Chủ Nhật, 25 tháng 9, 2022

 

VẤN ĐỀ “ĐỐI TÁC” VÀ “ĐỐI TƯỢNG” TRONG VĂN KIỆN ĐẠI HỘI XIII CỦA ĐẢNG

                                                                                                Nhân Trần

Quá trình phát triển nhận thức của Đảng về “đối tác” và “đối tượng” trong quan hệ đối ngoại từ khi thực hiện công cuộc đổi mới đến nay. Sự phát triển nhận thức và quan điểm của Đảng về “đối tác” và “đối tượng” trong chính sách đối ngoại gắn liền với công cuộc đổi mới toàn diện đất nước được khởi xướng từ Đại hội VI của Đảng (tháng 12-1986). Trong định hướng đối ngoại được Đại hội VI xác định, ngoài việc khẳng định tăng cường quan hệ truyền thống đặc biệt giữa ba nước Đông Dương, quan hệ hữu nghị và hợp tác toàn diện với các nước trong khối xã hội chủ nghĩa, Đảng ta còn bày tỏ mong muốn sẵn sàng hợp tác với các nước có chế độ chính trị - xã hội khác nhau. Quan điểm này phát triển dựa trên nhận thức của Đảng ta, đó là “ra sức kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại” nhằm tranh thủ mọi nguồn lực để phục vụ sự nghiệp phát triển của đất nước. Tuy nhiên, bước chuyển thực sự mang tính chiến lược về nhận thức và quan điểm đối ngoại của Đảng được thể hiện qua Nghị quyết số 13/NQ-TW, ngày 20-5-1988, của Bộ Chính trị, “Về nhiệm vụ và chính sách đối ngoại trong tình hình mới”. Nghị quyết chỉ ra chiến lược đối ngoại của Việt Nam là “thêm bạn, bớt thù”, vừa hợp tác, vừa đấu tranh, cùng tồn tại hòa bình, “mở rộng quan hệ và đa dạng hóa quan hệ hợp tác quốc tế” với mục tiêu giữ vững môi trường hòa bình, thúc đẩy hội nhập quốc tế, phá thế bao vây, cấm vận, thu hút sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế đối với công cuộc đổi mới của đất nước. Nghị quyết số 13/NQ-TW được xem như bước ngoặt về tư duy đối ngoại có tầm chiến lược và là nền tảng để Đảng ta phát triển và mở rộng hơn nữa chính sách đối ngoại trong giai đoạn tiếp theo.

Đến Đại hội VII (tháng 6-1991), Đảng ta nêu rõ “chủ trương hợp tác bình đẳng và cùng có lợi với tất cả các nước, không phân biệt chế độ chính trị - xã hội khác nhau trên cơ sở các nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình”. Với chính sách đối ngoại rộng mở, Đảng ta khẳng định: “Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”. Ở thời điểm đó, với uy tín và vị thế của đất nước, có thể hiểu Việt Nam “muốn là bạn với tất cả các nước” là chủ động thúc đẩy quan hệ và mong muốn trở thành “đối tác” của các nước. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được thông qua tại Đại hội VII của Đảng cũng xác định phương hướng đối ngoại của Việt Nam: “Thực hiện chính sách đối ngoại hòa bình, hợp tác và hữu nghị với tất cả các nước”. Theo đó, kết quả đạt được thời kỳ này là Việt Nam đã phá được thế bị bao vây, cấm vận; triển khai tích cực và năng động đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa; khôi phục, mở rộng và thiết lập quan hệ ngoại giao với tất cả các nước lớn, trong đó bước ngoặt quan trọng là việc bình thường hóa quan hệ với Mỹ, ký kết Hiệp định khung với EU và gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á trong cùng năm 1995.

Kế thừa đường lối đối ngoại và phát huy thành quả tích cực đạt được trên các lĩnh vực sau 10 năm đổi mới, lần đầu tiên Báo cáo chính trị tại Đại hội VIII của Đảng (năm 1996) khẳng định: “tiếp tục thực hiện chính sách đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa phương hóa và đa dạng hóa với tinh thần Việt Nam muốn là bạn của tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển... Hợp tác nhiều mặt, song phương và đa phương với các nước, các tổ chức quốc tế và khu vực trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi, thông qua thương lượng để tìm những giải pháp phù hợp giải quyết các vấn đề tồn tại và tranh chấp, bảo đảm hòa bình, ổn định, an ninh, hợp tác và phát triển”.

Bước sang thế kỷ XXI, sau 15 năm đổi mới, thế và lực của Việt Nam được tăng cường, uy tín trên trường quốc tế ngày một nâng cao. Từ đó, Đại hội IX của Đảng (tháng 4-2001) đã điều chỉnh phương châm “Việt Nam muốn là bạn của tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế” thành “Việt Nam sẵn sàng là bạn” và lần đầu tiên nhấn mạnh thêm “là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”. Cụm từ “Việt Nam sẵn sàng là bạn” có thể được diễn giải với những thành tựu đạt được, vị thế quốc tế của Việt Nam đã được nâng cao sau 15 năm đổi mới, cho phép Việt Nam không chỉ chủ động mà còn đón nhận sự chủ động từ các “đối tác” muốn thúc đẩy và phát triển quan hệ với một nước Việt Nam đổi mới. Nói cách khác, quan hệ “đối tác” trong hoạt động đối ngoại của Việt Nam đã có sự thúc đẩy hai chiều. Việc bổ sung cụm từ “là đối tác tin cậy” cho thấy, Việt Nam không chỉ mong muốn mở rộng quan hệ, mà còn nâng cấp quan hệ lên tầm cao mới, đồng thời đặt tiền đề cho việc xác định đối tác trong quan hệ đối ngoại của Việt Nam.

Trước Đại hội IX của Đảng, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 07 NQ/TW, ngày 27-11-2001, “Về hội nhập kinh tế quốc tế”, trong đó đề ra phương châm chỉ đạo trong hợp tác quốc tế nhằm tranh thủ tối đa nguồn lực bên ngoài để phục vụ phát triển kinh tế đất nước. Theo đó, Nghị quyết chỉ ra: “hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình vừa hợp tác, vừa đấu tranh, vừa có nhiều cơ hội, vừa không ít thách thức, do đó cần tỉnh táo, khôn khéo và linh hoạt trong việc xử lý tính hai mặt của hội nhập tùy theo đối tượng, vấn đề, trường hợp, thời điểm cụ thể”; đồng thời, nhấn mạnh việc “kết hợp chặt chẽ quá trình hội nhập kinh tế quốc tế với yêu cầu giữ vững an ninh, quốc phòng..., cảnh giác với những mưu toan thông qua hội nhập để thực hiện ý đồ “diễn biến hòa bình” đối với nước ta”.

Đến giữa nhiệm kỳ khóa IX, Hội nghị Trung ương 8 (tháng 7-2003) thông qua Nghị quyết “Về chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”. Điểm nổi bật và có ý nghĩa của Nghị quyết này đó là lần đầu tiên một văn bản chính thức của Đảng đưa ra nguyên tắc xác định “đối tác” và “đối tượng” trong quan hệ quốc tế của Việt Nam. Việc đưa ra nguyên tắc này xuất phát từ tình hình thực tiễn trong quan hệ quốc tế ngày một mở rộng và đa dạng của Việt Nam; đồng thời, giúp có cái nhìn biện chứng giữa hợp tác và đấu tranh, giữa lợi ích kinh tế và giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm an ninh quốc gia, giữa lợi ích quốc gia - dân tộc và nghĩa vụ khi hội nhập quốc tế. Có thể nói, việc xác định và chỉ rõ phạm vi “đối tượng” và “đối tác” trong Nghị quyết Trung ương 8 khóa IX là sự phát triển nhận thức, tư duy nhạy bén và biện chứng có tầm chiến lược của Đảng, phù hợp với xu thế diễn biến nhanh chóng trong quan hệ quốc tế. Điều này giúp Việt Nam tránh được sự mơ hồ và thoát khỏi tư duy cực đoan về “bạn - thù” trong thời kỳ Chiến tranh lạnh.

Các Đại hội X (tháng 4-2006), Đại hội XI (tháng 1-2011) và Đại hội XII (tháng 1-2016) của Đảng tiếp tục khẳng định chính sách đối ngoại nhất quán của Việt Nam là “đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ”, nhấn mạnh cần “chủ động và tích cực” hội nhập quốc tế, nhưng trên hết là vì lợi ích quốc gia - dân tộc. Đặc biệt, kế thừa Nghị quyết Trung ương 8 khóa IX, Hội nghị Trung ương 8 khóa XI đã thông qua Nghị quyết số 28-NQ/TW, ngày 25-10-2013, “Về chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”. Nghị quyết số 28-NQ/TW đưa ra quan điểm về “đối tác” và “đối tượng”, theo đó những ai tôn trọng độc lập chủ quyền, thiết lập và mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác bình đẳng cùng có lợi với Việt Nam đều là đối tác; bất kể lực lượng nào có âm mưu và hành động chống phá mục tiêu cách mạng Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đều là đối tượng đấu tranh của Việt Nam. Có thể nói, việc xác định “đối tác” và “đối tượng” này là cơ sở để xử lý đúng đắn trong hoạt động đối ngoại, thể hiện rõ mối quan hệ hữu cơ và biện chứng của hai nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Việc xác định “đối tác” như vậy là phù hợp và nhất quán với quan điểm của Đảng ngay từ khi tiến hành công cuộc đổi mới, đó là: Việt Nam muốn/sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế. Trong khi đó, theo diễn biến của tình hình thế giới và quá trình thực hiện sự nghiệp cách mạng, thực tiễn đã chỉ ra “đối tượng” ở đây bao gồm không chỉ các thế lực có âm mưu, hành động gây chiến tranh, bạo loạn lật đổ chế độ và Nhà nước xã hội chủ nghĩa, mà còn là những lực lượng xâm phạm độc lập, chủ quyền, lợi ích quốc gia, dân tộc bằng phương thức vũ trang và phi vũ trang, cả từ bên trong và bên ngoài đất nước. Tuy nhiên, điều quan trọng là không được cứng nhắc trong tư duy, chỉ nhìn thấy một mặt trong “đối tác” hay “đối tượng”. Điều này dễ dẫn tới sa vào thái độ cực đoan. Với nhận thức đó, Nghị quyết cho rằng “trong tình hình diễn biến nhanh chóng và phức tạp hiện nay, cần có cách nhìn biện chứng: Trong mỗi đối tượng vẫn có thể có mặt cần tranh thủ, hợp tác; trong mỗi đối tác có thể có mặt mâu thuẫn với lợi ích của ta cần phải đấu tranh”. Sự phát triển nhận thức và quan điểm của Đảng về “đối tác” và “đối tượng”, phương thức áp dụng là biện chứng và phù hợp với thực tiễn. Từ quan điểm của Nghị quyết số 28-NQ/TW, Đại hội XII của Đảng nhấn mạnh hoạt động đối ngoại của Việt Nam bao gồm hai mặt “hợp tác và đấu tranh”.

Như vậy, có thể tóm lược một cách ngắn gọn rằng, “đối tác” được hiểu là “đối tác hợp tác”, còn “đối tượng” là “đối tượng đấu tranh”. Và dù là “đối tác hợp tác” hay “đối tượng đấu tranh” thì mục tiêu cuối cùng và tối thượng là vì “lợi ích quốc gia - dân tộc”, “giữ vững ổn định an ninh quốc gia, trật tự xã hội, bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa”.

 “Đối tác” và “đối tượng” trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng. Sau khi phân tích tình hình thế giới và khu vực, khẳng định Việt Nam kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại, Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, Báo cáo chính trị tại Đại hội XIII của Đảng đưa ra định hướng hoạt động đối ngoại, đó là: “Đẩy mạnh đối ngoại song phương và nâng tầm đối ngoại đa phương... Coi trọng phát triển quan hệ hợp tác, hữu nghị, truyền thống với các nước láng giềng... Đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn quan hệ hợp tác song phương với các đối tác, đặc biệt là các đối tác chiến lược, đối tác toàn diện và đối tác quan trọng khác... Kiên quyết, kiên trì đấu tranh, làm thất bại mọi âm mưu, hành động can thiệp của các thế lực thù địch vào công việc nội bộ, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh quốc gia và ổn định chính trị đất nước”.

Nhìn một cách tổng quát, chính sách đối ngoại được Đại hội XIII của Đảng thông qua là sự kế thừa và tiếp nối chính sách đối ngoại từ khi thực hiện công cuộc đổi mới đến nay, nhất là chính sách đối ngoại được thông qua tại Đại hội XII của Đảng (năm 2016), với chủ trương nhất quán là “đa dạng hóa và đa phương hóa trong quan hệ đối ngoại”, “Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”.

Về “đối tác”, có thể dễ dàng nhận thấy ngoài hai nước Lào và Cam-pu-chia có quan hệ “láng giềng đặc biệt”, cho đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với 17 nước và đối tác toàn diện với 13 nước. Trong số các đối tác, Việt Nam cũng đặt thứ tự ưu tiên với các nước láng giềng, tiếp đó là các đối tác chiến lược và đối tác toàn diện.

Tuy nhiên, quan hệ đối tác của Việt Nam không chỉ dừng lại ở những đối tác truyền thống, đối tác chiến lược và đối tác toàn diện, mà còn bao gồm cả các “đối tác quan trọng khác”. Hàm ý của “đối tác quan trọng khác” này dựa trên phạm vi quan hệ đối ngoại sâu rộng hiện nay của Việt Nam. Cho đến nay, Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với 189/193 nước thành viên của Liên hợp quốc, là thành viên của nhiều tổ chức khu vực và quốc tế; đã ký kết 15 hiệp định thương mại tự do (FTA), trong đó FTA song phương Việt Nam - Anh và Hiệp định Đối tác Kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) là những FTA mới nhất. Với mạng lưới quan hệ đối ngoại sâu rộng và nhiều tầng nấc như vậy, Việt Nam có lợi ích đan xen giữa các đối tác với nhau. Vì vậy, nói một cách khác, “đối tác” của Việt Nam là tất cả những nước đã thiết lập quan hệ ngoại giao, là những nước có quan hệ kinh tế với Việt Nam, là những thành viên trong các tổ chức khu vực và thế giới (như ASEAN và Liên hợp quốc), cơ chế - hiệp định đa phương (như Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương - CPTPP, RCEP, Tiểu vùng Mê Công), diễn đàn (như Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương - APEC, Diễn đàn hợp tác Á - Âu - ASEM), các phong trào mà Việt Nam là thành viên. Nói như vậy có nghĩa không phải chỉ những mối quan hệ nào được xác định là “đối tác chiến lược” hay “đối tác toàn diện” mới là “đối tác” của Việt Nam, mà đó là chỉ dấu cho mức độ và tính chất của mối quan hệ đối tác được thiết lập trên cơ sở nhu cầu của Việt Nam và các đối tác. Lẽ dĩ nhiên, mức độ và tính chất quan hệ đối tác này sẽ quyết định phạm vi hợp tác chiến lược và toàn diện theo thỏa thuận và cách hiểu giữa hai bên, không lệ thuộc vào cách đánh giá của bên thứ ba.

Về “đối tượng”, Báo cáo chính trị tại Đại hội XIII chỉ rõ đó là những lực lượng có “âm mưu, hành động can thiệp... vào công việc nội bộ, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh quốc gia và ổn định chính trị đất nước”. Cùng với đó, Đại hội XIII của Đảng xác định các thách thức: 1- Tham nhũng, lãng phí, quan liêu, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ cũng như những mâu thuẫn xã hội còn diễn biến phức tạp. 2- Các thế lực thù địch tiếp tục tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước và đất nước ta. 3- Bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định... là những thách thức rất lớn đối với nước ta trong thời gian tới. Hai trong số ba thách thức nêu trên trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến các “đối tượng” bên ngoài. Riêng đối với thách thức thứ hai, Sách trắng Quốc phòng Việt Nam năm 2019 chỉ rõ: Tình hình Biển Đông thời gian gần đây mặc dù đã có một số chuyển biến tích cực, nhưng các yếu tố gây mất ổn định, căng thẳng vẫn tồn tại và diễn biến phức tạp đang đặt ra thách thức mới đối với việc bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ, bảo vệ hòa bình và ổn định của Việt Nam. Những diễn biến mới trên Biển Đông, trong đó có các hành động đơn phương, áp đặt dựa trên sức mạnh, bất chấp luật pháp quốc tế và hoạt động quân sự hóa, làm thay đổi nguyên trạng, xâm phạm chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán của Việt Nam theo luật pháp quốc tế, ảnh hưởng đến lợi ích của các quốc gia liên quan, đe dọa hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn hàng hải, hàng không trong khu vực. Ngoài ra, các vấn đề an ninh phi truyền thống, như biến đổi khí hậu, buôn bán người, khủng bố, di cư bất hợp pháp, thảm họa môi trường, dịch bệnh, thiên tai, thay đổi dòng chảy trên các con sông xuyên biên giới... tác động đến an ninh nguồn nước, an ninh lương thực, an ninh môi trường ở nhiều địa phương, cũng là những thách thức đối với sự phát triển của Việt Nam(13). Như vậy, nếu cho rằng, “đối tượng” là những gì cản trở sự phát triển của Việt Nam, chống phá chế độ, đe dọa đến sinh mệnh của Đảng Cộng sản Việt Nam và sự tồn vong của chế độ, xâm hại đến lợi ích quốc gia - dân tộc, thì “đối tượng” nên được hiểu là bao gồm cả những thách thức trên./.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét