Chủ Nhật, 21 tháng 8, 2022

 

NHỮNG KIỂU XUYÊN TẠC, VU CÁO TRONG THỜI ĐẠI SỐ

Những năm qua, một trong các yếu tố tạo nên uy tín của Việt Nam trong quan hệ quốc tế là việc Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn khẳng định quan điểm tiến bộ, tích cực về nhân quyền, đồng thời cố gắng tạo điều kiện để mọi người dân được hưởng các quyền của mình và trên thực tế, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu nhân quyền không ai có thể phủ nhận. Tuy nhiên, không phải khi nào hoạt động này cũng nhận được sự hợp tác thiện chí từ một số quốc gia. Nhân quyền là giá trị thiêng liêng mà toàn thế giới hướng tới.

Thế nhưng đây cũng là chủ đề nhạy cảm mà các thế lực thù địch và một số tổ chức phi chính phủ được sự giúp đỡ của phương Tây luôn tìm cách lợi dụng nhằm thực hiện những động cơ xấu để can thiệp vào công việc nội bộ nước khác, nhất là các quốc gia có thể chế chính trị XHCN nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Ðảng Cộng sản.

Trong mọi giai đoạn cách mạng, các thế lực thù địch, phản động luôn tìm cách chống phá Đảng, Nhà nước ta bằng nhiều hình thức tinh vi, xảo quyệt với nhiều phương tiện, cách thức khác nhau hòng làm suy giảm niềm tin của nhân dân với Đảng và Nhà nước, gây hoang mang trong dư luận xã hội. Các thế lực thù địch đã triệt để lợi dụng sự phát triển của khoa học công nghệ trong thời đại số nhằm tận dụng đa dạng các phương tiện truyền thông đại chúng, đặc biệt là các mạng xã hội, xuất bản báo chí ở nước ngoài, sản xuất băng, đĩa hình chuyển về trong nước. Tài trợ cho một số cơ quan báo chí nước ngoài chống phá Việt Nam (như VOA tiếng Việt, RFA, RFI, BBC Việt ngữ, HRW...) để tuyên truyền quan điểm đa nguyên, đa đảng, hạ bệ thần tượng, gây nghi kỵ, chia rẽ nội bộ, triệt để khai thác các sự kiện chính trị, những vấn đề nhạy cảm để mở các chiến dịch tuyên truyền chống Việt Nam.

Đồng thời các hội, nhóm, tổ chức phi chính phủ nước ngoài không có thiện chí với Việt Nam tổ chức nhiều cuộc điều trần, hội thảo, họp báo, ra tuyên bố, ban hành một số nghị quyết, báo cáo… vu cáo, xuyên tạc tình hình nhân quyền tại Việt Nam; gắn viện trợ nhân đạo với những đòi hỏi về cải thiện dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo, tự do báo chí ngôn luận…. Hậu thuẫn tổ chức phi chính phủ thông qua việc triển khai các dự án với những mỹ từ như “thúc đẩy”, “cải thiện nhân quyền”, khích lệ các đối tượng phản động người Việt lưu vong ở nước ngoài và số đối tượng chống đối trong nước gia tăng hoạt động. Nhiều tổ chức như Tổ chức theo dõi nhân quyền (HRW), Ân xá quốc tế (AL), Freedom House (FH)… trong báo cáo hàng năm, một mặt thừa nhận Việt Nam có chuyển biến tích cực nhưng vẫn cố ý đánh giá tiêu cực về tình hình nhân quyền Việt Nam.

Thông qua các nền tảng số, các thế lực thù địch sử dụng những tin, bài, hình ảnh của báo chí chính thống trong nước, sau đó tô vẽ thêm bớt, đưa ra những nội dung “thật giả lẫn lộn” và thông tin sai lệch để đưa lên mạng xã hội. Chúng lập ra những trang/tài khoản núp dưới danh xưng của các cơ quan Chính phủ, lãnh đạo cấp cao nhằm lôi kéo tâm lý hiếu kỳ của công chúng, đánh vào khoảng trống thông tin (mà báo chí chính thống trong nước chưa đăng tải hoặc cần thời gian kiểm duyệt thông tin); ngụy tạo các bài viết dưới những tiêu đề giật gân liên quan đến những vấn đề đang được dư luận quan tâm…  Những thủ đoạn lợi dụng nền tảng số nêu trên của các thế lực thù địch, phản động, bất mãn ít nhiều đã dẫn dụ và lừa dối được một bộ phận người dân. Những cái “bẫy thông tin”mà các đối tượng thù địch, phản động, tổ chức thiếu thiện chí với Việt Nam tung ra cũng đã khiến cho nhiều người nước ngoài không phân biệt được thông tin chính thống và thông tin giả mạo, dẫn đến có nhận thức không đúng, không tốt về Việt Nam.

 

 

CẦU MONG LINH MỤC ĐẶNG HỮU NAM SỚM VỀ VỚI CHÚA

 

Nói đến các hoạt động chống phá chính quyền, gây rối trật tự, đi ngược lại với lợi ích quốc gia, dân tộc và cả Giáo hội Công giáo của linh mục Đặng Hữu Nam thì bấy lâu nay dư luận, cộng đồng mạng, ngay cả những tín hữu, Người Công giáo ở Việt Nam cũng không còn xa lạ gì nữa. Thậm chí đến mức những người đứng đầu Giáo phận Vinh như Giám mục Nguyễn Hữu Long đã phải sử dụng các hình phạt từ thuyên chuyển địa bàn mục vụ cho đến không được cử hành nghi lễ, hoạt động mục vụ trong thời gian qua.

Tưởng chừng khi bị đấng bề trên xử phạt về các hoạt động đi ngược lại với “đời” và “đạo”, linh mục Đặng Hữu Nam sẽ có thời gian để “sám hối” về những tội lỗi mà mình gây ra. Vậy nhưng trái ngược lại, trong thời gian được cho là điều trị bệnh ”hiểm nghèo” đến nay, linh mục Đặng Hữu Nam tiếp tục cho thấy bản chất của một con “quạ đen” dưới vỏ bọc là một linh mục, những người được tín đồ giáo dân gọi là Cha, là những chức sắc của Công giáo.

Mới đây, cộng đồng mạng đã hết sức lên án trước việc linh mục Đặng Hữu Nam đã cho rằng “Khi Cộng sản ghét ai, người đó được cả thế giới tôn vinh. Khi Cộng sản thờ ai, kẻ đó bị cả nhân loại nguyền rủa”. Đây là những giọng điệu quen thuộc mà vị linh mục Đặng Hữu Nam trong các buổi rao giảng ở các giáo xứ trước đây. Vị linh mục này không ít lần kích động giáo dân cuồng tín, cực đoan kích động gây rối, thường xuyên đăng tải các bài viết nhằm chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ XHCN và cổ vũ cho hoạt động của những kẻ vi phạm pháp luật.

Phải chăng Linh mục Đặng Hữu Nam đang muốn được về với Chúa sớm hơn hay sao? Cầu mong Nam sớm được về với chúa, ở nơi đó Nam thoải mái mà kích động, chống đối chính quyền.

 

 

Đập tan âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội và công an

của các thế lực thù địch

Hiện nay, trên các phương tiện thông tin, nhất là mạng xã hội, các thế lực thù địch, phản động, các phần tử cơ hội chính trị tung ra đủ mọi “lý lẽ”, “cơ sở” của việc đòi “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang. Chúng kết hợp bên trong với bên ngoài, tập trung tiến công trực diện vào những quan điểm cơ bản của chúng ta về chính trị của lực lượng vũ trang, của Quân đội nhân dân và Công an nhân dân. Chúng giương lên ngọn cờ: bảo vệ "nhân dân, Tổ quốc, lãnh thổ", yêu cầu cần phải "bỏ hẳn cách hiểu lực lượng vũ trang chỉ cần trung thành với Đảng Cộng sản và thể chế chính trị xã hội chủ nghĩa"!

Với những luận điệu ru ngủ, Các thế lực thù địch, phản động cho rằng: Trong thực tiễn cách mạng Việt Nam, lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam có một truyền thống oai hùng gắn với vận mệnh của dân tộc, của đất nước, đã anh dũng chiến đấu hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì cuộc sống và hạnh phúc của nhân dân trong nhiều thập kỷ qua của lịch sử Việt Nam hiện đại; có quan hệ mật thiết với nhân dân, là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Từ đó, chúng đặt vấn đề lực lượng vũ trang “chỉ là của dân tộc”, “của đất nước”, “của nhân dân” là “phù hợp”, chứ không cần phải đặt dưới sự lãnh đạo của một đảng phái nào, một lực lượng chính trị nào!

Trơ tráo hơn, chúng còn phủ nhận tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng về quân sự, quốc phòng, xây dựng lực lượng vũ trang về chính trị, hòng tạo cơ sở cho việc đòi “phi chính trị hóa” Quân đội và Công an nhân dân. Chúng tập trung công kích nguyên tắc Đảng lãnh đạo “tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt” đối với LLVT; cho rằng nguyên tắc đó thể hiện Đảng tự cho mình quyền đứng trên xã hội, trên luật pháp, bởi LLVT là để “bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ nhân dân”, Đảng chỉ là một bộ phận của xã hội, sao lại giành “độc quyền lãnh đạo” cho riêng mình!

Luận điệu trên tưởng như là khách quan, không chính trị, không giai cấp, nhưng lại nằm trong âm mưu “phi chính trị hóa” QĐND và CAND của các thế lực thù địch, thực chất là nhằm lái chính trị của lực lượng vũ trang sang chính trị tư sản. Bằng quan điểm đó, chúng đã khéo léo đi đến nhằm loại bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với QĐND và CAND, xóa nhòa bản chất chính trị giai cấp, tiến tới làm biến chất Quân đội nhân dân và Công an nhân dân Việt Nam.

Thực chất của luận điệu xuyên tạc đó là nhằm tách QĐND và CAND ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng; đồng thời, kích động tư tưởng chống đối Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa, phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối đổi mới đất nước,… hòng làm cho cán bộ, chiến sĩ mất lòng tin vào nền tảng tư tưởng của Đảng, tạo khoảng trống về tư tưởng – lý luận, để luồn lách quan điểm, lập trường giai cấp tư sản.

Đây là luận điệu đặc biệt nguy hiểm; thực sự phản động về chính trị và phản khoa học cả về lý luận và thực tiễn. Nhưng lại rất dễ làm cho chúng ta lầm tưởng rằng, các quan điểm đó là phù hợp, cần thiết và những lý lẽ, lời “khuyên nhủ” của chúng là hợp lý, khách quan đúng với thực tiễn xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam.

Thực tiễn hiện nay vẫn có không ít người thiếu tỉnh táo đã cổ súy một cách mê muội cho những luận điệu đòi “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang mà các thế lực thù địch, những kẻ cơ hội chính trị, phản bội Tổ quốc, những người có thâm thù với cách mạng tung hô, cổ vũ nhiệt thành đã ảnh hưởng xấu đến sự nghiệp xây dựng QĐND và CAND, đến sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta, cần phải bác bỏ. Những luận điệu trên chính là những cái bẫy “phi chính trị hóa” hết sức tinh vi và thâm hiểm của các thế lực thù địch.

 

THN

 

 

 

“XÃ HỘI DÂN SỰ” VÀ ÂM MƯU CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

 

Những năm qua, âm mưu, hoạt động lợi dụng một số tổ chức “xã hội dân sự” kiểu phương Tây chống phá Việt Nam của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đối với Việt Nam tập trung vào các hướng sau đây:

Thứ nhất là, đề cao và nhấn mạnh vai trò “phản biện xã hội” của các tổ chức “xã hội dân sự”, triệt để khai thác tính đa dạng về thành phần, mục tiêu thành lập. lợi ích của tổ chức và các thành viên, đa nguyên về tư tưởng, chính kiến để hướng lái hoạt động của các tổ chức “xã hội dân sự” đã hình thành hoặc chuẩn bị hình thành vào các khuynh hướng tư tưởng chính trị khác nhau, từ đa nguyên về tư tưởng, dẫn tới đa nguyên về chính trị và mục đích cuối cùng là đối lập về tư tưởng chính trị. Vì vậy, do tác động, hướng lái của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị, bản chất đích thực của một số tổ chức xã hội dân sự ở Việt Nam mất dần, thay thế vào đó là cho ra đời các tổ chức “xã hội dân sự” kiểu phương Tây như ở Đông Âu và Liên Xô trước đây.

Thứ hai là, thúc đẩy xu hướng thoát ly sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước. Một số tổ chức “xã hội dân sự” mang tính giai cấp rõ rệt, những người sáng lập không đứng trên lập trường của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, thay vì đặt mục tiêu hoạt động nhằm góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đã hướng lái tổ chức phục vụ lợi ích của một số tầng lớp, một nhóm người, đối lập với lợi ích của dân tộc, quốc gia. Vì vậy, họ luôn tìm cách tách hoạt động của tổ chức khỏi sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước và các cơ quan chức năng. Tổ chức “xã hội dân sự” của họ chỉ là vỏ bọc, thực chất đó là những tổ chức mang màu sắc chính trị, ẩn chứa trong mục đích thành lập và hoạt động là động cơ và mục đích chính trị. Về lâu dài, đây sẽ là diễn đàn đấu tranh giai cấp trên mọi phương diện: chính trị, tư tưởng, văn hóa, kinh tế… Những người sáng lập một số tổ chức “xã hội dân sự” thường là những người các thế lực thù địch gọi là “bất đồng chính kiến”; những người cơ hội chính trị, có quan điểm trái chiều, đối lập với đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, công khai yêu cầu Đảng ta từ bỏ vai trò lãnh đạo, xóa bỏ Điều 4 trong Hiến pháp; đòi đổi tên Đảng, tên nước, từ bỏ con đường xây dựng CNXH mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã lựa chọn.

Thứ ba là, lợi dụng chiêu bài “dân chủ, nhân quyền” để hướng lái xã hội dân sự vào các hoạt động trái với tôn chỉ, mục đích. Một số tổ chức “xã hội dân sự” có khuynh hướng đi theo mục tiêu chính trị, đề cao các “giá trị” tự do, dân chủ, nhân quyền của chủ nghĩa tư bản. Những người sáng lập tìm cách tuyên truyền, tác động, lôi kéo một số trí thức, văn nghệ sĩ, học sinh, sinh viên, luật sư tham gia, mở rộng phạm vi, không gian hoạt động trong lĩnh vực dân chủ, nhân quyền, phụ họa và tiếp tay cho các thế lực bên ngoài chống phá Việt Nam. Một số người công khai viết, tán phát tài liệu, sách, sử dụng các trang mạng truyền bá những quan điểm, tư tưởng trái chiều, tạo diễn đàn đối lập với Đảng, Nhà nước. Họ triệt để lợi dụng những sai sót, yếu kém trong phát triển kinh tế - xã hội, những chủ trương, chính sách chưa hợp lòng dân, các vấn đề phức tạp nổi lên về an ninh, trật tự để phê phán đường lối của Đảng, đổ lỗi, quy kết trách nhiệm cho Đảng ta trong các vấn đề hạn chế, tồn tại của đất nước, nhất là trong phát triển kinh tế - xã hội, quan hệ đối ngoại và hợp tác quốc tế trong bảo vệ chủ quyền biên giới, biển đảo… Nhiều bài viết, tài liệu công khai cổ vũ, đề cao mô hình “xã hội dân sự” kiểu phương Tây và yêu cầu, hô hào, tác động áp dụng mô hình này vào xã hội Việt Nam để mở rộng diễn đàn dân chủ, phát huy đa nguyên… Từ đa nguyên chính kiến trong “phản biện chính sách”, “phản biện xã hội” dưới danh nghĩa ủng hộ quan điểm mở rộng dân chủ ở cơ sở, đảm bảo quyền con người để tuyên truyền, vận động có thêm lực lượng, tổ chức xã hội, đoàn thể quần chúng, các tổ chức phi chính phủ tham gia, từng bước hình thành các “phong trào”, “mặt trận” dân chủ, trở thành lực lượng đối trọng, đối lập với Đảng và Nhà nước ta trong tương lai.

Thứ tư là, các thế lực thù địch bên ngoài gia tăng các hoạt động móc nối, liên kết, hậu thuẫn cho những người “bất đồng chính kiến” trong nước, những người bất mãn trong một bộ phận văn nghệ sĩ, trí thức, luật sư… hoạt động theo khuynh hướng “độc lập”, hình thành “xã hội dân sự” đối lập theo mô hình của phương Tây, các nước Đông Âu và Liên Xô trước khi sụp đổ, tan rã.

Trong các nhóm đã được thành lập, có những hội, nhóm, câu lạc bộ, viện nghiên cứu thành phần tham gia khá phức tạp. Được sự cổ vũ, khích lệ của các thế lực chống CNXH ở bên ngoài, họ thường xuyên gặp gỡ bàn bạc, biên soạn, phát tán tài liệu có nội dung phê phán đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Một số tổ chức thông qua hoạt động nghiên cứu, phản biện, tư vấn để truyền bá quan điểm, tư tưởng sai trái, phê phán đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, cổ súy cho một phong trào “xã hội dân sự” độc lập. Họ còn tổ chức các cuộc tọa đàm, hội thảo, trả lời phỏng vấn, đăng tải trên trang mạng các bài viết phủ nhận thành quả cách mạng, yêu cầu Đảng ta từ bỏ vai trò lãnh đạo; tổ chức dịch, phát hành hàng chục đầu sách của các tác giả nước ngoài có nội dung nhạy cảm về chính trị, đề cập đến sự tan rã của Liên Xô, sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu như những tài liệu phổ biến kinh nghiệm biểu tình, lật đổ, tiến hành “cách mạng đường phố”, “cách mạng màu”, cổ vũ cho “xã hội dân sự” đối lập…

THN

 

 

Đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập - Mục tiêu hướng tới của "xã hội dân sự" kiểu phương Tây

Trong chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam, các thế lực thù địch tập trung tuyên truyền cổ vũ cho chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập tại Việt Nam. Luận điệu của họ là trong nền chính trị Việt Nam phải tồn tại các nhóm chính trị, các chính đảng khác nhau để đa dạng hóa đường lối cho nhân dân lựa chọn thông qua bầu cử tự do thì mới đảm bảo cho một nền dân chủ. Vì vậy, những năm qua các phần tử chống CNXH luôn tìm mọi cách tập hợp lực lượng, cho ra đời tổ chức, đảng phái chính trị đối lập trong nước.

Trong đó, hoạt động của các thế lực thù địch đối với vấn đề “xã hội dân sự” ở Việt Nam sẽ được đẩy mạnh theo các hướng:

Một là, gia tăng hoạt động truyền bá tư tưởng “xã hội dân sự” của phương Tây, đề cao và tuyệt đối hóa để gây áp lực xã hội đối với đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, làm tiền đề cho sự ra đời, phát triển của “xã hội dân sự” Việt Nam - mầm mống của đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập.

Hai là, tập trung tuyên truyền tác động phá hoại nội bộ, thúc đẩy quá trình suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nhằm tạo dựng, phát triển lực lượng chống đối, bổ sung nhân sự cho việc hình thành các tổ chức “xã hội dân sự” chính trị, đối lập với Đảng Cộng sản Việt Nam.

Ba là, gia tăng các hoạt động móc nối, tác động chuyển hóa các tổ chức xã hội dân sự đích thực ở Việt Nam, nhất là các hội, các tổ chức phi chính phủ trở thành các tổ chức “xã hội dân sự” kiểu phương Tây, làm mất dần bản chất đích thực, vai trò quan trọng của các tổ chức xã hội dân sự hiện nay. Từ đó sẽ trực tiếp chi phối, khích lệ các hoạt động chống đối chế độ, đòi thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập ở nước ta. Đây là bước chuẩn bị điều kiện nhân sự, tổ chức cho sự ra đời của đảng chính trị đối lập, từng bước công khai hóa, hợp thức hóa, quốc tế hóa trở thành đối trọng với Đảng Cộng sản Việt Nam, thông qua đấu tranh chính trường, từng bước gạt Đảng Cộng sản Việt Nam khỏi vũ đài chính trị, chiếm đoạt quyền lực, đưa nước ta theo quỹ đạo của phương Tây.

Bốn là, sử dụng các tổ chức “xã hội dân sự” chính trị làm công cụ tuyên truyền tác động tư tưởng, lôi kéo quần chúng, những người có tâm tư bất mãn trong các giai tầng xã hội, các phần tử chống chủ nghĩa xã hội để tập hợp lực lượng quần chúng, chuẩn bị điều kiện kết hợp với các hoạt động gây mất ổn định chính trị - xã hội để phát động một cuộc “cách mạng đường phố”, thay đổi chế độ chính trị ở Việt Nam.

Để đấu tranh ngăn chặn, vô hiệu hóa âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch lợi dụng “xã hội dân sự” chống phá Việt Nam trong chiến lược “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ là nhiệm vụ vừa cấp bách, vừa lâu dài. Trước hết, phải xác định đây là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, các ngành, các cấp, các lực lượng vũ trang.

Thứ nhất, vấn đề đầu tiên đặt ra là phải thống nhất và nâng cao nhận thức về xã hội dân sự, phân biệt và đánh giá đúng vai trò, vị trí, tầm quan trọng của các tổ chức xã hội dân sự.

 Thứ hai, tập trung lãnh đạo, định hướng cho các tổ chức này tuân thủ đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tích cực đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ an ninh quốc gia, cảnh giác trước âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch, không để bị tác động, lôi kéo vào các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội.

Thứ ba, không đánh đồng các tổ chức xã hội dân sự đích thực với các tổ chức “xã hội dân sự” theo mô thức của phương Tây.

Thứ tư, làm tốt công tác thông tin tuyên truyền, nâng cao tinh thần cảnh giác cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân các giai tầng xã hội để thấy rõ âm mưu của các thế lực thù địch trong việc cổ súy và sử dụng các tổ chức “xã hội dân sự” vào mục đích thay đổi thể chế chính trị ở Việt Nam.

Thứ năm, các cơ quan chức năng cần làm tốt công tác nắm tình hình, tham mưu cho các cấp ủy đảng, chính quyền, tổ chức chính trị, đoàn thể quần chúng bảo vệ vai trò lãnh đạo của Đảng, không chấp nhận đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, không để hình thành tổ chức chính trị đối trọng với Đảng và Nhà nước. Kiên quyết giữ vững ổn định chính trị - xã hội, bảo vệ vững chắc an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, phục vụ đất nước ổn định và phát triển đúng định hướng./.

THN

 

Giữ vững và phát huy phẩm chất và hình ảnh cao quý “Bộ đội Cụ Hồ”

trong thời kỳ mới

HƯỚNG DƯƠNG

 

Để làm thất bại âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc, bôi đen hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”, chúng ta cần tập trung thực hiện tốt một số nội dung sau:

Tích cực giữ gìn, vun đắp, xây dựng, bảo vệ và lan tỏa hình ảnh, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” trong tình hình mới, làm cho tài sản mang giá trị tinh thần, nhân văn này sống mãi trong lòng cán bộ, chiến sĩ và nhân dân. Tuyệt đối không cho phép, không chấp nhận bất kỳ một cá nhân, tổ chức và thế lực nào vu khống, bôi nhọ giá trị phẩm chấ, hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”, hạ bệ “thần tượng” Hồ Chí Minh. Chủ động, tích cực đấu tranh, ngăn chặn những hành vi bôi nhọ, vu khống, xuyên tạc làm tổn hại đến giá trị thiêng liêng, phẩm chất, nhân cách, hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” cao quý.

Phát huy và chủ động, tích cực tuyên truyền, giáo dục và lan tỏa mạnh mẽ những giá trị phẩm chất, hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân trong tình hình mới. Danh hiệu “Bộ đội Cụ Hồ” là danh hiệu bình dị mà cao quý được nhân dân khen tặng cán bộ, chiến sĩ quân đội, là báu vật thiêng liêng nhân dân trao cho Quân đội ta nên toàn quân, mỗi cán bộ, chiến sĩ phải luôn trân trọng, nâng niu, giữ gìn như giữ gìn điều thiêng liêng nhất, tài sản lớn nhất của đời mình, là lương tâm và danh dự của người quân nhân cách mạng. Vì vậy, cán bộ, chiến sĩ cần nhận thức sâu sắc tầm quan trọng, giá trị và ý nghĩa của việc phấn đấu, rèn luyện để mãi mãi xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ”. Luôn tự soi, tự sửa, ngăn ngừa những biểu hiện tiêu cực làm ảnh hưởng đến bản chất, truyền thống tốt đẹp của quân đội, đến danh hiệu “Bộ đội Cụ Hồ” cao quý. Tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, tiếp tục “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” trong thời kỳ mới. Đẩy mạnh nghiên cứu, tổng kết, phát triển các tiêu chí, chuẩn mực giá trị, nhân cách “Bộ đội Cụ Hồ” trong thời kỳ mới, gắn với xây dựng nền văn hóa và con người mới xã hội chủ nghĩa; xây dựng các chuẩn mực, tiêu chí người quân nhân cách mạng trong thời kỳ mới.

Bất luận trong điều kiện, hoàn cảnh nào, Quân đội ta cũng một lòng một dạ tận trung với Đảng, trọn hiếu với dân; sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng.

 Kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh – nền tảng tư tưởng của Đảng; nghiêm chỉnh chấp hành Cương lĩnh, Điều lệ, nghị quyết, chỉ thị, quy định, quy chế của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước; chỉ thị, mệnh lệnh của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng; chủ động phòng, chống âm mưu, thủ đoạn, hoạt động “diễn biến hòa bình”, ngăn chặn, đẩy lùi “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; “phi chính trị hóa” Quân đội; sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

 Gương mẫu thực hiện đạo đức cách mạng: cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; sẵn sàng hy sinh lợi ích cá nhân vì lợi ích của đơn vị, đặt lợi ích của nhân dân và lợi ích quốc gia – dân tộc lên trên hết và trước hết. Mẫu mực về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; đề cao trách nhiệm nêu gương. Nói đi đôi với làm, dám nhận và chịu trách nhiệm về những sai phạm xảy ra thuộc phạm vi mình phụ trách. Đề cao tự phê bình và phê bình, thẳng thắn, dũng cảm nhận khuyết điểm và nghiêm túc sửa chữa, khắc phục, phấn đấu tiến bộ với mục đích và động cơ trong sáng. Thực hành dân chủ, kỷ luật tự giác, nghiêm minh. Xây dựng đoàn kết nội bộ, tôn trọng, giúp đỡ, gắn bó máu thịt với nhân dân; có thần quốc tế trong sáng.

 Kiên quyết đấu tranh với mọi biểu hiện hạ thấp, xuyên tạc hình ảnh, giá trị phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ và những biểu hiện phủ nhận sự hy sinh, cống hiến, vì dân, vì nước của “Bộ đội Cụ Hồ”. Bảo vệ, giữ gìn và lan tỏa phẩm chất, hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”. Kiên quyết đấu tranh với những tư tưởng sính ngoại, đề cao vật chất, xem nhẹ, hạ thấp hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”, hình ảnh người chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam. Tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân; suốt đời “phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân”.

Kiên quyết đấu tranh, phản bác những luận điệu sai trái, xuyện tạc vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của quân đội, đòi “phi chính trị hóa” quân đội và mọi biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân.

Bình tĩnh, tỉnh táo, tin tưởng vào sự nghiêm minh của kỷ luật Đảng, pháp luật của Nhà nước, kỷ luật của Quân đội. Cán bộ, chiến sĩ luôn đoàn kết thống nhất, chủ động rèn luyện, giữ gìn phẩm chất đạo đức, chấp hành nghiêm pháp luật, kỷ luật, trở thành tấm gương mẫu mực về mọi mặt để nhân dân tin tưởng, yêu thương và học tập. Quyết tâm ngăn chặn, đẩy lùi sự xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch; xử lý nghiêm minh cả về đạo lý và pháp lý đối với những hành vi xuyên tạc, bôi nhọ hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”.

Xử lý nghiêm những người cố tình tung tin, bài viết, video clip với những nội dung xấu, độc trên mạng xã hội nhằm xuyên tạc, nói xấu, xúc phạm nhân phẩm, danh dự của tập thể, cá nhân cán bộ, chiến sĩ quân đội với mọi biểu hiện, hành vi và động cơ chính trị đen tối, ảnh hưởng tới an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; quá trình xây dựng quân đội “tinh, gọn, mạnh”. Bổ sung, hoàn thiện những quy định chặt chẽ hơn, các chế tài nghiêm khắc hơn, khung hình phạt cao hơn với những hành vi xuyên tạc, bôi nhọ hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”, thực hiện âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội./.

 

 

Bản chất, âm mưu, thủ đoạn và hành vi xuyên tạc phẩm chất,

hình ảnh “Bộ đội cụ Hồ”

HƯỚNG DƯƠNG

Xuyên tạc hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” là âm mưu, thủ đoạn vô cùng thâm độc của các thế lực thù địch nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và Quân đội ta. Lúc này, đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc, bôi đen hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”, có ý nghĩa hết sức quan trọng, là nhiệm vụ cấp bách trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; giữ gìn và phát huy bản chất, truyền thống Quân đội nhân dân Việt Nam.

Vì sao các thế lực thù địch lại cố tình xuyên tạc, bôi đen hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” để chống phá Đảng, Nhà nước, Quân đội ta? Bởi vì, trong trái tim mỗi người dân Việt Nam yêu nước, hình tượng “Bộ đội Cụ Hồ” có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng. Bác Hồ kính yêu là lãnh tụ tinh thần, là niềm tin, biểu tượng dẫn dắt dân tộc Việt Nam tiến lên. Quân đội ta do Bác Hồ sáng lập và rèn luyện, được bồi đắp những giá trị văn hóa, tinh thần cao đẹp của dân tộc Việt Nam, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu. “Bộ đội Cụ Hồ” là danh hiệu cao quý, thiêng liêng, một báu vật vô cùng quý giá mà nhân dân dành riêng khen tặng Quân đội ta. Trên thế giới, không quân đội nào có được niềm vinh dự, tự hào ấy.

Phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” là một hệ thống chuẩn mực giá trị về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, phong cách, tác phong công tác của người quân nhân cách mạng, trọn đời “phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân”, “tận trung với Đảng, trọn hiếu với dân”.

Để phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh – nền tảng tư tưởng của Đảng; các thế lực thù địch phải tiến hành chiêu trò: Hạ bệ “thần tượng” Hồ Chí Minh, bôi đen hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”, làm cho hình tượng về Người mất đi tính chất thiêng liêng, sự trân trọng, giá trị kiểu mẫu. Từ đó, các thế lực thù địch hy vọng tình cảm, niềm tin; sự ngưỡng mộ và lòng biết ơn, kính trọng của nhân dân ta đối với Bác Hồ sẽ không còn và đi liền với đó, là sự hạ bệ, làm mất vai trò lãnh đạo của Đảng đố với Quân đội.

Để hạ bệ “thần tượng” Hồ Chí Minh, hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”, các thế lực thù địch còn thực hiện âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội; phủ nhận sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội, bài xích, chia rẽ mối quan hệ máu thịt giữa quân đội và nhân dân. Cùng với đó, lợi dụng một số vụ việc vi phạm pháp luật, kỷ luật của một số quân nhân trong quân đội để thổi phồng khuyết điểm, làm suy giảm niềm tin, tình cảm, sự yêu thương, đùm bọc, chở che của nhân dân đối với “Bộ đội Cụ Hồ”.

Khi Quân đội ta xung kích đi đầu, xả thân hy sinh cứu dân, giúp đỡ nhân dân trong thiên tai, hoạn nạn, dịch bệnh, nhưng kẻ xấu vẫn trơ tráo xuyên tạc, bóp méo sự thật, phủ nhận những cố gắng, sự hy sinh xương máu của cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta. Hạ thấp vai trò của quân đội trong giúp dân, cứu dân, kẻ thù muốn Quân đội ta chỉ như những người lính nhà nghề, “đánh thuê”, không còn những nhiệm vụ từ mệnh lệnh trái tim; phai nhạt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu. Đó là cái đích cuối cùng họ hướng đến để thực hiện “phi chính trị hóa” quân đội, gạt bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng ra khỏi Quân đội. Chúng ta cần nhận diện đầy đủ, sâu sắc bản chất sự việc và kiên quyết đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn thâm độc, phản động ấy.

Thứ Hai, 8 tháng 8, 2022

 

VAI TRÒ CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH TRONG CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945

Nhân Trần

Cách mạng thuộc địa có thể thắng lợi trước

Trong tác phẩm “Đường kách mệnh” (1927), Người nhấn mạnh: “Cách mệnh thuộc địa không những không phụ thuộc vào cách mạng vô sản chính quốc mà có thể giành thắng lợi trước”. Để cách mạng thuộc địa có thể giành thắng lợi, tiếp thu sáng tạo kinh nghiệm của Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại, Người đã chỉ rõ: “Cách mệnh Nga dạy cho chúng ta rằng, muốn cách mệnh thành công thì phải dân chúng (công nông) làm gốc, phải có đảng vững bền, phải bền gan, phải hi sinh, phải thống nhất. Nói tóm lại là phải theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư và Lênin”. Người cũng nói rõ thêm, Đảng cách mạng sẽ có nhiệm vụ “trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức, vô sản giai cấp ở mọi nơi”. 

Nhận định và nắm bắt thời cơ 

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh: “Làm cách mạng phải biết dựa vào thời cơ và phải nhìn chung phong trào mọi nơi, mọi chốn mới chiến thắng”. Vì việc nhận định đúng thời cơ và nắm bắt thời cơ để giành độc lập dân tộc là vô cùng quan trọng. Ngày 22/6/1940, Pháp mất nước vào tay phát xít Đức. Nắm được tin này, tại Côn Minh (Trung Quốc), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã triệu tập cuộc họp Ban hải ngoại của Đảng Cộng sản Đông Dương. Người phân tích: “Việc Pháp mất nước là một cơ hội rất thuận lợi cho cách mạng Việt Nam. Ta phải tìm mọi cách về nước ngay để tranh thủ thời cơ. Chậm trễ lúc này là có tội với cách mạng”.

Chuẩn bị cho việc giành độc lập

Năm 1941, sau khi về nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh chọn Cao Bằng để xây dựng căn cứ địa dựa trên cơ sở lực lượng chính trị được tổ chức và phát triển. Tiếp đó, thực hiện chỉ thị của Người, ngày 04/6/1945, khu giải phóng Việt Bắc được thành lập bao gồm hai căn cứ lớn trên địa bàn 6 tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Hà Giang, Thái Nguyên và một số vùng thuộc ngoại vi tỉnh Bắc Giang, Vĩnh Yên, Phú Thọ, Yên Bái. Tân Trào được chọn là Thủ đô lâm thời của Khu giải phóng. Với 1 triệu người gồm nhiều dân tộc khác nhau, khu giải phóng đã thực sự là “hình ảnh nước Việt Nam mới”, cùng với hệ thống các chiến khu trong cả nước tạo thành hậu phương và bàn đạp cho thế trận Tổng khởi nghĩa giành chính quyền tháng 8/1945.

Việt Minh hợp tác với phe Đồng minh chống phát xít

Tháng 10/1944, trong Thư gửi đồng bào toàn quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Phe xâm lược gần đến ngày bị tiêu diệt. Các Ðồng minh quốc sắp tranh được sự thắng lợi cuối cùng. Cơ hội cho dân tộc ta giải phóng chỉ ở trong một năm hoặc năm rưỡi nữa. Thời gian rất gấp. Ta phải làm nhanh”. Đến khi Nhật đảo chính Pháp (9/3/1945), tuy thời cơ đã xuất hiện, song Đảng vẫn chưa quyết định phát lệnh Tổng khởi nghĩa, bởi do cuộc đảo chính diễn ra quá nhanh, các tầng lớp đứng giữa chưa ngả hẳn về cách mạng, đội tiên phong còn đang lúng túng về chuẩn bị khởi nghĩa. Trong Chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” ngày 12/3/1945 của Ban Thường vụ Trung ương Đảng, có một đoạn đề cập như sau: “Dù sao ta không thể đem việc quân Đồng minh đổ bộ vào Đông Dương làm điều kiện tất yếu cho cuộc tổng khởi nghĩa của ta; vì như thế là ỷ lại vào người và tự bó tay trong khi tình thế biến chuyển thuận tiện. Nếu cách mạng Nhật bùng nổ và chính quyền cách mạng của nhân dân Nhật thành lập hay nếu giặc Nhật mất nước như Pháp năm 1940 và quân đội viễn chinh Nhật mất tinh thần thì khi ấy dù quân Đồng minh chưa đổ bộ, cuộc tổng khởi nghĩa của ta vẫn có thể bùng nổ và thắng lợi”. Trong Tuyên ngôn Độc lập (2/9/1945), Người khẳng định: “Chúng tôi tin rằng các nước Đồng minh đã công nhận những nguyên tắc dân tộc bình đẳng ở các Hội nghị Têhêrăng và Cựu Kim Sơn, quyết không thể không công nhận quyền độc lập của dân Việt Nam. Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng Minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!”. 

Phát xít Nhật đầu hàng Đồng minh

Ngay trong đêm 13/8/1945, nắm chắc quân đội Nhật sẽ đầu hàng Đồng minh vì Liên Xô đã tham gia tấn công Nhật, Ủy ban Khởi nghĩa ra Quân lệnh số 1. Về nhiệm vụ của Quân giải phóng Việt Nam, Quân lệnh số 1 (13/8/1945) ghi rõ: “Dưới mệnh lệnh của Uỷ ban Khởi nghĩa, các bạn hãy tập trung lực lượng, kíp đánh vào các đô thị và trong trận của quân địch; đánh chẹn các đường rút lui của chúng, tước võ khí của chúng! Đạp qua muôn trùng trở lực các bạn hãy kiên quyết tiến!”. Quân lệnh số 1 còn kêu gọi nhân dân toàn quốc: “Dưới mệnh lệnh của Uỷ ban Khởi nghĩa, đồng bào hãy đem hết tâm lực ủng hộ đạo Quân giải phóng, sung vào bộ đội, xông ra mặt trận đánh đuổi quân thù”.

Tiếp đó, ngày 16 và 17/8/1945 (khi Nhật Bản đã đầu hàng Đồng Minh vào ngày 15/8/1945), Quốc dân Đại hội họp tại Tân Trào, tán thành chủ trương tổng khởi nghĩa của Đảng. Trong Thư kêu gọi tổng khởi nghĩa (18/8/1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Hỡi đồng bào yêu quý! Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta. Nhiều dân tộc bị áp bức trên thế giới đang ganh nhau tiến bước giành quyền độc lập. Chúng ta không thể chậm trễ. Tiến lên! Tiến lên! Dưới lá cờ Việt Minh, đồng bào hãy dũng cảm tiến lên!”. Điều này là do Người đã học tập sâu sắc lời dạy của V.I.Lênin: “Lịch sử sẽ không tha thứ cho những người cách mạng hôm nay có thể chiến thắng (và nhất định sẽ thắng lợi hôm nay) mà lại để chậm trễ, vì nếu đợi đến ngày mai thì không khéo sẽ mất nhiều, không khéo lại bị mất tất cả... Lịch sử tất cả các cuộc cách mạng đã chứng minh điều đó. Và những người cách mạng sẽ phạm một tội ác vô cùng lớn, nếu họ bỏ lỡ mất thời cơ”. 

Trong Tuyên ngôn Độc lập (2/9/1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khái quát diễn biến Cách mạng Tháng Tám: “Khi Nhật hàng Đồng minh thì nhân dân cả nước ta đã nổi dậy giành chính quyền, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa... Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ dân chủ cộng hoà” .Về nguyên nhân thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Đó là thắng lợi của đường lối giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc, dân chủ của giai cấp công nhân, kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến. Đó là thắng lợi của đường lối đoàn kết toàn dân, sử dụng bạo lực cách mạng để lật đổ ách thống trị của đế quốc và phong kiến. Đó là sự tài tình, sáng tạo của Đảng trong việc tạo thời cơ, nắm vững thời cơ, khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước”. Giáo sư William J.Duiker, nhà sử học nổi tiếng của Mỹ, thì bổ sung thêm với nhận định: “Chỉ riêng các điều kiện khách quan thì không làm nên một cuộc cách mạng, và ở đây công lao thuộc về những người Cộng sản. Họ đã có thể chớp lấy thời cơ được mở ra vô cùng thuận lợi vào lúc kết thúc cuộc chiến tranh... Chỉ có Đảng Cộng sản Đông Dương sở hữu ý thức về sự kịp thời và thấu hiểu được sự tinh tế có tính chiến lược của hoàn cảnh để vùng lên đúng lúc”./.

 

LỰA CHỌN THỜI CƠ TRONG CÁCH MẠNG THÁNG TÁM - BÀI HỌC ĐI CÙNG NĂM THÁNG

                                                                                                Nhân Trần

Sự thành công của Cách mạng tháng Tám là sự kết tinh những truyền thống tốt đẹp của một dân tộc anh hùng, bất khuất có lịch sử hàng nghìn năm chống xâm lược phong kiến và ngót một trăm năm chống ách thống trị của bọn đế quốc thực dân. Đó cũng là kết quả của 15 năm đấu tranh (1930 - 1945) của giai cấp công nhân và của toàn dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, đứng đầu là chủ tịch Hồ Chí Minh. Có thể thấy rằng sự thành công của Cách mạng tháng Tám là nhờ sự hội tụ những điều kiện khách quan và chủ quan khác nhau. Và một trong những vấn đề đó chính là việc Đảng ta đã biết nhận định về thời cơ và chớp lấy thời cơ. Thời cơ là một hoàn cảnh thuận lợi đến trong một thời gian ngắn, đảm bảo một việc nào đó có thể tiến hành có kết quả. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, hợp thành tình thế cách mạng có ba nhân tố chủ yếu sau:

Thứ nhất, giai cấp và tầng lớp thống trị bên trên đã lâm vào một cuộc khủng hoảng trầm trọng, không thể kiểm soát nổi tình hình, trở nên bất lực, không còn có chế độ thống trị như cũ được nữa.

Thứ hai, các giai cấp và tầng lớp bị trị bên dưới cũng rơi vào tình trạng cơ cực, bị bần cùng không thể chịu đựng được nữa, không thể sống nổi nữa. Mâu thuẩn đã gay gắt đến cực độ và quần chúng đã sẵn sàng đi tới một hành động giải phóng.

Thứ ba, tầng lớp, bộ phận trung gian, những người trí thức yêu nước, có tư tưởng dân chủ, tiến bộ, những người có tinh thần dân tộc, kể cả một bộ phận trong giai cấp hữu sản nhưng gần với quần chúng, nhận thức được xu thế lịch sử, ngã về phía cách mạng. Tương quan lực lượng có lợi cho phía cách mạng. 

Hội đủ những điều kiện đó, về cơ bản, tình thế cách mạng đã chín muồi. Như vậy, một cuộc khởi nghĩa diễn ra thành công không phải dựa vào một âm mưu, một đảng phái mà phải dựa vào cao trào cách mạng của nhân dân, dựa vào một chuyển hướng lịch sử quyết định.

Xét trên bình diện đó, chúng ta có thể nhận thấy ở Việt Nam vào đầu những năm 1940, đặc biệt sau khi cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ nổ ra thất bại thì vấn đề thời cơ được bàn luận đến rất nhiều. Vào tháng 5-1941, trong Nghị quyết của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ Tám tại Pắc Bó, Cao Bằng dưới sự chủ trì của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và quyền Tổng Bí thư Trường Chinh. Nghị quyết đã dự báo một cách chính xác về cuộc chiến tranh thế giới thứ hai và hệ lụy của nó: “Nếu cuộc đế quốc chiến tranh lần trước đẻ ra Liên Xô, một nước xã hội chủ nghĩa thì cuộc đế quốc chiến tranh lần này sẽ đẻ ra nhiều nước xã hội chủ nghĩa, do đó cách mạng nhiều nước thành công”. Như vậy, thời cơ sẽ đến với nhiều nước trên thế giới khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, phần thắng nghiêng về Liên Xô và phe dân chủ. Đó là một khả năng làm xuất hiện thời cơ có lợi cho cách mạng nhiều nước, trong đó có cách mạng nước ta. Hội nghị còn nhận định rằng cuộc cách mạng Đông Dương là một bộ phận của phong trào cách mạng thế giới và lúc đó là một bộ phận của phong trào dân chủ chống phát - xít. Vận mệnh của dân tộc Đông Dương gắn liền với vận mệnh của Liên xô; đồng thời, cũng gắn liền với cách mạng Trung Quốc.

Sang cuối năm 1941, đầu 1942, khi chiến tranh Thái Bình Dương nổ ra, Nhật tràn vào Đông Dương thì lúc này khả năng đội quân kháng Nhật của Trung Quốc sẽ tràn vào đánh Nhật ở trên đất nước ta. Lúc này, vấn đề thời cơ lại được nêu ra. Tuy nhiên, theo nhận định của Trung ương Đảng thì: “Có nhiều đồng chí tưởng chiến tranh ở Thái Bình Dương nổ ra và Hoa quân nhập Việt thì lập tức ta có đủ điều kiện khởi nghĩa”; “sự thực, nói chung toàn quốc, ta chưa vào một tình thế cách mạng. Những điều kiện khởi nghĩa của Đông Dương chưa chín muồi. Vì sao? Vì một là quân thù chưa có sự hoang mang đến cực điểm, chiến tranh chưa đẩy chúng đến một tình thế khủng hoảng phổ thông; hai là tầng lớp nhân dân ngoài vô sản tuy đã ghét Pháp và bắt đầu chán Nhật, nhưng chưa ngã hẳn về phía cách mạng, họ còn chịu ảnh hưởng của bọn Việt gian một phần nào”.

Gần ba năm sau, tháng 10 năm 1944, cục diện chiến tranh thế giới thứ hai đã bắt đầu đi đến hồi kết, Hồng quân Liên Xô đã đánh lùi quân Đức ra khỏi biên giới Liên Xô và đang tiến qua Trung Âu, quân Nhật thất bại thảm hại ở chiến trường Thái Bình Dương. Trong thư gửi cán bộ và đồng bào, Nguyễn Ái Quốc đã nhấn mạnh: “Phe xâm lược gần đến ngày bị tiêu diệt. Các nước đồng minh quốc sắp tranh được sự thắng lợi cuối cùng”.Từ sự phân tích trên, Người khẳng định: “cơ hội cho dân tộc ta giải phóng chỉ ở trong một năm hoặc năm rưỡi nữa. Thời gian rất gấp, ta phải làm nhanh”. Tuy nhiên, “nhanh” nhưng không nóng vội, vì vậy, Người đã chỉ thị thành lập đội “Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân” vào ngày 22 tháng 12 năm 1944.

Trong suốt đầu năm 1945, Trung ương Đảng luôn chú ý đến vấn đề “cuộc đảo chính của phát-xít Nhật” nhằm hướng công tác chuẩn bị của Đảng và phong trào cách mạng của quần chúng chủ động đón nhận nó. Vì vậy, ngày 9 tháng 3 năm 1945, nhận thấy Nhật sắp lật Pháp đến nơi, đồng chí Trường Chinh đã triệu tập Hội nghị Ban thường vụ Trung ương mở rộng ngay trong tối 9 tháng 3 năm 1945. Hội nghị bắt đầu họp ở làng Đình Bảng (Từ Sơn - Bắc Ninh) thì phát-xít Nhật nổ súng đánh Pháp ở Hà Nội và trên toàn Đông Dương. Hội nghị đoán trước sự thất bại của Pháp, thắng lợi tạm thời của quân đội Nhật và cuộc đảo chính sẽ tạo ra một tình hình khủng hoảng chính trị sâu sắc, làm cho những điều kiện khởi nghĩa của Đông Dương chưa chín muồi đang đi tới chín muồi nhanh chóng. Vì vậy, Hội nghị đã ra Chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” vào ngày 12 tháng 3 năm 1945. Ðảng quyết định phát động cao trào chống Nhật cứu nước.

Giữa trưa ngày 13 tháng 8 năm 1945, Nhật hoàng tuyên bố đầu hàng các lực lượng Đồng minh trên sóng phát thanh của Nhật Bản. Người nhận thấy thời cơ có một không hai đã đến với dân tộc chúng ta, bởi vậy, “dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải giành cho được tự do độc lập!”. Lập tức, Trung ương Đảng và Tổng bộ Việt Minh thành lập Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc và lệnh khởi nghĩa được ban ra kịp thời: “Giờ tổng khởi nghĩa đã đến! Cơ hội có một cho quân dân Việt Nam vùng dậy giành lấy quyền độc lập cho nước nhà!… Chúng ta phải hành động cho nhanh với một tinh thần vô cùng quả cảm, vô cùng thận trọng!... Cuộc thắng lợi hoàn toàn nhất định sẽ về ta!”.

Nghe theo tiếng gọi của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, hơn 20 triệu đồng bào trong cả nước nhất tề đứng dậy khởi nghĩa giành chính quyền cách mạng. Trong vòng chưa đầy nửa tháng, các địa phương trên cả nước đã giành thắng lợi.

Như trên đã nói, thời cơ xuất hiện và tồn tại trong một khoảng thời gian nhất định. Đối với Cách mạng tháng Tám, thời cơ tồn tại một cách khách quan trong vòng khoảng 20 ngày, bắt đầu từ khi Nhật hoàng tuyên bố đầu hàng (ngày 13-8) và kết thúc khi quân Đồng Minh vào tước khí giới quân Nhật trên đất nước ta theo Hiệp định Pôt-xđam (ngày 5-9). Nếu phát động tổng khởi nghĩa giành chính quyền trên toàn quốc trước ngày 13-8 và sau ngày 5-9 đều không có khả năng thành công, bởi trước ngày 13-8, quân Nhật còn mạnh, nhân dân ta sẽ tổn hại nhiều xương máu, còn sau ngày 5-9, trên đất nước có nhiều kẻ thù (từ vĩ tuyến 16 trở ra là quân Tưởng - Mỹ, từ vĩ tuyến 16 trở vào là quân Anh và sau nó là quân Pháp trở lại xâm lược), cuộc cách mạng Việt nam sẽ mất đi thế chủ động và sẽ gặp nhiều khó khăn khác. Vì vậy, chỉ có thể giành chính quyền thắng lợi trong ngưỡng thời gian khắc nghiệt đó.

Gần 80 năm năm đã trôi qua, nhưng bài học về nhận định thời cơ và chớp thời cơ cách mạng của Ðảng trong Cách mạng Tháng Tám 1945, vẫn còn nguyên giá trị thời sự. Qua đó chúng ta càng cảm nhận sâu sắc hơn về hai câu thơ của Bác ở bài thơ “Học đánh cờ” trong tác phẩm Nhật ký trong tù: “Lạc nước hai xe đành bỏ phí. Gặp thời một tốt cũng thành công”./.

 

THẮNG LỢI CỦA CÁCH MẠNG THÁNG TÁM VÀ QUYẾT ĐỊNH ĐI ĐẾN NGÀY TỔNG TUYỂN CỬ ĐẦU TIÊN BẦU RA QUỐC HỘI VIỆT NAM

                                                                                                    Nhân Trần

Bối cảnh lịch sử

Đầu năm 1945, Chiến tranh thế giới lần thứ hai bước vào giai đoạn cuối. Hồng quân Xô Viết liên tiếp giành thắng lợi quyết định trên chiến trường châu Âu, giải phóng một loạt nước và tiến thẳng vào sào huyệt phát xít Đức tại Béc-lin. Ngày 9-5-1945, phát xít Đức đầu hàng vô điều kiện, chiến tranh kết thúc ở châu Âu. Ngày 8-8-1945, Hồng quân Liên Xô tiến công như vũ bão vào quân đội Nhật. Ngày 14-8-1945, phát xít Nhật đầu hàng vô điều kiện, Chiến tranh thế giới lần thứ hai kết thúc. Theo thỏa thuận của các nước Đồng minh, sau khi phát xít Nhật đầu hàng, quân đội Anh và Tưởng sẽ vào Đông Dương để giải giáp quân đội Nhật. Trong khi đó, thực dân Pháp lăm le dựa vào Đồng minh hòng khôi phục địa vị thống trị của mình; đế quốc Mỹ đúng sau các thế lực này cũng sẵn sàng can thiệp vào Đông Dương; những phần tử phản động, ngoan cố trong chính quyền tay sai Nhật đang âm mưu thay đổi chủ, chống lại cách mạng.

Ở trong nước, trải qua các cuộc diễn tập, đến năm 1945, phong trào cách mạng dâng cao. Ngày 9-3-1945, phát xít Nhật làm cuộc đảo chính hất cẳng Pháp. Ngay trong đêm đó, Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương mở rộng quyết định phát động một cao trào cách mạng làm tiền đề cho tổng khởi nghĩa, thay đổi các hình thức tuyên truyền, cổ động, tổ chức và đấu tranh cho thích hợp. Tháng 3-1945, Trung ương Đảng ra Chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”. Tháng 4-1945, Trung ương triệu tập Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ, quyết định nhiều vấn đề quan trọng, thống nhất các lực lượng vũ trang thành Việt Nam giải phóng quân. Ngày 16-4-1945, Tổng bộ Việt Minh ra Chỉ thị tổ chức các Ủy ban Dân tộc giải phóng các cấp và chuẩn bị thành lập Ủy ban giải phóng dân tộc Việt Nam, tức Chính phủ lâm thời cách mạng Việt Nam.

Từ tháng 4-1945 trở đi, cao trào kháng Nhật, cứu nước diễn ra mạnh mẽ, phong phú về nội dung và hình thức. Đầu tháng 5-1945, Bác Hồ từ Cao Bằng về Tuyên Quang, chọn Tân Trào làm căn cứ chỉ đạo cách mạng cả nước và chuẩn bị Đại hội quốc dân. Ngày 4-6-1945, Khu giải phóng Việt Bắc được thành lập, đặt dưới sự lãnh đạo của Ủy ban chỉ huy lâm thời, trở thành căn cứ địa của cả nước. Tháng 8-1945, Hội nghị đại biểu toàn quốc của Đảng họp tại Tân Trào (Tuyên Quang) khẳng định: “Cơ hội rất tốt cho ta giành độc lập đã tới” và quyết định phát động toàn dân khởi nghĩa giành chính quyền từ tay phát xít Nhật và tay sai trước khi quân Đồng minh vào Đông Dương; đề ra ba nguyên tắc bảo đảm tổng khởi nghĩa thắng lợi, đó là: Tập trung, thống nhất, kịp thời.

Diễn biến và kết quả

Thực hiện Nghị quyết Tổng khởi nghĩa giành chính quyền của Quốc dân đại hội, nhân dân Việt Nam đã nhất tề nổi dậy với ý chí dù có hy sinh đến đâu, dù có phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn, cũng phải giành cho được chính quyền trong toàn quốc.

Cuộc khởi nghĩa đã nhanh chóng giành được thắng lợi, tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa ở Hà Nội (ngày 19 tháng 8), Huế (ngày 23 tháng 8), Sài Gòn (ngày 25 tháng 8). Chính quyền trong cả nước đã thuộc về nhân dân. Vua Bảo Đại xin thoái vị để “được làm dân tự do của một nước độc lập”.

Ngày 25 tháng 8 năm 1945, theo đề nghị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Uỷ ban dân tộc giải phóng do Quốc dân Đại hội Tân Trào cử ra được cải tổ thành Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ngày 27 tháng 8 năm 1945, Chính phủ đã ra Lời tuyên cáo nói rõ: “ Chính phủ lâm thời… thật là một Chính phủ quốc gia thống nhất, giữ trọng trách là chỉ đạo cho toàn thể, đợi ngày triệu tập được Quốc hội để cử ra một Chính phủ cộng hòa chính thức”.

Ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại Quảng trường Ba Đình, trước hàng chục vạn đồng bào Thủ đô, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời trịnh trọng đọc bản Tuyên ngôn độc lập, tuyên bố với quốc dân và thế giới: Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. Bản Tuyên ngôn khẳng định: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”.

 Quyền độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam được khẳng định trong Tuyên ngôn Độc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh công bố ngày 2 tháng 9 năm 1945 đã đặt cơ sở pháp lý quan trọng, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Ý nghĩa

Cách mạng tháng Tám là bước nhảy vọt vĩ đại đánh dấu một cuộc biến đổi cực kỳ to lớn trong lịch sử tiến hoá của dân tộc ta. Nó đập tan sự thống trị của thực dân trong 87 năm, kể từ khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta.

 Cách mạng tháng Tám năm 1945 thắng lợi là một trong những bước ngoặt vĩ đại nhất trong lịch sử dân tộc Dân tộc Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới: kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội . Nhân dân ta từ người nô lệ trở thành người chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình. Nước ta từ một nước thuộc địa, nửa phong kiến trở thành một nước độc lập, một nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam á.

Cách mạng tháng Tám thắng lợi đã sáng tạo ra những kinh nghiệm lịch sử góp phần xây dựng kho tàng lý luận về cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở một nước thuộc địa, nửa phong kiến; đồng thời để lại nhiều kinh nghiệm quý báu cho cuộc kháng chiến lâu dài.

Cách mạng tháng Tám đã chọc thủng khâu yếu nhất trong hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc , mở ra thời kỳ suy sụp, tan rã của chủ nghĩa thực dân cũ trên toàn thế giới. Nói về ý nghĩa lịch sử vĩ đại của Cách mạng tháng Tám năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Chẳng những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào,mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng: lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc”./.

 

CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945 - SỰ KIỆN VĨ ĐẠI TRONG LỊCH SỬ DÂN TỘC VIỆT NAM

                                                                                              Nhân Trần

Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng tại bán đảo Sơn Trà - Đà Nẵng, chính thức mở đầu cuộc xâm lược nước ta. Ngày 03/02/1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, lãnh đạo Nhân dân cả nước đứng lên chống thực dân, đế quốc, giành độc lập cho dân tộc. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, các cao trào cách mạng diễn ra trên khắp cả nước với khí thế sôi nổi.

Ngày 09/3/1945, phát xít Nhật làm cuộc đảo chính hất cẳng Pháp. Ngay trong đêm đó, Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương mở rộng quyết định phát động một cao trào cách mạng làm tiền đề cho tổng khởi nghĩa, thay đổi các hình thức tuyên truyền, cổ động, tổ chức và đấu tranh cho thích hợp. Tháng 3/1945, Trung ương Đảng ra Chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”. Tháng 4/1945, Trung ương triệu tập Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ, quyết định nhiều vấn đề quan trọng, thống nhất các lực lượng vũ trang thành Việt Nam giải phóng quân. Ngày 16/4/1945, Tổng bộ Việt Minh ra Chỉ thị tổ chức các Ủy ban Dân tộc giải phóng các cấp và chuẩn bị thành lập Ủy ban giải phóng dân tộc Việt Nam, tức Chính phủ lâm thời cách mạng Việt Nam.

Từ tháng 4/1945 trở đi, cao trào kháng Nhật cứu nước diễn ra mạnh mẽ, phong phú về nội dung và hình thức. Đầu tháng 5/1945, Bác Hồ từ Cao Bằng về Tuyên Quang, chọn Tân Trào làm căn cứ chỉ đạo cách mạng cả nước và chuẩn bị Đại hội quốc dân. Ngày 04/6/1945, Khu giải phóng Việt Bắc được thành lập, đặt dưới sự lãnh đạo của Ủy ban chỉ huy lâm thời, trở thành căn cứ địa của cả nước. Tháng 8/1945, Hội nghị đại biểu toàn quốc của Đảng họp tại Tân Trào (Tuyên Quang) khẳng định: “Cơ hội rất tốt cho ta giành độc lập đã tới” và quyết định phát động toàn dân khởi nghĩa giành chính quyền từ tay phát xít Nhật và tay sai trước khi quân Đồng minh vào Đông Dương; đề ra ba nguyên tắc bảo đảm tổng khởi nghĩa thắng lợi, đó là: Tập trung, thống nhất, kịp thời. 23 giờ ngày 13/8/1945, Ủy ban Khởi nghĩa ra Quân lệnh số 1 hiệu triệu toàn dân Tổng khởi nghĩa. Ngày 16/8/1945, Đại hội Quốc dân họp tại Tân trào thông qua “10 chính sách lớn của Việt Minh”; thông qua “Lệnh tổng khởi nghĩa”; quy định quốc kỳ, quốc ca; thành lập Ủy ban Dân tộc giải phóng Trung ương, tức Chính phủ Lâm thời do đồng chí Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư kêu gọi Nhân dân cả nước tổng khởi nghĩa, trong đó chỉ rõ: “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nhân dân cả nước đồng loạt vùng dậy, tiến hành tổng khởi nghĩa, giành chính quyền. Từ ngày 14 đến ngày 18/8, cuộc tổng khởi nghĩa nổ ra giành được thắng lợi ở nông thôn đồng bằng Bắc Bộ, đại bộ phận miền Trung, một phần miền Nam và ở các thị xã: Bắc Giang, Hải Dương, Hà Tĩnh, Hội An, Quảng Nam... Ngày 19/8, khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi ở Hà Nội.

Tại tỉnh Bắc Kạn, thực hiện Lệnh tổng khởi nghĩa của Quốc dân đại hội Tân Trào và chủ trương của Tỉnh ủy, sáng 19/8/1945, theo đề nghị của quân Nhật, đại diện Quân giải phóng đã gặp và yêu cầu bàn giao bộ máy tay sai cấp tỉnh, kho tàng, vũ khí, công sở. Ngày 21/8/1945, các đơn vị quân giải phóng, lực lượng tự vệ và Nhân dân vùng giải phóng tiến vào thị xã, xóa bỏ chính quyền tay sai của Nhật. Ngày 23/8/1945, đoàn xe chở 400 quân Nhật rút khỏi thị xã Bắc Kạn, toàn tỉnh Bắc Kạn sạch bóng quân thù.

Cũng trong ngày 23/8/1945, khởi nghĩa nổ ra và giành thắng lợi ở Huế và ở Hòa Bình, Hải Phòng, Hà Đông, Quảng Bình, Quảng Trị, Bình Định, Gia Lai, Bạc Liêu... Ngày 25/8, khởi nghĩa thắng lợi ở Sài Gòn - Gia Định, Kon Tum, Sóc Trăng, Vĩnh Long, Trà Vinh, Biên Hòa, Tây Ninh, Bến Tre... Ở Côn Đảo, Đảng bộ nhà tù Côn Đảo đã lãnh đạo các chiến sĩ cách mạng bị giam cầm nổi dậy giành chính quyền.

Chỉ trong vòng 15 ngày cuối tháng 8/1945, cuộc tổng khởi nghĩa đã giành thắng lợi hoàn toàn, chính quyền trong cả nước về tay Nhân dân. Ngày 02/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình (Hà Nội) lịch sử, trước cuộc mít tinh của gần một triệu đồng bào, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ Lâm thời trịnh trọng đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố trước quốc dân và thế giới: Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Từ đó, ngày 02/9 là Ngày Quốc khánh của nước ta.

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công là thắng lợi vĩ đại đầu tiên của Nhân dân ta từ khi có Đảng lãnh đạo, mở ra bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Chính quyền về tay Nhân dân, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời - Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á; chấm dứt chế độ quân chủ phong kiến ở Việt Nam; kết thúc hơn 80 năm Nhân dân ta dưới ách đô hộ của thực dân, phát xít. Nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ trở thành người dân một nước độc lập, làm chủ vận mệnh của mình. Nước Việt Nam từ một nước thuộc địa nửa phong kiến trở thành một nước độc lập, tự do và dân chủ. Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành một Đảng cầm quyền. Từ đây, đất nước, xã hội, dân tộc và con người Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Cách mạng tháng Tám là thắng lợi của chủ nghĩa Mác - Lênin được vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh cụ thể của cách mạng Việt Nam; là thắng lợi của tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối cách mạng của Đảng ta gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, gắn sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; là sự thể nghiệm thành công đầu tiên chủ nghĩa Mác-Lênin tại một nước thuộc địa ở châu Á. Đây còn là quá trình phát triển tất yếu của lịch sử dân tộc trải qua mấy nghìn năm phấn đấu, đỉnh cao của ý chí quật cường, sức mạnh cố kết cộng đồng, tầm cao trí tuệ của dân tộc hòa quyện với chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh với xu thế của thời đại vì hòa bình, dân chủ và tiến bộ xã hội, vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám cổ vũ phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước bị chủ nghĩa đế quốc thực dân áp bức, thống trị. Nó khẳng định rằng, trong điều kiện trào lưu của cách mạng vô sản, cuộc cách mạng do một đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo không chỉ có thể thành công ở một nước tư bản kém phát triển, nơi mắt xích yếu nhất của chủ nghĩa đế quốc mà còn có thể thành công ở ngay một nước thuộc địa nửa phong kiến lạc hậu để đưa cả dân tộc đó đi lên theo con đường của chủ nghĩa xã hội./.