Thứ Năm, 31 tháng 8, 2017

Sách “Lịch sử Việt Nam” do Phan Huy Lê làm tổng chủ biên bỏ “ngụy quân, nguy quyền”

 Bộ sử này được nhóm tác giả và tờ báo Kinh Tế & Đô Thị quảng cáo là: “Bộ sử Việt đồ sộ nhất. Bộ sách “Lịch sử Việt Nam” là công trình nghiên cứu của hàng chục giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ, các nhà nghiên cứu lịch sử trong suốt 9 năm, khái quát lịch sử nước ta từ thời khởi thủy đến năm 2000. “Đây là bộ thông sử Việt Nam lớn nhất, đồ sộ nhất từ trước đến nay, kế tục những tri thức cơ bản trong các công trình nghiên cứu, các sách, hoặc các bộ sách đã xuất bản trước đây về lịch sử Việt Nam”.
Ông GS Trần Đức Cường còn nói: Bộ sách “Lịch sử Việt Nam” từng đoạt “Giải vàng” sách hay năm 2015″, thậm chí còn ngang nhiên tấn công những người viết sách giáo khoa rằng, “Một cuộc chiến không chỉ còn 8 dòng”.
Trong bài “Phan Huy Lê “chơi đểu” Việt nam cộng hòa”, nhà văn Đông La viết: “Nhưng lời khen đúng mới có giá trị. Còn khen sai thì hoặc là người ta xỏ xiên, diễu cợt, hoặc là nịnh hót để cầu lợi. Với những gì thuộc về đạo lý đối với nhận thức của cả xã hội, nhất là về lịch sử của cả một đất nước, người ta không dễ nói ngược dù nhân danh bất cứ điều cao cả nào. Cả xã hội đã đồng loạt lên tiếng. Để phê phán những cái sai của Phan Huy Lê, người ta lại phải lôi ra hàng loạt “những chuyện xấu” của Việt nam cộng hòa ra. Thế là sau cái chết 42 năm, mồ ma của Việt nam cộng hòa lại bị đào xới, không được yên. Vậy Phan Huy Lê và “đồng bọn” đúng là đã “chơi đểu” Việt nam cộng hòa như trên tôi đã viết!
Và đúng là chỉ có ngu mới dám đổi trắng thay đen, chính tà lẫn lộn, bất minh thiện ác, như Phan Huy Lê và nhóm “nhà sử học” lưu manh đã làm. Lương tri của cả đất nước đang nổi giận, những người có trọng trách về chính trị, tư tưởng, về văn hoá, giáo dục, cần phải thực thi trách nhiệm, ai dung túng cho sai lầm tày trời này cũng là kẻ có tội!”.
Đây là bộ sách lịch sử tai tiếng nhất do bị nhóm biên soạn cố tình “bẻ lái”, làm sai lệch bản chất cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc khỏi ách xâm lược của Mỹ và tay sai.

                                                                                                    THN
Đan Nguyên là tên phản động, điên cuồng chống Việt Nam

Thời gian gần đây, trong dòng nhạc Hải ngoại, cái tên Đan Nguyên (tên thật Nguyễn Đặng Đan) đang dần trở nên quen thuộc trong các sân khấu lớn ở Hải ngoại. Sở hữu giọng hát lạ và có sự truyền cảm nhất định tới người nghe cùng phong cách biểu diễn sâu lắng, vẻ bề ngoài cũng được xem là ưa nhìn nhưng Đan Nguyên đã không sử dụng tài năng của mình vào sự nghiệp ca hát mà là để chống phá Việt Nam quyết liệt.
Đan Nguyên sinh năm 1984 tại Chợ Cầu Hai, Phú Lộc, Thừa Thiên Huế, đến định cư ở Hoa Kỳ cùng mẹ và các em theo diện đoàn tụ gia đình (diện Rover năm 1998), và kể từ đó đã chịu sự chi phối và ảnh hưởng mạnh bởi lối sống, suy nghĩ của tư tưởng tư bản phương Tây, đi ngược lại lợi ích quốc gia, dân tộc. Kể từ ngày tha phương cầu thự đến nay, Đan Nguyên chưa một lần đặt chân về Việt Nam, vậy anh hiểu gì về đất nước và con người Việt Nam. Những gì Đan Nguyên biết và hiểu đều thông qua cái lăng kính của hệ thống thông tin và bộ máy tuyên truyền chống phá của thế lực thù địch.
Điều nữa chi phối đến phong cách biểu diễn, tư tưởng biểu diễn chống phá Việt Nam nhiều hơn xây dựng của Đan Nguyên đó chính là những đồng đô-la dơ bẩn. Đan Nguyên thường xuyên xuất hiện trong màu áo lính Ngụy và biểu diễn những bài hát có tính chất chống phá Việt Nam cả hiện tại và quá khứ. Anh được bọn khủng bố Việt Tân và đồng minh trả thù lao để hát những bài hát phản động, quyết phá bằng được con đường và ước vọng xây dựng một Việt Nam hòa bình, ổn định và phát triển của gần 100 triệu người dân.
Nhìn từ góc độ và những lý do đó có thể thấy được Đan Nguyên đang chỉ là công cụ cho các thế lực thù địch chống phá mà thôi. Như vậy, anh có thực sự xứng đáng với dòng máu mà anh đang mang trong mình hay không. Để rồi đến khi anh chết đi, anh sẽ được chôn với nấm mồ đô-la xanh chứ không phải cỏ xanh của quê hương yêu dấu. Anh sẽ chết đi nơi đất khách quê người với tư cách của một kẻ phản quốc làm thuê vô liêm sỉ mà thôi.
Tôi thực sự thấy tiếc cho một tài năng nghệ thuật như Đan Nguyên. Tài năng mà không biết cách sử dụng thì sẽ trở thành vô nghĩa và lãng phí. Đan Nguyên đang lãng phí rất nhiều thứ, trong đó, điều lớn nhất và cay đắng nhất chính là lãng phí giống nòi và dòng máu chính anh đang mang trong cơ thể mình. Kẻ thù có thể trả cho anh rất nhiều tiền và đáp ứng gái đẹp để anh sống trong nhung lụa xa hoa và dục vọng đê hèn để ngày ngày anh “sủa” mua vui cho chúng. Nhưng đất nước Việt Nam này sẽ mãi mãi lãng quên anh, lãng quên một kẻ vô ơn với giống nòi và dòng máu dân tộc. Không những lãng quên mà cả dân tộc này căm thù tên phản quốc Đan Nguyên.
Trên đời này người ta thường nói, xây thì khó mà phá thì quá dễ. Và anh đang làm cái việc dễ đó, đi ngược dòng và chống lại cả một dân tộc, chống lại chính gốc dễ của bản thân anh vậy. Rồi cuộc sống và cái chết của anh sẽ đời đời bị nguyền rủa./.


                                                                                               THN

Thứ Tư, 30 tháng 8, 2017

VẠCH TRẦN NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC BẢN CHẤT VÀ Ý NGHĨA CỦA CÁCH MẠNG THÁNG TÁM VÀ QUỐC KHÁNH 2/9

Cuộc Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám năm 1945 được các sử gia trong nước và quốc tế đánh giá là một đóng góp lịch sử có ý nghĩa cực kỳ to lớn, bởi đã hình thành nên một Nhà nước kiểu mới gắn bó mật thiết với nhân dân, mang tính nhân dân, do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Cũng từ sự kiện mang tầm thời đại của Cách mạng Tháng Tám, dân tộc Việt Nam đã được độc lập, thống nhất, có địa vị hợp pháp trên trường quốc tế. Thế nhưng, bất chấp sự thật, các thế lực thù địch và một số kẻ cơ hội chính trị đã không chịu thừa nhận, hơn thế còn tuyên truyền, xuyên tạc hạ thấp giá trị sự kiện lịch sử trọng đại này.
Các tầng lớp nhân dân, người lao động Hà Nội cùng với lực lượng vũ trang nhân dân tham gia mít-tinh phát động cuộc Tổng khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám được tổ chức tại Nhà hát Lớn Hà Nội, ngày 19-8-1945. Ảnh: Tư liệu
Bước ngoặt lịch sử của dân tộc Việt Nam
Cuộc Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là thắng lợi vĩ đại đầu tiên của nhân dân ta từ khi có Đảng lãnh đạo, mở ra bước ngoặt lịch sử của dân tộc Việt Nam. Thắng lợi đó mở ra kỷ nguyên mới đối với đất nước ta - kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội. Thắng lợi đó không chỉ có ý nghĩa to lớn đối với dân tộc Việt Nam, mà còn mang tầm vóc thời đại, cổ vũ mạnh mẽ phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc trên toàn thế giới...
Không có gì phải nói thêm, “sự thật lịch sử” của cuộc Cách mạng Tháng Tám rất rõ ràng và không thể phủ nhận. Vậy mà, bất chấp thực tế đó, một số kẻ cơ hội chính trị được sự hà hơi, tiếp sức của các thế lực thù địch đã không chịu thừa nhận, hơn thế còn tuyên truyền, xuyên tạc hạ thấp giá trị sự kiện lịch sử trọng đại này. Chúng không thấy hoặc cố tình không thấy sự thật hiển nhiên, ra sức xuyên tạc, phủ nhận và cho rằng những thành tựu do cuộc Cách mạng Tháng Tám mang là vô nghĩa.
Chúng biện minh một cách vụng về và kệch cỡm rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã “ăn may”, nhờ tình thế của Pháp, Nhật vào thời điểm đó để cướp chính quyền cho riêng mình. Đồng thời, chúng còn ngụy biện trắng trợn là nếu không có Cách mạng Tháng Tám, nước ta đã đi theo “quỹ đạo dân chủ” của các nước tư sản, trở nên giàu mạnh từ lâu, chứ không phải nghèo hèn, “kém cỏi” như bây giờ... Và chúng cố tình lờ đi một sự thật là Cách mạng Tháng Tám thành công mau lẹ và ngoạn mục không phải là ngẫu nhiên mà là kết quả của một quá trình đấu tranh lâu dài, kiên cường, bất khuất của các tầng lớp nhân dân ta, dưới sự lãnh đạo sáng suốt, khéo léo của Đảng.
Với thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, nhân dân đã đập tan xiềng xích nô lệ của thực dân, đế quốc trong gần một thế kỷ, lật nhào chế độ quân chủ chuyên chế mấy nghìn năm, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Nhà nước công nông đầu tiên trong lịch sử nước ta và cũng là Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á, nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ trở thành người dân một nước độc lập, làm chủ vận mệnh của mình.
Tầm vóc lịch sử không ai có thể phủ nhận
Chúng ta biết rằng, thành công của cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga không chỉ chứng minh tính tất thắng của chủ nghĩa Mác - Lênin, mà còn mở ra một kỷ nguyên mới cho nhân loại: Nhiều quốc gia đi lên chủ nghĩa xã hội và có một phong trào rộng rãi trên khắp các châu lục đấu tranh giành độc lập dân tộc. Phong trào giải phóng dân tộc này dựa trên hai trụ cột không thể thiếu được là Liên Xô, với tư cách như một hậu phương và cục diện tình hình thế giới sau Chiến tranh thế giới thứ hai.
Bối cảnh quốc tế ấy là một nhân tố quyết định đối với cuộc cách mạng dân tộc dân chủ ở nhiều nước thuộc địa cũ. Nhân tố quyết định khác là mâu thuẫn đối kháng trong xã hội đã trở nên quá sâu sắc. Nhân tố thứ ba không kém phần quyết định là mức độ tổ chức của các lực lượng làm cách mạng dân tộc dân chủ. Sự đồng hành của cả ba nhân tố đó là tạo ra cơ hội lịch sử có một không hai đối với nhiều quốc gia để có thể thoát khỏi chế độ thực dân và tự quyết định lấy vận mệnh của mình.
Cách mạng Tháng Tám ở Việt Nam là một ví dụ điển hình. Giải phóng dân tộc là sự phát triển tất yếu của lịch sử, đã nhen nhóm từ trước đó rất lâu, nhưng chỉ mãi sau năm 1945 mới thành công trên một diện rộng và trở thành phong trào thế giới. Tháng 5-1857, bùng nổ cuộc chiến tranh giành độc lập đầu tiên ở Ấn Độ nhưng bị thực dân Anh dập tắt sau đó hai năm. Ngày 12-6-1898, những người cách mạng Philippines tuyên bố độc lập, tách khỏi chế độ thuộc địa Tây Ban Nha, nhưng Nhà nước cộng hòa đầu tiên ở châu Á này thật đoản thọ, thực dân Anh rồi đế quốc Mỹ đã tiếp tục được chế độ thống trị của chúng.
Năm 1945 mới là dấu mốc quan trọng trong quá trình giải phóng dân tộc: Việt Nam và Indonesia giành độc lập đầu tiên, rồi Philippines, Ấn Độ và Pakistan năm 1947, Myanmar năm 1948, Trung Quốc năm 1949, năm 1950 bắt đầu phong trào giải phóng dân tộc ở Malaysia đưa đến nền độc lập năm 1957, các đảo quốc ở Thái Bình Dương trong những năm 1960 và Singapore năm 1965.
Nói tóm lại, bằng Cuộc Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Việt Nam đã góp phần rất lớn trong phong trào giải phóng dân tộc và xứng đáng là một biểu tượng sáng chói của phong trào này. Trong mọi giai đoạn của phong trào, Việt Nam luôn là một ngọn đuốc dẫn đường cho phong trào, đánh đuổi được những tên đế quốc và thực dân đầu sỏ, đã chứng minh một cách hùng hồn là sức mạnh tổng hợp của một sự nghiệp chính nghĩa là bất diệt.
Việt Nam - Hồ Chí Minh - Điện Biên Phủ đã không chỉ đưa đất nước Việt Nam đến với mọi nơi trên toàn cầu, mà còn khơi dậy niềm tin và hy vọng cho các dân tộc đấu tranh giành độc lập. Nếu như chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 báo hiệu sự sụp đổ của hệ thống thuộc địa trên thế giới, thì sau này, cuộc chiến tranh chống xâm lược Mỹ và tay sai để giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước là sự khẳng định tính tất thắng của phong trào giải phóng dân tộc, là chỗ dựa tinh thần cho những dân tộc đấu tranh giành độc lập.
Ở giai đoạn hiện nay, nhân loại đang chứng kiến sự tiến triển của khu vực hoá và toàn cầu hóa, nhưng cả những kinh nghiệm trên lĩnh vực này tới nay đã cho thấy tính độc lập và tự chủ của mỗi quốc gia vẫn đóng vai trò ngày càng quan trọng vì đó là nền tảng quan trọng nhất để bảo vệ các lợi ích quốc gia và phát triển được những giá trị cơ bản nhất, lâu bền nhất của nhân loại nói chung cũng như của từng quốc gia nói riêng. Và hơn lúc nào hết, mốc son chói lọi của Cuộc Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã đánh dấu bước chuyển mình vĩ đại của dân tộc Việt Nam trong dòng chảy của lịch sử thế giới. Ý nghĩa và tầm vóc lịch sử vô cùng to lớn của nó, không một ai, một thế lực nào có thể phủ nhận được.
                                                                 Sự Thật              


"GIÁ TRỊ LỊCH SỬ VÀ Ý NGHĨA THỜI ĐẠI CỦA BẢN TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP NĂM 1945"

 Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản "Tuyên ngôn Độc lập” lịch sử do chính Người chuẩn bị, trịnh trọng tuyên bố trước toàn thế giới về sự ra đời của một nhà nước mới: Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam).

Thời gian đã qua đi hơn 2/3 thế kỷ, nhiều chi tiết nội dung trong Tuyên ngôn đã được nghiên cứu, làm sáng tỏ trên nhiều lĩnh vực. Chúng ta càng thấy rõ những tư tưởng vĩ đại, tầm nhìn chiến lược của Người thể hiện trong Tuyên ngôn.
Tuyên ngôn Độc lập ngày 2/9/1945 là văn bản pháp lý đặt cơ sở cho việc khẳng định thiết lập nhà nước pháp quyền ở Việt Nam, với mục tiêu Độc lập - Tự do - Hạnh phúc, khơi nguồn sáng tạo và soi sáng con đường cách mạng Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng Nhà nước của dân, do dân và vì dân. Hơn thế nữa, Tuyên ngôn độc lập còn đóng góp cho sự nghiệp giải phóng nhân loại, là sự mở đầu kỷ nguyên độc lập, tự do của các dân tộc thuộc địa, bị áp bức trên toàn thế giới.
Tuyên ngôn Độc lập là một văn kiện lịch sử, một văn bản pháp lý quan trọng bậc nhất của nước ta. Với hệ thống lập luận chặt chẽ, lí lẽ sắc bén, giọng văn hùng hồn, một cơ sở pháp lý vững chắc khẳng định mạnh mẽ chủ quyền quốc gia của dân tộc Việt Nam trước toàn thế giới, mở ra thời kỳ mới của dân tộc ta trên con đường phát triển.
Nội dung của Tuyên ngôn Độc lập đã được các nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực nghiên cứu, làm rõ, nhưng hiện vẫn còn những luận điệu xuyên tạc, đặt câu hỏi với dụng ý xấu: Vì sao Chủ tịch Hồ Chí Minh lại mở đầu bản Tuyên ngôn Độc lập bằng những câu trích dẫn từ hai bản Tuyên ngôn của nước Mỹ và Pháp?
Điều này cần phải hiểu và lý giải rõ.
Một là, Chủ tịch Hồ Chí Minh là danh nhân văn hóa thế giới như UNESCO đã tôn vinh, Người nhắc đến hai văn kiện lịch sử ấy với lòng trân trọng đặc biệt của một trí tuệ lớn đối với sự phát triển của văn minh nhân loại mà Cách mạng giành độc lập của Hoa Kỳ năm 1776 và Cách mạng tư sản Pháp 1789 đã giành được. Đây là những thành quả văn hoá của nhân loại, là dấu mốc lớn của lịch sử loài người, trong đó đã khẳng đinh những quyền cơ bản của con người. Đó là "quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” … “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi. Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được”… Đây là những tư tưởng rất tiến bộ đã được khẳng định trong hai bản Tuyên ngôn của nước Mỹ và nước Pháp. Dẫn dắt từ sự kiện này để Chủ tịch Hồ Chí Minh đi đến kết luận nhằm tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ của quốc tế đối với cuộc cách mạng của nhân dân Việt Nam.
Hai là, trên nền tảng và tiền đề đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định rằng, chính cuộc cách mạng mà dân tộc Việt Nam đã giành được vào Tháng Tám năm 1945 là bước đi tiếp trong sự phát triển của nhân loại, đồng thời cũng là cột mốc cho sự phát triển của lịch sử giải phóng con người thuộc các dân tộc bị áp bức, bóc lột. Đó là mẫu hình đầu tiên và cũng là ngọn cờ đầu của cuộc đấu tranh giải phóng các dân tộc thuộc địa nhỏ yếu thoát khỏi ách đô hộ, thống trị của chủ nghĩa thực dân cũ và mới mà cách mạng Việt Nam do Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo đã gương cao.
Ba là, đi sâu nghiên cứu hai bản Tuyên ngôn của nước Mỹ và nước Pháp, chúng ta thấy cả hai bản Tuyên ngôn đã đề cao và khẳng định quyền con người: “Mọi người đều sinh ra bình đẳng”. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do. Chính sự suy rộng ra đã thể hiện một tư tưởng lớn, một luận điểm quan trọng thể hiện sự vượt trội của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được trình bày trong Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam. Đây là một nội dung rất căn bản, có ý nghĩa không chỉ đối với dân tộc ta mà còn có ý nghĩa sâu sắc đối với thời đại. Từ đó tới nay, các nước trên thế giới đã và đang liên tục đấu tranh để giành độc lập, giành quyền dân tộc cơ bản của mình.
Như vậy, có thể thấy, với vốn tiếng Anh cùng với thiên tài trí tuệ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dịch và trích dẫn Tuyên ngôn của nước Mỹ và nước Pháp nhưng có sự điều chỉnh và phát triển để thể hiện quan điểm riêng của mình về quyền con người và trên thực tế, tinh thần ấy đã được thể hiện và khẳng định trong tất cả các bản Hiến pháp của Việt Nam từ trước đến nay.
Đó chính là sự đóng góp về lý luận và thực tiễn về quyền con người, đem lại những tiến bộ và phù hợp với sự phát triển của nhân loại.
72 năm đã trôi qua, những tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Tuyên ngôn Độc lập ngày 2/9/1945 đã trở thành sức mạnh to lớn của toàn dân tộc Việt Nam vượt qua mọi khó khăn, thách thức, thực hiện lời thề thiêng liêng trong ngày Lễ độc lập: “Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”.
Với tinh thần đó mà cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại đã giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trong suốt 72 năm qua. Hiện nay, toàn Đảng, toàn dân ta đã và đang tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới toàn diện trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực sẽ còn nhiều diễn biến rất phức tạp, tác động trực tiếp đến nước ta, tạo ra cả thời cơ và thách thức.
Để tận dụng, phát huy tốt nhất thời cơ, thuận lợi, vượt qua khó khăn, thách thức, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta cần đoàn kết một lòng với quyết tâm cao, phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại; nâng cao đời sống của nhân dân. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.
                                                     Sự Thật

PHÒNG CHỐNG CHIẾN LƯỢC “ DIỄN BIẾN HÒA BÌNH” CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH ĐỐI VỚI THANH NIÊN HIỆN NAY
Thanh niên là lực lượng xã hội to lớn, một trong những nhân tố quan trọng quyết định tương lai, vận mệnh dân tộc; là lực lượng chủ yếu trên nhiều lĩnh vực, đảm nhận những công việc đòi hỏi hy sinh, gian khổ, sức khỏe và sáng tạo. Trong những năm gần đây, tình hình đất nước ta về kinh tế, chính trị, xã hội có nhiều chuyển biến tích cực, nền kinh tế trong nước phát triển nhanh, khá năng động, đời sống nhân dân từng bước được cải thiện. Về chính trị: An ninh chính trị được giữ vững, vai trò lãnh đạo của Đảng trên tất cả các mặt của đời sống xã hội không ngừng được nâng cao, niềm tin của nhân dân vào Đảng ngày càng được tăng cường. Về xã hội, trật tự an toàn xã hội được giữ vững, xã hội ổn định, an sinh xã hội được chú ý, tệ nạn xã hội từng bước được đẩy lùi. Quá trình hội nhập quốc tế của nước ta có nhiều bước tiến, đường lối đối ngoại đa phương hóa, đa dạng hóa các mối quan hệ của Đảng đã góp phần đưa Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng về nhiều mặt, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao. Tuy vậy, trong thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động vẫn liên tục gia tăng hoạt động chống phá Việt Nam trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực tư tưởng - văn hóa, chúng đã hướng đến nhiều đối tượng để tác động trong đó trọng tâm nhắm đến lực lượng thanh niên.
Với âm mưu đó, các thế lực thù địch luôn tìm cách tiếp cận thanh niên bởi vì đối với thanh niên, họ là những con người rất nhanh nhạy trong tiếp thu các tri thức mới, những tư tưởng mới trong xã hội, họ rất nhạy cảm với các vấn đề nóng  của đời sống chính trị - xã hội nhưng lại chưa có kiến thức, kinh nghiệm thực tiễn và thiếu sự chọn lọc trong tiếp thu tri thức, thiếu sự quản lý của nhà trường và gia đình nên rất dễ để các thế lực thù địch tập trung lôi kéo thông qua các tác động về mặt kinh tế, tư tưởng, văn hóa… để phục vụ cho những âm mưu chiến lược “diễn biến hòa bình” (DBHB).
“Diễn biến hòa bình” là chiến lược cơ bản nhằm lật đổ chế độ chính trị của các nước tiến bộ, trước hết là các nước xã hội chủ nghĩa từ bên trong bằng biện pháp phi quân sự do chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động tiến hành. Thanh niên là lực lượng tiêu biểu của tuổi trẻ, là nguồn nhân lực chủ yếu, là chủ nhân tương lai của đất nước.Họ là những người sẽ đóng góp sức lực, trí tuệ và tài năng của mình cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Quan điểm của Đảng ta về thanh niên và công tác thanh niên đã được vạch rõ trong các nghị quyết của Đảng, thể hiện rõ tầm quan trọng của thanh niên và công tác thanh niên đối với sự nghiệp cách mạng của đất nước do Đảng lãnh đạo. Trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa VII) về công tác thanh niên trong thời kỳ đổi mới đã khẳng định: “Sự nghiệp đổi mới có thành công hay không, cách mạng Việt Nam có vững bước theo con đường xã hội chủ nghĩa hay không phần lớn tùy thuộc vào lực lượng thanh niên, vào việc bồi dưỡng, rèn luyện thế hệ thanh niên; công tác thanh niên là vấn đề sống còn của dân tộc, là một trong những nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng”. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7, Ban chấp hành Trung ương Đảng (Khóa X) “Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên” tiếp tục khẳng định:  “Thanh niên là lực lượng xã hội to lớn, một trong những nhân tố quan trọng quyết định tương lai, vận mệnh dân tộc; là lực lượng chủ yếu trên nhiều lĩnh vực, đảm nhận những công việc đòi hỏi hy sinh, gian khổ, sức khỏe và sáng tạo. Thanh niên là độ tuổi sung sức nhất về thể chất và phát triển trí tuệ, luôn năng động, sáng tạo, muốn tự khẳng định mình”.
Với vị trí, vai trò của thanh niên đối với sự nghiệp cách mạng do Đảng lãnh đạo là rất quan trọng nên khi chiến lược diễn biến hòa bình nhắm đến thanh niên cũng chính là “một mũi tên trúng nhiều đích”, vừa là để lôi kéo, tác động vào tư tưởng thanh niên, đẩy mạnh sự “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và lợi dụng thanh niên phục vụ cho chiến lược “DBHB”; vừa là trực tiếp phá hoại sự nghiệp cách mạng của Đảng ta. Những âm mưu và thủ đoạn thực hiện “DBHB” của các thế lực thù địch đối với thanh niên trong những năm vừa qua là:
Thứ nhất:  Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của internet, chúng đưa các ấn phẩm văn hoá đồi trụy, phản văn hóa, phản động vào trong thanh niên, làm cho một bộ phận thanh niên bị nhiễm những thứ văn hóa lai căng, mất bản sắc, cổ súy cho một lối sống vô văn hóa, thiếu trách nhiệm.
Thứ hai: Dựa vào sức mạnh của internet, các trang web, trang mạng xã hội…, các thế lực thù địch rao giảng về những cái gọi là “dân chủ”, “nhân quyền”, lợi dụng thanh niên để lập ra các trang web, các trang mạng xã hội để lôi kéo, tuyên truyền, kích động chống phá nhà nước. Một cuộc điều tra mới đây của nhóm các nhà khoa học thuộc Tạp chí Cộng sản cho thấy: Sinh viên, trí thức trẻ chính là lực lượng sử dụng internet đông đảo, thường xuyên nhất với khoảng 82,5% vào mạng hàng ngày. Các thế lực thiếu thiện chí hay thù địch với Việt Nam nhận thức rất rõ vấn đề này và ngay lập tức, họ tập trung lôi kéo thanh niên, sinh viên, trí thức trẻ vào “ma trận” mới. Hiện nay, lướt qua những trang mạng xã hội, chúng ta có thể thấy rất nhiều các trang thông tin núp dưới các chiêu bài khác nhau để đưa những thông tin sai lệch, trái chiều, những bình luận, đánh giá thiếu thiện chí về những vấn đề chính trị trong nước… Nhiều đài phát thanh, truyền hình tiếng Việt ở hải ngoại mà đài RFA là một ví dụ, thậm chí còn dừng hẳn chương trình phát thanh để tập trung nguồn lực phát triển báo mạng mà đối tượng bạn đọc được họ "ưu tiên" hàng đầu chính là thanh niên. Và hiện nay, cũng không khó để bắt gặp những bình luận, những tư tưởng lệch lạc về chính trị của thanh niên xuất hiện trên các trang mạng xã hội.
Thứ ba: Lợi dụng tín ngưỡng, mê tín dị đoan trong thanh niên để thực hiện “DBHB”.
Thứ tư: Lợi dụng những thanh niên đi học tập, làm việc, công tác tại nước ngoài. Họ tăng cường tiếp cận, tuyên truyền về những quan điểm phi Macxit, về những “cái hay, cái đẹp” của chủ nghĩa tư bản, lôi kéo thanh niên ưu tú ở lại nước ngoài gây chảy máu chất xám hoặc lợi dụng họ để tiếp tay cho hoạt động chống phá. Hay một biểu hiện khác mà chúng ta cũng có thể dễ nhận ra là những suy nghĩ, những quan điểm về lối sống, về lý tưởng sống, về văn hóa, thẩm mỹ của một số thanh niên đã có sự thay đổi theo chiều hướng tiêu cực.
Chính sự tác động từ chiến lược “DBHB” mà trong một bộ phận thanh niên hiện nay đã xuất hiện những hệ quả tiêu cực, một bộ phận thanh niên đã có biểu hiện “thờ ơ chính trị”, không quan tâm đến các sự kiện chính trị trong nước, quốc tế; bản lĩnh chính trị không vững vàng, phai nhạt niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, về chủ nghĩa xã hội; có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong tư tưởng. Biểu hiện cụ thể như:
Về chính trị - tư tưởng: Các thế lực thù địch tuyên truyền, rao giảng về những cái gọi là “tự do”, “dân chủ”, “nhân quyền”, xuyên tạc đường lối chủ trương chính sách, phóng đại những khuyết điểm trong quá trình lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, chúng làm cho một bộ phận thanh niên vốn còn thiếu kinh nghiệm, thiếu sự vững vàng chính trị đã lung lay, dao động, tin theo làm suy giảm niềm tin của một số thanh niên đối với sự lãnh đạo của Đảng, tin theo chủ nghĩa tư bản, hoài nghi về con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội của đất nước. Nghiêm trọng hơn, một số thanh niên còn tiếp tay cho các thế lực thù địch, giúp chúng đẩy mạnh thực hiện âm mưu “DBHB”, tuyên truyền chống lại Đảng và nhà nước ta…
Về văn hóa, một bộ phận thanh niên có biểu hiện sai lệch về văn hóa do bị ảnh hưởng bởi những sản phẩm phản văn hóa, đồi trụy, sính ngoại, ảnh hưởng bởi lối sống, lối suy nghĩ của chủ nghĩa tư bản, đi ngược lại thuần phong mỹ tục của dân tộc mà các thế lực thù địch đã đưa vào. Cùng với đó, lối sống của một bộ phận thanh niên có xu hướng lệch lạc, chạy theo lối sống thực dụng, vọng ngoại, theo chủ nghĩa cá nhân, thờ ơ, vị kỷ với xã hội… Một số khác lại có tư tưởng sống hưởng thụ, ngại phấn đấu, luôn chỉ nghĩ cho bản thân mình.
Về kinh tế, một số thanh niên chạy theo sức mạnh vật chất, chạy theo đồng tiền, nghĩ rằng đồng tiền có sức mạnh vạn năng trong đời sống xã hội; sự đua đòi và thực dụng cũng đã ảnh hưởng đến một số thanh niên. Là một điểm yếu để các thế lực thù địch dễ dàng lợi dụng để mua chuộc thông qua các lợi ích kinh tế. Nhận thức rõ những mối đe dọa của chiến lược “DBHB” đối với thanh niên, Đảng và nhà nước ta đã có những chính sách, những biện pháp để đấu tranh chống lại chiến lược “DBHB” của các thế lực thù địch đối với thanh niên như:
Thứ năm: Về chính trị, Đảng ta đã có chủ trương tăng cường giáo dục về chính trị cho thanh niên, đưa các nội dung về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối cách mạng của Đảng, về tiêu chuẩn đạo đức của con người mới xã hội chủ nghĩa và một số nội dung giáo dục lý luận chính trị khác vào trong chương trình học tại bậc phổ thông và cả bậc cao đẳng, đại học. Điều đó đã và đang phát huy tác dụng nhằm hình thành cho thanh niên những nhận thức cơ bản về lý luận chính trị, nền tảng tư tưởng của Đảng, xây dựng cho thanh niên có bản lĩnh chính trị vững vàng và đúng đắn, hạn chế tình trạng thờ ơ, mơ hồ, hoang mang, dao động về chính trị diễn ra trong thanh niên.
Thứ sáu: Về văn hóa, Đảng ta chủ trương “hòa nhập chứ không hòa tan”, giáo dục cho thanh niên về truyền thống văn hóa dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, lên án những hành vi phản văn hóa, vô văn hóa, giáo dục cho thanh niên biết chọn lọc những giá trị văn hóa để họ tìm kiếm và tiếp thu những tri thức văn hóa của nhân loại sao cho đúng đắn và phù hợp, tránh lệch lạc. Cùng với đó, thông qua dư luận xã hội, lên án lối sống sai lầm, lệch lạc của thanh niên để họ kịp thời nhận thức và sửa chữa. Riêng đối với mạng internet, chúng ta đã vạch mặt những trang web, những tổ chức phản động hoạt động chống phá ta trên mạng, cùng với đó là sự định hướng để thanh niên tiếp cận những thông tin trên mạng một cách đúng đắn, chính thống.
Thứ  bảy: Về tổ chức, đã kiện toàn và tổ chức chặt chẽ bộ máy của các cơ sở Đoàn từ trên xuống dưới, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên, đổi mới hình thức, nội dung hoạt động để thu hút và lôi kéo thanh niên tham gia. Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh đã có những bước chuyển lớn trong quá trình hoạt động, thu hút được sự tham gia đông đảo của đoàn viên thanh niên, các phong trào đoàn cũng có nhiều nội dung và hình thức mới. Đã lồng ghép được các nội dung giáo dục lý luận chính trị với các hoạt động đoàn , từ đó, góp phần nâng cao nhận thức, bản lĩnh chính trị, lòng yêu nước cho thanh niên.
Tuy vậy, việc phòng chống “DBHB” đối với thanh niên vẫn còn diễn biến khá phức tạp, một số vấn đề chưa được giải quyết và thậm chí còn diễn biến nghiêm trọng hơn, chính vì vậy, chúng ta cần kiên trì thực hiện những giải pháp đã có và tiếp tục nâng cao hiệu quả một số mặt công tác sau:
Về chính trị - tư tưởng
 Cần tăng cường giáo dục chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, tuyên truyền các sự kiện chính trị trong nước, quốc tế thông qua các kênh thông tin chính thống cho thanh niên.
Tăng cường hiệu quả giảng dạy các môn học về lý luận chính trị, dưới hình thức là các môn học giáo dục công dân tại bậc học trung học phổ thông và các môn học lý luận chính trị tại bậc học cao đẳng, đại học như các môn: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam…, cho thanh niên để sớm hình thành những nhận thức cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội cho thanh niên. Bên cạnh đó, hoạt động này cũng sẽ góp phần nâng cao bản lĩnh chính trị, tăng cường niềm tin đối với sự lãnh đạo của Đảng, kịp thời chống lại các âm mưu “DBHB”. Muốn nâng cao hiệu quả, cần phải đổi mới hơn nữa quá trình đổi mới về nội dung để lý luận gắn liền với thực tiễn, đổi mới về hình thức, phương pháp giảng dạy, đầu tư cơ sở vật chất, nâng cao chất lượng của đội ngũ cán bộ làm công tác giảng dạy, tuyên truyền. Đồng thời, có biện pháp thích hợp để lồng ghép các nội dung này trong hoạt động của Đoàn Thanh niên.
Giáo dục về thế giới quan, nhân sinh quan và đạo đức cộng sản, giáo dục về vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam, giáo dục các giá trị truyền thống dân tộc, lý tưởng, niềm tin vào Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa cho thanh niên. Bên cạnh đó, đẩy mạnh phê phán những quan điểm, tư tưởng sai trái, lệch lạc, xuyên tạc và làm rõ, vạch trần âm mưu thủ đoạn “DBHB” của các thế lực thù địch đối với thanh niên để thanh niên có biện pháp phòng ngừa.
Cần phải xây dựng lực lượng nòng cốt trong thanh niên: Phòng chống âm mưu “DBHB” về chính trị tư tưởng đối với thanh niên có nhiều lực lượng tham gia, với nhiều biện pháp khác nhau, nhưng phải tạo điều kiện để họ tự chống âm mưu “DBHB” của các thế lực thù địch là tốt nhất và hiệu quả cao nhất. Muốn làm được điều đó, chúng ta phải giáo dục cho mọi thanh niên thấm nhuần tư tưởng đạo đức cách mạng, có tinh thần đấu tranh phê bình và tự phê bình cao. Cần xây dựng lực lượng nòng cốt trong thanh niên, họ là những thanh niên có bản lĩnh chính trị vững vàng, năng động, tích cực, khách quan, gần gũi quần chúng, để trong bất kỳ tình huống nào ta cũng nắm bắt được đối tượng, âm mưu và biện pháp “DBHB” của chúng, để đề ra biện pháp phòng chống hiệu quả nhất.
Nếu chúng ta làm tốt công tác giáo dục chính trị - tư tưởng cho thanh niên, thì kẻ thù dù có nham hiểm và thâm độc đến đâu cũng sẽ thất bại trong âm mưu “DBHB” về mặt chính trị - tư tưởng đối với thanh niên.
Về văn hóa - lối sống
Cần tuyên truyền cho thanh niên về những chuẩn mực đạo đức, chuẩn mực xã hội, những truyền thống văn hóa quý báu của dân tộc để họ không ngừng bảo tồn, gìn giữ và phát huy những truyền thống văn hóa lâu đời, giàu bản sắc của dân tộc, đồng thời bài trừ những phong tục, hủ tục tập quán lạc hậu, mê tín dị đoan. Làm tốt công tác quản lý văn hóa giúp thanh niên được tiếp cận với những sản phẩm văn hóa thực sự là nét đẹp, là tinh hoa văn hóa của nhân loại để sinh viên tiếp thu trong điều kiện hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa. Bên cạnh đó, đẩy mạnh việc bài trừ các sản phẩm phản văn hóa, đồi trụy, lệch lạc, trái với thuần phong mỹ tục của dân tộc, phê phán lối sống thực dụng, chạy theo văn hóa tư bản. Lên án những hành vi, hành động phản văn hóa, phi văn hóa.
Xây dựng, định hướng cho thanh niên có lý tưởng sống. Phê phán lối sống vị kỷ, cá nhân, thực dụng và lối sống của xã hội tư bản để định hướng cho thanh niên xây dựng lối sống lành mạnh - lối sống của con người mới xã hội chủ nghĩa.
Sự phát triển của khoa học công nghệ, đặc biệt là của internet đã và đang có ảnh hưởng mạnh mẽ đến suy nghĩ, nhận thức, tư tưởng của thanh niên. Là một trong những kênh tiếp cận hàng đầu bị các thế lực thù địch lợi dụng để tiếp cận thanh niên nên cần phải thực hiện tốt một số giải pháp phòng ngừa như:
Tăng cường sự quản lý của nhà nước đối với mạng internet, chủ động, kịp thời ngăn chặn những âm mưu của các thế lực thù địch lợi dụng mạng internet để thực hiện âm mưu “DBHB”.
 Định hướng cho thanh niên nhận thức rõ ràng âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng internet, các trang web, mạng xã hội để truyền tải những thông tin sai sự thực, dụ dỗ, lôi kéo thanh niên tham gia “DBHB” để thanh niên chủ động phòng ngừa.
 Các trang web, trang mạng chính thống cần phải thay đổi tư duy, thay đổi cách thức, hình thức tiếp cận sao cho phù hợp với thanh niên, cần phải đổi mới cả về nội dung và hình thức để lôi kéo được sự quan tâm, chú ý của thanh niên, phải đóng vai trò là người cung cấp thông tin kịp thời, chính xác, định hướng suy nghĩ, tư tưởng, dư luận xã hội một cách kịp thời cho thanh niên.
Về tổ chức:
Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên nói chung và hoạt động của Đoàn thanh niên nói riêng là một nhân tố quan trọng hàng đầu quyết định sự thành công của công tác thanh niên và phòng chống “DBHB” đối với thanh niên. Nâng cao chất lượng hoạt động của Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh.
Tổ chức Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh phải xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo có lập trường tư tưởng chính trị vững vàng, có trình độ chuyên môn cao, có phẩm chất đạo đức và lối sống lành mạnh, giản dị, có ý chí vươn lên trong cuộc sống có uy tín và tích cực trong công tác Đoàn và gần gũi với quần chúng. Những người lãnh đạo, cán bộ Đoàn phải năng nổ, tích cực, là tấm gương sáng để cho thanh niên noi theo.
Nội dung hoạt động của Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh phải phong phú, thiết thực, sinh động..., mục tiêu là giáo dục cho thanh niên sống và làm việc theo pháp luật, theo bản sắc văn hoá dân tộc; làm cho thanh niên thấm nhuần chủ trương quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước, giữ gìn và phát huy những truyền thống quý báu của dân tộc, tin vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; kết hợp các hoạt động Đoàn với việc bồi dưỡng bản lĩnh chính trị cho thanh niên. Bằng nhiều hình thức, thường xuyên giáo dục chính trị tư tưởng để thanh niên tự xác định cho mình về vị trí, vai trò và nhiệm vụ của mình. Những đoàn viên ưu tú của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh chính là đội dự bị cho Đảng Cộng sản Việt Nam. Thông qua quá trình hoạt động và sinh hoạt đoàn, những thanh niên ưu tú được giáo dục nâng cao trình độ nhận thức về Đảng, từ đó phấn đấu để được đứng trong hàng ngũ của Đảng, trở thành những đảng viên trẻ.

                                                                                                            BIỂN RỘNG
Ý NGHĨA THẮNG LỢI CHIẾN LƯỢC CỦA CHIẾN DỊCH BÌNH GIÃ (2/12/1964)-7/3/1965).
Chiến dịch Bình Giã thắng lợi có ý nghĩa chiến lược quan trọng, góp phần tạo bước ngoặt thay đổi so sánh lực lượng trên chiến trường có lợi cho ta, góp phần quan trọng đánh bại chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của địch. Thắng lợi Bình Giã góp phần thúc đẩy lực lượng vũ trang 3 thứ quân phát triển mới về trình độ chiến đấu và tổ chức chỉ huy (lần đầu tiên ta diệt gọn tiểu đoàn thủy quân lục chiến tổng trù bị địch và Chi đoàn thiết giáp M113). Thắng lợi chiến dịch Bình Giã có ý nghĩa góp phần hỗ trợ phong trào chính trị quần chúng, phá từng mảng ấp chiến lược, mở rộng vùng giải phóng, bến bãi để tiếp nhận hàng chi viện của miền Bắc bằng đường biển. Thắng lợi Bình Giã còn có ý nghĩa chính trị rất to lớn, tạo niềm tin quân dân trong nước và bạn bè thế giới về khả năng tác chiến của lực lượng vũ trang địa phương.

Thắng lợi Bình Giã còn mang ý nghĩa là sự mở đầu cho việc vận dụng nhiều nội dung của nghệ thuật chiến dịch (đã hình thành và phát triển trong kháng chiến chống Pháp) từ lựa chọn xác định cách đánh, tạo tình huống và dẫn dắt tình huống đến tổ chức và sử dụng lực lượng, cơ động lực lượng, thiết lập thế trận để đánh trận then chốt... Những nội dung nghệ thuật bước đầu được vận dụng tuy cũng có điểm chưa thực hành thành công nhưng đều là những kinh nghiệm đầu tiên vô cùng quý báu cho các chiến dịch tiếp sau trong giai đoạn đánh thắng chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ.
NHẬN ĐỊNH VÀ ĐẤU TRANH PHÒNG, CHỐNG “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH” CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH TRÊN LĨNH VỰC KINH TẾ HIỆN NAY
Đấu tranh phòng, chống “Diễn biến hòa bình” là chiến lược toàn cầu phản cách mạng do chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch tiến hành bằng các biện pháp phi quân sự, nhằm chiến thắng chủ nghĩa xã hội không cần chiến tranh.
Trong những năm qua với chiến lược “diễn biến hoà bình”, chủ nghĩa đế quốc đã góp phần làm tan rã chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu vào những năm 90 của thế kỷ XX. Hiện nay, “diễn biến hoà bình” được chủ nghĩa đế quốc tập trung vào các nước xã hội chủ nghĩa còn lại, trong đó Việt Nam được coi là một trọng điểm. Để chống phá cách mạng Việt Nam chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đã sử dụng tổng hợp các âm mưu, thủ đoạn trên tất cả các lĩnh vực, trong đó, “diễn biến hoà bình” trên lĩnh vực kinh tế luôn được chúng xem là mũi nhọn để chống, phá như sau:.
Một Là:  Đánh giá “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực kinh tế
Đánh giá những âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trên lĩnh vực kinh tế, chúng ta bắt gặp không ít luận điểm tìm cách xuyên tạc, chống phá thể hiện trên nhiều góc độ, nội dung trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập ngày càng sâu rộng vào khu vực và thế giớiVà nội dung, thủ đoạn mà các thế lực thù địch chống phá cách mạng nước ta trên lĩnh vực kinh tế đối với Việt Nam là.
Thứ nhất, tuyên truyền xuyên tạc, phủ nhận những tư tưởng kinh tế cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm kinh tế của Đảng Cộng sản Việt Nam.
          Đây là một trong những âm mưu, thủ đoạn hết sức thâm độc của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch trong chiến lược “diễn biến hòa bình” đối với nước ta. Để thực hiện âm mưu đó chúng triệt để lợi dụng các phương tiện thông tin đại chúng, các loại hình sách, báo, phim ảnh, đào tạo cán bộ, giảng dạy kinh tế ở các trường đại học do chuyên gia nước ngoài thực hiện, chúng tìm cách xuyên tạc, phê phán, đòi xem xét lại những quan điểm, tư tưởng kinh tế của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách kinh tế của Đảng với mục đích xóa bỏ nền tảng tư tưởng kinh tế ở Việt Nam, chuyển hóa nền kinh tế phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa. Chẳng hạn, để phủ nhận học thuyết kinh tế mácxít, chúng tìm mọi cách xuyên tạc và xóa bỏ học thuyết giá trị thặng dư - “viên đá tảng” trong học thuyết kinh tế chính trị của C.Mác, chúng cho rằng, dưới chủ nghĩa xã hội sản xuất hàng hóa cũng bóc lột giá trị thặng dư. Trên cơ sở đó chúng tập trung công kích và phê phán mô hình kinh tế, xuyên tạc bản chất nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà ta đang xây dựng và phát triển; rằng công hữu nghĩa là vô chủ, là không của ai, không hiệu quả, là nguyên nhân dẫn đến sự trì trệ, khó khăn và nảy sinh các hiện tượng tiêu cực trong xã hội.
Thứ hai, thông qua các hoạt động viện trợ, đầu tư, liên doanh, liên kết làm biến đổi dần cơ sở kinh tế - xã hội của chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại là một  chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta, trong tình hình hiện nay. Tuy nhiên, đây lại là thời cơ để chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch lợi dụng “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực kinh tế, nhằm làm thay đổi cơ cấu kinh tế, cơ sở kinh tế xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Cụ thể: thông qua các hoạt động đầu tư trực tiếp, gây áp lực kinh tế, chính trị đòi Việt Nam phải tư nhân hóa nền kinh tế, hạn chế vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, bởi theo chúng, kinh tế nhà nước là ung nhọt, là sân sau của những “nhóm lợi ích” cấp cao, là những tổ mối đục khoét của cải đất nước, để từ đó thúc đẩy khả năng chệch hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường, tự do hóa thị trường theo hướng kinh tế thị trường tự do của chủ nghĩa tư bản. Bằng các hoạt động đầu tư, viện trợ, đào tạo…, các thế lực thù địch cố tình tạo sự phát triển chênh lệch giữa các vùng, miền, các ngành kinh tế, sự mất cân đối của nền kinh tế quốc dân, đồng thời đặt ra những điều kiện ràng buộc về mặt chính trị gắn với gây sức ép về chính trị để từng bước can thiệp nội bộ và tạo sự chuyển hoa theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản.
Thứ ba, thực hiện phá hoại nền kinh tế nước ta bằng nhiều hình thức, biện pháp vừa tinh vi, vừa trắng trợn trên các lĩnh vực.
Chúng dùng đồng tiền, vật chất mua chuộc làm tha hóa một bộ phận cán bộ, đảng viên, tạo ra tâm lý hưởng thụ, lối sống thực dụng, từ đó làm mất uy tín đội ngũ cán bộ, đảng viên, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Gần đây chúng còn thổi phồng, bóp méo thông tin về những khó khăn của nền kinh tế nước ta nhằm làm rối loạn thị trường và xã hội, hạ thấp uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế bằng việc tung tin thất thiệt về các cán cân kinh tế vĩ mô, thị trường tài chính - tiền tệ, thị trường chứng khoán; Lợi dụng vào chính sách mở cửa của ta, thông qua các hình thức như đi du lịch, tham quan, hội thảo tại Việt Nam chúng thâm nhập nắm tình hình kinh tế, chính trị, xã hội, quốc phòng, an ninh của ta. Đặc biệt, chúng rất quan tâm đến vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam. Chúng gặp các đối tượng bất mãn, chống đối, đi vào sâu trong buôn làng để tuyên truyền tôn giáo, xây dựng nhà thờ, mua chuộc các già làng, dụ dỗ thanh niên dân tộc chạy ra nước ngoài. Ngoài các thủ đoạn trên, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch còn dùng tiền bạc, hàng hóa mua chuộc, lôi kéo, kích động một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số chống đối chính quyền. Các tổ chức người Việt phản động ở nước ngoài được nhiều tổ chức chống đối Việt Nam nuôi dưỡng tìm cách gửi tiền, hàng hóa về cho thân nhân, gia đình đồng thời tuyên truyền về đời sống sung sướng ở các nước phương Tây. Điều này làm cho một bộ phận dân cư trong nước không quan tâm làm ăn mà chỉ trông chờ tiền gửi về từ nước ngoài, một số người hy vọng sang các nước phương Tây để được sung sướng và khi có điều kiện họ sẵn sàng ra đi, kể cả vượt biên trái phép.
Hai là: những giải pháp đấu tranh phòng, chống "diễn biến hòa bình" trên lĩnh vực kinh tế
Đấu tranh phòng, chống chiến lược “diễn biến hoà bình” trên lĩnh vực kinh tế là tổng thể những biện pháp của chúng ta nhằm phát hiện, ngăn ngừa, đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của địch “diễn biến” trên lĩnh vực kinh tế, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa nền kinh tế nước ta trong quá trình phát triển. Để công tác phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực kinh tế đạt được hiệu quả cần làm tốt các giải pháp cụ thể là:
Thứ nhất, chủ động, tích cực đấu tranh trên mặt trận lý luận tư tưởng, bảo vệ phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bảo vệ đường lối kinh tế của Đảng.
Đó là giải pháp cơ bản lâu dài cần phải được quán triệt và tổ chức thực hiện trong suốt quá trình phát triển kinh tế của đất nước. Muốn làm được điều đó, trước hết phải đầu tư nghiên cứu để nắm cho chắc, hiểu cho sâu và hiểu một cách hệ thống các quan điểm kinh tế của chủ nghĩa Mác - Lênin. Trên cơ sở nghiên cứu một cách đầy đủ và có hệ thống các quan điểm kinh tế của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng ta phải biết vận dụng một cách sáng tạo các tư tưởng kinh tế của các ông sao cho phù hợp với tình hình thực tiễn trong nước và tình hình quốc tế.
 Đồng thời thường xuyên tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận nhằm làm rõ tính khoa học trong đường lối kinh tế của Đảng, kịp thời tổng kết thực tiễn, đúc kết thành lý luận không tạo ra khoảng trống về lý luận, tư tưởng để kẻ thù chống phá. Tiếp đến cần chủ động, nhạy bén kiên quyết đấu tranh, vạch trần âm mưu, thủ đoạn chống phá của kẻ thù, bảo vệ tính cách mạng, khoa học của học thuyết kinh tế Mác - Lênin.
Thứ hai, cân tập trung đẩy mạnh phát triển kinh tế gắn với giải quyết tốt các vấn đề xã hội, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Đối với chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đã triệt để lợi dụng vào sự yếu kém của nền kinh tế của nước ta để thực hiện các hành động chống phá. Vì vậy, tập trung đẩy mạnh phát triển kinh tế, gắn tăng trưởng kinh tế cao với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, thực hiện tốt các chính sách xã hội, nâng cao đời sống mọi mặt cho nhân dân, nhất là của đồng bào các dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo là giải pháp hữu hiệu nhất để đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù. Để làm được vấn đề này, cần thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển, đồng thời, xây dựng các chủ trương, chính sách đúng đắn, sát thực tế nhằm phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội nâng cao đời sống cho đồng bào các dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, vùng có nhiều khó khăn.
Thứ ba, thực hiện tốt cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí và các tệ nạn xã hội khác, kết hợp chống “diễn biến hòa bình” của địch với chống “tự diễn biến” của ta.
Đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí và các tệ nạn xã hội khác là mảnh đất màu mỡ để chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch lợi dụng tiến hành “diễn biến hòa bình”; đồng thời đây cũng là vấn đề “tự diễn biến” của ta mà kẻ thù đang mong đợi. Bởi vì, tham ô, lãng phí, quan liêu diễn ra trong một bộ phận cán bộ, đảng viên biến chất làm cho nhân dân bất bình, mất lòng tin vào Đảng, vào chế độ; kẻ thù lợi dụng thổi phồng, bóp méo, kích động nhân dân chống lại Đảng, Nhà nước. Để làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch với nước ta trên lĩnh vực kinh tế, cùng với việc thực hiện tốt các giải pháp như trên cần phải tiến hành tốt công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, các tệ nạn xã hội khác và đẩy mạnh thực hành tiết kiệm trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân.
Thứ tư, thường xuyên giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam.
Làm tốt giải pháp này cũng chính là phòng, chống chiến lược “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực kinh tế một cách có hiệu quả, nhằm kiên định với con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn, từng bước thực hiện được mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Để giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay, trước hết cần hoàn thiện đồng bộ thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho kinh tế phát triển. Tiếp đến cần tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước; tăng cường vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế quốc dân, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam.
                                                                                                 BIỂN RỘNG


Thứ Hai, 28 tháng 8, 2017

NHẬN DIỆN NHỮNG ĐỘNG THÁI MỚI CỦA CHIẾN LƯỢC          DIỄN BIẾN HÒA BÌNH”  HIỆN NAY

Thời gian gần đây, sau khi Đảng ta ban hành Nghị quyết Trung ương 4 (Khóa XII) về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện tự diễn biến, tự chuyển hóa trong nội bộ. Ngay lập tức trên các trang các trang mạng xã hội, các phương tiện truyền thông đại chúng, những người thiếu thiện chí với cách mạng Việt Nam lớn tiếng rêu rao: Chiến lược “diễn biến hòa bình” đã kết thúc sứ mạng. Việt Nam không cần phải chống “diễn biến hòa bình” nữa mà nên tập trung phòng, chống, ngăn chặn các biểu hiện tự diễn biến, tự chuyển hóa trong xã hội và trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Luận điệu này làm không ít người thiếu bản lĩnh, mù quáng tin theo. Còn trên thực tế “diễn biến hòa bình” là có thật; vẫn là chiến lược phản cách mạng cơ bản nhằm lật đổ chế độ chính trị xã hội của các xã hội chủ nghĩa từ bên trong, chủ yếu bằng các biện pháp phi vũ trang nhưng âm mưu thủ đoạn thì ngày càng tinh vi, xảo quyệt; đang từng ngày, từng giờ thẩm thấu, chống phá Việt Nam trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Tuy nhiên, hiện nay chiến lược “diễn biến hòa bình” đã có những biến thái mới: Chủ thể tiến hành không chỉ là chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch quốc tế mà còn cả các nước theo chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, bành trướng và bá quyền. Đối tượng chống phá không chỉ là các nước xã hội chủ nghĩa mà bao gồm cả các nước có chế độ chính trị mà chủ thể của diễn biến hòa bình” cho là không phù hợp với lợi ích của chúng; các nước có vị trí địa - chính trị và địa - kinh tế chiến lược trên toàn cầu. Biện pháp của diễn biến hòa bình” mang tính tổng hợp cả về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, ngoại giao, quân sự, an ninh... Phương thức chống phá chuyển trọng tâm tác động từ bên vào các nước sang thúc đẩy các hoạt động chống đối, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ngay trong nội bộ là chính. Do đó động cơ chính trị của diễn biến hòa bình” chuyển từ đấu tranh ý thức hệ là chính sang đấu tranh vì lợi ích quốc gia dân tộc.
          Nhìn lại quá trình hình thành và phát triển của diễn biến hòa bình” từ khi còn là biện pháp hỗ trợ cho các đòn tiến công quân sự nhằm ngăn chặn sự phát triển của chủ nghĩa xã hội (Thập niên 40 - 70 của thế kỷ XX) đến khi trở thành chiến lược (Cuối thập niên 80 của thế kỷ XX)có sự điều chỉnh, mở rộng cả về chủ thể, đối tượng, phương thức như hiện nay thì bao giờ nó cũng là bộ phận quan trọng trong chiến lược toàn cầu phản cách mạng. Việt Nam luôn là một trọng điểm chống phá của chiến lược diễn biến hòa bình” với mục tiêu xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam; lái Việt Nam theo quỹ đạo phi xã hội chủ nghĩa. Phương châm chống phá là triệt để khai thác và khoét sâu mâu thuẫn nội bộ; lợi dụng những sơ hở, yếu kém của chúng ta; kết hợp công khai với bí mật, hợp pháp với bất hợp pháp; thực hiện ngầm, mềm, sâu, hiểm, tiến công toàn diện, có trọng điểm. Trong đó, lấy chống phá về chính trị, tư tưởng là khâu “trọng tâm, đột phá”, kinh tế là “mũi nhọn”, dân tộc, tôn giáo, tự do, dân chủ, nhân quyền là “ngòi nổ”, ngoại giao để “hỗ trợ”, quân sự để “răn đe”. Quá trình thực hiện khi có điều kiện, thời cơ sẽ kết hợp “diễn biến hoà bình” với bạo loạn lật đổ, can thiệp vũ trang, chiến tranh ủy nhiệm, chiến tranh xâm lược... để nhanh chóng đạt mục tiêu đặt ra.
          Nhận thức sâu sắc những vấn đề trên, hơn lúc nào hết chúng ta phải đề cao tinh thần cảnh giác cách mạng, đánh giá đúng tính chất nguy hiểm và hiện thực; nắm chắc âm mưu, thủ đoạn, phương thức và những biến thái mới của chiến lược “diễn biến hoà bình” hiện nay. Phòng, chống chiến lược “diễn biến hoà bình” nhất thiết phải tiến hành ngay từ chính bản thân mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi công dân và luôn gắn với phòng, chống, ngăn chặn suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và các biểu hiện tự diễn biến, tự chuyển hóa trong nội bộ. Đồng thời phải kiên trì quán triệt, thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ, quan điểm, phương châm, giải pháp phòng, chống “diễn biến hoà bình” của Đảng và Nhà nước đã xác định. Đấu tranh phòng, chống chiến lược diễn biến hòa bình” vẫn tiếp diễn vì mục tiêu xuyên suốt và cuối cùng của nó là xóa bỏ hoàn toàn chủ nghĩa xã hội vẫn còn nguyên ở phía trước. Cuộc chiến này là khó phân tuyến; diễn ra phức tạp, quyết liệt trên mọi phương diện của đời sống xã hội nhưng cuối cùng chân lý và chiến thắng sẽ thuộc về lẽ phải./.

                                                                                                    Nhân Trần
BÁC BỎ QUAN ĐIỂM “ĐA NGUYÊN CHÍNH TRỊ”, “ĐA ĐẢNG ĐỐI LẬP”
          “Đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập” là nội dung xuyên suốt trong luận điệu chống phá các nước xã hội chủ nghĩa của các thế lực thù địch hiện nay mà bản chất thực sự của nó được che đậy khá tinh vi bằng những lời lẽ mỹ miều, giả danh khoa học, tiến bộ, nhân văn. Bởi vì các nước xã hội chủ nghĩa là các nước nhất nguyên về chính trị và một đảng duy nhất là Đảng Cộng sản cầm quyền. Đối với Việt Nam, chúng ra sức tung hô, cổ súy cho quan điểm trên như một kiểu văn minh phương Tây; một kiểu tự do, dân chủ, nhân quyền để chống phá con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Song chúng ta kiên quyết không chấp nhận đa nguyên về chính trị; chỉ có duy nhất một con đường đã lựa chọn là đi lên chủ nghĩa xã hội; không chấp nhận đa đảng đối lập mà chỉ có duy nhất Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng cầm quyền. Đồng thời mọi người cần nhận diện rõ bản chất, tính chất vô căn cứ cả về lý luận, thực tiễn để chủ động đấu tranh, ngăn chặn, vô hiệu hóa sự xâm nhập của luận điểm này là rất quan trọng và có ý nghĩa to lớn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.
          Thực chất của quan điểm “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập” là các thế lực thù địch tác động làm cho trong đất nước, trong xã hội xuất hiện nhiều khuynh hướng chính trị, nhiều đường lối phát triển khác nhau, thậm chí đối lập nhau. Và đại diện cho mỗi khuynh hướng phát triển khác nhau ấy là các đảng phái chính trị. Nếu các khuynh hướng chính trị phát triển trái ngược nhau thì các đảng chính trị sẽ đối lập nhau. Trên thực tế hiện nay, ở một số nước tư bản chủ nghĩa đang thực hiện “đa nguyên chính trị” và “đa đảng đối lập” nhưng không hoàn toàn theo đúng nghĩa của nó. Mà thực chất là nhất nguyên chính trị tư sản, đa đảng nhưng không đối lập nhau. Dù đảng này hay đảng khác nắm chính quyền cũng đều thực hiện một mục đích chính trị duy nhất là phục lợi ích của giai cấp tư sản. Các đảng phái chính trị thuộc chế độ đa đảng ở những nước này thường có những mâu thuẫn và bản chất mâu thuẫn đó không có gì khác là sự “ăn chia” lợi ích trên lưng người lao động. Các đảng ấy vẫn một mực trung thành với hệ tư tưởng tư sản, cho nên vẫn là nhất nguyên về chính trị. Và cũng có nước xã hội chủ nghĩa thực hiện nhất nguyên (một con đường đi lên chủ nghĩa xã hội) nhưng đa đảng và các đảng phái chính trị hoàn toàn không đối lập nhau mà luôn thừa nhận quyền độc tôn lãnh đạo của Đảng Cộng sản.
          Về mặt hình thức, quan điểm trên rất dễ làm cho những người thiếu hiểu biết ngộ nhận rằng: “Đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập” tức là khuynh hướng chính trị nào đúng sẽ được lựa chọn, đảng phái nào tiến bộ sẽ được cầm quyền và như thế mới có tự do, dân chủ, tiến bộ và “cạnh tranh bình đẳng”. Song ở các nước thực hiện “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập” luôn mất ổn định chính trị, xung đột phe cánh, suy đồi đạo đức, lối sống... Ngay cả nước Mỹ nhiều năm liền là quốc gia dẫn đầu thế giới về kinh tế, khoa học công nghệ và quân sự; có trình độ phát triển nhất, văn minh nhất thì cũng là một quốc gia tồn tại đầy rẫy những bất bình đẳng, phân biệt chủng tộc, nhiều bạo lực, đầy bất ổn.
          Xét đến cùng, quan điểm “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập” là giả tạo để “trang điểm” cho cái gọi là tự do, dân chủ, tiến bộ kiểu phương Tây. Thế nhưng các lực lượng cơ hội chính trị lại tiếp nhận và thêu dệt về cái hay, cái tiến bộ của quan điểm trên như là nhìn vào bức tranh mờ ảo, không có tính hiện thực. Bởi xét từ tầng sâu bản chất, quan điểm trên như một loại “vi rút độc hại” luôn rình rập, xâm nhập vào bên trong phá hoại cơ thể của những quốc gia nhất nguyên chính trị và duy nhất một đảng cầm quyền. Con đường xâm nhập từ nhận thức đến tình cảm, quan điểm, thái độ, động cơ và cuối cùng là hành vi chống phá. Nó làm chệch hướng nhận thức, dẫn đến nghi ngờ, tán dương và cuối cùng là từ “diễn biến” đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.
          Sợi chỉ đỏ xuyên suốt lịch sử dân tộc Việt Nam là tinh thần và truyền thống đoàn kết, đồng lòng, đồng tâm, đồng sức trong đấu tranh với thiên nhiên cũng như chống giặc ngoại xâm bảo vệ non sông, gấm vóc với tinh thần độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường. Nhờ truyền thống ấy, dân tộc ta đã vượt qua những bước thăng trầm, cam go nhất của lịch sử; đánh thắng các thế lực ngoại xâm để tồn tại, phát triển. Có nghĩa là tinh thần “nhất nguyên”, tinh thần đoàn kết luôn là chìa khóa thành công của dân tộc Việt Nam. Vì vậy chúng ta kiên quyết không chấp nhận “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập”. Dưới sự lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam và chỉ có một con đường duy nhất đúng đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội - đó là sự lựa chọn của lịch sử, sự lựa chọn của Đảng, Bác Hồ, Nhân dân ta và chúng ta đang đồng thuận đi trên con đường ấy; sẽ không có con đường thứ hai và cũng không có đảng nào ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền. Đi ngược lại quy luật đó, trái với chân lý ấy sẽ là hành động chống phá sự nghiệp cách mạng Việt Nam./.
Nhân Trần




KINH TẾ TƯ NHÂN VẪN LÀ MỘT BỘ PHẬN CỦA NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN
Đảng ta ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trên một số trang mạng xã hội đã xuất hiện những bài viết “ca ngợi, tán dương kinh tế tư nhân”, coi “kinh tế tư nhân là con đường giải thoát cho nền kinh tế Việt Nam hiện nay” và lan truyền những tin đồn rằng, “chấp nhận kinh tế tư nhân, Đảng Cộng sản Việt Nam đã từ bỏ con đường xã hội chủ nghĩa, chuyển hướng sang con đường tư bản chủ nghĩa”?!.
Thực chất đây là những tin đồn sai trái, với dụng ý xấu, hòng gây nên nhận thức lệch lạc đối với kinh tế tư nhân, kinh tế nhà nước nói riêng, nền kinh tế của Việt Nam nói chung, nhất là đối với sự kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam của Đảng Cộng sản.
Ngay từ những năm đầu khởi xướng công cuộc đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhận thức rõ vai trò quan trọng của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế quốc dân. Trải qua các kỳ Đại hội và Hội nghị Trung ương, Đảng Cộng sản Việt Nam đã hình thành nên quan điểm và đường lối phát triển kinh tế tư nhân phục vụ cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Mới đây nhất, Đại hội XII của Đảng đã xác định: Kinh tế tư nhân là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Phát triển kinh tế tư nhân là vấn đề chiến lược lâu dài trong phát triển nền kinh tế nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa, góp phần quan trọng thực hiện thắng lợi nhiệm vụ trung tâm là phát triển kinh tế, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nâng cao nội lực của đất nước trong hội nhập kinh tế quốc tế.
Đầu tháng 6 vừa qua, khi Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW, thì tên gọi của nó không chỉ cho thấy rõ Đảng ta coi trọng vai trò của kinh tế tư nhân – “động lực quan trọng”, mà còn xác định rõ ràng nó là một bộ phận không tách rời “của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”.
Mặc dù, trong Nghị quyết đã giành một phần rất quan trọng để đánh giá về vị trí, vai trò và hiệu quả của kinh tế tư nhân trong những năm qua đối với nền kinh tế quốc dân. Đặc biệt là khẳng định: “Kinh tế tư nhân liên tục duy trì tốc độ tăng trưởng khá, chiếm tỉ trọng 39 – 40% GDP; thu hút khoảng 85% lực lượng lao động của nền kinh tế, góp phần quan trọng trong huy động các nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng thu ngân sách nhà nước, tạo việc làm, cải thiện đời sống nhân dân, bảo đảm an sinh xã hội”. Tuy nhiên, Nghị quyết cũng luôn xác định kinh tế tư nhân trong mối quan hệ chặt chẽ, không tách rời với các bộ phận kinh tế khác, ví như: “Kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng để phát triển kinh tế. Kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể cùng với kinh tế tư nhân là nòng cốt để phát triển nền kinh tế độc lập, tự chủ”.
Đặc biệt là, trong Nghị quyết Trung ương 5 đã nêu rõ quan điểm về phát triển kinh tế tư nhân, đó là: “Phát triển kinh tế tư nhân lành mạnh theo cơ chế thị trường là một yêu cầu khách quan, vừa cấp thiết, vừa lâu dài trong quá trình hoàn thiện thể chế, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta; là một phương sách quan trọng để giải phóng sức sản xuất; huy động, phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực phát triển”. Cùng với đó, Nghị quyết của Đảng cũng chỉ rõ mục tiêu tổng quát: “Phát triển kinh tế tư nhân lành mạnh, hiệu quả, bền vững, thực sự trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, góp phần phát triển kinh tế – xã hội nhanh, bền vững, không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, sớm đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại”.
Hơn nữa, trong hệ thống các giải pháp về phát triển kinh tế tư nhân của Nghị quyết, đi liền với các giải pháp thống nhất nhận thức, tư tưởng và hành động; tạo ra môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi; hỗ trợ kinh tế tư nhân… thì những giải pháp khác đều là những giải pháp phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, quản lý của nhà nước xã hội chủ nghĩa, nâng cao vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội, xã hội – nghề nghiệp đối với kinh tế tư nhân… để bảo đảm cho kinh tế tư nhân thực sự trở thành một động lực quan trọng và là một bộ phận của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Như vậy, dù nhận thức đúng đắn và khẳng định rõ vai trò quan trọng của kinh tế tư nhân đối với nền kinh tế quốc dân, nhưng không ở đâu, không ở chỗ nào trong đường lối quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam từ bỏ nguyên tắc định hướng xã hội chủ nghĩa đối với kinh tế tư nhân. Trái lại, Đảng ta luôn thể hiện rõ những đường hướng lãnh đạo thông thoáng nhất, quản lý nhà nước luôn cởi mở nhất để tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế tư nhân phát triển nhằm thực hiện các mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, tiến lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Sự tuyên truyền bịa đặt với dụng ý xấu về Nghị quyết Trung ương 5 khóa XII của Đảng sẽ thất bại trước nhận thức đúng đắn, khoa học và ý chí, quyết tâm kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta./.

                                              H.A