Thứ Tư, 28 tháng 7, 2021

 

LÊN ÁN LỢI DỤNG TRUYỀN THÔNG ĐỂ XUYÊN TẠC PHÒNG CHỐNG COVID-19 Ở VIỆT NAM

Trong khi cả hệ thống chính trị cùng toàn dân đã, đang ra sức nỗ lực chống dịch thì một số tổ chức, đối tượng phản động, cơ hội chính trị tiếp tục lợi dụng đại dịch COVID – 19, sử dụng “truyền thông đen” để chống phá Việt Nam, gây chia rẽ đoàn kết dân tộc, tìm cách hạ uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.

Các thế lực thù địch, cơ hội chính trị ráo riết đăng tải, phát tán thông tin xấu độc, sai sự thật về công cuộc phòng, chống dịch COVID -19 của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Nội dung tuyên truyền được các đối tượng dàn dựng công phu, tỉ mỉ, thủ đoạn hết sức tinh vi, xảo quyệt. Họ tận dụng triệt để mặt trái của truyền thông cùng với tính năng lan tỏa nhanh, độ tương tác rộng của mạng xã hội để đưa ra nhiều bài viết, hình ảnh, video xuyên tạc công tác phòng, chống COVID -19 ở nước ta nhằm đánh lạc hướng dư luận, nói xấu Đảng, chính quyền, gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, tạo ra tâm lý hoài nghi, bi quan, mất niềm tin của nhân dân đối với hệ thống chính trị. Điển hình của hoạt động “truyền thông đen” trên mạng xã hội phải kể đến những tổ chức, hội nhóm như Việt Tân, Hội Anh em dân chủ, Nhật ký yêu nước; các đài VOA, RFA…

Họ thêu dệt thông tin như: Việt Nam đối diện khủng hoảng kinh tế, xã hội toàn diện, chỉ biết phong tỏa mặc dân sống chết ra sao. Họ tự cho mình là các nhà “dân chủ”, “nhân quyền” đại diện cho nhân dân đưa ra lời đe dọa “Chính phủ không nên giỡn mặt với dân”; vu khống “CSVN ăn cháo, đá bát” sau khi nhận viện trợ vaccine từ Hoa Kỳ; tung tin sai trái gây hoang mang dư luận “Việt Nam, cơn ác mộng chỉ mới bắt đầu”; quy chụp “cách chống dịch của Đảng làm COVID -19 lây lan ngày càng nhiều”, “không hỗ trợ cứu đói cho dân mà còn tận thu vơ vét tiền của dân”... Hàng loạt trang mạng xấu độc đưa ra những hình ảnh sai sự thật về số người tử vong, đưa hình ảnh cắt ghép từ nước ngoài về hàng loạt bệnh nhân COVID – 19 tử vong để gieo rắc tâm lý hoang mang, khủng hoảng trong xã hội.

Bên cạnh đó, các đối tượng phản động lợi dụng cuộc sống của người lao động nghèo là những đối tượng dễ bị tổn thương trong giai đoạn giãn cách để tung tin bịa đặt, làm giảm sự chung tay, đồng lòng của người dân với các biện pháp phòng chống dịch bệnh mà chính quyền đang thực hiện. Thâm hiểm hơn, ngoài những thông tin méo mó, kích động, họ còn tung ra những video tin tức hay phỏng vấn ý kiến của những người lao động nghèo chưa được nhận hỗ trợ từ chính quyền để bóp méo, vu khống rằng “không thấy Đảng giúp dân”, “người nghèo không được hỗ trợ”, “chỉ có dân giúp dân, không thấy chính quyền đâu”…

Đặc điểm chung của hoạt động “truyền thông đen” là bác bỏ, phủ nhận các chủ trương, chính sách chống dịch của Đảng, Nhà nước; đồng thời, cố tình bôi đen các lực lượng đang ngày đêm quên mình chống dịch như: Lực lượng Y tế, lực lượng Công an, Quân đội. Số này còn tìm cách kêu gọi, kích động người dân không thực hiện các quy định trong phòng, chống dịch.

Trước vấn nạn “truyền thông đen”, không chỉ người dân trong nước mà nhiều người nước ngoài đang sinh sống và làm việc tại Việt Nam cũng như các chuyên gia quốc tế đã phản đối những quan điểm méo mó, sai lệch trên và bày tỏ sự tin tưởng vào chính sách, quy định chống dịch của Việt Nam.

Tuy nhiên, trước những hoạt động của “truyền thông đen” và những khó khăn, trở ngại do dịch gây ra, cũng đã có một số người dân không tỉnh táo, mất bình tĩnh, rơi vào cái bẫy của các đối tượng phản động, vô tình trở thành “con bài” trong các hoạt động chống phá của họ. Cụ thể, những ngày gần đây, trên mạng xã hội lan truyền bức ảnh với nội dung “Đây là các bệnh nhân tử vong vì COVID -19 tại TP Hồ Chí Minh”. Nhiều người đã chia sẻ hình ảnh này, bình luận, gây hoang mang trong dư luận. Tuy nhiên, đây chỉ là tin giả. Trước sự việc trên, Trung tâm xử lý tin giả Việt Nam, Bộ Thông tin và Truyền thông khẳng định bức hình này được ghi nhận tại Indonesia, không phải ở Việt Nam. Cơ quan chức năng đang vào cuộc làm rõ để xử lý theo quy định của pháp luật.

Bên cạnh đó, một số cá nhân trong nước với động cơ vụ lợi đã đưa tin thất thiệt, nhiều đối tượng trên được cơ quan chức năng phát hiện, xử lý theo quy định của pháp luật. Ngày 13/5, Công an tỉnh Quảng Bình đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với bà Hồ Thị Minh H (sinh năm 1983, trú tại tổ 1, tổ dân phố 6, Bắc Lý, TP Đồng Hới) và ông Nguyễn Xuân N (sinh năm 1984, trú tại thôn 9, Lộc Ninh, TP Đồng Hới) với số tiền 10 triệu đồng về hành vi đưa tin không chính xác về tình hình dịch bệnh truyền nhiễm.

Chiều 14/7, Phòng An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao, Công an TP Cần Thơ phối hợp với Thanh tra Sở Thông tin và Truyền thông TP Cần Thơ đã mời Tô Thùy D (sinh năm 1990, trú tại quận Bình Thủy, TP Cần Thơ) và Trương Thị Tú Q (sinh năm 1990, trú tại quận Ninh Kiều, TP Cần Thơ) đến làm việc, làm rõ hành vi “Cung cấp, chia sẻ thông tin bịa đặt, sai sự thật trên mạng xã hội” có liên quan đến tình hình dịch COVID-19 trên địa bàn TP Cần Thơ, gây hoang mang dư luận.

Ngày 9/7, Công an huyện Thống Nhất, Đồng Nai đã tiến hành xử lý vi phạm hành chính với tổng mức phạt là 25 triệu đồng đối với Phạm Văn Th (sinh năm 2001, trú tại ấp Gia Yên, xã Gia Tân 3) và Trần Thị Ánh Th (sinh năm 1991, trú tại ấp Võ Dõng 1, xã Gia Kiệm) đăng tải trên trang Facebook cá nhân của mình không đúng sự thật về dịch bệnh COVID - 19 tại xã Gia Tân 3 với nội dung “Một ca dương tính test ngày 5/7 gần cầu Ông Hoàng đã được đem đi cách ly”.

Những thông tin sai sự thật của những người cố ý hay vô ý được đăng tải, phát tán trên mạng xã hội thời gian qua có nhiều nguyên nhân, bên cạnh sự tác động từ chiêu trò “truyền thông đen” của các đối tượng phản động, thù địch còn đến từ sự thờ ơ, thiếu hiểu biết, thiếu trách nhiệm, vụ lợi cá nhân của một số người dân đối với công cuộc chống “giặc COVID-19” của dân tộc.

Truyền thông có ảnh hưởng rất lớn đến mọi vấn đề của xã hội. Truyền thông tác động đến nhận thức của công chúng, từ nhận thức sẽ tác động đến hành động và ứng xử của công chúng. Truyền thông có tính chất hai mặt, nếu sử dụng đúng sẽ có hiệu quả tích cực trong công cuộc chống dịch COVID -19, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội, ổn định đời sống nhân dân, nhưng nếu sử dụng sai sẽ là trở lực rất lớn, gây mất an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, làm tổn hại đến sự phát triển của đất nước. Truyền thông các thế lực thù địch, phản động cơ hội chính trị đang sử dụng là một loại “truyền thông đen”. Loại truyền thông này cần phải được nhận diện, đấu tranh và loại bỏ.

Theo đó, đối với công tác truyền thông trong nước phải đi trước một bước, tiếp tục phát huy những kết quả đã làm được, tuyên truyền sâu rộng, kịp thời, đầy đủ, chính xác mọi chủ trương, chính sách, chỉ thị, quy định về phòng, chống dịch COVID -19 đến từng cấp, ngành và nhân dân. Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cộng đồng về những khó khăn, diễn biến phức tạp của dịch COVID -19 và vạch trần âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị. Qua đó, tạo sự đồng thuận xã hội, đoàn kết, quyết tâm cao nhất với tinh thần “chống dịch như chống giặc”.

Đối với các cơ quan chức năng kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm các trường hợp đăng tải, phản ánh thông tin sai sự thật, thất thiệt theo quy định của pháp luật. Đối với người dân, cần quán triệt và chấp hành tốt mọi chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước nói chung và công tác phòng, chống dịch COVID-19 nói riêng. Việc tiếp cận luồng thông tin phải chính thống, đăng tải các thông tin trên mạng xã hội phải theo quy định pháp luật và cảnh giác với chiêu trò lợi dụng của các thế lực thù địch, không để bị lôi kéo, kích động. Lợi dụng dịch bệnh COVID-19 để chống phá, đó là sự “ăn hôi” trên nỗi đau của đồng bào. Chống “giặc COVID-19” hay đấu tranh với chiêu trò “truyền thông đen” của các thế phản động rất cần sự vào cuộc đồng bộ, quyết liệt của các cấp, các ngành và mọi người dân. Sự đồng lòng trong đại dịch sẽ là sức mạnh để chúng ta đứng vững trước mọi khó khăn, thử thách.



Chủ Nhật, 25 tháng 7, 2021

 

ĐẬP TAN LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC TRUYỀN THỐNG QUÂN ĐỘI, PHẨM CHẤT CAO QUÝ “BỘ ĐỘI CỤ HỒ”

             Các thế lực thù địch xuyên tạc về vụ việc quân nhân Trần Đức Đô

Thời gian gần đây, mạng xã hội xôn xao trước sự kiện quân nhân Trần Đức Đô (sinh năm 2002, quê quán: Bắc Ninh) tử vong tại Trường Quân sự Quân khu 1 chưa có kết luận của cơ quan điều tra về nguyên nhân tử vong. Ngay lập tức các thế lực thù địch, phần tử cơ hội, phản động lợi dụng các diễn đàn, truyền thông, mạng xã hội để livestream, đăng tải các bài viết, hình ảnh về khám nghiệm tử thi, cảnh tang thương của gia đình Đô, kèm theo những bình luận phê phán mối đoàn kết, bản chất, truyền thống tốt đẹp của Quân đội.

Đáng chú ý, nhiều ý kiến phân tích, bịa đặt thông tin cho rằng “chỉ huy đơn vị đã thông tin sai lệch cái chết của Đô từ đột quỵ trên thao trường, bệnh chết và tự tử do xung đột, đánh nhau với đồng đội”, “thực chất Đô chết do bị Đại đội trưởng và đồng đội đánh đập dã man…”, “Quân đội đã bao che cho cấp dưới”; ngay sau khi có sự phản ứng của dư luận “ĐCSVN đã chỉ đạo bịt lắp truyền thông, ngăn cản người dân tố giác tội ác của Đảng, Quân đội lên mạng xã hội”, “Youtube bị nhà cầm quyền CSVN áp lực ngăn chặn một cách bất hợp pháp không cho nhiều video của Việt Tân được xem ở Việt Nam”,… từ đó chúng quy chụp “Quân đội không có tình người, đánh đạp, giết hại tàn nhẫn nhau”, “ma cũ bắt nạt ma mới”, kích động người dân không tin, không theo Đảng, Quân đội, “không cho con em mình gia nhập Quân đội”. Những thông tin trên là hoàn toàn xuyên tạc, bóp méo sự thật, kích động hận thù, gây chia rẽ mối quan hệ Quân - Dân, xuyên tạc bản chất, truyền thống Quân đội và phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”.

Theo thông báo của cơ quan chức năng, vụ việc chính xác về quân nhân Trần Đức Đô như sau: Năm 2021, thanh niên Trần Đức Đô đã viết đơn xung phong lên đường nhập ngũ. Sau 3 tháng huấn luyện tại Bắc Giang, trước sự việc xảy ra 1 tuần, Đô được chuyển đến Đại đội 14, Tiểu đoàn 4, Trường Quân sự Quân khu 1 đóng quân tại địa bàn huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên để huấn luyện, đào tạo Tiểu đội trưởng. Vào lúc 14 giờ 30 phút, ngày 28/6/2021, Binh nhì Trần Đức Đô được đơn vị phát hiện trong tư thế treo cổ tự tử tại đồi cây sau dãy nhà vệ sinh của thao trường khi Đại đội đang tổ chức huấn luyện ngoài thao trường. Ngay khi phát hiện sự việc, quân y đơn vị đã sơ cứu, cấp cứu tại chỗ và báo cáo về nhà trường, sau đó, quân y nhà trường có mặt dùng xe cứu thương chuyển Đô đến Bệnh viện Gang Thép, tỉnh Thái Nguyên cấp cứu. Tuy nhiên, dù đã tận tình cứu chữa nhưng quân nhân Trần Đức Đô đã tử vong. Từ 20 giờ đến 24 giờ ngày 28/6, lực lượng chức năng tiến hành điều tra, khám nghiệm tử thi, kết quả khám nghiệm không phát hiện có tổn thương do tác động của ngoại lực; sơ bộ ban đầu xác định quân nhân Trần Đức Đô tử vong trong tư thế treo cổ.

Trước sự việc trên, chiều cùng ngày, Bộ Tư lệnh Quân khu 1 đã cử 1 Đoàn công tác do Thiếu tướng Hoàng Văn Hữu, Phó Tư lệnh Quân khu làm Trưởng đoàn; Trường Quân sự Quân khu 1 cử 1 Đoàn công tác do Đại tá Đặng Đình Bôn, Phó Hiệu trưởng làm Trưởng đoàn trực tiếp về gặp gỡ gia đình, địa phương thông báo vụ việc, động viên, giúp đỡ gia đình và thực hiện công tác chính sách, tổ chức tang lễ cho quân nhân Trần Đức Đô theo đúng quy định. Bộ Tư lệnh Quân khu đã chỉ đạo cơ quan chức năng và Trường Quân sự Quân khu phối hợp điều tra, xác minh, làm rõ sự việc; xác định chính xác nguyên nhân quân nhân Trần Đức Đô tử vong. Đồng thời khẳng định: Khi có kết quả điều tra chính thức, nếu có dấu hiệu vi phạm sẽ khởi tố, điều tra xử lý ngay lập tức, xử lý đúng người, đúng tội nếu có.

Tuy nhiên, lợi dụng vụ việc trên, tối ngày 28/6, đã có hơn 50 người dân không phải người thân của gia đình quân nhân Trần Đức Đô, kích động gia đình đưa thi thể Đô về Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Ninh để khám nghiệm tử thi, tìm nguyên nhân tử vong, tụ tập bên ngoài phát livestream cho rằng “Quân nhân Đô bị đồng đội đánh chết, đơn vị bao che”, kêu gọi người dân “giúp gia đình minh oan, đòi lại công bằng”. Đồng thời, khoảng hơn 23 giờ, khi thi thể Đô được đưa về gia đình làm lễ mai táng thì có hơn 200 người lạ, tiếp tục tụ tập về nhà quân nhân Đô, tổ chức livestream chửi bới, nhục mạ Quân đội, yêu cầu chính quyền điều tra làm rõ nguyên nhân tử vong của Đô, không cho đơn vị làm lễ mai táng cho Đô,…Nhận thấy có sự chống phá của các thế lực thù địch, sáng ngày 30/6, chính quyền địa phương tiến hành lập 3 chốt xung quanh khu vực nghĩa trang, để kiểm soát những đối tượng lạ mặt tụ tập kích động; Trường Quân sự Quân khu 1 phối hợp với Ban CHQS thị xã Từ Sơn và chính quyền bảo vệ thi thể Đô. Lợi dụng vụ việc này các đối tượng phản động đã cho rằng “Quân đội, địa phương đàn áp nhân quyền, ngăn cản người dân đến để đấu tranh cho quyền lợi của Đô”, “bao che cho nhau”, “lừa gạt gia đình Đô”. Ngày 1/7/2021, có 4 đơn vị đã tham gia điều tra nguyên nhân tử vong của quân nhân Trần Đức Đô, gồm: Phòng điều tra hình sự Quân khu 1, Cục Điều tra hình sự - Bộ Quốc phòng, Cục Bảo vệ An ninh - Bộ Quốc phòng và Công an tỉnh Thái Nguyên. Các cơ quan tư pháp đang phối hợp, nhận định, đánh giá trên cơ sở khoa học để đưa ra kết luận chính xác, khách quan về nguyên nhân dẫn tới quân nhân Đô tử vong. Khi đơn vị nhận được kết luận sẽ công khai thông tin rõ ràng cho gia đình và báo chí. Trước sự minh bạch của pháp luật, sự quan tâm, chia sẻ, động viên tích cực, kịp thời từ phía đơn vị, địa phương, gia đình quân nhân Trần Đức Đô đã tin tưởng vào pháp luật, tổ chức mai táng cho Đô tại nghĩa trang quê nhà (Nghĩa trang khu Đa Hội, phường Châu Khê, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh) vào chiều ngày 1/7. Đại diện gia đình quân nhân Trần Đức Đô, ông Trần Đức Hội đã cảm ơn chính quyền và đơn vị đã quan tâm, hỗ trợ gia đình trong những ngày qua.

Tuy nhiên, đối lập với sự đồng thuận của gia đình và địa phương thì “nhóm người lạ” hơn 400 người đến quấy phá, ngăn cản đơn vị, gia đình, địa phương mai táng quân nhân Đô. “Nhóm người lạ” và fanpage V.T. lại cho rằng “chôn được người lính ấy xuống đất thì các vị lãnh đạo Quân đội có vẻ yên chuyện nhưng không chôn được lòng oán thán ngút trời của người dân ngày càng dâng cao”.

Nhìn vào bản chất sự việc, bất kỳ ai cũng hoàn toàn đều có thể thấy rằng bản chất, diễn diến, kết quả của vụ việc đã bị các phần tử cơ hội, phản động bóp méo, bịa đặt, suy diễn cảm tính, thiếu căn cứ để đánh lừa dư luận, kích động sự phẫn nộ trong quần chúng Nhân dân, lái dư luận có cái nhìn ác cảm về bản chất, truyền thống, tinh thần đoàn kết, môi trường sống trong Quân đội. Mục đích cuối cùng là gây chia rẽ Quân đội với Nhân dân, làm người dân thiếu niềm tin vào Quân đội, không muốn cho con, em mình gia nhập Quân đội và thâm độc hơn có thể dẫn đến mất an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội khi các đối tượng phản động kích động người dân biểu tình, chống phá tại các doanh trại Quân đội. Trong bất kỳ tổ chức chính trị, xã hội, môi trường sống nào cũng có người như thế này, thế khác, mặc dù có tinh thần thép, kỷ luật nghiêm minh nhưng vẫn có một số ít cán bộ, chiến sỹ vì những lý do khác nhau đã có biểu hiện mất đoàn kết, vi phạm kỷ luật, vi phạm phẩm chất, đạo đức, lối sống,… nhưng đều được xử lý nghiêm minh đúng pháp luật Nhà nước, kỷ luật Quân đội, không hề có “vùng cấm”, không hề có chuyện bao che, bỏ qua sai phạm của bất kỳ ai.

Thực tiễn qua gần 77 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, trong bất luận hoàn cảnh nào Quân đội vẫn luôn “Trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc,…”. Hành trình lớn mạnh của Quân đội luôn có sự ủng hộ, đùm bọc, giúp đỡ, yêu thương của Nhân dân, bởi Quân đội ta là Quân đội của Nhân dân, từ Nhân dân mà ra, vì Nhân dân mà chiến đấu, hy sinh, phục vụ…Những cống hiến của Quân đội, mối quan hệ đặc biệt Quân đội với nhân dân, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” cao quý qua thực tiễn các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biển, đảo của Tổ quốc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhất là trong thời bình với nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, phòng, chống thiên tai, bão, lũ, dịch bệnh, đại dịch COVID-19,...Như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định tại Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XI, nhiệm kỳ 2020-2025: “Cán bộ, chiến sỹ luôn gắn bó máu thịt với nhân dân; tích cực tham gia xây dựng cơ sở chính trị địa phương vững mạnh, giúp dân xóa đói, giảm nghèo; phối hợp xử lý có hiệu quả các tình huống phức tạp, nhất là trên những địa bàn chiến lược, trọng yếu về quốc phòng, an ninh. Đồng thời, Quân đội luôn là lực lượng nòng cốt, xung kích đi đầu trong phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, cứu hộ, cứu nạn, khắc phục sự cố môi trường; qua đó, ngày càng làm sâu sắc hơn, toả sáng hơn phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” trong tình hình mới; khẳng định vai trò của “Đội quân chiến đấu - Đội quân công tác - Đội quân lao động sản xuất”. Đặc biệt, trong những nỗ lực phòng, chống đại dịch COVID-19 thời gian qua cũng như hiện nay, cán bộ, chiến sỹ toàn quân đã thực sự là chỗ dựa vững chắc, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân, xứng đáng là Quân đội của nhân dân, Quân đội trong lòng dân”… Đó là những minh chứng sắc bén được lãnh đạo Đảng nhấn mạnh đã bẻ gãy mọi luận điệu xuyên tạc về truyền thống của Quân đội, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” cao quý.

Kết luận, bản chất vụ việc về quân nhân Trần Đức Đô đã bị các thế lực thù địch bóp méo, lợi dụng để xuyên tạc. Hơn ai hết, mỗi cán bộ, chiến sỹ trong toàn quân cần phải hiểu rõ bản chất vụ việc, làm tốt công tác tuyên truyền cho cán bộ, chiến sỹ trong đơn vị và người thân, làm tốt công tác quản lý tình hình tư tưởng, kỷ luật trong đơn vị, xây dựng tinh thần đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ nhau trong thực hiện nhiệm vụ. Và mọi người dân cần phải hết sức bình tĩnh, tỉnh táo, tìm hiểu và nhận thức rõ bản chất vụ việc để có cái nhìn tổng thể, khách quan, chính xác nhất về bản chất vụ việc để không mắc mưu chia rẽ Quân đội với Nhân dân của các thế lực thù địch, càng không nghe theo bọn xấu xúi giục để có những phát ngôn, hành động gây mất an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, vi phạm pháp luật; phải vững tin vào Đảng, Nhà nước, Quân đội, tin tưởng vào sự nghiêm minh của pháp luật và kỷ luật Quân đội; tích cực vạch mặt những âm mưu, luận điệu xuyên tạc, hành động chống phá của các thế lực thù địch; đăng tải, chia sẻ, bình luận có trách nhiệm với các bài viết trên mạng xã hội, chấp hành nghiêm Luật An ninh mạng 2018, ra sức cùng Quân đội xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.




 

CẢNH GIÁC THỦ ĐOẠN LỢI DỤNG BIỂU TÌNH Ở CU BA ĐỂ CHỐNG PHÁ VIỆT NAM

Những ngày qua, lợi dụng sự việc biểu tình tại Cuba, các thế lực thù địch, phản động đã phát tán tài liệu sai trái, kích động nhằm tạo ra sự bất ổn về an ninh trật tự tại Việt Nam. Mỗi người dân trong nước cần cảnh giác trước mưu đồ chống phá của kẻ địch.

Thực chất sự việc biểu tình tại Cuba

Đại dịch COVID-19 đã, đang tác động tiêu cực đến toàn thế giới. Đến nay, Cuba đã có trên 200 nghìn người nhiễm và hơn 1.500 người tử vong, số ca mắc mới có chiều hướng gia tăng. Chính phủ Cuba đã ban hành và thực hiện các biện pháp nhằm hạn chế tình trạng lây lan dịch bệnh, tăng cường giám sát dịch tễ học, kiểm soát y tế quốc tế nghiêm ngặt và thực hiện chiến dịch tiêm chủng quốc gia. Tuy nhiên, COVID-19 đã làm cho đời sống của nhân dân giảm sút, thiếu hụt thuốc men và lương thực thực phẩm, giá cả tăng cao, tình trạng mất điện cùng nhiều thách thức kinh tế, xã hội khác bùng phát ở Cuba và Cuba càng trở lên đặc biệt khó khăn hơn khi bị bao vây cấm vận trong gần 60 năm qua. Trước thực trạng đó, một số người dân ở các thành phố của Cuba đã biểu tình ôn hòa nhằm mục đích đề nghị chính phủ “hành động khẩn cấp nhằm giải quyết vấn đề thiếu hụt lương thực, thuốc men và vaccine”.                 

Song, những cuộc biểu tình ôn hòa đó đã trở nên phức tạp khi có sự giật dây, kích động từ các thế lực xấu, dẫn đến người biểu tình ném gạch đá vào lực lượng chức năng, đập phá các điểm giao dịch, đập và lật đổ xe ôtô… làm cho tình hình trở nên phức tạp. Chủ tịch Cuba Miguel Diaz-Canel đã cho rằng nguyên nhân dẫn đến biểu tình là: “Nước Mỹ theo đuổi một chính sách bóp nghẹt nền kinh tế nhằm gây bất ổn xã hội ở Cuba”. Mỹ áp đặt các lệnh trừng phạt, cấm vận Cuba từ năm 1962 là nhằm “gây bất ổn xã hội”, “thay đổi chế độ”. Ngoại trưởng Cuba còn tố cáo chính phủ Mỹ đã sử dụng hệ thống số công nghệ cao để kích động các cuộc biểu tình, đây là một dự án mà chính phủ Mỹ đã vận hành trong thời gian dài và đã gia tăng nguồn tài chính cho nó.

Biểu tình vì dịch bệnh COVID-19 không chỉ riêng ở Cuba

Thời gian qua, biểu tình đã diễn ra ở nhiều nước trên thế giới do ảnh hưởng của dịch bệnh COVID-19. Tại Đức, tháng 8/2020, cảnh sát đã bắt giữ 300 người biểu tình chống các biện pháp ngăn COVID-19 là giãn cách xã hội và đeo khẩu trang. Trong cuộc biểu tình này, người biểu tình đã ném đá và chai nước vào cảnh sát, làm cho ít nhất 7 nhân viên cảnh sát bị thương, buộc quốc gia này phải triển khai khoảng 3.000 cảnh sát để đối phó tình huống xấu nhất. Cũng trong tháng 8/2020, hàng ngàn người trên khắp nước Anh đã tập trung về quảng trường Trifalgar ở trung tâm London để phản đối các biện pháp hạn chế di chuyển, quy định đeo khẩu trang và không đồng ý với việc tiêm vaccine ngừa COVID-19 hàng loạt. Cá biệt, một số người còn cho rằng virus corona là “trò lừa đảo”, “lừa bịp”. Tháng 5/2021, biểu tình biến thành bạo động đã diễn ra tại nhiều nước châu Âu. Tại Đức, có hơn 20 cuộc biểu tình với khoảng 20.000 người tham gia nhằm phản đối việc tăng giá thuê nhà đến chính sách nhập cư của Đức và phản đối việc áp đặt các hạn chế đặc biệt để ngăn chặn dịch bệnh. Người biểu tình đã đốt pháo, đốt thùng rác và ván gỗ gây ra nhiều đám cháy trên đường, buộc quốc gia này phải huy động trên 5.000 cảnh sát vào cuộc cùng với vòi rồng và hơi cay. 

Tại Pháp, có gần 300 cuộc biểu tình với khoảng 150.000 người tham gia nhằm phản đối các chính sách của chính phủ cắt giảm các phúc lợi xã hội và quyền tự do dân sự, cũng như cắt giảm việc làm và xử lý đại dịch COVID-19. Người biểu tình đã ném đá và pháo vào cảnh sát, đốt cháy thùng rác, đập phá cửa sổ, ngân hàng và tài sản công cộng. Cảnh sát đã đáp trả bằng loạt đạn hơi cay, lựu đạn cay và vòi rồng để giải tán đám đông. Tại Bỉ, hàng trăm người dân đã tụ tập biểu tình nhằm phản đối những quy định của chính phủ về chống dịch bệnh COVID-19. Cảnh sát tại quốc gia này cũng đã phải dùng vòi rồng và đạn hơi cay để giải tán đám đông tụ tập ở Brussels phản đối các quy định phong tỏa.Tại thủ đô Helsinki của Phần Lan, khoảng 300 người đã tham dự một cuộc biểu tình nhỏ, buộc cảnh sát can thiệp và bắt giữ khoảng 50 người. Còn tại Stockholm, Thụy Điển, từ 500 đến 600 người đã tuần hành với các biểu ngữ đòi hỏi “tự do và sự thật” trong một sự kiện kéo dài hơn hai giờ bất chấp các nỗ lực của cảnh sát để giải tán đám đông…

Phong trào biểu tình có phải do bản chất của chế độ?

Ngay sau cuộc biểu tình nổ ra tại Cuba, ngày 11/7/2021, nhiều trang mạng đã đưa ra các bài viết, bình luận, đánh giá vấn đề biểu tình theo chiều hướng tiêu cực, cho rằng điều này chủ yếu xuất phát từ nguyên nhân chủ quan, những vấn đề nội tại của đất nước Cuba. Tuy nhiên, những đánh giá phiến diện này sau đó đã vấp phải sự phản ứng của người dân Cuba vì họ cho rằng điều này có sự tác động của yếu tố bên ngoài, ảnh hưởng đến tình hình chính trị xã hội của Cuba. Cuộc biểu tình để lại nhiều hệ lụy to lớn, tác động đến tình hình đất nước, có nguy cơ gây ra một cuộc khủng hoảng kéo dài. Lợi dụng sự việc biểu tình tại Cuba, các đối tượng xấu đã phát tán nhiều bài viết có nội dung tung tin người dân Cuba ở các thành phố đồng loạt biểu tình yêu cầu chính phủ “phải cung cấp thực phẩm và vaccine vì tình trạng thiếu hụt lương thực, nhu yếu phẩm đang ở mức độ khủng hoảng trong khi tỷ lệ các ca nhiễm virus COVID-19 vẫn đang tăng vọt”. 

Họ đưa ra nhiều nhận định sai sự thật về việc biểu tình tại nước này; lồng ghép nhiều ý kiến chủ quan để kích động, kêu gọi người dân Cuba lật đổ chế độ, xuyên tạc bản chất của chế độ XHCN. Từ đó, xuyên tạc chống phá Đảng, Nhà nước ta, hạ uy tín lực lượng vũ trang; lồng ghép tung tin kích động, cho rằng người dân Cuba “muốn lật đổ chế độ” và “chế độ XHCN ở Cuba sẽ sụp đổ, sau đó đến Việt Nam”. Ở Việt Nam, lợi dụng tình hình dịch COVID-19 phức tạp, các đối tượng chống phá đã tìm cách tung ra những luận điệu tuyên truyền nhằm tô vẽ, thổi phồng dư luận để kích động người dân biểu tình chống Đảng, Nhà nước. Các tổ chức khủng bố như Việt Tân, Triều Đại Việt, Chính phủ Quốc gia Việt Nam lâm thời, số đối tượng phản động, chống đối trong nước hay một số trung tâm truyền thông thiếu thiện chí với Việt Nam đã đưa nhiều thông tin xuyên tạc về tình hình chính trị, xã hội tại Việt Nam. Nhiều bài viết đưa các thông tin sai sự thật, tác động tư tưởng nhằm gây bất ổn từ bên trong. Đây là thủ đoạn đánh lận con đen nhằm mục đích tác động xấu đến tư tưởng, tình cảm, niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ. Chỉ nhìn thấy cây mà không thấy rừng, cố tình lờ đi bản chất của sự việc. Sự việc một số người dân tham gia biểu tình tại Cuba xuất phát từ cả nguyên nhân khách quan và chủ quan. Khách quan là sự tác động ghê gớm của đại dịch COVID-19; chủ quan là những khó khăn nội tại trong giải quyết an sinh xã hội và đảm bảo lương thực, thực phẩm, y tế cho người dân. Trong đó, nguồn gốc sâu xa của khó khăn nội tại là do Cuba đã bị bao vây, cấm vận trong thời gian quá dài. Nếu các quốc gia tư bản phương Tây phát triển mà có hoàn cảnh tương tự như Cuba thì phong trào biểu tình của người dân những quốc gia này diễn ra gấp hàng trăm, nghìn lần. Trong điều kiện đó, liệu các đối tượng xấu có cho sự việc biểu tình đó xuất phát từ bản chất của chế độ, người dân muốn lật đổ chế độ?

Cần nhìn nhận đúng

Từ cuộc biểu tình tại đất nước Cuba, có thể rút ra một số vấn đề đối với công tác đảm bảo an ninh xã hội tại Việt Nam trong tình hình hiện nay như sau: Thứ nhất, phát hiện sớm âm mưu, ý đồ của các đối tượng phản động, thù địch để kịp thời ngăn chặn, kiềm tỏa các hoạt động chống đối. Trước những biến động phức tạp về chính trị - xã hội trên thế giới thì các thế lực phản động, chống đối chính trị lợi dụng cơ hội này để “đục nước béo cò”, “thừa nước đục thả câu”. Họ lợi dụng tình hình khó khăn của đất nước để tuyên truyền, kích động người dân tiến hành các hoạt động chống Đảng, Nhà nước. Họ thông qua những vấn đề nhạy cảm để lợi dụng sự cả tin của người dân, qua đó tiến hành các hoạt động biểu tình, gây sức ép với chính quyền. 

Thứ hai, làm tốt công tác quản lý nhà nước về an toàn thông tin mạng. Xuất phát từ cuộc biểu tình tại Cuba cho thấy, các phần tử thù địch, phản cách mạng lợi dụng mạng xã hội để tung tin sai trái, kích động, lôi kéo người dân thông qua những lời mời gọi mị dân, khuấy động các bất ổn trong nước, đưa ra những luận điệu chia rẽ nhân dân với chính quyền. Từ những điểm bất ổn đó đã thúc đẩy cuộc biểu tình tại Cuba. Chính vì vậy, cần tiếp tục làm tốt công tác quản lý nhà nước về an toàn thông tin mạng internet. Phổ biến thông tin chính thống, các chủ trương, chính sách để người dân nắm được; đồng thời thông qua các tổ giám sát để phát hiện sớm âm mưu của các đối tượng xấu.

Thứ ba, lực lượng CAND cùng các cơ quan chức năng tiếp tục làm tốt công tác tham mưu cho Chính phủ để vừa làm tốt công tác chống dịch, vừa thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Có thể thấy rằng, điều kiện để các thế lực phản động, chống đối chính trị kích động người dân đó là sự khó khăn của đất nước trong phát triển kinh tế - xã hội và công tác chống dịch COVID- 19. Do vậy, đảm bảo hài hòa trong việc chống dịch và phát triển kinh tế - xã hội là vấn đề mang tính tiên quyết để góp phần ngăn chặn các âm mưu, ý đồ xấu của các đối tượng phản động, chống đối chính trị, đồng thời giữ vững an ninh xã hội trong giai đoạn hiện nay. Mọi công dân có nghĩa vụ tuân theo Hiến pháp và pháp luật, mọi hành vi chống lại độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, chống lại sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đều bị nghiêm trị. Mỗi người dân cần tỉnh táo, cảnh giác trước những thông tin xấu độc mà các đối tượng lợi dụng sự việc biểu tình ở Cuba liên quan đến đại dịch COVID-19 để tung tin kích động nhằm gây bất ổn tình hình trong nước, không tham gia hoặc tiếp tay cho cho hành vi gây rối an ninh, trật tự.



 

LÊN ÁN HÀNH ĐỘNG LỢI DỤNG NHÂN QUYỀN CHỐNG PHÁ VIỆT NAM

Ngày 20/6/2021 vừa qua, “Mạng lưới Nhân quyền Việt Nam” đã công bố cái gọi là “báo cáo nhân quyền tại Việt Nam năm 2020-2021” dài 107 trang, trong đó đề cập đến 8 quyền: Quyền sống; quyền tự do và an ninh thân thể; quyền được xét xử công bằng bởi toà án độc lập và vô tư; quyền được tham gia đời sống chính trị quốc gia; quyền tự do phát biểu và tự do thông tin; quyền tự do tôn giáo và thờ phượng; quyền được làm việc và hưởng thụ thành quả lao động; quyền được đối xử bình đẳng không kỳ thị và quyền được hưởng cuộc sống an lạc. Đồng thời, báo cáo còn đưa ra 3 phụ lục về cái gọi là “danh sách tù nhân lương tâm bị bắt giam trong năm 2020-2021”; “danh sách tù nhân lương tâm còn bị giam cầm” và “giải thưởng Nhân quyền Việt Nam 2020”...

1.  Sự nhìn nhận mù quáng

Thêm một lần nữa, những nội dung trong báo cáo mà “Mạng lưới Nhân quyền Việt Nam” đưa ra trong năm 2020-2021 đều phản ánh sai lệch, thiếu khách quan, xuyên tạc thực tế về vấn đề nhân quyền và can thiệp vào công việc nội bộ Việt Nam. Báo cáo cho rằng, sau hơn 5 năm kể từ ngày vào Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, đến lần kiểm điểm định kỳ năm 2019 theo đánh giá của Ủy ban Nhân quyền Liên hợp quốc, khuôn khổ pháp lý của Việt Nam “vẫn chưa tương thích với Công ước quốc tế và Việt Nam vẫn tiếp tục vi phạm những quyền cơ bản, từ phân việt đối xử, bắt, giam giữ tùy tiện, vi phạm các đảm bảo về xét xử công bằng đến hạn chế quyền tự do tôn giáo, tự do quan điểm và biểu đạt, tự do lập hội”. Là tổ chức được thành lập vào năm 1997, có trụ sở tại Hoa Kỳ, “Mạng lưới Nhân quyền Việt Nam” hoạt động dưới danh nghĩa “quy tụ một số cá nhân và đoàn thể dấn thân trong lãnh vực tranh đấu và bảo vệ nhân quyền và tự do mà mọi người dân Việt Nam đều có quyền hưởng như đã được quy định trong Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền và các văn kiện quốc tế nhân quyền khác”. Vậy nhưng trên thực tế, báo cáo mà họ đưa ra hằng năm đều đi ngược lại với mục đích, tôn chỉ hoạt động của mình, nội dung báo cáo sai lệch, phản ánh một cách phiến diện, thiếu khách quan, minh bạch về thực tiễn tình hình dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam.

2. Pháp lý và thực tiễn khách quan về nhân quyền ở Việt Nam

Trong các chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước từ trước đến nay, quyền con người và pháp luật về quyền con người là nội dung rất quan trọng, được quy định cụ thể trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992 và đặc biệt là Hiến pháp năm 2013 đã thể chế hóa quan điểm của Đảng về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, phù hợp với thực tiễn Việt Nam và chuẩn mực quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã tham gia. Hiến pháp năm 2013 bao gồm 11 chương, 120 điều, trong đó riêng Chương II có 36 điều quy định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Đồng thời, các nội dung liên quan đếnquyền con người không chỉ được quy định trong Chương II mà còn được đưa vào các chương khác của Hiến pháp, tạo cơ sở pháp lý cao nhất để mọi người được thụ hưởng, thực hiện và bảo vệ quyền con người của mình. Điểm đáng chú ý là khi quy định quyền con người, quyền công dân, các điều của Hiến pháp xác định rõ “mọi người có quyền”, “công dân có quyền” để khẳng định tính pháp lý của các quyền được Hiến pháp thừa nhận, tôn trọng và bảo vệ. Đồng thời, để bảo đảm quyền con người trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, hệ thống pháp luật về quyền của con người cũng đã được bổ sung, hoàn thiện như việc ban hành Luật Báo chí; Luật Tín ngưỡng, tôn giáo; Luật Tiếp cận thông tin; Luật An ninh mạng…Bên cạnh việc hoàn thiện hệ thống pháp luật để đảm bảo quyền con người, Việt Nam cũng đã tham gia hầu hết các công ước quốc tế cơ bản, quan trọng nhất về quyền con người và được luật hóa. Cụ thể, tham gia 4 Công ước Geneve của Luật Nhân đạo quốc tế năm 1957 (cải thiện tình trạng cho thương binh và bệnh binh thuộc lực lượng vũ trang chiến đấu trên bộ; cải thiện tình trạng của thương binh, bệnh binh và những người đắm tàu thuộc lực lượng vũ trang trên biển; đối xử với tù binh chiến tranh; bảo vệ thường dân trong thời gian chiến tranh). Tham gia Công ước về quyền dân sự, chính trị; Công ước về quyền kinh tế - xã hội và văn hóa, ký ngày 24/9/1982; Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ, ký ngày 18/12/1982; Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc, ký ngày 19/3/1982; Công ước về quyền trẻ em, ký ngày 20/2/1990; Công ước về quyền của người khuyết tật, ký ngày 22/10/2007; tham gia trong việc thành lập Ủy ban liên Chính phủ ASEAN về nhân quyền, ký ngày 23/10/2009, Ủy ban thúc đẩy và bảo vệ quyền phụ nữ và trẻ em ASEAN (ACWC), ngày 7/4/2010...

Thời gian qua, quyền con người được quy định một cách rõ ràng, cụ thể trong Hiến pháp và pháp luật Việt Nam. Việc đảm bảo quyền con người là chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm theo Hiến pháp, pháp luật. Những thành quả trong việc bảo đảm, tôn trọng quyền con người và nâng cao chất lượng thụ hưởng các quyền con người của mọi người dân được thể hiện trên mọi lĩnh vực, ở mọi điều kiện, hoàn cảnh và đã được cộng đồng quốc tế, Liên hợp quốc ghi nhận, đánh giá cao. Điển hình như, Việt Nam là một trong sáu quốc gia thành viên Liên hợp quốc đã hoàn thành phần lớn các Mục tiêu Phát triển thiên niên kỷ trước thời hạn năm 2015 và được xem là tấm gương điển hình của cộng đồng quốc tế trong thực hiện mục tiêu phát triển bao trùm, không ai bị bỏ lại phía sau của Liên hợp quốc. Tạp chí The Economist tháng 8/2020 xếp Việt Nam trong tốp 16 nền kinh tế mới nổi thành công nhất thế giới. Năm 2019, Việt Nam đã vinh dự lọt vào tốp 10 danh sách những quốc gia đáng sống và làm việc nhất thế giới. Việt Nam nằm trong nhóm các nước có tốc độ tăng trưởng chỉ số HDI cao nhất trên thế giới vào năm 2019.

Theo Báo cáo “Phát triển con người năm 2019” được Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) công bố ngày 9/12/2019, với chỉ số HDI là 0,63, Việt Nam xếp thứ 118 trong tổng số 189 nước. Tuổi thọ trung bình của người Việt Nam tăng 4,8 năm, số năm đi học trung bình tăng 4,3 năm, thu nhập bình quân đầu người tăng khoảng trên 354%; tỷ lệ nghèo đa chiều ở Việt Nam giảm từ 9,88% (năm 2015) xuống còn 3,73% (năm 2019)...Theo báo cáo của trang mạng "We are social", năm 2020 Việt Nam có hơn 68 triệu dân sử dụng Internet (chiếm tỷ lệ 70% dân số) với mục đích sinh kế, học tập, giải trí, biểu đạt và thực hiện các quyền con người của mình, kể cả những quyền dân sự, chính trị như tham gia đóng góp ý kiến vào các dự thảo văn bản chính sách, pháp luật, văn kiện Đại hội Đảng. Đồng thời, với những thành tựu trong việc tôn trọng, bảo đảm về quyền của con người, Việt Nam được tín nhiệm là thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc (nhiệm kỳ 2014 - 2016). Tại khóa họp lần thứ 73, tại trụ sở Liên hợp quốc vào ngày 7/6/2019, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã bầu Việt Nam làm Ủy viên không thường trực Hội đồng bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020 - 2021 với số phiếu gần tuyệt đối (192/193 phiếu).

Mới đây, Việt Nam đã hoàn thành tốt vai trò Chủ tịch Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc trong tháng 1 và tháng 4 năm 2021 với nhiều dấu ấn, đóng góp, trong đó có vấn đề bảo đảm quyền con người trước đại dịch COVID-19 được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao và thể hiện uy tín, vị thế quốc tế ngày càng tăng của Việt Nam. Thành tựu đảm bảo nhân quyền tại Việt Nam trên các lĩnh vực đời sống văn hóa, xã hội, kinh tế, đặc biệt là những thành tựu của Việt Nam trong việc phòng, chống dịch COVID-19 và bảo đảm quyền sống là quyền cao nhất trong đại dịch COVID-19 là những minh chứng rõ nét nhất trong bảo đảm quyền của con người trước những biến cố, đại dịch mà người dân trên toàn thế giới phải trải qua.

3. Việt Nam không có cái gọi là “tù nhân lương tâm”

Trong báo cáo của Mạng lưới Nhân quyền Việt Nam còn đưa ra phụ lục về cái gọi là “danh sách  tù nhân lương tâm bị bắt giam trong năm 2020-2021”; “danh sách tù nhân lương tâm còn bị giam cầm”... Tuy nhiên, đây cũng chỉ là âm mưu, thủ đoạn lợi dụng các vấn đề dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, tự do ngôn luận, tự do báo chí, hội họp mà Mạng lưới Nhân quyền Việt Nam sử dụng để chống phá Việt Nam. Việt Nam không có cái gọi là “tù nhân lương tâm” mà chỉ có những công dân vi phạm pháp luật Việt Nam bị bắt giữ, truy tố và xét xử; các đối tượng bị bắt giữ, xử lý do vi phạm pháp luật Việt Nam, được điều tra, xét xử theo đúng quy định Bộ luật Tố tụng Hình sự, phạm nhân trong trại giam được bảo đảm các quyền theo quy định của pháp luật. Những người mà Mạng lưới Nhân quyền gọi là “tù nhân lương tâm” như Nguyễn Tường Thụy, Phạm Chí Dũng, Lê Hữu Minh Tuấn, Nguyễn Thúy Hạnh, Phạm Đoan Trang, Lê Trọng Hùng, Đoàn Kiên Giang, Nguyễn Phước Trung Bảo, Cấn Thị Thêu, Trịnh Bá Phương, Trịnh Bá Tư, Nguyễn Văn Hóa... thì thực tế, đây là những đối tượng lợi dụng quyền tự do ngôn luận, báo chí, sử dụng mạng xã hội xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự xã hội, cổ súy tuyên truyền chống phá đất nước. Hằng năm, Mạng lưới Nhân quyền Việt Nam còn đưa ra cái gọi là “Giải thưởng Nhân quyền” để “vinh danh” những người vi phạm pháp luật bị bắt và xử lý. Mọi cá nhân, tổ chức vi phạm pháp luật Việt Nam thì lẽ dĩ nhiên phải chịu những hình thức xử lý của pháp luật Việt Nam và đó cũng chính là minh chứng trong việc bảo đảm sự bình đẳng về quyền và nghĩa vụ, trách nhiệm của mỗi cá nhân, tổ chức. Do đó, việc liệt kê danh sách các “tù nhân lương tâm” hay cái gọi là “Giải thưởng Nhân quyền Việt Nam” hằng năm cũng chỉ là chiêu trò mà Mạng lưới Nhân quyền Việt Nam hay một số tổ chức như RSF, AI, Freedom House... đã lợi dụng để can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. Và rõ ràng, thêm một lần nữa, họ lại chứng tỏ sự trái lối, lạc điệu trong tiếp cận vấn đề nhân quyền ở Việt Nam.



Thứ Tư, 21 tháng 7, 2021

 

NGĂN CHẶN LỢI DỤNG VẤN ĐỀ TÔN GIÁO, DÂN TỘC

CHỐNG PHÁ CÁCH MẠNG

Biển Rộng

Để thực hiện âm mưu “Diễn biến hòa bình” lợi dụng dân tộc, tôn giáo tác động chuyển hóa chính trị ở Việt Nam, các thế lực thù địch đã và đang tiến hành các hoạt động sau:

Triệt để lợi dụng các phương tiện thông tin truyền thông, nhất là mạng Internet gia tăng các hoạt động tuyên truyền phá hoại tư tưởng, kích động tư tưởng ly khai, tự trị trong dân tộc thiểu số, thúc đẩy xu hướng cực đoan chống đối trong các tôn giáo; tập hợp, lôi kéo quần chúng tín đồ thành lực lượng chính trị đối lập với Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây là hoạt động phổ biến của các thế lực thù địch lợi dụng dân tộc, tôn giáo thông qua soạn thảo, tán phát, tuyên truyền các tài liệu có nội dung kích động đòi thay đổi chế độ chính trị ở Việt Nam; đòi hủy bỏ Điều 4 Hiến pháp năm 1992, giải thể, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; đòi ly khai, tự trị thành lập “Nhà nước, Vương quốc” của người dân tộc; kêu gọi tẩy chay bầu cử Quốc hội; kêu gọi bảo vệ Hoàng Sa, Trường Sa, tẩy chay dự án Bauxite ở Tây Nguyên... nhằm kích động chia rẽ tôn giáo, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc; xuyên tạc đường lối, chủ trương, chính sách tôn giáo, dân tộc của Đảng và pháp luật của Nhà nước, kích động chống chính quyền.

Hướng dẫn, chỉ đạo, tài trợ, khuyến khích các hoạt động tuyên truyền phát triển đạo trái pháp luật lên các vùng dân tộc thiểu số; kích động tập hợp lực lượng quần chúng tín đồ gây áp lực với Nhà nước đòi công nhận tư cách pháp nhân đối với các tổ chức, hệ phái chưa được công nhận tư cách pháp nhân; đòi tự do hoạt động tôn giáo, tranh giành ảnh hưởng và quần chúng trong các vùng dân tộc thiểu số. Các hoạt động trên đều núp dưới chiêu bài “tự do tôn giáo, dân chủ, nhân quyền, vừa bí mật, vừa công khai hóa, quốc tế hóa” kết hợp với tổ chức lực lượng từ bên ngoài thâm nhập tạo dựng cơ sở lực lượng bên trong nhằm “quốc tế hóa” vấn đề dân tộc, tôn giáo hóa dân tộc, kích động đòi tự do, dân chủ, nhân quyền để hoạt động tác động tư tưởng quần chúng, chức sắc, tín đồ, kích động chống đối, khi có thời cơ, điều kiện sẽ tổ chức hoạt động bạo loạn chính trị, lật đổ.

Với các luận điệu “đuổi người Kinh, đòi lại đất cho người dân tộc”, lập “nhà nước”, “vương quốc” riêng của người dân tộc; đòi lại cơ sở vật chất, đất đai của tôn giáo do lịch sử để lại, không chấp hành, coi thường, lấn lướt, phủ định pháp luật hiện hành các đối tượng chống đối cực đoan trong dân tộc, tôn giáo đã lợi dụng mê hoặc, lôi kéo quần chúng tín đồ tham gia cào các hoạt động lấn chiếm đất trái pháp luật, xây dựng công trình tôn giáo không xin phép, lấy cớ bảo vệ đất đai của người dân tộc, tôn giáo để kích động lôi kéo quần chúng tín đồ tham gia gây rối an ninh trật tự, chống chính quyền. Thường xuyên tài trợ cho các đối tượng có tư tưởng ly khai trong dân tộc, cực đoan chống đối trong tôn giáo tập hợp lực lượng, hình thành các tổ chức chính trị phản động dưới các hình thức khác nhau; móc nối với các đối tượng cơ hội chính trị để hoạt động chống đối chế độ... Kết hợp lợi dụng dân tộc với tôn giáo để tạo ra mất ổn định chính trị ở từng khu vực, từng địa bàn, tạo phản ứng dây chuyền toàn quốc nhằm thực hiện “cách mạng màu” ở Việt Nam.

Thực hiện âm mưu “Diễn biến hòa bình” tác động chuyển hóa trong dân tộc, tôn giáo, các thế lực thù địch tìm mọi cách để tập hợp, liên kết lực lượng thành lập các tổ chức, lực lượng chính trị dưới các danh nghĩa “Nhà nước Đê Ga”, “Tin lành Đê Ga”, “Vương quốc Mông”, “Nhà nước Khơmer Krôm”, “Vương quốc Chămpa” trong các vùng dân tộc nhằm kích động quần chúng tham gia các hoạt động chống đối chính quyền, gây rối an ninh trật tự, gây bạo loạn chính trị ở các vùng dân tộc thiểu số. Hậu thuẫn và tài trợ cho các đối tượng cực đoan chống đối trong các tôn giáo phục hồi lại tổ chức cũ, thành lập các tổ chức bất hợp pháp và liên kết với các đối tượng, tổ chức phản động khác để hoạt động chống chính quyền như “Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất” của Quảng Độ; “nhóm 8406”, “Đảng Thăng tiến Việt Nam” do Nguyễn Văn Lý và một số đối tượng cực đoan trong Thiên Chúa giáo liên kết với “Đảng Vì dân” ở Mỹ thành lập ra “Liên Đảng lạc hồng” nhằm tập hợp lực lượng đối trọng với Đảng Cộng sản Việt Nam; “Hiệp hội thông công Tin lành các dân tộc Việt Nam” của Nguyễn Công Chính; “Hội ái hữu tù nhân chính trị và tôn giáo Việt Nam” của các đối tượng chống đối trong Phật giáo, Phật giáo Hòa Hảo, Tin lành liên kết với nhau để hoạt động chống đối.

Các tổ chức dân tộc, tôn giáo từ nước ngoài đã và đang tìm cách xâm nhập và tạo ảnh hưởng vào trong nước thông qua các luận điệu “Ngày tận thế”, “Vua Mông ra mắt”... lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để tập hợp quần chúng tín đồ gây rối an ninh trật tự. Lợi dụng sự lạc hậu, mê tín, cuống tín của đồng bào dân tộc, tín đồ các tôn giáo, lợi dụng sơ hở, thiếu sót trong việc quản lý Nhà nước và thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo của các cấp chính quyền, các đối tượng chống đối cực đoan đã tung tin về các hiện tượng, đạo lạ, tà đạo dưới chiêu bài chữa bệnh, thiền sức khỏe để lôi kéo, kích động quần chúng tín đồ tập trung đông người, thông qua đó tuyên tuyền tư tưởng ly khai, chống đối chính trị gây ảnh hưởng tới đời sống xã hội và an ninh trật tự, nếu ta không giải quyết tốt sẽ làm suy giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng, chế độ, kẻ địch sẽ lợi dụng kích động chống đối từ bên trong. Đây là phương thức mới cần chú ý trong quá trình đấu tranh giải quyết của lực lượng công an.

Thời gian qua, công tác đấu tranh ngăn chặn của lực lượng an ninh đối với các hoạt động lợi dụng dân tộc, tôn giáo để tác động chuyển hóa chính trị ở Việt Nam đã đạt được những kết quả quan trọng, có hiệu quả trong việc chủ động không để xảy ra đột xuất, bất ngờ, không để hình thành và công khai hóa các tổ chức chính trị đối lập ở trong dân tộc, tôn giáo... góp phần ổn định tình hình chính trị, tạo điều kiện cho phát triển kinh tế xã hội, đã xử lý có hiệu quả, nhanh gọn các cuộc biểu tình, bạo loạn ở Tây Nguyên và vụ tụ tập đông người kéo về Mường Nhé (Điện Biên); đã vô hiệu hóa hàng trăm vụ kích động biểu tình ở Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, các “điểm nóng” về đất đai trong dân tộc, tôn giáo…

Thời gian tới, để đấu tranh ngăn chặn, vô hiệu hóa hoạt động lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo tác động chuyển hóa chính trị ở Việt Nam, lực lượng an ninh cần tập trung thực hiện tốt các nội dung chủ yếu sau:

Phải nhận thức và xác định rõ mục tiêu của công tác đấu tranh ngăn chặn hoạt động lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để tác động chuyển hóa chính trị ở Việt Nam là bảo vệ toàn vẹn, chủ quyền thống nhất lãnh thổ, bảo vệ khối đại đoàn kết tôn giáo, dân tộc, bảo vệ quyền làm chủ của nhân dân, giữ vững ổn định chính trị, phục vụ yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Công tác đấu tranh chống các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để tác động chuyển hóa chính trị ở Việt Nam là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp, thống nhất của cấp ủy Đảng, sự điều hành của chính quyền các cấp, trong đó lực lượng công an là nòng cốt.

Nắm vững và vận dụng đúng đắn chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về vấn đề dân tộc, tôn giáo trong tình hình mới. Trong xử lý các hoạt động lợi dụng dân tộc, tôn giáo để tác động chuyển hóa chính trị phải kiên quyết xử lý theo pháp luật nhưng đồng thời phải vận dụng linh hoạt, sử dụng tổng hợp các biện pháp từ thấp đến cao, đúng người, đúng tội, đúng thời điểm, phải làm cho quần chúng, tín đồ đồng tình ủng hộ; phải đảm bảo yêu cầu chính trị, đối ngoại đồng thời vô hiệu hóa hoạt động của đối tượng chống đối, từng bước vận động, giáo dục, chuyển hóa đối tượng từ chống đối đến giảm chống đối, không chống đối, từ bỏ các hoạt động và từng bước tham gia vào các hoạt động xã hội như các công dân khác.

Lực lượng an ninh các cấp cần nâng cao trách nhiệm làm tham mưu cho cấp ủy Đảng, chính quyền trong việc tuyên truyền và tổ chức thực hiện có hiệu quả chủ trương, chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng, pháp luật của Nhà nước; nắm chắc và dự báo đúng tình hình, thường xuyên thực hiện tốt công tác NVCB trong đó coi trọng công tác xây dựng và sử dụng MLBM có chất lượng, đảm bảo kịp thời nắm được âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, chủ động xây dựng các kế hoạch quản lý chặt chẽ tổ chức, cá nhân người nước ngoài có quan hệ với dân tộc, tôn giáo; xây dựng phương án phòng ngừa, ngăn chặn, đấu tranh giải quyết kịp thời các hoạt động vi phạm chính sách, pháp luật, các “điểm nóng” về dân tộc, tôn giáo; tham gia tích cực công tác tuyên truyền vận động quần chúng, tín đồ, nhất là công tác tranh thủ, sử dụng người có uy tín trong dân tộc thiểu số, chức sắc tôn giáo để họ tham gia giải quyết các vụ việc nảy sinh phức tạp trong dân tộc, tôn giáo.

Xây dựng cơ chế và quy chế phối hợp chặt chẽ với các ban, ngành chức năng trong việc thực hiện chủ trương, chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng và trong công tác đấu tranh chống địch lợi dụng dân tộc, tôn giáo để tác động chuyển hóa chính trị ở Việt Nam, nhất là Ban Dân vận, Ban Tuyên giáo, Ủy ban dân tộc, Ban Tôn giáo Chính phủ, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Bộ Ngoại giao, các cơ quan thông tin truyền thông,...để phát huy sức mạnh tổng hợp, có hiệu quả, chống tư tưởng nghiệp vụ đơn thuần.

Thường xuyên sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm thực tiễn để nâng lên thành lý luận và phụ vụ công tác giảng dạy, đào tạo, tập huấn bồi dưỡng cho lãnh đạo, chỉ huy và cán bộ chiến sỹ công an, nhất là cán bộ chiến sỹ trực tiếp làm công tác dân tộc, tôn giáo để phục vụ yêu cầu đấu tranh trước mắt cũng như lâu dài./.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 CHỐNG CĂN BỆNH CÁ NHÂN CHỦ NGHĨA

                          Biển Rộng

          Chủ nghĩa cá nhân là nguồn gốc của những “căn bệnh” làm hư hỏng đội ngũ cán bộ đảng viên, làm tha hóa Đảng. Chủ nghĩa cá nhân đặc biệt nguy hiểm và khó chống vì nó là kẻ thù vô hình, “là viên đạn bọc đường”, lại nằm trong chính bản thân mỗi con người, là gốc của mọi bệnh, với những biến tướng phức tạp, đa dạng khôn lường. Đây là nguy cơ nguy hiểm tiềm tàng, làm cho Đảng mất dần tính cách mạng, tính đạo đức, tính nhân dân. Chủ nghĩa cá nhân thực chất là tư lợi cá nhân. Chủ nghĩa cá nhân biểu hiện trong nhiều lĩnh vực của ®êi sèng kinh tế, chính trị, xã hội. Chủ nghĩa cá nhân hiện nay, không chỉ đơn thuần là con người cụ thể mà còn ẩn nấp dưới dạng “ê-kíp”, những người "cánh hẩu" với nhau. Suy cho cùng họ đều xuất phát từ lợi ích cá nhân.

          Một số cán bộ, đảng viên lợi dụng quyền bảo lưu ý kiến của mình để truyền bá ý kiến trái với quan điểm, đường lối, nghị quyết của Đảng, của cấp uỷ, cơ quan, đơn vị dưới nhiều hình thức với động cơ không trong sáng, làm mất uy tín của tổ chức, của cán bộ, đảng viên.

           Một số đảng viên là cán bộ lãnh đạo, cán bộ chủ chốt, là người đứng đầu đã lợi dụng cơ chế, chế độ tập thể để hợp pháp hoá quyết định, ý đồ cá nhân của mình để làm trái nguyên tắc, quy định nhằm trục lợi cho mình, cho người thân; Một số cán bộ, đảng viên không dám đấu tranh ngăn chặn cái xấu, bảo vệ cái tốt, nhân tố tích cực...

           Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khoá XII) nêu lên 03 vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay, trong đó xác định việc“Đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng  suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp để nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, củng cố niềm tin của đảng viên và nhân dân đối với Đảng” là vấn đề trọng tâm, xuyên suốt và cấp bách nhất. Để thực hiện vấn đề cấp bách nhất mà Nghị quyết Trung ương 4 xác định, một trong nhiều giải pháp mà Nghị quyết Trung ương đề ra là: Phải chủ động đấu tranh với những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong Đảng.

Chống chủ nghĩa cá nhân trong môi trường xã hội và chính sách kinh tế mới là phải chống chủ nghĩa cơ hội, địa phương cục bộ, chủ nghĩa gia đình. Đây là một hiện tượng không mới nhưng phức tạp. Căn cứ vào tình hình thực tế hiện nay, để đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân có hiệu quả, mang lại giá trị đích thực, góp phần làm cho đội ngũ cán bộ, đảng viên trong sạch, vững mạnh, cần nắm vững và xử lý tốt những vấn đề sau:

Một là, kiên trì và đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị tư tưởng, biểu dương những nhân tố tích cực, những tấm gương trong sáng trong việc nêu cao tinh thần “cần kiệm liêm chính, chí công vô tư” làm việc có hiệu quả và phê phán những biểu hiện chủ nghĩa cá nhân. Tiếp tục đẩy mạnh việc “Học tập và làm việc theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Công tác tư tưởng cũng phải làm rõ những thiếu sót, bất cập trong cơ chế lãnh đạo, tổ chức quản lý, tạo môi trường cho chủ nghĩa cá nhân phát triển.

          Chống chủ nghĩa cá nhân phải bao gồm cả hai mặt: Mỗi cán bộ, đảng viên có trách nhiệm tự phòng, chống từ bản thân mình, ở ngay trong tư tưởng của mình, bằng cách luôn phấn đấu, rèn luyện để nâng cao đạo đức cách mạng.  Phương cách tốt nhất để nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân đối với mỗi cán bộ, đảng viên được Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ là tự phê bình và phê bình một cách thường xuyên, nghiêm túc, đặt lợi ích của Đảng, của nhân dân lên trên hết. “Mỗi cán bộ, đảng viên mỗi ngày phải tự kiểm điểm, tự phê bình, tự sửa chữa như mỗi ngày phải rửa mặt. Được như thế thì trong Đảng sẽ không có bệnh mà Đảng sẽ mạnh khỏe vô cùng”; Cần xã hội hóa công việc chống chủ nghĩa cá nhân bằng sự giám sát của nhân dân, bằng pháp luật, bằng thể chế để làm trong sạch môi trường xã hội, để xã hội phát triển lành mạnh. Bên cạnh việc tự phê bình và phê bình của mỗi đảng viên, các tổ chức Đảng, phải hoan nghênh và khuyến khích quần chúng thật thà phê bình cán bộ, đảng viên.

Hai là, kết hợp đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân với cuộc vận động xây dựng và chỉnh đốn Đảng.

Sự phát triển lây lan của các hiện tượng chủ nghĩa cá nhân được chỉ ra khá rõ cả về biểu hiện tác hại và nguyên nhân của nó, nhưng rõ ràng chúng ta còn hữu khuynh, còn tình trạng nể nang, nhìn nhau, không kiên quyết trong đấu tranh, xử lý.  Cần phải đặt công tác xây dựng tác phong liêm chính của Đảng và đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa cá nhân lên vị trí quan trọng trong xây dựng Đảng. Biện pháp đó phải gắn bó chặt chẽ với công tác vận động quần chúng của Đảng. Như vậy phải tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng và chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về công tác xây dựng Đảng.

Ba là, chống chủ nghĩa cá nhân trước hết phải chống tham nhũng thâm nhập sâu rộng trong đời sống kinh tế - xã hội. Kết hợp công tác này với việc xây dựng và hoàn thiện phương thức lãnh đạo của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

Vấn đề chống tham nhũng được coi là một mặt hết sức quan trọng trong công tác xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh, xây dựng Nhà nước pháp quyền. Chống tham nhũng có hiệu quả sẽ là bước đột phá quan trọng góp phần loại trừ chủ nghĩa cá nhân phát triển, khích lệ nhân tố tích cực trong guồng máy hoạt động của Đảng và Nhà nước; loại trừ chủ nghĩa cá nhân gây mất đoàn kết nội bộ, sự tha hóa về phẩm chất đạo đức của cán bộ, đảng viên mà còn làm mất chỗ dựa của các phần tử thoái hóa, biến chất, sống xa hoa, sẵn sàng cơ hội về chính trị.

Bốn là, dân chủ hoá, công khai hoá, tiêu chuẩn hoá phẩm chất và năng lực của đội ngũ cán bộ ở các cấp, các ngành. Thực hiện dân chủ hoá công khai hoá trong mọi hoạt động sẽ được nhân dân hậu thuẫn và tạo nên dư luận xã hội mạnh mẽ trong việc đấu tranh với những phần tử thái hoá, biến chất, cá nhân chủ nghĩa.

 Chống chủ nghĩa cá nhân là một việc làm thường xuyên trong mọi lĩnh vực hoạt động của Đảng trước hết là trong sinh hoạt Đảng. Đây là vấn đề nhạy cảm vì nó liên quan đến con người. Mục tiêu hướng tới là giúp cho mỗi cán bộ, đảng viên đều tiến bộ, đóng góp sức mình vào sự nghiệp cách mạng của Đảng và góp phần loại bỏ những nguy cơ thoái hoá biến chất gây mất đoàn kết và làm tha hoá phẩm chất chính trị của một số cán bộ đảng viên trong Đảng. Chúng ta không thổi phồng nhưng cũng không thể xem nhẹ nguy cơ và hậu quả của chủ nghĩa cá nhân phát triển. Phải coi chống chủ nghĩa cá nhân là một nội dung quan trọng trong đời sống sinh hoạt của Đảng.

          Năm là, chủ động phòng, tránh các biểu hiện tự diễn biến, tự chuyển hóa. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII đã chỉ rõ: Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên gắn với tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí vẫn nghiêm trọng, làm giảm sút niềm tin của nhân dân vào Đảng và Nhà nước. Để phòng, chống chủ nghĩa cá nhân, các biểu hiện tự diễn biến, tự chuyển hóa trong cán bộ, đảng viên, cần thực hiện nghiêm các yêu cầu nội dung sau:

          - Mở rộng, phát huy dân chủ phải gắn với tăng cường kỷ luật, kỷ cương và ý thức trách nhiệm của mỗi công dân.

          - Quan tâm, chăm lo củng cố, xây dựng Đảng vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Thật sự phát huy dân chủ đi đôi với kỷ luật, kỷ cương; giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, tăng cường đoàn kết thống nhất, gắn bó mật thiết với nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng. Xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên vững vàng.

            - Công tác lãnh đạo và chỉ đạo phải nhạy bén, kiên quyết, sáng tạo, bám sát thực tiễn đất nước; chú trọng công tác dự báo, kịp thời đề ra các giải pháp phù hợp với tình hình mới; tăng cường công tác tuyên truyền, tạo sự đồng thuận. Các thế lực thù địch tiếp tục thực hiện âm mưu "diễn biến hoà bình", gây bạo loạn lật đổ, sử dụng các chiêu bài "dân chủ", "nhân quyền" hòng làm thay đổi chế độ chính trị ở nước ta.

         Trong nội bộ, những biểu hiện xa rời mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" có những diễn biến phức tạp.
Quá trình tự diễn biến, nhất là diễn biến về tư tưởng chính trị của cán bộ, đảng viên, chuyển sang tự chuyển hoá có thể diễn ra nhanh hay chậm tuỳ thuộc vào động cơ mục đích và điều kiện ngoại cảnh tác động, ảnh hưởng ở từng thời gian, thời điểm cụ thể. Do đó phải nắm chắc đặc điểm này của sự “tự diễn biến” khi chuyển sang trạng thái "tự chuyển hoá" để có biện pháp đấu tranh, ngăn chặn kịp thời, có hiệu quả.

 

AN NINH CON NGƯỜI VỪA LÀ MỤC TIÊU,

VỪA LÀ ĐỘNG LỰC ĐẢM SỰ ỔN ĐỊNH

CHÍNH TRỊ XÃ HỘI CỦA VIỆT NAM

Nhân Trần

Hiện nay, vấn đề an ninh con ngư­ời đang thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều học giả, chính trị gia, nhà nư­ớc, tổ chức quốc tế và khu vực. Các nhà nghiên cứu đưa ra các quan niệm về an ninh con người hay an ninh, an toàn của con ngư­ời được hiểu khá tương đồng với nhau. An ninh con người là trạng thái người dân được sống ổn định, an toàn, không bị đe dọa bởi các nguy cơ xâm hại; bảo vệ an ninh con người là bảo đảm và thực thi đầy đủ các quyền con người, quyền cơ bản của công dân được quy định trong Hiến pháp năm 2013, bảo đảm mọi người dân được sống ấm no, tự do, hạnh phúc trong một môi trường xã hội trật tự, kỷ cương, an ninh, an toàn, lành mạnh. Nhân tố con người, an ninh con người làm trung tâm của mọi hoạt động, bảo vệ an ninh con người vừa là mục tiêu phấn đấu, vừa là động lực bảo đảm cho sự ổn định chính trị xã hội và xây dựng, phát triển đất nước trường tồn, thịnh vượng. Với cách tiếp cận trên, có thể nhận thấy; mục tiêu của an ninh con người là “tất cả vì con người”, “con người làm trung tâm trong hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia”. Theo đó, việc xây dựng tiêu chí, chỉ số đo lường về an ninh con người được dựa trên các nhân tố an ninh kinh tế; an ninh sức khỏe; an ninh chính trị; an ninh môi trường; an ninh giáo dục... và luôn được bổ sung, mở rộng, cụ thể hóa tùy theo thời gian, môi trường, điều kiện, hoàn cảnh nhất định. Để bảo đảm an ninh con người, các nhà nước cũng như các xã hội phải tạo ra được môi trường chính trị, xã hội, kinh tế, quân sự, văn hóa, sinh thái... lành mạnh, phát triển. Các cơ chế đó phải đảm bảo được tiêu chí bảo vệ con người tránh khỏi những xâm lược từ bên ngoài và những mối đe dọa từ bên trong bởi tổ hợp của các nhân tố tiêu cực như đói nghèo, bệnh dịch, ô nhiễm môi trường, tội phạm, tệ nạn xã hội, sự mất an toàn trong cuộc sống, sự lo lắng trước những bất công, bạo lực…

Sau 35 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, kinh tế tăng trưởng khá, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từng bước được hình thành; chính trị ổn định, đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân không ngừng được nâng cao... Kết quả ấy góp phần tạo lập nền tảng bảo đảm an ninh con người. Tuy nhiên, trong điều kiện mới của quốc tế và khu vực, nước ta đang đứng trước hàng loạt các thách thức đặt ra cần giải quyết về an ninh trên các lĩnh vực. Song song với đó, những vấn đề liên quan đến trật tự an toàn xã hội cũng diễn biến phức tạp như tội phạm và tệ nạn xã hội chưa giảm, xu hướng bạo lực gia tăng, xảy ra nhiều vụ thảm án nghiêm trọng; các mối đe dọa từ môi trường thiên tai, lũ lụt, hạn hán, nước biển dâng, ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm không khí, rác thải, hóa chất tồn dư, gây nhiều bệnh tật cho con người và sức khỏe cộng động; vấn đề việc làm, nạn thất nghiệp, sự mất cân đối trong phát triển kinh tế, an toàn lao động, an toàn giao thông, an ninh cộng đồng, nguy cơ tự diễn biến, tự chuyển hóa, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, nạn quan liêu, hách dịch, cửa quyền, xa rời quần chúng, xung đột xã hội, dịch bệnh toàn cầu… tất cả đã và đang đe dọa nghiêm trọng đến an ninh con người của nước ta. Tình hình trên cho thấy, vấn đề an ninh con người đang được đặt ra là vấn đề hết sức cấp thiết trong giai đoạn hiện nay.

Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đặt nhân tố con người, an ninh con người làm trung tâm của mọi hoạt động, xác định bảo vệ an ninh con người vừa là mục tiêu phấn đấu, vừa là động lực bảo đảm cho sự ổn định chính trị xã hội và xây dựng, phát triển đất nước trường tồn, thịnh vượng. Chú trọng an ninh, an toàn là một trong những yếu tố hàng đầu trong cuộc sống của người dân, do vậy bảo vệ an ninh quốc gia cũng chính là bảo vệ cuộc sống của người dân. Nhân tố con người, an ninh con người làm trung tâm của mọi hoạt động, bảo vệ an ninh con người vừa là mục tiêu phấn đấu, vừa là động lực bảo đảm cho sự ổn định chính trị xã hội và xây dựng, phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Văn kiện Đại hội XIII đã chỉ rõ những nhiệm vụ, giải pháp phát triển đất nước ta gắn với an ninh con người trong thời gian tới.

 Một làĐảng xác định an ninh con người gắn với độc lập chủ quyền của quốc gia, của chế độ xã hội chủ nghĩa, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, lợi ích quốc gia - dân tộc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo đảm an ninh, trật tự an toàn xã hội; giữ vững môi trường hoà bình, ổn định để phát triển đất nước. Kịp thời phát hiện, chủ động xử lý có hiệu quả các vụ việc phức tạp về an ninh trật tự, không để xảy ra các “điểm nóng”. Kịp thời đấu tranh trấn áp hiệu quả các loại tội phạm, nhất là tội phạm có tổ chức, tội phạm xuyên quốc gia, tội phạm sử dụng công nghệ cao, băng nhóm ma tuý…

Hai là, con người là trung tâm, nguồn lực của sự phát triển. Do đó, cần tập trung khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, niềm tự hào, ý chí tự cường, lòng nhân ái, tinh thần đoàn kết, đồng thuận xã hội và khát vọng phát triển đất nước của toàn dân tộc. Xây dựng các cơ chế, chính sách phát huy tinh thần cống hiến vì đất nước của mọi người dân Việt Nam. Phát huy tối đa nhân tố con người, con người là trung tâm, chủ thể, là nguồn lực chủ yếu và mục tiêu của sự phát triển.

Ba là, bảo đảm an ninh con người cần phải tạo ra được ngày càng nhiều hơn những điều kiện vật chất và tinh thần để con người có được đời sống yên ổn và cơ hội phát triển. Thực hiện tốt chính sách xã hội, bảo đảm an sinh và phúc lợi xã hội, an ninh con người, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong quản lý phát triển xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; nâng cao chất lượng cuộc sống và hạnh phúc của nhân dân. Tiếp tục triển khai đồng bộ các giải pháp giảm nghèo đa chiều, bao trùm, bền vững. Phát triển hệ thống bảo hiểm xã hội linh hoạt, đa dạng, đa tầng, hiện đại. Bảo đảm cung cấp và nâng cao khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, nhất là đối với người nghèo, người yếu thế rong xã hội, quan tâm chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ của nhân dân. Nâng cao chất lượng dân số, tận dụng hiệu quả cơ hội thuận lợi từ cơ cấu dân số vàng; chủ động thích ứng với xu thế già hoá dân số. Tạo môi trường và điều kiện để phát triển thị trường lao động đồng bộ, hiện đại, linh hoạt, thống nhất, hội nhập và hiệu quả.

Bốn là, phát triển đất nước giàu mạnh với nhân tố con người là trung tâm. Đại hội XIII xác định: Khơi dậy tinh thần và ý chí, quyết tâm phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; dân tộc cường thịnh, trường tồn; phát huy giá trị văn hoá, sức mạnh con người Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tăng cường ngoại giao kinh tế phục vụ phát triển, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ.

Năm là, quản lý phát triển xã hội có hiệu quả, nghiêm minh, bảo đảm an ninh xã hội, an ninh con người; thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; xây dựng môi trường văn hoá, đạo đức xã hội lành mạnh, văn minh; chú trọng nâng cao chất lượng dịch vụ y tế, chất lượng dân số, gắn dân số với phát triển; quan tâm đến mọi người dân, bảo đảm chính sách lao động, việc làm, thu nhập, thực hiện tốt phúc lợi xã hội, an sinh xã hội. Không ngừng cải thiện toàn diện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.