tế hiện nay, để đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân có hiệu quả, mang lại giá trị đích thực, góp phần làm cho đội ngũ cán bộ, đảng viên trong sạch, vững mạnh, cần nắm vững và xử lý tốt những vấn đề sau:

Một là, kiên trì và đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị tư tưởng, biểu dương những nhân tố tích cực, những tấm gương trong sáng trong việc nêu cao tinh thần “cần kiệm liêm chính, chí công vô tư” làm việc có hiệu quả và phê phán những biểu hiện chủ nghĩa cá nhân. Tiếp tục đẩy mạnh việc “Học tập và làm việc theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Công tác tư tưởng cũng phải làm rõ những thiếu sót, bất cập trong cơ chế lãnh đạo, tổ chức quản lý, tạo môi trường cho chủ nghĩa cá nhân phát triển.

          Chống chủ nghĩa cá nhân phải bao gồm cả hai mặt: Mỗi cán bộ, đảng viên có trách nhiệm tự phòng, chống từ bản thân mình, ở ngay trong tư tưởng của mình, bằng cách luôn phấn đấu, rèn luyện để nâng cao đạo đức cách mạng.  Phương cách tốt nhất để nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân đối với mỗi cán bộ, đảng viên được Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ là tự phê bình và phê bình một cách thường xuyên, nghiêm túc, đặt lợi ích của Đảng, của nhân dân lên trên hết. “Mỗi cán bộ, đảng viên mỗi ngày phải tự kiểm điểm, tự phê bình, tự sửa chữa như mỗi ngày phải rửa mặt. Được như thế thì trong Đảng sẽ không có bệnh mà Đảng sẽ mạnh khỏe vô cùng”; Cần xã hội hóa công việc chống chủ nghĩa cá nhân bằng sự giám sát của nhân dân, bằng pháp luật, bằng thể chế để làm trong sạch môi trường xã hội, để xã hội phát triển lành mạnh. Bên cạnh việc tự phê bình và phê bình của mỗi đảng viên, các tổ chức Đảng, phải hoan nghênh và khuyến khích quần chúng thật thà phê bình cán bộ, đảng viên.

Hai là, kết hợp đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân với cuộc vận động xây dựng và chỉnh đốn Đảng.

Sự phát triển lây lan của các hiện tượng chủ nghĩa cá nhân được chỉ ra khá rõ cả về biểu hiện tác hại và nguyên nhân của nó, nhưng rõ ràng chúng ta còn hữu khuynh, còn tình trạng nể nang, nhìn nhau, không kiên quyết trong đấu tranh, xử lý.  Cần phải đặt công tác xây dựng tác phong liêm chính của Đảng và đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa cá nhân lên vị trí quan trọng trong xây dựng Đảng. Biện pháp đó phải gắn bó chặt chẽ với công tác vận động quần chúng của Đảng. Như vậy phải tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng và chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về công tác xây dựng Đảng.

Ba là, chống chủ nghĩa cá nhân trước hết phải chống tham nhũng thâm nhập sâu rộng trong đời sống kinh tế - xã hội. Kết hợp công tác này với việc xây dựng và hoàn thiện phương thức lãnh đạo của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

Vấn đề chống tham nhũng được coi là một mặt hết sức quan trọng trong công tác xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh, xây dựng Nhà nước pháp quyền. Chống tham nhũng có hiệu quả sẽ là bước đột phá quan trọng góp phần loại trừ chủ nghĩa cá nhân phát triển, khích lệ nhân tố tích cực trong guồng máy hoạt động của Đảng và Nhà nước; loại trừ chủ nghĩa cá nhân gây mất đoàn kết nội bộ, sự tha hóa về phẩm chất đạo đức của cán bộ, đảng viên mà còn làm mất chỗ dựa của các phần tử thoái hóa, biến chất, sống xa hoa, sẵn sàng cơ hội về chính trị.

Bốn là, dân chủ hoá, công khai hoá, tiêu chuẩn hoá phẩm chất và năng lực của đội ngũ cán bộ ở các cấp, các ngành. Thực hiện dân chủ hoá công khai hoá trong mọi hoạt động sẽ được nhân dân hậu thuẫn và tạo nên dư luận xã hội mạnh mẽ trong việc đấu tranh với những phần tử thái hoá, biến chất, cá nhân chủ nghĩa.

 Chống chủ nghĩa cá nhân là một việc làm thường xuyên trong mọi lĩnh vực hoạt động của Đảng trước hết là trong sinh hoạt Đảng. Đây là vấn đề nhạy cảm vì nó liên quan đến con người. Mục tiêu hướng tới là giúp cho mỗi cán bộ, đảng viên đều tiến bộ, đóng góp sức mình vào sự nghiệp cách mạng của Đảng và góp phần loại bỏ những nguy cơ thoái hoá biến chất gây mất đoàn kết và làm tha hoá phẩm chất chính trị của một số cán bộ đảng viên trong Đảng. Chúng ta không thổi phồng nhưng cũng không thể xem nhẹ nguy cơ và hậu quả của chủ nghĩa cá nhân phát triển. Phải coi chống chủ nghĩa cá nhân là một nội dung quan trọng trong đời sống sinh hoạt của Đảng.

          Năm là, chủ động phòng, tránh các biểu hiện tự diễn biến, tự chuyển hóa. Nghị quyết Hội nghị Trung ương khóa XIII đã chỉ rõ: Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên gắn với tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí vẫn nghiêm trọng, làm giảm sút niềm tin của nhân dân vào Đảng và Nhà nước. Để phòng, chống chủ nghĩa cá nhân, các biểu hiện tự diễn biến, tự chuyển hóa trong cán bộ, đảng viên, cần thực hiện nghiêm các yêu cầu nội dung sau:

          - Mở rộng, phát huy dân chủ phải gắn với tăng cường kỷ luật, kỷ cương và ý thức trách nhiệm của mỗi công dân.

          - Quan tâm, chăm lo củng cố, xây dựng Đảng vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Thật sự phát huy dân chủ đi đôi với kỷ luật, kỷ cương; giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, tăng cường đoàn kết thống nhất, gắn bó mật thiết với nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng. Xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên vững vàng.

            - Công tác lãnh đạo và chỉ đạo phải nhạy bén, kiên quyết, sáng tạo, bám sát thực tiễn đất nước; chú trọng công tác dự báo, kịp thời đề ra các giải pháp phù hợp với tình hình mới; tăng cường công tác tuyên truyền, tạo sự đồng thuận. Các thế lực thù địch tiếp tục thực hiện âm mưu "diễn biến hoà bình", gây bạo loạn lật đổ, sử dụng các chiêu bài "dân chủ", "nhân quyền" hòng làm thay đổi chế độ chính trị ở nước ta.

         Trong nội bộ, những biểu hiện xa rời mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" có những diễn biến phức tạp. Quá trình tự diễn biến, nhất là diễn biến về tư tưởng chính trị của cán bộ, đảng viên, chuyển sang tự chuyển hoá có thể diễn ra nhanh hay chậm tuỳ thuộc vào động cơ mục đích và điều kiện ngoại cảnh tác động, ảnh hưởng ở từng thời gian, thời điểm cụ thể. Do đó phải nắm chắc đặc điểm này của sự “tự diễn biến” khi chuyển sang trạng thái "tự chuyển hoá" để có biện pháp đấu tranh, ngăn chặn kịp thời, có hiệu quả.

                                                                                          BIỂN RỘNG

 

CHỐNG SUY THOÁI VÀ “TỰ CHUYỂN HÓA”

       Thực tế “diễn biến hòa bình” ở nửa sau thế kỷ XX đã gây ra những tổn thất to lớn đối với CNXH và phong trào độc lập dân tộc ở nhiều nước, nhiều khu vực trên thế giới, nhất là đối với các nước XHCN thuộc Liên Xô (trước đây) và Đông Âu. Đối với nước ta, “diễn biến hòa bình” đã và đang là nguy cơ đe dọa độc lập dân tộc và công cuộc xây dựng CNXH. Nguy cơ này được đề cập đến từ Đại hội Đảng toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII và tiếp tục được chỉ rõ trong Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI. Một trong những nguy cơ hiện hữu của “diễn biến hòa bình” từ bên trong mà Đảng ta chỉ rõ là: “Trong nội bộ, những biểu hiện xa rời mục tiêu của CNXH, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có những diễn biến phức tạp…”.

          “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về bản chất là quá trình suy thoái từ bên trong của lực lượng cách mạng, một mặt do tác động khách quan từ âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch, mặt khác từ nguyên nhân chủ quan của một bộ phận thoái hóa trong chủ thể, trong đó nguyên nhân chủ quan có ý nghĩa quyết định. Do vậy, phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” thực chất là phòng ngừa, triệt tiêu nguyên nhân chủ quan có ý nghĩa quyết định đối với sự tồn vong của chế độ XHCN ở nước ta.

“Tình trạng một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ, đảng viên có chức, có quyền… suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cơ hội, thực dụng, cá nhân ích kỷ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc…” - như Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) chỉ ra, là những biểu hiện cụ thể của một bộ phận thoái hóa, cũng là những biểu hiện cụ thể của nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trong. Do vậy, phải tiến hành đồng thời đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” và phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, trong đó phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ có vai trò quyết định thắng lợi của cuộc đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”, bảo đảm sự tồn vong của chế độ XHCN ở nước ta.

              Phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” cần được tiến hành chủ động, kiên trì, đồng bộ trên các lĩnh vực: Chính trị, kinh tế, văn hóa-xã hội, quốc phòng-an ninh, đối ngoại… Trong bài viết này, chúng tôi xin đề cập, làm rõ một số nội dung về phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên lĩnh vực chính trị, kinh tế.

            Trong phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên lĩnh vực chính trị, việc đấu tranh bảo vệ, giữ vững nền tảng tư tưởng của Đảng là điều kiện tiên quyết. Toàn Đảng cần kiên trì tiến hành cuộc đấu tranh phê phán hệ tư tưởng tư sản, tư tưởng xã hội - dân chủ, chủ nghĩa tự do mới, chủ nghĩa thực dụng mới, tư tưởng dân chủ tư sản...; kiên quyết bảo vệ Cương lĩnh, đường lối chính trị của Đảng, đặc biệt là mục tiêu, lý tưởng, kiên định con đường chúng ta đã lựa chọn, phát triển đường lối đổi mới theo định hướng XHCN. Đấu tranh bảo vệ nguyên tắc tổ chức và hoạt động, mối quan hệ giữa các thiết chế quyền lực của nhà nước XHCN; có biện pháp thiết thực củng cố và phát triển mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước với các thành tố trong hệ thống chính trị và nhân dân. Phê phán, bác bỏ các quan điểm tư tưởng và ý đồ thực hiện chủ nghĩa đa nguyên chính trị, chế độ đa đảng đối lập, cơ chế “tam quyền phân lập” của nhà nước tư sản ở Việt Nam. Phát hiện kịp thời “ngọn cờ” đối lập do chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch tạo dựng, những phần tử cơ hội, phản bội trong bộ máy lãnh đạo Đảng, Nhà nước, LLVT; xử lý kịp thời, nghiêm minh theo pháp luật các hoạt động chống đối, tập hợp lực lượng đối lập...

          Một yếu tố quan trọng là nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý điều hành của bộ máy chính quyền các cấp; xử lý đúng đắn các mâu thuẫn, những lợi ích thiết thân của các tầng lớp nhân dân, không để tích tụ tâm lý bất bình trong xã hội, trong tâm trạng bức xúc của quần chúng đối với các cơ quan công quyền. Khi xuất hiện những “điểm nóng” mâu thuẫn, xung đột xã hội cần giải quyết, xử lý đúng đắn, kịp thời, vừa “đạt lý” (trên cơ sở pháp luật) vừa “thấu tình” (hài hòa theo văn hóa, truyền thống, đạo lý dân tộc).

         Trong nội bộ hệ thống chính trị XHCN, cùng với đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng, phải tăng cường đấu tranh chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, phai nhạt lý tưởng CNXH, thực dụng, cá nhân ích kỷ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc…; chặn đứng nguy cơ thoái hóa về chính trị, tư tưởng. Trên lĩnh vực kinh tế: Xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, vững mạnh, “dân giàu, nước mạnh” là nền tảng vật chất quyết định thắng lợi của sự nghiệp xây dựng CNXH ở Việt Nam. Chú trọng phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, nền kinh tế độc lập, tự chủ, có cơ cấu hợp lý, có sức mạnh nội sinh, bền vững, khả năng cạnh tranh cao để hội nhập trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế; có khả năng thích ứng, vượt qua những biến động bất thường của nền kinh tế thế giới. Giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ văn hóa, thực hiện công bằng xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh. Tăng cường đấu tranh bảo vệ những quan điểm kinh tế cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối đổi mới kinh tế của Đảng, đặc biệt bảo vệ đường lối phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN; kịp thời phát hiện, đấu tranh hiệu quả âm mưu, thủ đoạn phá hoại nền kinh tế, lợi dụng các quan hệ kinh tế, các công cụ và thiết chế tài chính, tiền tệ quốc tế... để chi phối, kiểm soát, khống chế, chuyển hóa nền kinh tế Việt Nam thành nền kinh tế tư bản chủ nghĩa…

           Phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên lĩnh vực kinh tế, cần giải quyết tốt mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và giữ vững phẩm chất đạo đức, tư cách của người cán bộ cách mạng, nhất là đối với cán bộ có chức, có quyền, chủ trì lãnh đạo, quản lý kinh tế, không để chủ nghĩa thực dụng, “chủ nghĩa đồng tiền” chi phối các quan hệ xã hội, hoặc để xảy ra tình trạng tham ô, tham nhũng, thất thoát lớn tài sản của tập thể, của Nhà nước…liên quan đến trách nhiệm, phẩm chất, năng lực của cán bộ chủ trì.

BIỂN RỘNG

 VÌ SAO MỸ THUA TRONG CUỘC CHIẾN TRANH VIỆT NAM

          Lịch sử không có “giá như” nhưng lịch sử là bài học cho sự phát triển hướng đến tương lai tốt đẹp. Chiến tranh Việt Nam khi có Mỹ trực tiếp tham gia trong giai đoạn lịch sử (1954 - 1975) là một trong 11 cuộc chiến tranh lớn nhất của thế giới hiện đại mà sự kết thúc của nó để lại rất nhiều dấu ấn thời đại. Một trong những dấu ấn đó chính là là câu hỏi mà nước Mỹ đã phải mất rất nhiều thời gian để đi tìm lời giải đáp: “Vì sao Mỹ thua trong cuộc chiến tranh Việt Nam”.

          Đến nay, 43 năm đã trôi qua, kể từ sau chiến thắng vĩ đại của nhân dân Việt Nam, ngày 30/4/1975. Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, hội thảo, sách vở, phát biểu, đánh giá …nói về nguyên nhân thắng trận của Việt Nam…nhưng ở góc nhìn của Mỹ thì điều gì khiến Mỹ thua trận sẽ khiến chúng ta quan tâm nhiều hơn.

          Trước hết Mỹ thua là do nhận thức sai về tính chất chiến tranh Việt Nam. Đây là nguyên nhân của mọi nguyên nhân… Mỹ cho rằng Việt Nam chống Mỹ là một cuộc chiến tranh ủy nhiệm bởi Trung Quốc và Liên Xô nhưng thật ra không phải như vậy.

          Mỹ đã quên mất chuyện Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư cho Tổng thống Mỹ vào năm 1945 như thế nào nên đã xác định sai lầm tính chất cuộc chiến. Mỹ nên hiểu, Việt Nam coi quyền lợi dân tộc, quốc gia là trên hết. Việt Nam muốn độc lập, giang sơn thu về một mối và sẽ chiến đấu với bất kỳ kẻ thù nào vì mục tiêu đó.

          Sai lầm tệ hại nhất của Mỹ là Mỹ đã “bất chấp” hay “vô tình” đối đầu với một dân tộc có truyền thống chống giặc ngoại xâm quật cường, anh dũng “thà làm quỷ nước Nam chứ không thèm làm vương đất Bắc”, “thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”.

          Mỹ nhảy vào Việt Nam là để ngăn chặn cái gọi là “Chủ nghĩa Cộng sản” nhưng nhân dân Việt Nam chỉ biết rằng, Mỹ là kẻ xâm lược và chiến đấu với Mỹ như bao kẻ xâm lược khác. Người Việt Nam đánh Mỹ để bảo vệ quê hương, ruộng đồng, để không phải làm kiếp nô lệ như thời thuộc Pháp, đánh Mỹ để thống nhất Bắc-Nam thu giang sơn về một mối, cho nên, bất kỳ đàn ông hay đàn bà, người già hay người trẻ, hễ là người Việt Nam thì họ đều đứng lên chống giặc ngoại xâm, đã có hàng triệu người con nước Việt đã lên đường ra trận chiến đấu quên mình theo lời kêu gọi vang dậy non sông của lãnh tụ Hồ Chí Minh: “Không có gì quý hơn độc lập tự do”…Chính tư tưởng, tinh thần đó là nguồn gốc khiến một dân tộc yêu hòa bình, yêu tự do độc lập trở nên anh hùng và tất yếu sẽ tạo ra một quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng.

                                                                                BIỂN RỘNG


 

CHỐNG CĂN BỆNH CÁ NHÂN CHỦ NGHĨA - GÓP PHẦN PHÒNG CHỐNG QUÁ TRÌNH “TỰ CHUYỂN HÓA”, “TỰ DIỄN BIẾN”

 

          Chủ nghĩa cá nhân là nguồn gốc của những “căn bệnh” làm hư hỏng đội ngũ cán bộ đảng viên, làm tha hóa Đảng. Chủ nghĩa cá nhân đặc biệt nguy hiểm và khó chống vì nó là kẻ thù vô hình, “là viên đạn bọc đường”, lại nằm trong chính bản thân mỗi con người, là gốc của mọi bệnh, với những biến tướng phức tạp, đa dạng khôn lường. Đây là nguy cơ nguy hiểm tiềm tàng, làm cho Đảng mất dần tính cách mạng, tính đạo đức, tính nhân dân. Chủ nghĩa cá nhân thực chất là tư lợi cá nhân. Chủ nghĩa cá nhân biểu hiện trong nhiều lĩnh vực của ®êi sèng kinh tế, chính trị, xã hội. Chủ nghĩa cá nhân hiện nay, không chỉ đơn thuần là con người cụ thể mà còn ẩn nấp dưới dạng “ê-kíp”, những người "cánh hẩu" với nhau. Suy cho cùng họ đều xuất phát từ lợi ích cá nhân.

          Như vậy, quá trình “tự diễn biến” của tổ chức đảng, tổ chức nhà nước hoặc đảng viên là tự chính bản thân cấp uỷ, tổ chức đảng, tổ chức nhà nước, cá nhân cán bộ, đảng viên có hành vi, việc làm hoặc tự gây ra, dẫn đến sự tự biến đổi về tư tưởng chính trị, phẩm chất, đạo đức, lối sống hoặc về ý thức, trách nhiệm trong từng thời điểm, thời kỳ nhất định. Quá trình “tự diễn biến” của cá nhân cán bộ, đảng viên được thể hiện trên các biểu hiện sau đây:

          Không thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ. Không gương mẫu chấp hành quy chế làm việc của tập thể, cơ quan, đơn vị; khi có thiếu sót, khuyết điểm, sai phạm thuộc về trách nhiệm cá nhân nhưng không tự giác tự phê bình, tự nhận trách nhiệm, khuyết điểm, lại đỗ lỗi cho khách quan, cho tập thể, cho người khác. Hoặc trách nhiệm cá nhân đã được phân công rõ ràng cụ thể nhưng sợ trách nhiệm nên không chủ động chỉ đạo, tổ chức thực hiện theo chức trách, nhiệm vụ được giao, còn ỷ lại, dựa dẫm vào tập thể.

          Một số cán bộ, đảng viên lợi dụng quyền bảo lưu ý kiến của mình để truyền bá ý kiến trái với quan điểm, đường lối, nghị quyết của Đảng, của cấp uỷ, cơ quan, đơn vị dưới nhiều hình thức với động cơ không trong sáng, làm mất uy tín của tổ chức, của cán bộ, đảng viên.

           Một số đảng viên là cán bộ lãnh đạo, cán bộ chủ chốt, là người đứng đầu đã lợi dụng cơ chế, chế độ tập thể để hợp pháp hoá quyết định, ý đồ cá nhân của mình để làm trái nguyên tắc, quy định nhằm trục lợi cho mình, cho người thân; Một số cán bộ, đảng viên không dám đấu tranh ngăn chặn cái xấu, bảo vệ cái tốt, nhân tố tích cực...

          Thiếu tu dưỡng rèn luyện về tư tưởng chính trị, phẩm chất, đạo đức, lối sống, chạy theo chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, tham nhũng, lãng phí, dần chuyển sang suy thoái về phẩm chất, đạo đức, lối sống. Một số vì hám danh, mà năng lực, trình độ hạn chế, nhưng đã tìm mọi cách để chạy chức, chạy quyền, chạy tội, chạy bằng cấp, chạy thành tích, chạy huân chương, chạy danh hiệu cho bản thân, tập thể. Họ luôn tìm cách “núp bóng cấp trên”, hoặc lựa chiều, tham gia hoạt động bè phái để có lợi cho mình, hay một nhóm lợi ích. Tìm cách đề bạt người không có năng lực, trình độ nhưng cùng phe cánh để tạo vây cánh nhằm trục lợi; bằng mọi cách "loại bỏ" những người có năng lực, trình độ nhưng không đồng quan điểm hoặc "không ăn cánh với mình" để dễ bề "tự tung, tự tác", trục lợi dưới mọi hình thức; không chấp hành nghiêm túc quy tắc ứng xử, đạo đức nghề nghiệp của cán bộ, công chức, viên chức, không thực hiện nghiêm túc quy định về những điều cán bộ, đảng viên, công chức không được làm.

           Nghị quyết Hội nghị Trung ương (khoá XIII) nêu lên 03 vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay, trong đó xác định việc“Đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng  suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp để nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, củng cố niềm tin của đảng viên và nhân dân đối với Đảng” là vấn đề trọng tâm, xuyên suốt và cấp bách nhất. Để thực hiện vấn đề cấp bách nhất mà Nghị quyết Trung ương 4 xác định, một trong nhiều giải pháp mà Nghị quyết Trung ương đề ra là: Phải chủ động đấu tranh với những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong Đảng.

Chống chủ nghĩa cá nhân trong môi trường xã hội và chính sách kinh tế mới là phải chống chủ nghĩa cơ hội, địa phương cục bộ, chủ nghĩa gia đình. Đây là một hiện tượng không mới nhưng phức tạp. Căn cứ vào tình hình thực tế hiện nay, để đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân có hiệu quả, mang lại giá trị đích thực, góp phần làm cho đội ngũ cán bộ, đảng viên trong sạch, vững mạnh, cần nắm vững và xử lý tốt những vấn đề sau:

Một là, kiên trì và đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị tư tưởng, biểu dương những nhân tố tích cực, những tấm gương trong sáng trong việc nêu cao tinh thần “cần kiệm liêm chính, chí công vô tư” làm việc có hiệu quả và phê phán những biểu hiện chủ nghĩa cá nhân. Tiếp tục đẩy mạnh việc “Học tập và làm việc theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Công tác tư tưởng cũng phải làm rõ những thiếu sót, bất cập trong cơ chế lãnh đạo, tổ chức quản lý, tạo môi trường cho chủ nghĩa cá nhân phát triển.

          Chống chủ nghĩa cá nhân phải bao gồm cả hai mặt: Mỗi cán bộ, đảng viên có trách nhiệm tự phòng, chống từ bản thân mình, ở ngay trong tư tưởng của mình, bằng cách luôn phấn đấu, rèn luyện để nâng cao đạo đức cách mạng.  Phương cách tốt nhất để nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân đối với mỗi cán bộ, đảng viên được Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ là tự phê bình và phê bình một cách thường xuyên, nghiêm túc, đặt lợi ích của Đảng, của nhân dân lên trên hết. “Mỗi cán bộ, đảng viên mỗi ngày phải tự kiểm điểm, tự phê bình, tự sửa chữa như mỗi ngày phải rửa mặt. Được như thế thì trong Đảng sẽ không có bệnh mà Đảng sẽ mạnh khỏe vô cùng”; Cần xã hội hóa công việc chống chủ nghĩa cá nhân bằng sự giám sát của nhân dân, bằng pháp luật, bằng thể chế để làm trong sạch môi trường xã hội, để xã hội phát triển lành mạnh. Bên cạnh việc tự phê bình và phê bình của mỗi đảng viên, các tổ chức Đảng, phải hoan nghênh và khuyến khích quần chúng thật thà phê bình cán bộ, đảng viên.

Hai là, kết hợp đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân với cuộc vận động xây dựng và chỉnh đốn Đảng.

Sự phát triển lây lan của các hiện tượng chủ nghĩa cá nhân được chỉ ra khá rõ cả về biểu hiện tác hại và nguyên nhân của nó, nhưng rõ ràng chúng ta còn hữu khuynh, còn tình trạng nể nang, nhìn nhau, không kiên quyết trong đấu tranh, xử lý.  Cần phải đặt công tác xây dựng tác phong liêm chính của Đảng và đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa cá nhân lên vị trí quan trọng trong xây dựng Đảng. Biện pháp đó phải gắn bó chặt chẽ với công tác vận động quần chúng của Đảng. Như vậy phải tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng và chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về công tác xây dựng Đảng.

Ba là, chống chủ nghĩa cá nhân trước hết phải chống tham nhũng thâm nhập sâu rộng trong đời sống kinh tế - xã hội. Kết hợp công tác này với việc xây dựng và hoàn thiện phương thức lãnh đạo của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

Vấn đề chống tham nhũng được coi là một mặt hết sức quan trọng trong công tác xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh, xây dựng Nhà nước pháp quyền. Chống tham nhũng có hiệu quả sẽ là bước đột phá quan trọng góp phần loại trừ chủ nghĩa cá nhân phát triển, khích lệ nhân tố tích cực trong guồng máy hoạt động của Đảng và Nhà nước; loại trừ chủ nghĩa cá nhân gây mất đoàn kết nội bộ, sự tha hóa về phẩm chất đạo đức của cán bộ, đảng viên mà còn làm mất chỗ dựa của các phần tử thoái hóa, biến chất, sống xa hoa, sẵn sàng cơ hội về chính trị.

Bốn là, dân chủ hoá, công khai hoá, tiêu chuẩn hoá phẩm chất và năng lực của đội ngũ cán bộ ở các cấp, các ngành. Thực hiện dân chủ hoá công khai hoá trong mọi hoạt động sẽ được nhân dân hậu thuẫn và tạo nên dư luận xã hội mạnh mẽ trong việc đấu tranh với những phần tử thái hoá, biến chất, cá nhân chủ nghĩa.

 Chống chủ nghĩa cá nhân là một việc làm thường xuyên trong mọi lĩnh vực hoạt động của Đảng trước hết là trong sinh hoạt Đảng. Đây là vấn đề nhạy cảm vì nó liên quan đến con người. Mục tiêu hướng tới là giúp cho mỗi cán bộ, đảng viên đều tiến bộ, đóng góp sức mình vào sự nghiệp cách mạng của Đảng và góp phần loại bỏ những nguy cơ thoái hoá biến chất gây mất đoàn kết và làm tha hoá phẩm chất chính trị của một số cán bộ đảng viên trong Đảng. Chúng ta không thổi phồng nhưng cũng không thể xem nhẹ nguy cơ và hậu quả của chủ nghĩa cá nhân phát triển. Phải coi chống chủ nghĩa cá nhân là một nội dung quan trọng trong đời sống sinh hoạt của Đảng.

          Năm là, chủ động phòng, tránh các biểu hiện tự diễn biến, tự chuyển hóa. Nghị quyết Hội nghị Trung ương khóa XIII đã chỉ rõ: Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên gắn với tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí vẫn nghiêm trọng, làm giảm sút niềm tin của nhân dân vào Đảng và Nhà nước. Để phòng, chống chủ nghĩa cá nhân, các biểu hiện tự diễn biến, tự chuyển hóa trong cán bộ, đảng viên, cần thực hiện nghiêm các yêu cầu nội dung sau:

          - Mở rộng, phát huy dân chủ phải gắn với tăng cường kỷ luật, kỷ cương và ý thức trách nhiệm của mỗi công dân.

          - Quan tâm, chăm lo củng cố, xây dựng Đảng vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Thật sự phát huy dân chủ đi đôi với kỷ luật, kỷ cương; giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, tăng cường đoàn kết thống nhất, gắn bó mật thiết với nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng. Xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên vững vàng.

            - Công tác lãnh đạo và chỉ đạo phải nhạy bén, kiên quyết, sáng tạo, bám sát thực tiễn đất nước; chú trọng công tác dự báo, kịp thời đề ra các giải pháp phù hợp với tình hình mới; tăng cường công tác tuyên truyền, tạo sự đồng thuận. Các thế lực thù địch tiếp tục thực hiện âm mưu "diễn biến hoà bình", gây bạo loạn lật đổ, sử dụng các chiêu bài "dân chủ", "nhân quyền" hòng làm thay đổi chế độ chính trị ở nước ta.

         Trong nội bộ, những biểu hiện xa rời mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" có những diễn biến phức tạp. Quá trình tự diễn biến, nhất là diễn biến về tư tưởng chính trị của cán bộ, đảng viên, chuyển sang tự chuyển hoá có thể diễn ra nhanh hay chậm tuỳ thuộc vào động cơ mục đích và điều kiện ngoại cảnh tác động, ảnh hưởng ở từng thời gian, thời điểm cụ thể. Do đó phải nắm chắc đặc điểm này của sự “tự diễn biến” khi chuyển sang trạng thái "tự chuyển hoá" để có biện pháp đấu tranh, ngăn chặn kịp thời, có hiệu quả.

                                                                                          BIỂN RỘNG

 

 CHỐNG SUY THOÁI VÀ “TỰ CHUYỂN HÓA”

       Thực tế “diễn biến hòa bình” ở nửa sau thế kỷ XX đã gây ra những tổn thất to lớn đối với CNXH và phong trào độc lập dân tộc ở nhiều nước, nhiều khu vực trên thế giới, nhất là đối với các nước XHCN thuộc Liên Xô (trước đây) và Đông Âu. Đối với nước ta, “diễn biến hòa bình” đã và đang là nguy cơ đe dọa độc lập dân tộc và công cuộc xây dựng CNXH. Nguy cơ này được đề cập đến từ Đại hội Đảng toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII và tiếp tục được chỉ rõ trong Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI. Một trong những nguy cơ hiện hữu của “diễn biến hòa bình” từ bên trong mà Đảng ta chỉ rõ là: “Trong nội bộ, những biểu hiện xa rời mục tiêu của CNXH, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có những diễn biến phức tạp…”.

          “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về bản chất là quá trình suy thoái từ bên trong của lực lượng cách mạng, một mặt do tác động khách quan từ âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch, mặt khác từ nguyên nhân chủ quan của một bộ phận thoái hóa trong chủ thể, trong đó nguyên nhân chủ quan có ý nghĩa quyết định. Do vậy, phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” thực chất là phòng ngừa, triệt tiêu nguyên nhân chủ quan có ý nghĩa quyết định đối với sự tồn vong của chế độ XHCN ở nước ta.

“Tình trạng một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ, đảng viên có chức, có quyền… suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cơ hội, thực dụng, cá nhân ích kỷ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc…” - như Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) chỉ ra, là những biểu hiện cụ thể của một bộ phận thoái hóa, cũng là những biểu hiện cụ thể của nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trong. Do vậy, phải tiến hành đồng thời đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” và phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, trong đó phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ có vai trò quyết định thắng lợi của cuộc đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”, bảo đảm sự tồn vong của chế độ XHCN ở nước ta.

Phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” cần được tiến hành chủ động, kiên trì, đồng bộ trên các lĩnh vực: Chính trị, kinh tế, văn hóa-xã hội, quốc phòng-an ninh, đối ngoại… Trong bài viết này, chúng tôi xin đề cập, làm rõ một số nội dung về phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên lĩnh vực chính trị, kinh tế.

           Trong phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên lĩnh vực chính trị, việc đấu tranh bảo vệ, giữ vững nền tảng tư tưởng của Đảng là điều kiện tiên quyết. Toàn Đảng cần kiên trì tiến hành cuộc đấu tranh phê phán hệ tư tưởng tư sản, tư tưởng xã hội - dân chủ, chủ nghĩa tự do mới, chủ nghĩa thực dụng mới, tư tưởng dân chủ tư sản...; kiên quyết bảo vệ Cương lĩnh, đường lối chính trị của Đảng, đặc biệt là mục tiêu, lý tưởng, kiên định con đường chúng ta đã lựa chọn, phát triển đường lối đổi mới theo định hướng XHCN. Đấu tranh bảo vệ nguyên tắc tổ chức và hoạt động, mối quan hệ giữa các thiết chế quyền lực của nhà nước XHCN; có biện pháp thiết thực củng cố và phát triển mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước với các thành tố trong hệ thống chính trị và nhân dân. Phê phán, bác bỏ các quan điểm tư tưởng và ý đồ thực hiện chủ nghĩa đa nguyên chính trị, chế độ đa đảng đối lập, cơ chế “tam quyền phân lập” của nhà nước tư sản ở Việt Nam. Phát hiện kịp thời “ngọn cờ” đối lập do chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch tạo dựng, những phần tử cơ hội, phản bội trong bộ máy lãnh đạo Đảng, Nhà nước, LLVT; xử lý kịp thời, nghiêm minh theo pháp luật các hoạt động chống đối, tập hợp lực lượng đối lập...

          Một yếu tố quan trọng là nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý điều hành của bộ máy chính quyền các cấp; xử lý đúng đắn các mâu thuẫn, những lợi ích thiết thân của các tầng lớp nhân dân, không để tích tụ tâm lý bất bình trong xã hội, trong tâm trạng bức xúc của quần chúng đối với các cơ quan công quyền. Khi xuất hiện những “điểm nóng” mâu thuẫn, xung đột xã hội cần giải quyết, xử lý đúng đắn, kịp thời, vừa “đạt lý” (trên cơ sở pháp luật) vừa “thấu tình” (hài hòa theo văn hóa, truyền thống, đạo lý dân tộc).

         Trong nội bộ hệ thống chính trị XHCN, cùng với đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng, phải tăng cường đấu tranh chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, phai nhạt lý tưởng CNXH, thực dụng, cá nhân ích kỷ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc…; chặn đứng nguy cơ thoái hóa về chính trị, tư tưởng. Trên lĩnh vực kinh tế: Xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, vững mạnh, “dân giàu, nước mạnh” là nền tảng vật chất quyết định thắng lợi của sự nghiệp xây dựng CNXH ở Việt Nam. Chú trọng phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, nền kinh tế độc lập, tự chủ, có cơ cấu hợp lý, có sức mạnh nội sinh, bền vững, khả năng cạnh tranh cao để hội nhập trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế; có khả năng thích ứng, vượt qua những biến động bất thường của nền kinh tế thế giới. Giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ văn hóa, thực hiện công bằng xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh. Tăng cường đấu tranh bảo vệ những quan điểm kinh tế cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối đổi mới kinh tế của Đảng, đặc biệt bảo vệ đường lối phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN; kịp thời phát hiện, đấu tranh hiệu quả âm mưu, thủ đoạn phá hoại nền kinh tế, lợi dụng các quan hệ kinh tế, các công cụ và thiết chế tài chính, tiền tệ quốc tế... để chi phối, kiểm soát, khống chế, chuyển hóa nền kinh tế Việt Nam thành nền kinh tế tư bản chủ nghĩa…

           Phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên lĩnh vực kinh tế, cần giải quyết tốt mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và giữ vững phẩm chất đạo đức, tư cách của người cán bộ cách mạng, nhất là đối với cán bộ có chức, có quyền, chủ trì lãnh đạo, quản lý kinh tế, không để chủ nghĩa thực dụng, “chủ nghĩa đồng tiền” chi phối các quan hệ xã hội, hoặc để xảy ra tình trạng tham ô, tham nhũng, thất thoát lớn tài sản của tập thể, của Nhà nước…liên quan đến trách nhiệm, phẩm chất, năng lực của cán bộ chủ trì.

BIỂN RỘNG


 

KHÔNG ĐỂ CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH TẠO "KHOẢNG TRỐNG" VỀ TƯ TƯỞNG, VĂN HÓA

QĐND - Trong chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam, cả trước đây cũng như hiện nay, các thế lực thù địch luôn xác định tiến công trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa (TTVH) là một “mũi đột phá” và là một nội dung trọng yếu, là vũ khí lợi hại nhất. Trong cuốn sách “1999-chiến thắng không cần chiến tranh”, R.Nixon đã xác định: “Mặt trận tư tưởng là mặt trận quyết định nhất, toàn bộ vũ khí của chúng ta, các hoạt động mậu dịch, viện trợ, quan hệ kinh tế sẽ không đi đến đâu, nếu chúng ta thất bại trên mặt trận tư tưởng!".

Thực hiện mũi tiến công trên lĩnh vực TTVH hiện nay, cùng với việc thực hiện những phương thức, thủ đoạn quen thuộc, các thế lực thù địch luôn quan tâm đổi mới cách thức, thủ đoạn tiến công để tác động vào tư tưởng, tâm lý, tình cảm, tạo ra “khoảng trống” về tư tưởng, làm nhụt ý chí, suy giảm niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân ta, tạo điều kiện để cho hệ tư tưởng tư sản ngày càng xâm nhập sâu hơn vào đời sống tinh thần của xã hội ta, nhằm đạt tới mục tiêu là xóa bỏ hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa (XHCN). Trong đó, chúng tập trung tiến công vào một số nội dung chủ yếu như:

Một là, tập trung phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, làm giảm niềm tin của nhân dân vào con đường cách mạng mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn. Chúng tập trung mọi cố gắng để chứng minh sự “lỗi thời” của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; xuyên tạc, phủ nhận bản chất cách mạng và khoa học của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để thực hiện mục tiêu, tham vọng: “Giải thể ý thức hệ cộng sản!". Chúng coi Chủ nghĩa Mác-Lênin là sản phẩm chủ quan của Mác, đồng thời cho rằng, những người cộng sản kế tục Mác nhưng không hiểu thực chất các luận điểm của Mác, nên đã vận dụng một cách giáo điều, dẫn đến sai lầm cả trong đường lối và cả trong tổ chức thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH)! Chúng trắng trợn vu cáo Đảng ta “đem tư tưởng Chủ nghĩa Mác-Lênin áp dụng vào Việt Nam là một sự gán ghép, gượng gạo dẫn đến sai lầm!". Chúng ra sức ca tụng mô hình phát triển và thích ứng “vạn năng” của chủ nghĩa tư bản. Bằng nhiều thủ đoạn mới hết sức thâm độc, các thế lực thù địch tìm cách tạo ra sự phân hóa, đối lập, xung đột trong đời sống tinh thần, tư tưởng, tình cảm của nhân dân đối với CNXH, từng bước rơi vào vòng xoáy của tư tưởng, giá trị tư sản. Mặt khác, chúng còn hướng nhận thức của nhân dân tin theo con đường “CNXH dân chủ”, “CNXH nhân văn”, “nhân bản”, mà thực chất là từ bỏ CNXH khoa học.

Hai là, tuyên truyền xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh, thân thế và sự nghiệp vĩ đại của Người, tách rời và đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với Chủ nghĩa Mác-Lênin. Trong khi toàn thể dân tộc và nhân loại đều khẳng định công lao và sự nghiệp vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh thì các thế lực thù địch lại lớn tiếng xuyên tạc: Hồ Chí Minh du nhập Chủ nghĩa Mác-Lênin với học thuyết đấu tranh giai cấp gây ra cảnh “nồi da nấu thịt” suốt mấy chục năm! Rằng “Con đường Hồ Chí Minh đã lựa chọn là con đường dân tộc, không phải CNXH!". Chúng xuyên tạc trắng trợn nhằm thực hiện ý đồ “hạ thần tượng Hồ Chí Minh”, trong đó, dựng chuyện bôi nhọ thân thế và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chúng còn dùng thủ đoạn đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh đến mức đối lập với Chủ nghĩa Mác-Lênin!

Ba là, xuyên tạc, bôi đen giá trị văn hóa, đạo đức, lối sống XHCN; đồng thời, ra sức du nhập văn hóa, đạo đức, lối sống tư sản. Nhận rõ vai trò to lớn của văn hóa, đạo đức, lối sống trong đời sống tinh thần của xã hội ta hiện nay, nhất là trước yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, dưới sự tác động của cơ chế thị trường, mở cửa, hội nhập quốc tế, chúng ra sức xuyên tạc, bôi đen giá trị văn hóa, đạo đức, lối sống XHCN trong đời sống tinh thần của xã hội ta hiện nay; đồng thời, ra sức tuyên truyền, quảng bá, tìm cách du nhập văn hóa, lối sống phương Tây vào nước ta. Coi đây là một vấn đề then chốt trong chiến lược “diễn biến hòa bình” chống Việt Nam trên lĩnh vực văn hóa hiện nay.

Chúng luôn khuyến khích khuynh hướng đòi văn hóa, văn nghệ (VHVN) hoạt động độc lập với chính trị, phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng, phủ nhận sự quản lý của Nhà nước, đối với VHVN, tìm cách lôi kéo các văn nghệ sĩ sáng tác theo khuynh hướng văn hóa, nghệ thuật phương Tây, hạ thấp, coi rẻ truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc, khuyến khích các giá trị văn hóa cá nhân cực đoan, đề cao giá trị “dân chủ”, “tự do” tư sản; làm tha hóa thế hệ trẻ bằng “văn hóa, tư tưởng, lối sống Mỹ”, nhằm tạo ra một thế hệ “mất gốc”, phủ nhận các giá trị truyền thống dân tộc, thích đua đòi, ăn chơi hưởng lạc, kích thích các tệ nạn xã hội phát triển. Thông qua các quan hệ giao lưu văn hóa, chúng tìm mọi cách để tuyên truyền xuyên tạc làm cho tư tưởng, lối sống tư sản xâm nhập vào đời sống xã hội ta, lấn át các giá trị truyền thống dân tộc tốt đẹp. Các lực lượng phản động bên trong và bên ngoài phối hợp chặt chẽ với nhau để đưa một số lớn tài liệu, sách báo, truyền đơn, băng hình, băng nhạc, tán phát trên internet có nội dung phản động, đồi trụy. Chúng đưa nhiều thông tin sai lệch, độc hại lên internet, qua đó tác động xấu tới nhận thức, thị hiếu thẩm mỹ, văn hóa, lối sống của nhân dân ta.

Bốn là, sử dụng các cách thức, biện pháp, phương tiện để đưa TTVH, lối sống tư sản xâm nhập vào Việt Nam. Để thực hiện các âm mưu, thủ đoạn tuyên truyền phản động, các thế lực thù địch đã triệt để sử dụng phương tiện thông tin đại chúng, như: Sách, báo, phim ảnh, internet, mạng xã hội… để phá hoại trận địa tư tưởng của ta. Chúng sử dụng các đài phát thanh và truyền hình, các tờ báo và tạp chí tiếng Việt, các nhà xuất bản ở nước ngoài để tuyên truyền chống phá ta trên mặt trận TTVH. Chúng triệt để lợi dụng các con đường hợp tác văn hóa để tiếp xúc, mời các nhà văn, các đoàn nghệ thuật sang thăm, học tập, “trao đổi” văn hóa; đặc biệt quan tâm tìm cách tiếp cận giới trẻ, văn nghệ sĩ để tác động, làm cho họ nhanh chóng quên đi lý tưởng xây dựng XHCN và say mê với lối sống, văn hóa phương Tây. Thúc đẩy việc truyền bá văn hóa phương Tây đối với học sinh, sinh viên, cán bộ đi học tập, công tác ở nước ngoài. Chúng coi đây là biện pháp tốt nhất để chuyển hóa TTVH, thực hành “diễn biến hòa bình” đối với lớp trẻ theo con đường tư bản chủ nghĩa với “giá rẻ”, mà hiệu quả đạt được lại cao, “một đô la cho tuyên truyền có tác dụng ngang với năm đô la chi cho quốc phòng".

Để góp phần bảo vệ Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; giữ vững trận địa tư tưởng vô sản; xây dựng và phát huy nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa trong tình hình mới, cần phải thực hiện tốt một số nội dung và biện pháp chủ yếu sau:

Một là, nâng cao chất lượng giáo dục, tuyên truyền Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong toàn xã hội. Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hoạt động của Đảng và nhân dân ta. Sự nghiệp đổi mới đất nước đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, trước hết và trên hết là do Đảng ta nhận thức đúng đắn và vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể của Việt Nam. Trong bối cảnh tình hình hiện nay, Đảng ta tiếp tục khẳng định lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng ta.

Nâng cao hiệu quả giáo dục chính trị tư tưởng, nhất là giáo dục Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, trước hết cần tập trung: Đẩy mạnh công tác nghiên cứu Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; quán triệt sâu sắc đường lối, chủ trương của Đảng trong các văn kiện Đại hội XII và các nghị quyết Trung ương khóa XII, nhất là Nghị quyết Trung ương 8 (khóa IX, khóa XI) về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”; thống nhất chương trình, nội dung học tập cho các đối tượng trong toàn xã hội; chống làm theo kiểu phong trào, hình thức, phô trương. Đồng thời, kiên quyết đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng; bảo vệ, phát triển và làm cho Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần của xã hội ta. Giáo dục sâu rộng chủ nghĩa yêu nước XHCN, lý tưởng cách mạng; tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, tạo ra sự “miễn dịch”, tăng cường “sức đề kháng” cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trước các đòn tiến công về chính trị tư tưởng của các thế lực thù địch và sự xâm nhập của tư tưởng tư sản.

Hai là, đẩy mạnh đấu tranh tư tưởng, văn hóa. Đấu tranh TTVH là đòn trực diện tấn công vào các quan điểm phản động, thù địch, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trong tình hình mới. Theo đó, cần thực hiện tốt một số nội dung, biện pháp chính, như: Chủ động tiến hành cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận sâu rộng, củng cố nhận thức, quan điểm của cán bộ, đảng viên và nhân dân; đồng thời, làm thất bại các quan điểm, tư tưởng chống đối từ nhiều phía. Tăng cường tính chủ động, tinh thần đấu tranh chống các luận điệu chống phá nước ta dưới chiêu bài dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo. Các cấp, các ngành từ Trung ương đến địa phương, cơ sở, cần có kế hoạch ngăn chặn ý đồ của các thế lực thù địch trong việc tác động, từng bước làm chuyển hóa tư tưởng chính trị của cán bộ, đảng viên và nhân dân ta theo quan điểm tư tưởng tư sản phương Tây. Nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân về những quan điểm, tư tưởng đổi mới của Đảng; vô hiệu hóa các luận điệu, các hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; bảo vệ thành công trận địa tư tưởng, quan điểm của Đảng trong quá trình đổi mới. Củng cố, giữ vững niềm tin vào thắng lợi của cách mạng, vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, vào con đường đi lên CNXH trong cán bộ, đảng viên và nhân dân. Nâng cao ý thức và trách nhiệm của các cấp, các ngành, các đoàn thể xã hội và mọi tầng lớp nhân dân trong đấu tranh chống các quan điểm, tư tưởng sai trái, phản động, bảo vệ nền tảng tư tưởng, bảo vệ quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Ba là, bảo đảm định hướng chính trị trong các sinh hoạt văn hóa và hoạt động của các phương tiện thông tin đại chúng. Các sinh hoạt văn hóa và hoạt động của các phương tiện thông tin đại chúng phải hướng vào phục vụ, cải thiện và nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân, góp phần tích cực vào quá trình xây dựng con người Việt Nam mới, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Chống mọi biểu hiện “thương mại hóa”, “phi chính trị” trong các hoạt động văn hóa, nghệ thuật. Tăng cường lãnh đạo, quản lý công tác thông tin, báo chí, xuất bản, VHVN; kịp thời ngăn chặn những quan điểm lệch lạc, thương mại hóa, xa rời tôn chỉ mục đích, lộ bí mật quốc gia, gây rối nội bộ. Đẩy mạnh và nâng cao chất lượng chính trị các hoạt động văn hóa, làm thất bại âm mưu của các thế lực thù địch hòng thay đổi hệ giá trị văn hóa Việt Nam bằng hệ “giá trị” văn hóa tư sản; bảo vệ và phát triển nền văn hóa truyền thống, cách mạng, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong tình hình mới.

                                                                            BIỂN RỘNG

 

PHÒNG CHỐNG "DIỄN BIẾN HÒA BÌNH" TRONG TÌNH HÌNH HIỆN NAY

Hiện nay, môi trường mà các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đã, đang và sẽ tập trung sử dụng internet, không gian mạng, chủ yếu là mạng xã hội để chống phá cách mạng nước ta, do vậy, việc phòng, chống “diễn biến hòa bình” trong tình hình mới cần nhận diện và lưu ý một số vấn đề.

Hiện nay, môi trường mà các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đã, đang và sẽ tập trung chủ yếu là sử dụng internet, không gian mạng, chủ yếu là mạng xã hội để chống phá cách mạng nước ta. Thông qua việc thiết lập các website, blog để tổ chức truyền tải thông tin xấu, độc nhằm:

1) Phá hoại tư tưởng, đời sống văn hóa tinh thần của các tầng lớp nhân dân;

2) Gây nhiễu loạn thông tin, làm phức tạp về chính trị xã hội;

3) Làm suy giảm niềm tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước và chính quyền các cấp.

 Chiêu bài chính chúng tập trung hướng vào là lợi dụng những sơ hở, thiếu sót trong quản lý kinh tế, văn hóa, xã hội; khai thác thông tin từ những vụ việc tiêu cực xảy ra trong đời sống để xuyên tạc, thổi phồng; lấy hiện tượng quy kết thành bản chất; đăng tải thông tin thật, giả lẫn lộn, đưa ra cái gọi là “tài liệu chứng minh” để, xuyên tạc vai trò lãnh đạo, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; bịa đặt về bí mật theo kiểu hé lộ những “thâm cung bí sử” trong Đảng… Qua đó, tác động “dương Đông kích Tây” làm gia tăng các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ và kích động xã hội nảy sinh quan điểm tùy tiện, phản biện vô nguyên tắc, phản đối chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, kêu gọi từ bỏ Đảng, chủ nghĩa Mác - Lênin; thúc đẩy lối sống thực dụng, thẩm thấu tư tưởng văn hóa ngoại lai vào đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân (nhất là thế hệ trẻ) làm phai nhạt lý tưởng cách mạng, băng hoại đạo đức xã hội...

Trước yêu cầu nhiệm vụ mới, công tác đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa chính là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng, phải được triển khai tích cực, thường xuyên và lâu dài. Trong đấu tranh phải kiên quyết, linh hoạt, chủ động, kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, lấy “xây” làm chính. Từ đó, chú trọng một số vấn đề cụ thể là:

Một là, cấp ủy, lãnh đạo, quản lý các cấp, các ngành phải không ngừng nâng cao nhận thức trong cuộc đấu tranh này; phải xác định rõ, quá trình tổ chức đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” không phải thực hiện theo kiểu mệnh lệnh, cơ học, bắt ép cộng đồng phải nhận thức, suy nghĩ và hành động trên một khuôn mẫu chủ quan, duy ý chí, mà là quá trình định hướng tiếp nhận thông tin một cách khách quan, có chọn lọc theo tâm lý, nguyện vọng, nhu cầu, lợi ích thụ hưởng thông tin của nhân dân. Trên cơ sở ấy mới có thể quy tụ được lòng người, thống nhất cộng đồng trên cả hai bình diện nhận thức và hành động nhằm loại bỏ cái xấu, thúc đẩy phát triển cái tốt, cái đẹp, tạo sự lan tỏa trong xã hội. Cơ sở quan trọng nhất để tạo nên tư tưởng xã hội tốt chính là người dân được tiếp nhận thông tin nhanh nhất, phản ánh chân thực, khách quan nhất. Từ đó, thống nhất nhận thức làm cơ sở cho thống nhất ý chí và hành động.

Việc định hướng thông tin đối với cán bộ, đảng viên và nhân dân phải được thực hiện thống nhất giữa mục tiêu đặt ra của hệ thống chính trị, của nhà lãnh đạo, quản lý các cấp với nhu cầu cần cung cấp thông tin chính thống của quần chúng nhân dân. Để bảo đảm được tính thống nhất này, liên quan đến các sự kiện chính trị, các vụ việc phức tạp, nhạy cảm nảy sinh trong đời sống xã hội, các cơ quan chức năng từ Trung ương đến địa phương theo phân cấp quản lý cần cung cấp thông tin kịp thời để định hướng xử lý, đề xuất phương án chỉ đạo và thực hiện một cách chủ động và khoa học. Cơ chế thực hiện công tác thông tin về những vấn đề phức tạp, nhạy cảm cần được xây dựng thành văn bản, quy định rõ ràng về trách nhiệm và quyền hạn của tập thể, cá nhân.

 Hai là, trước những sự kiện chính trị, nhất là các vụ việc phức tạp, nhạy cảm tác động đến tư tưởng của đông đảo cán bộ, đảng viên và nhân dân, các cơ quan thông tin, truyền thông cần khai thác thông tin từ cơ quan chức năng chịu trách nhiệm cung cấp, để thông tin, bình luận trung thực, khách quan, thu hút độc giả vào tầm ảnh hưởng của mình, góp phần định hướng, tạo sự thống nhất trong nhận thức, thái độ và phương pháp giải quyết vấn đề. Về bản chất, đó mới chính là trách nhiệm và nghĩa vụ của các cơ quan thông tin, truyền thông trước Đảng và Nhà nước, trước công chúng và lịch sử. Thực tiễn đã chứng minh, trước những vấn đề bức xúc về tư tưởng, dù độ phức tạp của sự việc đến đâu, nếu thực hiện công tác thông tin kịp thời, đúng đắn, làm tốt định hướng thông tin, thì sự việc sẽ được giải quyết một cách ổn thỏa, bức xúc trong xã hội sẽ được giải tỏa, nhất là không còn cơ hội để các thế lực thù địch, phản động lợi dụng xuyên tạc, bịa đặt chống phá.

Ba là, nâng cao trách nhiệm xã hội, trách nhiệm chính trị, trách nhiệm pháp lý và trách nhiệm đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ những người làm báo. Mọi trách nhiệm trên các phương diện này chỉ có thể được thực hiện khi báo chí thực hiện đúng tôn chỉ, mục đích, mang hơi thở chân thực của cuộc sống. Qua đó, thu hút được đông đảo người đọc, người nghe, người xem quan tâm. Bốn là, xây dựng cơ chế, hình thức và nội dung phát ngôn của cơ quan chịu trách nhiệm trước những vấn đề phức tạp, nhạy cảm. Nhân dân có nhu cầu được cung cấp thông tin về quan điểm của Đảng, Nhà nước trong việc giải quyết những vấn đề như vậy. Sự lên tiếng chính thức, kịp thời của cơ quan có trách nhiệm cũng thể hiện rõ trách nhiệm và năng lực lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của cấp ủy và chính quyền các cấp, các ngành trước mỗi vấn đề, sự kiện nảy sinh; đồng thời, nếu được thực hiện tốt sẽ là một biện pháp hiệu quả để định hướng dư luận, củng cố niềm tin, tạo sức đề kháng thúc đẩy phát triển và tiến bộ xã hội.

Công tác thông tin cần nhận diện, phát hiện và dự báo sớm một số vấn đề có thể gây bức xúc về tư tưởng và phải luôn đi trước, đi cùng trong quá trình giải quyết vụ việc. Cơ quan có trách nhiệm thực hiện công tác định hướng thông tin tuyên truyền các cấp cần được tham gia ngay từ khâu hoạch định chính sách, dự án đến quá trình triển khai thực hiện. Phải có sự vào cuộc tích cực của các cấp ủy, chính quyền, lãnh đạo ban tuyên giáo các cấp kịp thời bám sát thực tiễn, bảo đảm tính chính xác, có chiều sâu trí tuệ, phù hợp với lợi ích và nguyện vọng của nhân dân thì mới hạn chế tối đa những tác động của thông tin xấu, độc trên internet hiện nay.

 Năm là, khắc phục sự yếu kém trong quản lý những nội dung thông tin trên mạng internet phản ánh phiến diện, suy diễn liên quan đến các vụ việc phức tạp, những bài viết thiếu tính chính xác, sai lệch bản chất về những vấn đề văn hóa, chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống. Tăng cường nâng cao chất lượng công tác kiểm soát, định hướng trong việc đưa thông tin chạy theo thị hiếu tầm thường, giật gân, câu khách của một số báo điện tử.

Cần nắm vững quyền chủ động trong công tác định hướng tư tưởng và dư luận xã hội trên không gian mạng, cụ thể là:

1) Chủ động thiết kế xây dựng chủ đề để dẫn dắt dư luận; việc lựa chọn chủ đề cần tăng tính tương tác, tạo sự gần gũi, sử dụng nhiều ngôn ngữ và hình thức được cư dân mạng ưa thích, thông tin một cách sinh động, cụ thể, gắn với cuộc sống, cần “phân loại” công chúng trên cộng đồng mạng để xác định, lựa chọn cách thức, phương pháp dẫn dắt chuẩn xác theo kiểu “mỗi cái chìa chỉ mở được một cái ổ khóa”.

2) Nắm vững quy luật truyền tải thông tin. Internet có quy luật riêng, chỉ khi nắm chắc quy luật, nghiên cứu chắc tâm lý của cư dân mạng, thích ứng với các kỹ thuật mới, ứng dụng mới trong vận dụng quy luật truyền tải trên mạng, thì công tác định hướng tư tưởng, dư luận trên mạng mới có kết quả. Việc truyền tải thông tin tuyên truyền dẫn dắt dư luận trên mạng không chỉ cần coi trọng nguồn gốc thông tin, mà còn phải coi trọng việc dẫn dắt và bảo vệ quá trình truyền tải, lưu thông thông tin.

3) Sự thống nhất thông tin trong truyền thông không phải là sự chắp nối đơn giản, mà là sự sắp xếp thống nhất trong hệ thống, giữa thông tin phản ánh trên báo chí, truyền hình và thông tin trên báo chí điện tử, trang tin điện tử... tạo thành chuỗi dòng chảy thông tin tích cực, lan tỏa nhanh trong cộng đồng, góp phần định hướng nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân, nhất là thế hệ trẻ./.

                                                                                BIỂN RỘNG

 

TẬN CÙNG CỦA SỰ VÔ LIÊM SỈ

                                                                                                               LMH

Tôi thấy kẻ nào vẽ ra logo “con rắn ngậm phong bì" cũng như những kẻ mượn gió bẻ măng để xuyên tạc vụ việc trên là những kẻ tận cùng của sự vô liêm sĩ, sỉ nhục vào lòng tự trọng đối với y bác sỹ chân chính trong ngành y Việt Nam. Những y bác sĩ chân chính làm việc trong ngành y Việt Nam bởi sự yêu thương người bệnh: thương người như thể thương thân, lương y như từ mẫu, vì “chót” yêu cái nghề cao quý, nghề cứu người này.

Trong đại dịch Covid19 vừa qua, biết bao tấm gương y bác sỹ - đội quân tiên phong chống dịch, cứu dân. Trong số đó đã không ít những y bác sỹ có người thân đã bị chết do Covid-19 mà không thể về. Trong đại dịch Covid19 vừa qua, biết bao tấm gương y bác sỹ - đội quân tiên phong chống dịch, cứu dân. Trong số đó đã không ít những y bác sỹ có người thân đã bị chết do Covid-19 mà không thể vê thắp nén nhang chỉ vì họ đang ở tuyến đầu chống dịch.

Trong công cuộc chống dịch đó đã có không ít người trong ngành y lập trường, tư tưởng bị lung lay, ảnh hưởng của viên đạn bọc đường, quên lời thề của Hypocrat, quên lời dạy của Bác Hồ... đã cấu kết với Việt Á để thao túng chính sách, tham nhũng ngân sách của nhà nước... và cuối cùng họ đều dính vòng lao lý. Nhưng họ không đại diện cho hơn nửa triệu cán bộ ngành y Việt Nam đã chiến thắng đại dịch Covid-19.

Những cán bộ liêm chính trong ngành y, họ không phải anh hùng, họ cũng không cần danh hiệu, họ chiến đấu chống dịch cứu dân như 1 người lính chiến khi có thiên tai địch họa và cũng có không ít người đã hy sinh vì nghĩa lớn.

Vì một kẻ vô liêm sỷ vẽ tấm logo “con rắn ngậm chiếc phong bì”, vì ke hở trong việc chọn logo cho buổi thi mà những y bác sĩ chân chính bị hạ nhục, chịu tiếng xấu. Và không ít những kẻ “mượn gió bẻ măng” để bôi xấu, xuyên tạc ngành y Việt Nam; nói xấu, chỉ trích những chiến sỹ đã quên mình trong chống dịch, trong khám chữa bệnh cho hàng chục triệu người dân. Như vậy liệu có công bằng với họ không? Họ có đáng chịu đựng như vậy không?

Nói thật, các y bác sỹ, họ cũng là con người với thu nhập ít ỏi, không ít y bác sỹ đã bỏ việc để chuyển nghề, để ra bệnh viện ngoài làm việc. Các vị có hiểu, có biết việc đó không ? Đừng lợi dụng hành vi vô liêm của cái tay thiết kế kia để phủ nhận công sức, xương máu và các giá trị nhân văn của ngành y Việt Nam. Đại đa số cán bộ ngành y Việt Nam đã rất nỗ lực, rất cố gắng trong việc thực hiện chức trách nhiệm vụ của mình với mức thu nhập ít ỏi. Họ cũng có gia đình, có cuộc sống, có các mối quan hệ.... chứ đâu phải họ là thánh, là thần.

Tôi nghĩ rằng, chúng ta không có quyền lấy cái sai của số ít người để áp đặt lên hơn nửa triệu cán bộ ngành y. Hãy thôi đi cái trò bỉ ổi vô liêm để áp đặt lên ngành y. Hãy thôi đi cái trò mượn gió bẻ măng để phủ nhận công lao, sự nỗ lực của đội ngũ cán bộngành y Việt Nam. Nghề nào cũng có tiêu cực, có mặt sau của sự việc. Nhưng không thể phủ nhận thành quả của ngành đó khi đã đem lại cho cuộc sống, cho một xã hội tốt đẹp, cho sức khỏe của nhân dân.